1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THEO DÕI HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG VACCINE CIRCUMVENT ĐỂ PHÒNG BỆNH DO CIRCOVIRUS TRÊN HEO TỪ 14 NGÀY TUỔI ĐẾN 120 NGÀY TUỔI Họ và tên sinh viên : NGUYỄN ANH VŨ Ngành : Thú Y Khóa : 20042009 Tháng 09

85 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội chứng còi cọc trên heo sau cai sữa do PCV2 Hội chứng còi cọc trên heo sau cai sữa trên heo PMWS là một bệnh dịch động vật ở heo, do nhiều yếu tố bao gồm sự nhiễm PCV2 trên heo và nh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THEO DÕI HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG VACCINE CIRCUMVENT ĐỂ PHÒNG BỆNH DO CIRCOVIRUS TRÊN

HEO TỪ 14 NGÀY TUỔI ĐẾN 120 NGÀY TUỔI

Họ và tên sinh viên : NGUYỄN ANH VŨ

Khóa : 2004-2009

Tháng 09/2009

Trang 2

THEO DÕI HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG VACCINE CIRCUMVENT

ĐỂ PHÒNG BỆNH DO CIRCOVIRUS TRÊN HEO TỪ 14 NGÀY TUỔI

Tháng 09/2009

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng lên Mẹ, người đã sinh thành, dạy dỗ, nuôi nấng và là điểm tựa tinh thần cho con trong suốt cuộc đời này

Khắc ghi công ơn của cô Võ Thị Trà An đã tận tình hướng dẫn và động viên em để

có được ngày hôm nay

Chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố HCM Ban chủ nhiệm Khoa Chăn Nuôi –Thú Y, Trung Tâm Phân Tích Hóa Sinh, Phòng Thí Nghiệm Sinh Lý, cùng toàn thể quý thầy cô trong Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố

Hồ Chí Minh đã giảng dạy tận tình truyền đạt kiến thức bổ ích cho em trong suốt những năm học vừa qua

Em xin cảm ơn anh Nguyễn Đình Hòa cùng Công ty Intervet-Schering-Plough đã giúp đỡ và hổ trợ kỹ thuật trong thời gian em thực hiện đề tài tốt nghiệp

Xin cảm ơn Ban Giám Đốc Trại Heo Darby-CJ Genetics và toàn thể nhân viên ở Trại đã tạo điều kiện thuận lợi cho em triển khai thí nghiệm để hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Chân thành cảm ơn các bạn trong lớp đã động viên và giúp đỡ tôi trong học tập

NGUYỄN ANH VŨ

Trang 4

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài “Theo dõi hiệu quả của việc sử dụng vaccine Circumvent để phòng bệnh do Circovirus type 2 trên heo con từ 14 ngày tuổi đến 120 ngày tuổi” được thực hiện từ tháng 01/2009 đến 05/2009 tại trại heo Darby-CJ Genetics Thí nghiệm gồm 396 heo con được sinh ra từ 41 nái và được chia đều vào 2 lô, lô đối chứng không tiêm vaccine, lô thí nghiệm được tiêm vaccine Circumvent lúc 14 ngày tuổi và 42 ngày tuổi

Mục đích của đề tài nhằm theo dõi và đánh giá hiệu quả của vaccine Circumvent thông qua việc xác định hàm lượng kháng thể, các chỉ tiêu sinh lý máu, các phản ứng sau khi tiêm vaccine, chỉ tiêu sinh trưởng, lượng thức ăn tiêu thụ, hệ số chuyển hóa thức ăn và các biểu hiện lâm sàng của heo ở hai lô thí nghiệm và lô đối chứng Kết quả như sau:

Tỷ lệ huyết thanh dương tính với PCV2 cao chiếm 88,63% và tỷ lệ này cao nhất ở nhóm heo 14 và 42 ngày tuổi

Hàm lượng kháng thể của heo lô thí nghiệm sau khi tiêm vaccine và lô đối chứng

Tỷ lệ sưng hạch bẹn của heo đối chứng (32%) cao hơn heo thí nghiệm (23%)

Tỷ lệ viêm da của heo ở lô đối chứng (4,2%) trong giai đoạn 75 – 120 ngày tuổi cao hơn lô thí nghiệm (0,57%)

Trang 5

Tỷ lệ chết lô thí nghiệm (8,59%), trong khi đó lô đối chứng (14,14%) ở giai đoạn

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh sách các chữ viết tắt ix

Danh sách các hình x

Danh sách các bảng xi

Danh sách các biểu đồ xii

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

Đặt vấn đề 1

Mục đích và yêu cầu 2

Mục đích 2

Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Tổng quan về công ty TNHH Darby – CJ- genetics 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Quá trình hình thành công ty 3

2.1.3 Nhiệm vụ và chức năng của công ty 3

2.1.4 Điều kiện chăn nuôi 3

2.1.5 Cơ cấu công ty 5

2.1.6 Cơ cấu đàn 6

2.1.7 Dinh dưỡng của trại 6

2.1.8 Chăm sóc và quản lý và phòng bệnh của trại 6

2.1.9 Quy trình vệ sinh – tiêm phòng của trại 9

Trang 7

Trang

2.2 Porcine Circovirus Type 2 (PCV2) và hội chứng PMWS do PCV2 11

2.2.1 Lịch sử bệnh 11

2.2.2 Hội chứng còi cọc trên heo sau cai sữa do PCV2 11

2.2.3 Căn bệnh 12

2.2.4 Dịch tễ 13

2.2.5 Cách sinh bệnh 14

2.2.6 Miễn dịch liên quan PCV2 15

2.2.7 Triệu chứng 15

2.2.8 Bệnh tích 16

2.2.9 Chẩn đoán 17

2.2.10 Điều trị, phòng và kiểm soát PCV2 19

2.3.Vaccine và nguyên lý sử dụng vaccine 20

2.3.1 Phân loại vaccine 21

2.3.1.1 Phân loại vaccine căn cứ vào hoạt tính của mầm bệnh 21

2.3.1.2 Phân loại vaccine theo thành phần kháng nguyên 22

2.3.1.3 Những điều chú ý khi sử dụng vaccine 23

2.3.1.4 Một số loại vaccine phòng hội chứng PMWS trên thị trường hiện nay 23

2.4 Một số nghiên cứu về PCV2 25

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 28

3.1.1 Thời gian 28

3.1.2 Địa điểm 28

3.2 Nội dung nghiên cứu 28

3.2.1 Tỷ lệ huyết thanh dương tính với PVC2 28

3.2.2 Hàm lượng KT chống PCV2 của heo con lúc 14 ngày tuổi, 42 ngày tuổi, 75 ngày tuổi 28

3.2.3 Phản ứng sau khi tiêm vaccine 28

Trang 8

Trang

3.2.4 Biến đổi công thức máu và các hằng số sinh lý 28

3.2.5 Tỷ lệ sưng hạch bẹn 28

3.2.6 Tỉ lệ các bệnh trên heo: tiêu chảy, hô hấp, viêm da, viêm khớp, co giật 28

3.2.7 Tỉ lệ chết, tỉ lệ còi cọc 28

3.2.8 Tăng trọng bình quân, tăng trọng tuyệt đối, lượng thúc ăn tiêu thụ và hệ số chuyển hóa thức ăn 28

3.3 Phương pháp tiến hành 28

3.3.1 Bố trí thí nghiệm 28

3.3.2 Phương pháp lấy mẫu máu và bảo quản để kiểm tra hàm lượng kháng thể và các chỉ tiêu sinh lý máu 29

3.3.3 Phương pháp đánh giá các phản ứng khi tiêm vaccine 29

3.3.4 Phương pháp dánh giá chỉ tiêu sinh lý máu 30

3.3.5 Phương pháp xác định sự tăng trưởng của heo thí nghiệm 30

3.3.6 Phương pháp xử lý thống kê 31

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1.Tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính vói PCV2 32

4.1.1 Tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính của số mẫu khảo sát 32

4.1.2 Tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính qua từng nhóm tuổi 33

4.2 Đáp ứng tạo ra hiệu giá kháng thể 33

4.3 Phản ứng sau khi tiêm vaccine 36

4.3.1 Phản ứng cục bộ 36

4.3.2 Phản ứng toàn thân 36

4.4 Kết quả khảo sát các chỉ tiêu sinh lý máu 37

4.4.1 Số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, hàm lượng Hb và chỉ số Ht 37

4.4.2 Công thức bạch cầu 38

4.5 Tỷ lệ sưng hạch bẹn 39

4.6 Tình hình bệnh trên đàn heo thí nghiêm và heo đối chứng 40

4.7 Tỷ lệ còi cọc, tỷ lệ chết 42

Trang 9

Trang

4.8 Trọng lượng heo và các chỉ tiêu tăng trọng ở các giai đoạn 43

4.8.1 Trọng lượng trung bình và các chỉ tiêu tăng trọng bình quân, tăng trọng tuyệt đối heo 14 ngày tuổi, 28 ngày tuổi, 75 ngày tuổi 43

4.8.2 Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình và hệ số chuyển hóa thức ăn heo từ 28-120 ngày tuổi 47

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 48

5.2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU KHAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 54

Trang 10

PCV2 Porcine Circovirus Type 2

PDNS Porcine Dermatitis and Nephropathy Syndrome

PMWS Postweaning Multisytemic Wasting Syndrome

PRRS Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome

EDTA Ethylene Diamine Tetraacetic acid

E.coli Escherichia coli

IPMA Immunoperoxidase Monolayer Assay

ICC Immunocytochemistry

PRDC Porcine Respiratory Disease Complex

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Heo bị viêm da ở trại 16

Hình 2.2 Phổi heo bị hoại tử 17

Hình 2.3 Vaccine Circumvent™ PCV 24

Hình 2.4 Vaccine Circovac® 25

Trang 12

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn hỗn hợp ở trại 6

Bảng 2.2 Qui trình tiêm phòng của trại Darby 10

Bảng 3.1 Bảng bố trí thí nghiệm 29

Bảng 3.2 Bảng phân bố mẫu xét nghiệm 30

Bảng 4.1 Tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính của số mẫu khảo sát 32

Bảng 4.2 Tỷ lệ huyết thanh dương tính qua từng thời điểm lấy mẫu 33

Bảng 4.3 Biến thiên HGKT kháng virus PCV2 của heo trước và sau khi tiêm vaccine 34

Bảng 4.4 Nhiệt độ trực tràng của heo sau khi tiêm vaccine 1giờ 36

Bảng 4.5 Số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, hàm lượng Hb và chỉ số Ht của heo lúc 42 và 75 ngày tuổi 37

Bảng 4.6 Công thức bạch cầu lúc 42 và 75 ngày tuổi ở lô TN và ĐC 38

Bảng 4.7 Bảng theo dõi heo chết bị sưng hạch bẹn 40

Bảng 4.8 Tình hình bệnh trên đàn heo thí nghiệm và đối chứng từ 28-120 ngày tuổi 41

Bảng 4.9 Bảng theo dõi tỷ lệ chết, tỷ lệ còi cọc qua hai giai đoạn 42

Bảng 4.10 Trọng lượng trung bình, tăng trọng bình quân, tăng trọng tuyệt đối heo từ 14 - 75 ngày tuổi 44

Bảng 4.11 Trọng lượng trung bình, tăng trọng bình quân, tăng trọng tuyệt đối heo từ 75 - 120 ngày tuổi 46

Bảng 4.12 Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình và hệ số chuyển hóa thức ăn heo từ 28 - 120 ngày tuổi 47

Trang 14

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Ngành chăn nuôi gia súc nói chung và chăn nuôi heo nói riêng ở nước ta hiện nay đang rất phát triển với việc mở rộng mô hình chăn nuôi tập trung, theo hướng công nghiệp hóa Từ sau dịch cúm gia cầm khoảng cuối 2003 và xuất hiện trở lại cuối năm 2008, chăn nuôi heo có chiều hướng tăng trưởng mạnh để đáp ứng nhu cầu về thịt trong cả nước Khi heo nuôi tập trung ở mật độ cao thì nguy cơ phát sinh nhiều bệnh truyền nhiễm và bệnh không truyền nhiễm sẽ gia tăng và có thể gây thiệt hại không nhỏ về mặt kinh tế cho các nhà chăn nuôi Một trong những bệnh mới xuất hiện trên heo sau cai sữa ở nhiều nước trên thế giới là bệnh do Porcine Circovirus Type 2 (PCV2) gây ra Hội chứng do PCV2 được mô tả trên nhiều cơ quan như hạch, thận, da…và xảy ra trên heo từ 6 - 14 tuần tuổi Do heo bệnh thường suy nhược, còi cọc nên được gọi là Hội chứng còi cọc trên heo sau cai sữa PCV2 có khả năng sống trong cơ thể heo mà không có một dấu hiệu biểu hiện nào, khi gặp các tác nhân gây bệnh khác hay stress thì virus PCV2 sẽ kết hợp và gây những biểu hiện bệnh phức tạp như: viêm

da, ho, tiêu chảy, còi cọc…với tỷ lệ bệnh và tỉ lệ chết khá cao

Một số nghiên cứu của Lâm Thị Thu Hương và ctv (2005) cho thấy sự lưu hành của PCV2 ở các trại chăn nuôi công nghiệp ở TPHCM và vùng phụ cận biến động rất lớn từ không nhiễm đến nhiễm 60% Hiện tại, có một số loại vaccine phòng bệnh do PCV2 có mặt tại Việt Nam nhưng các trại chưa sử dụng vaccine PCV2 trong quy trình phòng bệnh cho heo con Vì thế, để xác định vai trò của việc tiêm phòng vaccine trong phòng chống bệnh do PCV2 cho đàn heo là một yêu cầu của thực tế Được sự chấp thuận của Khoa Chăn Nuôi - Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm TPHCM, dưới sự hướng dẫn của TS Võ Thị Trà An và BSTY Nguyễn Đình Hòa Chúng tôi đã thực hiện đề tài “Theo dõi hiệu quả của việc sử dụng vaccine Circumvent để phòng bệnh do Circovirus type 2 trên heo từ 14 ngày tuổi đến 120 ngày tuổi”

Trang 15

Theo dõi các phản ứng phụ sau khi tiêm vaccine để đánh giá độ an toàn

Ghi nhận bệnh tật và mức tăng trưởng của heo ở các giai đoạn: sơ sinh, cai sữa, nuôi thịt và so sánh với nhóm heo không chủng ngừa

Trang 16

2.1.2 Lịch sử hình thành công ty

Công ty Darby-CJ Genetics được thành lập theo giấy phép đầu tư số 375/GP –

BD do UBND tỉnh Bình Dương cấp ngày 01/12/2004, với tên giao dịch tiếng Anh là Darby - CJ Genetics Đây là công ty có vốn 100% vốn nước ngoài, với vốn điều lệ 3500.000 USD, vào tháng 06/2005 Trại Darby - CJ Genetics được khánh thành Tháng 10/2005, 112 con heo hậu bị được nhập về từ Hàn Quốc; tháng 11/2005, 256 con heo hậu bị được nhập về từ Anh Quốc; cuối năm 2006 lứa heo thịt và heo hậu bị đầu tiên được xuất bán Tháng 02/2007, 34 con heo đực được nhập về từ Mỹ Tháng 09/2008, hoàn thành đàn heo giống cho trại HanPork Hiện nay công ty đã có 27 trại đi vào hoạt động

2.1.3 Nhiệm vụ và chức năng của công ty

Nhiệm vụ chính của các trại là nhân giống và sản xuất con giống Duroc, Yorkshire, Landrace, Pietrain…những con không đạt yêu cầu thì chuyển qua nuôi thịt Ngoài ra, công ty có dịch vụ bán tinh heo giống

2.1.4 Điều kiện chăn nuôi

Nguồn nước được sử dụng tại trại là nguồn nước ngầm được kiểm tra định kỳ

Nhiệt độ: Cao nhất 370C, thấp nhất 220C Ẩm độ: Cao nhất 80%, thấp nhất 45% Thức ăn của trại được sản xuất từ liên doanh của Cj-Vina

Trang 17

Kiểu chuồng trại

Hướng chuồng

Chuồng được xây dựng theo hướng Đông – Tây, suốt ngày chuồng luôn có ánh sáng chiếu vào Kiểu chuồng hai mái, mái chuồng lợp bằng tôn Sàn nền nhựa đối với heo sinh sản, heo con theo mẹ và heo ở giai đoạn cai sữa còn lại là nền xi măng Chiều dài của chuồng khoảng 90 m, chiều cao 3,5 m, độ nghiêng nền 3 - 4%

Chuồng hậu bị

Chuồng được xây dựng đối diện với chuồng nọc, gồm 14 ô chuồng, chia làm 2 dãy Nền chuồng làm bằng xi măng, vách chuồng làm bằng song sắt Kích thước ô chuồng: dài х rộng х cao = 6 х 5,5 х 1,1 m Mỗi ô chuồng có 9 máng ăn được gắn ở đầu chuồng, kích thước máng ăn: dài х rộng х cao = 40 х 35 х 30 cm, máng uống đặt dọc theo máng ăn và cách nền 35 cm, kích thước cửa: cao х rộng = 1,4 х 0,8 m Tất cả các chuồng đều có hệ thống làm mát, quạt thông gió và có hệ thống thoát nước xả

Chuồng nái mang thai

Được thiết kế gần chuồng nái đẻ, đầu và cuối chuồng có hệ thống làm mát, quạt gió phù hợp với thân nhiệt của heo nái, có cửa ra vào, chuồng luôn được đóng kín cửa, máng ăn bằng xi măng từ đầu đến cuối chuồng, mỗi ô chuồng có núm uống tự động, nền xi măng, vách song sắt, kích thước ô chuồng: dài х rộng х cao = 2,2 х 0,65 х 1,2 m; hai bên hông được làm bằng hệ thống bạt có thể kéo lên hạ xuống tùy thời tiết, có 3 chuồng, mỗi chuồng chia làm 4 dãy và tổng là 869 ô chuồng

Chuồng nái sinh sản

Gồm có 6 phòng ở khu A, 5 phòng ở khu B, giữa các phòng được ngăn cách bởi tường xi măng Một phòng có 24 ô chuồng chia làm 4 dãy có 4 quạt gió, 5 cửa sổ, kích thước phòng: dài х rộng х cao = 12 х 10 х 2 m, máng ăn tròn bằng inox được thiết kế ở đầu mỗi chuồng cao 45 cm có máng nước chảy từ trên xuống, nước uống heo con cách nền 8 cm

Chuồng heo cai sữa

Mỗi khu có 8 phòng, mỗi phòng được ngăn cách riêng bằng tường lớn, có 1 cửa

ra vào, 2 cửa sổ, phía sau có 1 cửa sổ và 4 quạt gió, dọc hành lang có bạt chắn mưa, tạt gió lùa, mỗi phòng có 20 ô chuồng chia làm 2 dãy máng ăn được đặt dọc theo lối đi giữa, lối đi giữa làm bằng xi măng rộng 50 cm, vách chuồng bằng song sắt

Trang 18

Kích thước ô chuồng dài х rộng х cao = 2,4 х 1,8 х 0,6 m, cửa chuồng: cao х rộng = 50 х 60 cm, có 2 nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ và ẩm độ, có đèn úm ở mỗi ô, hố sát trùng trước cửa

Chuồng heo thịt

Gồm 9 trại có tổng 324 ô chuồng, mỗi trại có 36 ô chuồng chia làm 2 dãy có lối

đi ở giữa 80cm, có 18 bồn cám cứ 2 ô chuồng chung một bồn, kích thước ô chuồng: dài x rộng x cao = 4,2 х 3 х 0,8 m, mái chuồng lợp bằng tôn có lớp cách nhiệt, trên mái có 18 quạt thông gió, trong chuồng có 10 quạt gió và 2 bồn nước uống, 2 vòi nước tắm heo, xịt chuồng, 1 nhiệt kế máng ăn nước uống tự động, có 2 cửa ra vào và 4 cửa

sổ

Chuồng lùa heo bán

Ở đầu trại ở gần trạm cân được nối với đường lùa heo của các trại, nền làm bằng xi măng, vách chuồng là song sắt, kích thước chuồng: dài x rộng x cao = 2,7 х 12

Quản lý Phòng kỹ thuật Phòng nghiệp vụ Phòng bảo vệ

Tổ giống Tổ Nái, Cai sữa Tổ thịt Tổ cơ khí bảo dưỡng

Trang 19

2.1.6 Cơ cấu đàn

Tính đến ngày 17/02/2009 cơ cấu đàn heo của trại gồm

Nọc sinh sản : 54 con

Nái sinh sản : 1100 con

Heo hậu bị đực và cái : 110 (98 con cái và 12 con đực)

Heo theo mẹ :1894 con

Heo cai sữa : 2232 con

2.1.7 Dinh dưỡng của trại

Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn hỗn hợp (Tăhh) heo dùng ở trại heo ở trại

Protein thô tối thiểu (%) 22 18 19 16,5 14,5 14,5 15,5

Canxi tối thiểu - tối đa (%) 0,7-1,2 0,6-1,2 0, 8-1,2 0,6-1,2 0,6-1,2 0,6-1,2 0,6-1,2 Năng lượng trao đổi

Loại Tăhh 1011, 1020, 1021 dùng cho heo mới cai sữa, loại Tăhh 1031 dùng cho heo

15 - 80 kg, loại Tăhh 1041 dùng cho heo từ 80 kg trở lên, loại Tăhh 1060 dùng cho nái

mang thai và loại Tăhh 1070 dùng cho nái đẻ

2.1.8 Quy trình quản lý, chăm sóc và phòng bệnh ở heo con theo me, heo cai sữa,

heo thịt

Trang 20

Quản lý, chăm sóc heo con theo mẹ

Sau khi ra đời heo con được nhanh chóng cho bú sữa đầu Lúc nái đẻ xong phải kiểm tra đực, cái, chết và bấm đuôi Kiểm tra vú của heo mẹ xem có bao nhiêu cái, nếu heo con nhiều hơn số vú của heo mẹ thì đem heo con ghép cho nái đẻ ít hơn Heo con nếu nằm bên ngoài thì phải cho vào ổ úm (mới đẻ cho đến 2 - 3 ngày sau khi đẻ) Heo nhỏ, ốm yếu truyền glucose 5%, thuốc bổ ngày 3 lần, dung dịch truyền có pha chất điện giải PFI (PFILYTE)

Hằng ngày, công nhân phải kiểm tra số lượng heo con ở từng ô, xem có tiêu chảy, đau chân…thì điều trị (nếu tiêu chảy thì cho uống nước sinh lý PFI (13g PFI/10lit H2O), kháng sinh baytril 2,5% (chứa hoạt chất enrofloxacin 2,5 g/100 ml) ngày 1 lần, trong 2 -3 ngày, thuốc bổ: Catosal, Aminoport, B-complex Vệ sinh chuồng: dọn phân, xịt nước lối đi Heo con 7 ngày tuổi thì bắt đầu tập ăn, ngày cho ăn

4 lần lúc 9 giờ, 11giờ, 13giờ, 21giờ Cho ăn (Tăhh Master 1011, cho ăn Tăhh khô) Cho ăn ít vào những ngày đầu (khoảng 100 g/lần) sau đó tăng dần lên nhưng không quá 100 g/con/ngày

Quản lý, chăm sóc ở trại cai sữa

Máng ăn được vệ sinh (chà rửa, đem phơi khô) sạch sẽ, thông hầm phân, cống rảnh, sát trùng bằng Bestaquam-S (didecyl dimethyl ammonium bromide 10%), vôi, trước một tuần, sau đó để khô, kiểm tra nước uống, chuẩn bị đèn úm, phải để trống 2 -

4 ô sau 1 - 2 tuần sau cho con bệnh yếu vào để dễ chăm sóc và quản lý

Quản lý nhiệt độ của chuồng heo con theo lịch trình: Tuần đầu: 32 - 330C Tuần 2: 31 - 320C Tuần 3: 29 - 310C Tuần 4: 28 - 290C Tuần 5: 27 - 280C Nếu nhiệt độ hạ xuống so với mức quy định thì phải dùng đèn úm, những phòng mới cai sữa 1 -2 tuần nếu nhiệt độ dưới 280C phải mở 1 quạt hoạt động ( khoảng 10 phút) Ẩm độ ổn định

50 – 75%, NH3 phải dưới 10 ppm, mỗi ngày sát trùng 1 lần, núm uống phải có ít nhất

10 con/cái, mật độ bình quân phải dưới 3 con/m2.

Cho ăn ở trại cai sữa: heo cai sữa cho ăn cám nước trong 2 tuần đầu Tuần thứ nhất: trong 4 ngày đầu pha PFI vào nước uống, cho ăn Tăhh 1011 + 1020 với tỷ lệ pha trộn 3:1 (75% + 25%) và trộn cùng với Multibio (4 kg/tấn) cho ăn Tăhh nước và Tăhh khô với tỷ lệ 3:1, bổ sung thêm đường dextrose, vitaminC, amox + orgacid

Trang 21

(1,5 kg/tấn) Ngày cai sữa cho ăn khoảng 80 g/con/ngày; ngày 2: 120 g/con/ngày; ngày 3: 150 g/con/ngày; ngày 4: 170 g/con/ngày, ngày 5: 200 g/con /ngày trở lên Cho ăn ngày 7 lần lúc 8 giờ, 10 giờ, 13 giờ, 16 giờ, 20 giờ, 24 giờ, 4 giờ, tuần thứ 2: dùng Tăhh 1011 + 1020 với tỷ lệ 1:3 (25% + 75%) và cho ăn 500 – 700 g/con/ngày, tuần 3 cho ăn Tăhh 1020 đến hết tuần thứ 4, ăn từ 700 g – 1 kg/con/ngày, tuần thứ 5 cho ăn Tăhh 1020 + 1031 (75% + 25%) trong 4 ngày sau đó tăng lượng Tăhh 1031 lên dần, tuần 6 đến trước lúc chuyển thịt 2 tuần cho ăn, 1020 + 1031 (50% - 50%) sau đó cho

ăn Tăhh 1031

Quản lý, chăm sóc ở trại heo thịt

Trại thịt được vệ sinh: Chà chuồng, xịt bạt, chà bồn nước, thông cống và sát trùng chuồng bằng vôi, để trống một tuần trước khi nhận heo từ trại cai sữa, khi nhận heo để trống 4 ô để chăm sóc những con yếu hơn, hố sát trùng được thay môt tuần 3 lần và xịt trong trại một tuần một lần Buổi sáng khi xuống trại kéo bạt lên, mở cửa, kiểm tra heo, những con bệnh làm dấu, kiểm tra lượng cám, vệ sinh chuồng chủ yếu đẩy phân, hạn chế tắm heo Nhiệt độ được quản lý, buổi sáng nhiệt độ 27 - 28oC, khi nhiệt độ tăng thì mở hệ thống phun sương và quạt sẽ tự chạy, khi nhiệt độ thấp thì hạ bạt hai bên hông xuống

Heo ở trại thịt được cho ăn tự do, heo nhỏ hơn 80 kg cho ăn Tăhh 1031, heo từ

80 kg trở lên ăn Tăhh 1041, heo từ 75 đến 110 ngày được bổ sung hỗn hợp vi khuẩn có

lợi PigAro (Lactobacillus acidophilus, Lactobacillus casei, Lactobacillus subtilis) 1,5

kg/tấn, heo từ 110 đến 140 ngày tuổi được trộn với Amoxcillin 2 kg/tấn Trộn trong thời gian 1 tuần

Các thuốc sử dụng ở trại cai sữa và trại thịt

Tiêu chảy sử dụng: Baytril (enrofloxacin 2,5 g/100ml), Octocin (enrofloxacin 1,5g/100 ml), Glucose 5% Thuốc trị ho: Linco-S (spectinomycin 10 g/100 ml, lincomycin 5g/100 ml), Terramycin (oxytetracycine 200 mg/ml), Tiamulin 10% (tiamulin hydrogen fumarate 100 mg/ml) Genta-tylosin (gentamicin 5 g/100 ml, tylosin 10 g/100 ml) Thuốc bổ: Catosal (vitamin B125 mg/100 ml, methyl hydroxybenzoate 100mg/100 ml, 1 methyl phosphorous acid 10g/100 ml), Amino fort Thuốc trợ sức: B-complex (vitamin B1, B2, B6, B12) vitamin AD3E, Cevit, Vitamin C Thuốc chống sốc, co giật: Atropin Thuốc trị viêm da: Ampidexalone (ampicillin

Trang 22

87 mg/ml, colistin 250000 UI/ml, dexamethasone 0,25 mg/ml), cồn iod Thuốc trị viêm khớp (Tiamulin10%, Linco - S)

2.1.9 Quy trình vệ sinh của trại

Vệ sinh chuồng trại

Trại có nội quy ra vào rất nghiêm ngặt, trước khi vào phòng kí túc xá phải qua

hố sát trùng chứa NaOH 5%, hố được đặt ngay cổng bảo vệ, tất cả xe vào trại phải

được phun Bestaquam - S (diecine dymethyl ammonium bromid 10%) và chạy qua hố sát trùng chứa Bestaquam-S hoặc BIO–Sept (glutaraldehyde,

alkyldimethylbenzylammonium chloride, octyldecyldimethylammonium chloride,

dioctyldimethylammonium chloride, didecyldimethylammonium chloride, inert ingredients, liều lượng 1/1000) đầu và cuối mỗi dãy chuồng đều có ô sát trùng ở mỗi

phòng, trong dãy có ô sát trùng riêng

Mỗi tuần sát trùng chuồng trại 3 lần và dùng thuốc sát trùng là Bestaquam (tỷ lệ 1/400) hoặc BIO – Sept phun với tỷ lệ 1/300 Sau mỗi dịp chuyển chuồng, bán heo chuồng trại được vệ sinh sạch sẽ bằng vôi, thuốc sát trùng Bestaquam-S, thông hầm phân và để khô

Vệ sinh công nhân

Công nhân trước khi vào trại phải được tắm, rửa sạch sẽ bằng xà phòng tắm và dầu gội, có đồng phục riêng cho công nhân khi xuống trại Trước khi vào trại làm việc công nhân phải đi qua hố sát trùng và người nào làm việc ở khu nào thì chỉ ở khu ấy, không qua khu khác để tránh sự vấy nhiễm Khách tham quan vào trại phải được tắm rửa sạch sẽ ở phòng bảo vệ, sau đó mới được vào và tuân thủ quy tắc của trại

Trang 23

Qui trình tiêm phòng vaccine của trại Darby

Bảng 2.2: Qui trình tiêm phòng của trại Darby

2 tuần Mycoplasma Mycoplasma Intervet 1 ml/con IM Theo mẹ

4 tuần Mycoplasma Mycoplasma Intervet 1 ml/con IM

6 tuần HC-VAC Dịch tả heo Navetco 2 ml/con IM

9 tuần Porcilis@APP Viêm phổi Intervet 2 ml/con IM

10 tuần HC-VAC Dịch tả heo Navetco 2 ml/con IM Cai sữa

11 tuần Aftopor FMD Navetco 2 ml/con IM Heo con

Nuôi thịt 13 tuần Porcilis@APP Viêm phổi Intervet 2 ml/con IM

SuiShort®Aujesky Aujesky Cavac 1 ml/con IM

5 tuần

Porcilis® PARVO PARVO Intervet 2 ml/con IM

Porcilis® PARVO PARVO Intervet 2 ml/con IM

6 tuần Colisuin - cl E.Coli Hipra 2 ml/con IM

4 tuần SuiShort®Aujesky Aujesky Cavac 1 ml/con IM

3 tuần Colisuin - cl E.Coli Hipra 2 ml/con IM

Trang 24

2.2 Porcine Circovirus Type 2 (PCV2) và hội chứng PMWS do PCV2

2.2.1 Lịch sử bệnh

Năm 1991, một virus lạ gây chứng bệnh còi cọc, giảm tăng trọng đột ngột đã xảy ra trên heo sau cai sữa trong một đàn heo tại Canada

Năm 1995, bệnh đã xuất hiện với phạm vi lớn ảnh hưởng lớn hơn và được gọi

là “Hội chứng còi cọc trên heo sau cai sữa” (PMWS)

Năm tiếp theo bệnh lần lượt được thông báo tại nhiều quốc gia như Mỹ (1996), Anh (1998), Đức (2000), Thụy Điển (2003)…kể cả các nước Châu Á gồm Đài Loan (1995), Thái Lan (1999), Philippin (2001)…Bệnh trở thành thời sự với ca bệnh ngày càng gia tăng và đứng đầu trong chương trình nghị sự của nhiều cuộc họp thú y trên thế giới

Năm 1997, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Saskatchewan đã phân lập PCV2 từ những ca PMWS (trích dẫn bởi Nguyễn Tiến Hà, 2008) Từ đó, người ta đã thực hiện thành công thí nghiệm gây nhiễm trên heo Báo cáo của Neumann và ctv (2000) cho biết những mẫu huyết thanh heo tại Mỹ lưu trữ từ năm 1969 khi đem xét nghiệm tìm kháng thể virus PCV2 đã cho kết quả dương tính

Phân tích hồi cứu những mẫu mô và huyết thanh lưu trữ bằng kỹ thuật mô hóa miễn dịch và lai trong mô cho thấy PCV2 từng lưu hành tại Châu Âu vào những năm

1970 nhưng không có tài liệu nào ghi nhận về bệnh do PCV2 gây ra vào thời điểm đó (Tucker và ctv, 2006)

PCV2 từng có liên quan đến nhiều hội chứng bệnh trên heo như hội chứng còi cọc sau cai sữa (PMWS ), viêm phổi hoại tử tiến triển (PNP), bệnh phức hợp hô hấp trên heo (PRDC), hội chứng viêm da và sưng thận trên heo (PDNS) Ngày nay, tất cả những hội chứng này được gọi là bệnh do PCV2 (Allan và Ellis, 2000) Những hội chứng này có thể xuất hiện đồng thời hay không đồng thời với hội chứng PMWS gây khó khăn cho công tác chẩn đoán

2.2.2 Hội chứng còi cọc trên heo sau cai sữa do PCV2

Hội chứng còi cọc trên heo sau cai sữa trên heo (PMWS) là một bệnh dịch động vật ở heo, do nhiều yếu tố bao gồm sự nhiễm PCV2 trên heo và những vi sinh vật đồng gây nhiễm hoặc những yếu tố bất lợi khác hiện diện (như stress, điều kiện chuồng trại không tốt) gây nên

Trang 25

Phạm vi ảnh hưởng của PMWS gặp trên heo cai sữa ở độ tuổi từ 6 – 14 tuần, thậm chí có thể lên đến 20 tuần nhưng tập trung nhiều nhất 8 – 10 tuần tuổi (Madec và ctv, 2000)

Các ca PMWS do PCV2 thường đi kèm với những tác nhân virus hoặc vi trùng gây bệnh khác làm tăng mức độ bệnh, như virus PRRS, parvovirus, virus cúm

heo (SIV) và một số vi trùng gây bệnh khác, đáng chú ý là Mycoplasma hyopneumoniae, Streptococcus suis, Pasteurella multocida, Actinobacillus pleuropneumoniae, Haemophilus parasuis (Kim và ctv, 2004; Segalés và ctv, 2002)

PMWS gây thiệt hại kinh tế đáng kể và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe đàn heo trong ngành chăn nuôi heo công nghiệp của nhiều quốc gia Tại các nước Châu Âu, có trên 8 triệu heo mắc hội chứng này mỗi năm và thiệt hại do PMWS đem lại ước tính từ

562 – 900 triệu Euro hằng năm

PMWS có chiều hướng lan rộng trên khắp thế giới nhưng những hiểu biết về bệnh vẫn còn hạn chế, vì thế các nhà khoa học vẫn đang nỗ lực nghiên cứu và tìm cách khống chế căn bệnh này

2.2.3 Căn bệnh

Porcine Circovirus có kích thước rất nhỏ (đường kính 17nm), không vỏ bọc, virion hình cầu, chứa một ADN sợi đơn dạng vòng cà, nhỏ hơn các ADN virus khác Dựa vào đó, tổ chức quốc tế về phân loại virus xếp chúng vào một họ mới của những

ADN virus gọi là Circoviridae, giống Circovirus (trích dẫn bởi Nguyễn Tiến Hà,

2008)

PCV gồm 2 serotype là PCV1 và PCV2 Bằng kỹ thuật kháng huyết thanh đơn dòng và đa dòng, người ta ghi nhận có khác biệt về kháng nguyên và bộ gen giữa PCV1 và PCV2 giữa 2 serotype này có phản ứng chéo ở mức độ thấp (Allan và ctv, 1999)

PCV2 đề kháng cao với nhiều chất sát trùng (ethanol, chlorhexidine, iodine và formaldehyde), có thể tồn tại trong môi trường suốt nhiều tháng Virus có thể được phân lập từ các mô lưu trữ ở -70oC trong nhiều tháng (Ellis và ctv, 1998) Tuy nhiên sodium hydroxide và Virkon S với mức độ pha loãng 1% có hiệu quả nhất trong việc bất hoạt PCV2

Trang 26

2.2.4 Dịch tễ

Khảo sát tại nhiều quốc gia cho thấy sự nhiễm PCV2 lan rộng với tỷ lệ huyết thanh dương tính trong đàn phần lớn từ 20 – 80 % Allan và ctv (1999) đã tiến hành khảo sát kháng thể PCV2 tại Bắc Ireland và cho biết kháng thể mẹ truyền kháng PCV2 biến mất lúc 8 – 9 tuần sau khi sinh

PCV2 cũng được tìm thấy trên cả những đàn khỏe mạnh và đàn heo có sức khỏe kém Hội chứng PMWS do PCV2 thường tác động trên heo và trở nên rõ ràng hơn từ 4 – 6 tuần tuổi trở lên với tỷ lệ chết trong đàn từ 5 – 80% Nhìn chung, heo mắc bệnh PMWS thường trong độ tuổi 6 – 14 tuần, vài trường hợp trên 20 tuần tuổi Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng những heo con được hấp thu lượng kháng thể cao thì không nhiễm bệnh Những đàn heo dù lớn hay nhỏ với phương thức quản lý khác nhau đều

có thể nhiễm bệnh

Sự phân bố bệnh PMWS trong đàn heo nhiễm cũng rất thay đổi Trong một trại, một số heo có thể mắc chứng PMWS và chết nhưng số còn lại vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường (Vigre và ctv, 2005)

Trong các trại chăn nuôi, hội chứng PMWS có thể tồn tại rất dai dẳng, từ 4 tháng đến trên 18 tháng

Bằng thực nghiệm người ta ghi nhận PCV2 có thể lây truyền ngang hoặc dọc theo các đường hô hấp, đường máu, nhau thai và sinh dục

Người ta đã chứng minh có sự lây truyền ngang PCV2 qua tiếp xúc trực tiếp miệng – mũi của những heo còn nhỏ Các chuồng nuôi lân cận có thể lan truyền virus PCV2 qua khí dung (Charreyre và ctv, 2000) Thực nghiệm đã cho thấy, trộn lẫn những heo khỏe với heo bệnh PMWS hoặc nuôi trong những ô chuồng cạnh nhau sau

3 – 4 tuần sẽ phát hiện những heo khỏe mắc bệnh PMWS (Botner và ctv, 2006) Hình thức lây truyền ngang xảy ra ngay cả khi heo nhiễm PCV2 không biểu hiện triệu chứng lâm sàng và bệnh tích liên quan, chúng vẫn có thể lây cho heo khỏe trong cùng chuồng

PCV2 có thể lan truyền giữa các đàn khi chuyển heo từ đàn này sang đàn khác hoặc thông qua những động vật trung gian mang mầm bệnh (chuột, chim ) dụng cụ, quần áo nhân công

Trang 27

Thực nghiệm gây nhiễm PCV2 cho heo nuôi thí nghiệm 1 ngày tuổi, 31 ngày sau Krakowka và ctv (2001) đã phát hiện acid nucleic của PCV2 có trong phân, nước bọt, nước mắt của heo gây nhiễm

Ngoài ra, PCV2 cũng được tìm thấy trong tinh dịch của những heo đực nhiễm bệnh và sẽ lây truyền virus qua giao phối (trích dẫn Trần Duy Khanh, 2008)

Lây bệnh dọc cũng được ghi nhận Bào thai chết và thai sẩy có liên quan đến sự nhiễm bệnh qua đường sinh dục (trích dẫn Trần Duy Khanh, 2008)

2.2.5 Cách sinh bệnh

Cơ chế gây bệnh của PCV2 trên heo đến nay vẫn chưa được biết rõ Tuy nhiên, qua phương pháp gây nhiễm trên heo sống, Misinzo và ctv (2006) đã phát hiện PCV2

có trong nhiều loại tế bào như tế bào gan, biểu mô, nội mô, lympho vào, tế bào cơ trơn

và nguyên sợi bào Krakowka và ctv (2001) gây nhiễm qua đường mũi hay tiêm tĩnh mạch của heo thí nghiệm, các tác giả ghi nhận thấy có sự hiện diện của bạch cầu đơn nhân và đại thực bào trong phổi, hạch hạnh nhân, hạch lympho, lách và những cơ quan khác trong hệ thống miễn dịch Kháng nguyên virus PCV2 có thể được phát hiện trong

mô lympho vào ngày thứ 7 sau gây nhiễm; còn tại phổi, gan, thận, dạ dày – ruột và lách khoảng ngày 14 – 21 sau gây nhiễm tình trạng nhiễm virus huyết xuất hiện lúc 14 ngày sau gây nhiễm và kéo dài 2 đến 4 tuần Sau gây nhiễm 21 ngày, thú có biểu hiện xẹp và mất chức năng tại nhiều vùng trên phổi, hạch lympho (đặc biệt hạch bẹn) sưng lớn và chuyển sang màu nâu

Đối với hệ thống miễn dịch, PCV2 tấn công vào tế bào đích là các tế bào hình sao và tương tác với các tế bào dòng tủy (tế bào lympho B, lympho T, tế bào NK ngoại

trừ bạch cầu đơn nhân lớn) làm giảm bạch cầu lympho tại hạch hạnh nhân và hạch

lympho để lại bệnh tích vi thể rất đặc trưng Mức độ cấp tính của bệnh tích vi thể và số lượng PCV2 trong bệnh tích có liên quan chặt chẽ với mức độ nghiêm trọng của biểu hiện lâm sàng, PCV2 có thể làm hư hại hệ thống miễn dịch bằng cách ức chế miễn dịch Một bài báo khác nhận định sẽ kích hoạt hệ thống miễn dịch khi nhiễm PCV2 gây ra biểu hiện lâm sàng của bệnh

Ngoài ra virus PCV2 còn tác động làm giảm tiểu cầu nghiêm trọng gây xuất

huyết mô kéo dài Sự tấn công của virus vào gan khởi đầu làm các tế bào gan, tế bào kuffer, tế bào nội mô bị sưng và triển dưỡng nên gan to ra, sau đó các tế bào sẽ bị dung

Trang 28

giải nên giảm số lượng và kích thước gan teo lại, đồng thời mật có thể bị ứ lại trong các ống mật khiến gan trở nên vàng

2.2.6 Miễn dịch liên quan PCV2

Heo lớn và heo sơ sinh (trừ những heo con không được bú sữa đầu) không nhạy cảm với hội chứng PMWS Hội chứng PMWS chỉ xảy ra trên đàn heo sau cai sữa Đây

là lúc heo con hết nhận được miễn dịch từ heo mẹ và trở nên nhạy cảm với bệnh

Bằng thực nghiệm, Chareyre và ctv (2004) cho biết những heo con 3 tuần tuổi

có kháng thể mẹ truyền cao khi công cường độc PCV2 thì sự tăng trọng hàng ngày vẫn cao hơn nhóm có kháng thể mẹ truyền thấp, đồng thời có rất ít những biểu hiện lâm sàng của PMWS so với nhóm cùng lứa tuổi nhưng có kháng thể mẹ truyền thấp

Những triệu chứng lâm sàng liên quan với những heo nhiễm PCV2 mà có biểu hiện hội chứng PMWS cho thấy có sự rối loạn bệnh lý miễn dịch Đặc biệt là các hạch lympho sưng lớn, suy yếu và có sự xâm nhập của các bạch cầu đơn nhân và ái kiềm Đặc trưng của những heo có triệu chứng PMWS là sự giảm bạch cầu Tuy nhiên, không phải tất cả heo nhiễm PCV2 đều dẫn đến PMWS (Darwich, 2002)

và tỷ lệ chết lên đến 80% trong số những heo nhiễm

Ngoài việc gây còi, trong những trại bị PMWS có một biểu hiện đặc trưng khác

là chứng viêm da Những đốm đỏ hồng thường xuất hiện không đều ở chân trước, vùng chậu, vùng mông và bụng Nếu bệnh kéo dài, da trở nên cứng Những chấm này

có khuynh hướng tụ lại ở một phần cơ thể, có thể ở tai Những heo qua khỏi thường biểu hiện suy nhược Đây là dấu hiệu của bệnh viêm da sưng thận cũng do PCV2 gây

ra PMWS thường đi kèm cới một số bệnh khác như viêm phổi, viêm phổi, viêm màng phổi, Glassers, Salmonellosis…

Trang 29

Hình 2.1 Heo bị viêm da ở trại 2.2.8 Bệnh tích

Bệnh tích đại thể

Phổ biến là các hạch bạch huyết sưng lớn, đặc biệt là hạch vùng bẹn sưng gấp 2 – 3 lần bình thường Phổi bị xơ cứng, dai, gan viêm, thận phù nề và sưng lớn với nhiều đốm trắng, lách sưng lớn giống như thịt nhưng không xung huyết, ruột viêm, thành ruột mỏng, thỉnh thoảng phù thủng tại màng treo ruột và vách manh tràng, dạ dày loét

và vách dạ dày phù nề (Ellis và ctv, 1998) Tuyến ức kém phát triển, phù thủng các mô

liên kết, tích dịch trong các xoang cơ thể

Heo nái nhiễm PCV2 có thể bị sẩy thai, thai khô và heo con sinh ra chết và viêm cơ tim rất nặng (Sanchez và ctv, 2001)

Trường hợp có viêm phổi phụ nhiễm vi khuẩn có thể gặp áp xe phổi và những vùng phổi xẹp rắn chắc thường xảy ra trên heo choai và heo lớn

Trang 30

Hình 2.2 Phổi heo bị hoại tử Bệnh tích vi thể

Thường thấy tại các tổ chức lympho (hạch hạnh nhân, hạch lympho, mảng Peyer’s của hồi tràng) lách, phổi gan và thận Bệnh tích đặc trưng là sự xâm nhiễm mô

bào ở các tổ chức lympho, thường kết hợp bởi số lượng lớn tế bào khổng lồ có nhiều

nhân và có thể gặp những vùng hoại tử đông đặc sự giảm lympho bào xảy ra ở nhiều mức độ

Viêm ruột đặc trưng bởi niêm mạc hồi tràng mỏng và suy thoái lympho ở mảng Payer với số lượng lớn kháng nguyên PCV2 (Done, 2001)

Viêm phổi mô kẽ và có hiện diện của những tế bào biểu mô xơ hóa Những biến đổi khác ở phổi như xâm nhiễm tế bào viêm gây viêm phế quản cấp

Bệnh tích tại gan thường là hoại tử cục bộ tế bào gan và xâm nhiễm mô lympho

ở vùng cửa gan Viêm thận kẽ và sự xơ hóa thường xảy ra

2.2.9 Chẩn đoán

Muirhead (2000) cho rằng để chẩn đoán chính xác PMWS cần dựa vào ba tiêu chí: biểu hiện lâm sàng, bệnh tích đặc trưng và xét nghiệm chứng minh acid nucleic hoặc kháng nguyên của PCV2 liên quan bệnh tích đặc trưng

Trang 31

Những biểu hiện lâm sàng liên quan đến tuổi mắc bệnh (thường từ 6 – 14 tuần

có thể đến 20 tuần) còi cọc, giảm tăng trọng, chậm lớn, chết đột ngột, có thể đi kèm với chứng thở khó hoặc hoàng đản

Chẩn đoán phân biệt với những nguyên nhân khác cũng làm heo còi, suy nhựơc như suy dinh dưỡng, thiếu ăn, thiếu nước, loét dạ dày, viêm phổi địa phương, viêm

ruột do E.coli, bệnh hồng lỵ trên heo, hội chứng PRRS, PDNS (Pernek và ctv, 2002)

Bệnh tích mổ khám:tích nhiều dịch trong các xoang, suy yếu các tổ chức lympho, hạch lympho sưng lớn (nhất là hạch bẹn) và viêm nhiễm tại các cơ quan khác

Bệnh tích vi thể: thể bao hàm ưa kiềm, nang lympho suy yếu, mô bệnh tăng sinh từ viêm mô lympho đến u hạt trong cơ quan (chủ yếu phổi và hạch lympho)

Những xét nghiệm tại phòng thí nghiệm

Phương pháp huyết thanh học giúp đánh giá tình trạng nhiễm PCV2 trong đàn Kháng thể có thể được phát hiện bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, Peroxidase miễn dịch gián tiếp hoặc ELISA Trong đó, phương pháp ELISA cạnh tranh trực tiếp hiện được chọn để phát hiện PCV2 trong mọi tình huống với PCV2 là kháng nguyên và tác nhân phản ứng cạnh tranh là kháng thể đơn dòng đặc hiệu PCV2

Kỹ thuật ELISA cạnh tranh có độ nhạy đến 99,5 và độ đặc hiệu cũng khá cao 97,1 (trích dẫn bởi Nguyễn Tiến Hà, 2008)

Mô hóa miễn dịch (ICC – immunocytochemistry) và kỹ thuật lai trong mô (ISH – in situ hybridization) cũng được dùng để phát hiện kháng nguyên PCV2 trong các

mô của những ca PCV2 Trong đó, kỹ thuật ICC nhạy hơn rất nhiều so với ISH (Neilly

và ctv, 1999)

Phân lập virus liên quan đến việc nuôi cấy trên môi trường tế bào PK – 15 được

ly trích từ những mô của heo không nhiễm PCV1 nhưng cách này mất nhiều ngày và không nhạy khi so với kỹ thuật ICC hoặc ISH (Sorden, 2000) Về cơ bản phân lập virus chủ yếu phục vụ cho việc bào chế vaccine và định type virus Người ta không ứng dụng nó vào mục đích chẩn đoán hoặc chứng minh sự không có mặt của PCV2 hay hội chứng PMWS trong đàn

Kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) có độ chính xác cao và ít tốn thời

gian nên hiện nay được ứng dụng trong chẩn đoán phân biệt giữa PCV1 và PCV2 Trong đó, kỹ thuật PCR nhiều mồi (multiplex PCR assays) hiện được sử dụng rộng rãi

Trang 32

để định ra kiểu gen và phân biệt những ca phân lập PCV2 khác nhau Do có độ nhạy cao nên kỹ thuật này đòi hỏi phòng thí nghiệm phải hiện đại và kỹ thuật viên thao tác tốt

2.2.10 Điều trị, phòng và kiểm soát PCV2

Điều trị

Việc điều trị hội chứng PMWS hiện đang còn nhiều tranh cãi Hơn nữa, PCV2 chỉ gây bệnh khi bị kích thích bởi yếu tố mở đầu nào đó Điều trị chủ yếu tập trung vào những bệnh phụ nhiễm do vi trùng Theo Pernek và ctv (2002) trong một số trường hợp nếu sử dụng kháng viêm corticoid có thể làm giảm tỷ lệ heo tử vong

Phòng và kiểm soát bệnh

Hiện nay đã có vaccine vô hoạt tiêm phòng cho heo nái nhằm truyền kháng thể thụ động qua sữa đầu cho heo con chống lại hội chứng PMWS Vaccine vô hoạt tiêm phòng cho heo con Kết quả bước đầu cho thấy, những heo con được tiêm vaccine có thành phần ADN của virus và protein kết hợp hoặc vaccine PCV2 sống có chất bổ trợ

đã chứng tỏ có thể bảo vệ heo con chống lại sự công cường độc virus PCV2 (trích dẫn Nguyễn Duy Khanh, 2008)

Qua kết quả thử nghiệm thành công tại Pháp, Madec (2001) đã nêu ra “ 4 quy luật vàng” trong việc kiểm soát bệnh PMWS: (1) Hạn chế việc tiếp xúc giữa các đối tượng heo thông qua giảm một phần mật độ đàn; (2) Thú bị stress là cơ hội để bệnh bộc phát, Nếu hệ thống miễn dịch bị kích thích thái quá, PCV2 có thể gây bệnh; (3) Nhu cầu dinh dưỡng phù hợp theo lứa tuổi; (4) Đảm bảo các điều kiện vệ sinh và an toàn sinh học

Krakowka (2006) khuyến cáo nếu áp dụng ít nhất 16 điểm trong kế hoạch 20 điểm của Madec có thể làm giảm tỷ lệ chết trong những trại có vấn đề PMWS hoặc PDNS nghiêm trọng:

Đối với heo con theo mẹ

1 Các chuồng nái nuôi con giữa các lứa cần dọn sạch phân, chất độn chuồng; rửa và sát trùng chuồng sạch sẽ, áp dụng biện pháp cùng vào – cùng ra

2 Heo nái trước sinh cần được tắm sạch sẽ và tẩy ký sinh trùng

3 Chỉ thực hiện ghép bầy khi thật cần thiết và trong vòng 24 giờ sau khi sinh

Trang 33

Đối với heo sau cai sữa

4 Các ô chuồng nhỏ, vách ngăn kín (<13 con/ô chuồng)

5 Dọn sạch phân, rửa sạch chuồng và sát trùng, áp dụng biện pháp cùng vào, cùng ra

6 Mật độ tối đa 3 heo con/m2

7 Chiều dài máng ăn ước tính 7 cm/heo con

8 Cải thiện mức độ thông thoáng (NH3<10 ppm, CO2<0,15%)

9 Kiểm soát nhiệt độ chuồng nuôi

10 Không trộn lẫn các lứa heo (1 lứa trong 1 chuồng)

Đối với heo nuôi thịt

11 Diện tích ô chuồng nhỏ, vách ngăn kín

12 Dọn sạch phân, chất độn chuồng, tẩy uế và sát trùng chuồng sạch sẽ, áp dụng biện pháp cùng vào, cùng ra

13 Không trộn lẫn heo con từ các ổ khác nhau sau cai sữa

14 Không trộn lẫn heo giữa các ô chuồng nuôi thịt

15 Mật độ nuôi tối đa 0,75 m2/heo

16 Cải thiện nhiệt độ thông thoáng và nhiệt độ chuồng nuôi

Các biện pháp khác

17 Quy trình tiêm chủng phù hợp

18 Chuồng được thiết kế sao cho tránh mưa tạt, gió lùa

19 Đảm bảo các điều kiện vệ sinh (như cắt đuôi, cắt tai đánh số, bấm răng, tiêm chích đảm bảo vô trùng)

20 Heo bệnh phải sớm chuyển sang khu vực nuôi cách ly hoặc giết hủy

2.3 Vaccine và nguyên lý sử dụng vaccine

Vaccine là những chế phẩm chứa kháng nguyên vi sinh vât dùng để kích thích

hệ thống miễn dịch đặc hiệu của cơ thể động vật hoạt đông

Sau khi chủng 2 – 3 lần, tùy thuộc vào tính chất và phương pháp sử dụng vaccine, các kháng thể hoặc tế bào miễn dịch đươc tạo thành, có thể bảo vệ động vật khỏi tác động gây bệnh của vi sinh vật cùng loại với vaccine Các kháng thể và tế bào miễn dịch tạo thành lưu hành chủ yếu trong máu tạo miễn dịch hệ thống Kháng thể và

tế bào miễn dịch tạo khu trú ở trên bề mặt một hệ thống khí quan nào đó trong cơ thể tạo miễn dịch tại chỗ hay miễn dịch cục bộ

Trang 34

2.3.1 Phân loại vaccine

2.3.1.1 Phân loại vacine căn cứ vào hoạt tính của mầm bệnh

Căn cứ vào hoạt tính của mầm bệnh chứa trong vaccine, vaccine được chia làm 2 loại:

¾ Vaccine nhược độc sống

Các loại vaccine sống được chế từ vi khuẩn hoặc virus còn sống có độc lực thấp, nhận được bằng phương pháp chọn lọc tự nhiên hoặc giảm độc nhân tạo Các vaccine sống có thể sử dụng bằng phương pháp tiêm dưới da, tiêm bắp…các vaccine sống kích thích hệ thống miễn dịch có thể tạo ra đồng thời miễn dịch dịch thể, miễn dịch trung gian tế bào cũng như miễn dịch tại chỗ, do vậy thường tạo đươc khả năng phòng bệnh mạnh mẽ và vững chắc nhưng có thể gây ra một số phản ứng phụ Đặc biệt nguy hiểm là các vi sinh vật nhược độc có thể trở thành cường độc, do vậy cần phải hết sức cẩn thận trong quá trình bảo quản và sử dụng vaccine sống

¾ Vaccine vô hoạt

Là vaccine chứa kháng nguyên là mầm bệnh đã được làm vô hoạt bằng các yếu

tố vật lý như: nhiệt độ, sóng siêu âm, tia tử ngoại Bằng hóa chất như: formol, β - propiolacton, các loại acid Vaccine vô hoạt có ưu điểm: độ an toàn cao nhưng tạo miễn dịch phòng hộ chậm (14 - 21 ngày), thời gian miễn dịch ngắn, hiệu lực phòng vệ hạn chế, để khắc phục nhược điểm trên, căn cứ vào tính chất kháng nguyên, mục đích

sử dụng mà người ta bổ sung vào vaccine để giảm tỷ lệ phản ứng, nâng cao và kéo dài thời gian khả năng tạo miễn dịch phòng vệ của vaccine Vaccine vô hoạt có hai loại:

Vaccine vô hoạt không có chất bổ trợ (vaccine bacterin) tạo miễn dịch ngắn (2 -

3 tháng), hiệu lực phòng vệ không cao, gây phản ứng cao

Vaccine vô hoạt có chất bổ trợ là loại vaccine trong thành phần của nó ngoài kháng nguyên đã vô hoạt còn được bổ sung chất bổ trợ Các chất bổ trợ vô cơ như: Than hoạt tính, kết tinh tím (crystal violet), keo phèn, nước phèn chua hoặc chất bổ trợ hữu cơ như: Các loại dầu thực vật, dầu khoáng, xác vi khuẩn Đối với vaccine vô hoạt

vô cơ thời gian duy trì miễn dịch là 4 - 6 tháng, vaccine vô hoạt có chất bổ trợ hữu cơ thời gian duy trì miễn dịch từ 9 - 12 tháng

Trang 35

2.3.1.2 Phân loại vaccine theo thành phần kháng nguyên

¾ Vaccine toàn khuẩn (vaccine thế hệ 1)

Vaccine này chứa kháng nguyên là toàn bộ xác mầm bệnh, độc tố do mầm bệnh sản sinh ra và các sản phẩm trao đổi chất của mầm bệnh trong quá trình phát triển sinh sản Vaccine toàn khuẩn chế tạo dễ dàng, không cần công nghệ phức tạp, giá thành rẻ Hạn chế của vacine này là liều tiêm nhiều, hiệu giá kháng thể phòng vệ đặc hiệu đối với yếu tố, thành phần gây bệnh của mầm bệnh thấp Gia súc được tiêm phòng phải tạo đáp ứng miễn dịch với các loại kháng nguyên không đặc hiệu có trong vaccine

¾ Vaccine tiểu phần (vaccine thế hệ 2)

Vaccine tiểu phần còn được gọi là vaccine chiết tách Sau khi tạo sinh khối vi sinh vật bằng phương pháp nuôi cấy tĩnh, nuôi cấy lên men (đối với vi khuẩn) hoặc nuôi cấy trên động vật, trên môi trường tế bào (đối với virus), người ta dùng các phương pháp công nghệ sinh học tách riêng từng loại kháng nguyên, từng tiểu phần kháng nguyên là yếu tố gây bệnh của mầm bệnh, dùng kháng nguyên hoặc tiểu phần kháng nguyên phối hợp với chất bổ trợ để chế tạo vaccine Để chế tạo vaccine tiểu phần phải thực hiện qui trình chế tạo phức tạp, đòi hỏi công nghệ hiện đại nên giá thành vaccine cao Nhưng vaccine này chỉ kích thích đáp ứng miễn dịch đặc hiệu với kháng nguyên hoặc tiểu phần kháng nguyên là yếu tố gây bệnh nên hiệu giá kháng thể phòng vệ đặc hiệu cao Vaccine tiểu phần có ưu điểm an toàn và hiệu lực cao hơn so với vaccine toàn khuẩn, liều tiêm ít không gây phản ứng khi tiêm (trích dẫn bởi Lâm Thị Thu Hương, 2007)

¾ Vaccine tái tổ hợp (vaccine thế hệ 3)

Đây là loại vacxin được chế tạo từ các chủng vi sinh vật được tạo ra bởi công nghệ gen và công nghệ protein Để có được các chủng vi sinh vật tái tổ hợp chứa kháng nguyên đặc hiệu của nhiều giống, nhiều loài, nhiều serotype hoặc phân type, trước tiên phải xác định được các gen chịu kiểm soát tổng hợp những protein chủ yếu của kháng nguyên có nhiệm vụ kích thích đáp ứng miễn dịch bảo hộ đặc hiệu của mầm bệnh Bằng công nghệ gen, chuyển các gen đã chọn vào các plasmid vector, rồi vào ADN của sinh vật mang Nuôi cấy tạo sinh khối cho vi sinh vật mang, bằng công nghệ protein tách, tinh chế kháng nguyên đặc hiệu dùng kháng nguyên chế tạo vaccine (trích dẫn bởi Lâm Thị Thu Hương, 2007) Để chế tạo vaccine tái tổ hợp phải sử dụng

Trang 36

công nghệ gen để tạo giống vi sinh vật, cần những thiết bị, công nghệ hiện đại để chế tạo vaccine nên giá thành đắt Nhưng đây là loại vaccine chứa kháng nguyên đặc hiệu

có độ tinh khiết cao, tạo đáp ứng miễn dịch đặc hiệu mạnh cho cơ thể nên hiệu lực phòng vệ cao, thời gian miễn dịch kéo dài, liều tiêm vaccine ít, không gây gây những đáp ứng miễn dịch phụ, ít phản ứng Khi tạo được chủng vi sinh vật mang gen nhiều loài, nhiều serotype hoặc phân type sẽ chế tạo được vaccine đa giá, đa type, tiêm một mũi vaccine phòng được nhiều bệnh, giảm công tiêm, giảm stress cho vật nuôi được tiêm phòng Trên thế giới nhiều loại vaccine tái tổ hợp đã được sản xuất và lưu hành trên thị trường

2.3.1.3 Những điều chú ý khi sử dụng vaccine

Vaccine dùng để phòng bệnh, chỉ nên dùng cho thú chưa mắc bệnh, vaccine phòng bệnh nào chỉ phòng được loại bệnh đó

Chỉ dùng vaccine cho những con thú có phản ứng tốt, tức những con thú khỏe mạnh, được nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm khác và trưởng thành

Trang 37

so với heo không được tiêm vaccine Circumvent PCV có thể được sử dụng cho heo từ

ba tuần tuổi Để đạt phản ứng miễn dịch tối ưu, heo nên được tiêm hai liều 2 cc (ml) vào bắp lúc 3 và 6 tuần tuổi

Hình 2.3 Vaccine Circumvent™ PCV

(www.circumventpcv.com)

Circumvent PCV là vaccine PCV2 nhận được giấy phép của Bộ Nông Nghiệp

Mỹ (USDA) vào tháng 10/2005 Vaccine được cung cấp cho các bác sĩ thú y bắt đầu

từ tháng 4/2006 tuy nhiên vẫn còn giới hạn và đến năm 2007 số lượng vaccine trở nên dồi dào để đáp ứng được cho nhu cầu thị trường

Circumvent là vaccine tiểu đơn vị gồm môt đoạn gen của virus PCV2 (subunit)

có khung đọc mở chính là ORF2 Circumvent có chất bổ trợ là dầu, vitamin E, gentamicin, thiromesol Sản phẩm này có màu trắng đục (nhủ tương), bảo quản ở nhiệt

độ từ 2 - 8oC trong thời gian 24 tháng Chỉ định sử dụng Circumvent cho heo con vào lúc 14 ngày tuổi và lúc 42 ngày tuổi, đường tiêm bắp thịt, liều tiêm 2 ml/lần Phương pháp sản xuất vaccine này sử dụng hệ thống biểu hiện Baculovirus để biểu hiện protein ORF2 của PCV2 Protein này có thể tự động sắp xếp tạo thành những phần giống như PCV2, chúng có cấu trúc được xếp theo thứ tự và có tính lặp lại cao giúp tạo ra những phản ứng dịch thể và phản ứng tế bào nhanh và mạnh Đây là sản phẩm của công ty Intervet-Schering Plough

Trang 38

¾ Vaccine Circovac

Circovac là loại vaccine nhũ dầu bất hoạt, phòng Porcine Circovirus Type 2 Mỗi liều 2 ml hoàn nguyên có chứa: PCV2 bất hoạt; 2,1log10 đơn vị ELISA, tá dược: Thiomersal 0,2 mg, 2 ml nhũ dầu sản phẩm của công ty Merial, tiêm phòng cho heo nái lần thứ nhất khoảng 3 – 4 tuần trước khi phối và tái chủng ít nhất 2 – 4 tuần trước khi sinh

Khi tiêm vaccine cho heo, hệ thống miễn dịch của heo sẽ nhận ra virus bất hoạt

là một tác nhân ngoại lai và sản xuất kháng thể để tiêu diệt chúng Những kháng thể này được truyền từ heo mẹ sang heo con thông qua sữa non nhờ đó giúp heo con chống lại sự xâm nhiễm của PCV2 sau khi được sinh ra

Xét nghiệm ELISA đối với các mẫu huyết thanh của heo sinh ra theo phương pháp mổ lấy thai và không cho bú sữa đầu tại Mỹ, Nawatigul và ctv (2000) ghi nhận tỷ

lệ nhiễm PCV2 trên heo sau cai sữa và heo nuôi vỗ béo là 54,5% (437/783)

Trang 39

Xét nghiệm PCR tại 17 trại heo của Ấn Độ, Stevenson (2000) cho biết 34 heo còi nghi mắc hội chứng PMWS trong độ tuổi 6 – 20 tuần có trọng lượng từ 30 – 148 pounds đều dương tính PCV2 Kết quả PCR cho thấy 65% các mẫu mô dương tính PCV2, với tỷ lệ virus PCV2 trong các loại mô có khác nhau:100% ở hạch lympho sưng lớn, 88% ở lách, 64% tại phổi, 35% tại thận và 15% tại gan

Tại Hàn Quốc, cũng bằng kỹ thuật PCR, Kim và ctv (2001) cho biết trong số 60 mẫu tinh dịch của heo đực khỏe mạnh có đến 28 mẫu nhiễm PCV2 (trích dẫn bởi Nguyễn Duy Khanh, 2008)

Theo Neumann và ctv (2002), tỷ lệ heo chết do hội chứng PMWS và PDNS tại Anh năm 2001 từ 20 – 40%

Bằng kỹ thuật PCR, Kawashima và ctv (2003) khảo sát tại Nhật Bản từ năm

2000 – 2001 đã phát hiện 85,3% (266/312) heo còi dương tính PCV2 có độ tuổi từ 30 ngày – 120 ngày thuộc 54 trại heo khác nhau chiếm 96,4% (trích dẫn bởi Nguyễn Tiến Hà, 2008)

Cũng với kỹ thuật PCR, Shibata và ctv (2003) cho biết tỷ lệ PCV2 dương tính đạt mức cao (65%) đối với những heo trong độ tuổi 3 – 4 tháng tuổi trong tổng số heo sau cai sữa và heo nuôi thịt được xét nghiệm tại Anh

Shibila và ctv (2004) khi xét nghiệm PCR và ELISA đối với các mẫu lấy từ dịch mũi của những heo con trên 5 tuần tuổi tại Đức đã phát hiện 90% dương tính PCV2 đối với trại có hội chứng PMWS so với 25% dương tính PCV2 đối với các trại không có hội chứng PMWS Tác giả nhận định sự nhiễm PCV2 có thể xảy ra từ rất sớm trên heo con sau khi tách mẹ (trích dẫn bởi Nguyễn Tiến Hà, 2008)

¾ Tại Việt Nam

Kết quả khảo sát ban đầu bằng kỹ thuật PCR của Lâm Thị Thu Hương và ctv (2005) cho biết tỷ lệ dương tính PCV2 trên heo còi tại một số trại heo công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận biến động rất lớn từ không nhiễm đến 60% trong tổng số 25 bộ mẫu hạch của 25 heo xét nghiệm

Theo Nguyễn Thị Thu Hồng và ctv (2006) bằng kỹ thuật miễn dịch peroxidase trên tế bào một lớp (IPMA) đối với các mẫu máu lưu trữ từ năm 2000 của một số tỉnh thành phía Nam, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh, đã phát hiện kháng thể PCV2

Trang 40

trong điều kiện vẫn chưa có vaccine chủng ngừa bệnh này Nhóm tác giả cũng cho biết

tỷ lệ huyết thanh dương tính với PCV2 tăng dần qua các năm: 38,97% (53/136) vào năm 2000; 74,90% (270/318) vào năm 2003 – 2004 và 90,26% (482/534) vào năm

2005

Lê Tiến Dũng khảo sát trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh, cho biết bằng kỹ thuật PCR đã phát hiện 50,77% (33/65 mẫu xét nghiệm) heo còi cọc dương tính với

PCV2 tại 17/22 trại khác nhau của 5/6 địa bàn lấy mẫu

Tại trại Darby-CJ Genetics tỷ lệ nhiễm PCV2 năm 2008 là 85%, theo xét

nghiệm của Công ty thuốc thú y Merial (nguồn: Phòng kỹ thuật trại Darby)

Ngày đăng: 13/08/2018, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w