1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG NGƯỜI CAO TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

48 1,1K 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 95,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀDinh dưỡng là chức năng mà các cá thể sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, nghĩa là thực hiện các hoạt động sống như: sinh trưởng, phát triển, vận động. Theo thời gian, sự gia tăng tuổi tác cùng với quá trình lão hóa, suy giảm chức năng và hoạt động của các hệ cơ quan khác thì chức năng dinh dưỡng này cũng bắt đầu thay đổi 30, 62.Lão hóa tác động đến toàn bộ hệ thống tiêu hóa ở người cao tuổi. Khi tuổi càng cao niêm mạc miệng ngày càng mỏng đi, số lượng thần kinh vị giác trên lưỡi cũng mất dần, kèm theo đó là giảm tiết dịch vị của dạ dày và lượng men tiêu hóa ở gan góp phần làm ảnh hưởng lên quá trình tiêu hóa và hấp thụ thức ăn 43.Đời sống gia đình, đời sống tinh thần và văn hóa của người cao tuổi thay đổi nhanh chóng. Tỉ lệ người cao tuổi sống với con cái đã giảm nhanh, trong khi tỉ lệ hộ gia đình người cao tuổi sống cô đơn hoặc chỉ có vợ chồng người cao tuổi tăng lên đáng kể. Có thể chính những yếu tố trên đây đã tác động đến tình trạng dinh dưỡng ở người cao tuổi 18.Xuất phát từ những vấn đề trên nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015” với những mục tiêu sau:1. Khảo sát tình trạng dinh dưỡng của người cao tuổi tại xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015.2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở đối tượng nghiên cứu.CHƯƠNG 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM1.1.1. Khái niệm về người cao tuổiCó rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi (NCT). Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, ............................

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ HƯƠNG VINH THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

NĂM 2015

Huế, 2015

Trang 2

(Cơ quan của Tổ chức Y tế Thế giớikhu vực Tây Thái Bình Dương)

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.2 Dân số người cao tuổi trên thế giới và việt nam 3

1.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở người cao tuổi 4

1.4 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng 6

1.5 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước 10

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Đối tượng nghiên cứu 13

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 13

2.3 Phương pháp nghiên cứu 13

2.4 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu 15

2.5 Cách đánh giá và nhận định kết quả 19

2.6 Xử lý số liệu 20

2.7 Đạo đức nghiên cứu 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 21

3.2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu 23

3.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở đối tượng nghiên cứu 25

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 33

Trang 4

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 334.2 Tình trạng dinh dưỡng ở đối tượng nghiên cứu 354.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở đối tượng nghiêncứu 37

KẾT LUẬN 44 KIẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dinh dưỡng là chức năng mà các cá thể sử dụng thức ăn để duy trì sự sống,nghĩa là thực hiện các hoạt động sống như: sinh trưởng, phát triển, vận động.Theo thời gian, sự gia tăng tuổi tác cùng với quá trình lão hóa, suy giảm chứcnăng và hoạt động của các hệ cơ quan khác thì chức năng dinh dưỡng này cũngbắt đầu thay đổi [30], [62]

Lão hóa tác động đến toàn bộ hệ thống tiêu hóa ở người cao tuổi Khi tuổicàng cao niêm mạc miệng ngày càng mỏng đi, số lượng thần kinh vị giác trênlưỡi cũng mất dần, kèm theo đó là giảm tiết dịch vị của dạ dày và lượng men tiêuhóa ở gan góp phần làm ảnh hưởng lên quá trình tiêu hóa và hấp thụ thức ăn[43]

Bên cạnh sự suy giảm chức năng, hoạt động của các hệ cơ quan thì ngườicao tuổi thường hay các bệnh mãn tính [25]

Một chế độ dinh dưỡng tốt bao gồm cung cấp đầy đủ năng lượng, protein,vitamin, khoáng chất, chất xơ và nước là cần thiết cho người cao tuổi, làm giảmđược nguy cơ mắc các bệnh mãn tính liên quan đến quá trình lão hóa như bệnhtim mạch, loãng xương, tiểu đường [45]

Già hóa dân số đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, theo dự báo dân số củaTổng cục Thống kê năm 2010 cho thấy tỉ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên ở Việt Nam

sẽ chạm ngưỡng 10,0% tổng dân số vào năm 2017, tức là dân số Việt Nam chínhthức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017

Mặc dù vấn đề dinh dưỡng đối với người cao tuổi là hết sức cần thiết nhưng

ở Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức, theo kết quả của một số nghiên cứu

về tình trạng dinh dưỡng người cao tuổi ở một số tỉnh thành gần đây cho thấy tỉ

lệ suy dinh dưỡng ở người cao tuổi vẫn chiếm tỉ lệ cao: 24,2% tại An Giang(2009), 27,5% tại Bến Tre (2011) và Nam Định (2012) là 25,2%, cùng song hànhvới tình trạng suy dinh dưỡng thì tình trạng thừa cân - béo phì ở người cao tuổicũng tăng cao một cách đáng ngại, theo các nghiên cứu trên thì tỉ lệ thừa cân -béo phì tương ứng là 27,5%, 28,0% và 9,2% [22], [24], [28]

Điều kiện kinh tế hộ gia đình người cao tuổi nước ta còn khó khăn, theothống kê năm 2008 khoảng 43% người cao tuổi nước ta vẫn đang làm việc với

Trang 6

các công việc khác nhau, nhưng đa số vẫn trong lĩnh vực nông nghiệp với mứcthu nhập còn thấp và bấp bênh.

Đời sống gia đình, đời sống tinh thần và văn hóa của người cao tuổi thayđổi nhanh chóng Tỉ lệ người cao tuổi sống với con cái đã giảm nhanh, trong khi

tỉ lệ hộ gia đình người cao tuổi sống cô đơn hoặc chỉ có vợ chồng người cao tuổităng lên đáng kể Có thể chính những yếu tố trên đây đã tác động đến tình trạngdinh dưỡng ở người cao tuổi [18]

Xuất phát từ những vấn đề trên nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu

“Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại

xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015” với những mục tiêu sau:

1 Khảo sát tình trạng dinh dưỡng của người cao tuổi tại xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015.

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở đối tượng nghiên cứu.

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.1.1 Khái niệm về người cao tuổi

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi (NCT) Trước đây,người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay

“người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ này tuykhông khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, “người cao tuổi” là thuật ngữmang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng

Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liềnvới việc suy giảm các chức năng của cơ thể [11]

Về mặt pháp luật: Luật người cao tuổi Việt Nam do Quốc Hội thông quangày 23/11/2009 đã nêu rõ: “Người cao tuổi là tất cả các công dân Việt Nam từ

60 tuổi trở lên” [26]

1.1.2 Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng

Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc

và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể

Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng cácchất dinh dưỡng của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằnggiữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinhdưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng [33]

1.2 DÂN SỐ NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.2.1 Trên thế giới

Theo số liệu của Quỹ dân số Liên hợp quốc năm 1980, số người từ độ tuổi

60 trở lên trên thế giới là 378 triệu Sau 30 năm, con số này đã tăng lên gấp đôi(759 triệu) và ước tính đến năm 2050 con số này là 2 tỷ người

Trên toàn cầu, phụ nữ chiếm đa số trong dân số cao tuổi, cứ 100 phụ nữ từ

60 tuổi trở lên thì chỉ có 84 nam giới Cứ 100 phụ nữ từ 80 tuổi trở lên thì chỉ có

61 nam giới [27]

Trang 8

1.2.2 Tại Việt Nam

Dự báo dân số của Tổng cục Thống kê năm 2010 cho thấy tỉ lệ dân số từ 60tuổi trở lên ở Việt Nam sẽ chạm ngưỡng 10% tổng dân số vào năm 2017 (Kếtquả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 cho thấy tỉ lệ dân số cao tuổi ởViệt Nam là 9%.), tức là dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “giàhóa” từ năm 2017 Tiếp đó, cũng theo dự báo này thì chỉ sau hai thập kỷ nữa dân

số Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “già” khi mà chỉ số già hóa tăng từ 35,5 năm

2009 lên hơn 100 vào năm 2032 [18]

Bảng 1.1 Chỉ số giới tính người cao tuổi tại Việt Nam

Chỉ số giới tính ở NCT Việt Nam cũng có những đặc điểm tương tự như cácquốc gia khác trên thế giới cụ thể là chỉ số giới tính nghiêng về nữ giới khi độtuổi ngày càng cao (Bảng 1.1) Nguyên nhân có thể lý giải cho xu hướng này lànam giới cao tuổi thường có tỉ suất chết cao hơn nữ giới cao tuổi ở cùng nhómtuổi [18]

1.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI 1.3.1 Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo Tổ chức Y tế Thế giới

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lương nông của Liên hợp quốc(FAO) đều khuyến nghị dùng Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index = BMI) đểđánh giá TTDD ở người trưởng thành [33]

Chỉ số khối cơ thể (BMI) là một chỉ số đơn giản thể hiện cân nặng theochiều cao thường được sử dụng để phân loại tình trạng suy dinh dưỡng (SDD),thừa cân (TC) và béo phì (BP) ở người trưởng thành BMI của một người đượctính bằng trọng lượng tính bằng kg chia cho bình phương chiều cao tính bằngmét (kg/m2) Ví dụ, một người lớn nặng 70 kg và có chiều cao là 1,75 mét sẽ cóchỉ số BMI 22,9 [60]

Bảng 1.2 Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo Tổ chức Y tế Thế giới.

Trang 9

Phân loại Khoảng BMI

Y tế Thế giới [61] Do đó đã đề nghị thang phân loại sau:

Bảng 1.3 Phân loại tình trạng dinh dưỡng dành cho người châu Á

Suy dinh dưỡng Độ IĐộ II 16 - 16,99<16

Trang 10

Tỉ số vòng eo/vòng mông cũng có giá trị để đánh giá sự phân bố mỡ Do đóchỉ số này được sử dụng để đánh giá tình trạng béo phì Khi tỉ số vòng eo/vòngmông vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì được coi là béo trung tâm.Người ta còn nhận thấy số đo vòng eo thường không liên quan đến chiều cao, cóliên quan chặt chẽ đến BMI và tỉ số vòng eo/vòng mông và vì thế được coi như

là một tiêu chuẩn đơn giản để đánh giá khối lượng mỡ bụng và khối lượng mỡcủa toàn cơ thể Người ta nhận thấy các nguy cơ tăng lên khi vòng eo ≥ 90 cmđối với nam và ≥ 80 cm đối với nữ [33].

1.4 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG 1.4.1 Yếu tố sinh học

- Thay đổi về cảm giác

Những thay đổi cảm giác bao gồm suy giảm thị lực, tai nghe kém, giảmcảm nhận về mùi vị và hương vị Những thay đổi tổng thể diễn ra trong thời giandài, không những ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng mà còn ảnh hưởng đến tìnhtrạng sức khỏe của NCT

Những thay đổi về khứu giác và vị giác có thể ảnh hưởng đến sở thích tiêuthụ các loại thực phẩm ở NCT Nếu thực phẩm có hương vị kém hấp dẫn sẽ làmNCT cảm thấy khó tiếp nhận với loại thực phẩm đó

Khi có những thay đổi trong chế độ ăn uống như hạn chế lượng muối ăn,đường hoặc chất béo trong món ăn cũng có thể dẫn đến giảm lượng thức ăn ởNCT [49]

- Thay đổi về tiêu hóa

Một trong những yếu tố quyết định quan trọng của chế độ ăn uống đa dạngtrong cuộc sống của NCT là duy trì răng tự nhiên Tại Anh, 58% người cao tuổi

ở độ tuổi 75 tuổi trở lên không có răng tự nhiên và ăn uống dựa vào răng giả,những người này có xu hướng ăn ít trái cây và rau Vì vậy, trong khẩu phần ănthường thiếu một số vi chất dinh dưỡng như vitamin C [39]

Ở dạ dày, sự gia tăng của hormone cholecystokinin (CCK) cùng với tuổitác làm kéo dài thời gian lưu trữ thức ăn tại dạ dày, nên NCT vẫn còn cảm thấycảm giác no của bữa ăn trước đó cho đến bữa kế tiếp [51]

Trang 11

Các hoạt động bình thường của đường tiêu hóa diễn ra chậm chạp cộngvới những thay đổi chung của cơ thể có ảnh hưởng trực tiếp đến dinh dưỡng.Tiết dịch tiêu hóa giảm rõ rệt, mặc dù vẫn đủ enzyme Do đó, NCT có nhiều khảnăng bị táo bón hơn người trẻ tuổi [49].

- Thay đổi về chuyển hóa cơ bản

Sự suy giảm khối cơ có thể làm giảm chuyển hóa năng lượng cơ bản Tỉ lệtrao đổi chất giảm tỉ lệ tương ứng với sự suy giảm khối lượng cơ bắp Giảm nănglượng chuyển hóa cơ bản, đặc biệt là ở nhóm tuổi 50 - 65 tuổi, góp phần vào sựgia tăng mỡ trong cơ thể ở độ tuổi cao hơn [49]

Trong những người 65 tuổi trở lên, thay đổi hormone xảy ra trong quá trìnhlão hóa có thể gây ra sự tích tụ mỡ Lão hóa có liên quan với sự giảm tiếthormone tăng trưởng, giảm đáp ứng với hormone tuyến giáp, suy giảmtestosterone huyết thanh và kháng leptin [37].

1.4.2 Yếu tố xã hội

Yếu tố xã hội ảnh hưởng đến SDD bao gồm: tình trạng kinh tế nghèo nànkhông đủ khả năng để mua thực phẩm NCT sống cô đơn một mình, không có sự

hỗ trợ từ người thân, gia đình và xã hội [44]

Số lượng các bữa ăn hàng ngày ít hơn, hàm lượng protein, các loại trái cây

và rau quả trong chế độ ăn uống của NCT sống một mình làm gia tăng nguy cơSDD so với những người sống cùng gia đình [54]

Năng lượng, protein, chất xơ và rất nhiều vi chất dinh dưỡng thấp hơn trongkhẩu phần ăn của những NCT thu nhập thấp hơn [51]

Những NCT gặp khó khăn về kinh tế, chẳng hạn như nghèo hoặc có thunhập thấp, có thể không có khả năng mua đủ lượng thực phẩm Nhiều người đau

ốm kéo dài phải để dành tiền mua thuốc hoặc trả tiền nhà, điện, nước… hơn làmua thực phẩm Họ có thể mua thực phẩm rẻ tiền, quá hạn, hết chất dinh dưỡngcốt sao cho khỏi đói [5]

Trang 12

1.4.3 Yếu tố lối sống, thói quen

- Hút thuốc lá

Hút thuốc làm tiêu hao 10% năng lượng trong 24 giờ Sự gia tăng tiêu hao năng lượng nhiều hơn khi tập thể dục và sau khi ăn Hút thuốc lá làm tăng tiêu hao 10% năng lượng trong hoạt động trao đổi chất, tương ứng khoảng 200 kcal mỗi ngày Nếu không có sự thay đổi lượng calo cung cấp hằng ngày, sự gia tăng tiêu hao năng lượng do chất nicotine có thể dẫn đến mất 10 kg trọng lượng cơ thể trong vòng một năm [50]

Nghiên cứu tại bệnh viện Southampton General và một bệnh viện cộngđồng nhỏ trong Hampshire (Bệnh viện New Forest Lymington) cũng chứngminh: tình trạng hút thuốc ở bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính ngoạitrú là một yếu tố nguy cơ cho tình trạng SDD [52]

- Rượu

Bệnh nghiện rượu thường thấy ở NCT nhưng ít được phát hiện và công bố.Trung bình có 10% đến 14% NCT uống rượu nhiều: nam giới uống sớm hơn vànhiều hơn nữ giới gấp 5 lần

Rượu là một dạng carbohydrat, tích tụ trong gan nên làm bệnh tiểu đườngnặng thêm Rượu đưa đến kém dinh dưỡng, thiếu vitamin, đặc biệt là vitaminnhóm B, vì người nghiện rượu uống nhiều hơn ăn [5]

- Thói quen ăn uống

Các chất sinh năng lượng có trong thức ăn như protit, gluxit, lipid trongthức ăn đều chuyển nhanh thành chất béo dự trữ Một khẩu phần không chỉ nhiềuchất béo mới gây BP mà ăn quá nhiều tinh bột, đường, đồ ngọt đều gây BP.Các thói quen khác như ăn nhiều cơm, ăn nhiều vào bữa tối, thích ăn cácthức ăn chứa nhiều năng lượng (đường mật, nước ngọt, thịt mỡ, dầu mỡ ), thích

ăn các món ăn xào rán cũng là những thói quen không tốt có thể dẫn đến nguy cơ

bị BP [19]

Tuy nhiên, một số NCT do kiêng khem quá mức, không dám ăn bất kỳ mộtloại thực phẩm nào ngay cả cá hoặc sữa là loại thực phẩm rất cần cho nhu cầudinh dưỡng ở mọi lứa tuổi, dần dần dẫn đến SDD [15]

Trang 13

1.4.4 Hoạt động thể lực

Cấu tạo khối cơ bắp của cơ thể thay đổi theo hướng giảm dần khi tuổi càngcao Ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh và người già trên 80 tuổi thì những thay đổinày càng diễn ra nhanh hơn [51]

Khối lượng khối cơ của cơ thể có vai trò chuyển hóa quan trọng bởi vì cơxương là nơi chuyển hóa glucoze lớn nhất và khối cơ liên quan đến sự dung nạpglucoze

Luyện tập thể dục là cách tốt nhất chống lại sự nặng bụng, duy trì khối cơ,

do đó có khả năng ngăn chặn hay thậm chí đảo lộn những ảnh hưởng xấu do lốisống ít vận động gây ra Nếu duy trì hay làm tăng khối nạc bằng thể dục, thì cóthể giữ vững mức năng lượng và dinh dưỡng ăn vào, giữ tỉ lệ chuyển hóa cơ bảnkhông thay đổi [31]

Người cao tuổi nên vận động tập thể dục như đi bộ, đi xe đạp, đi bơi, hoặctập dưỡng sinh ít nhất 30 phút mỗi ngày [64]

1.4.5 Tình trạng sức khỏe và bệnh tật

Theo báo cáo của Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam thì nguyên nhânbệnh tật của NCT đang thay đổi nhanh chóng khiến cho gánh nặng “bệnh tậtkép” ngày càng rõ ràng Một mặt, NCT đang phải chịu nhiều bệnh do lão hóagây ra; mặt khác, NCT cũng phải chịu các bệnh phát sinh do thay đổi lối sốngdưới tác động của biến đổi kinh tế - xã hội trong quá trình tăng trưởng và pháttriển kinh tế [18]

Ở những bệnh nhân trên 65 tuổi, sự gia tăng các bệnh mãn tính liên quanđến quá trình lão hóa làm giảm hoạt động thể chất, cùng với đó là lối sống tĩnhtại, giảm làm việc khi tuổi đã cao làm cho NCT dễ tăng cân hơn Ngoài việc cókhó khăn với các hoạt động của cuộc sống hàng ngày, NCT bị BP có nhiều khảnăng không thể đi bộ được xa, đi mua sắm, hoặc tham gia vào các hoạt độngkhác để tăng thêm chất lượng cuộc sống [37]

1.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.5.1 Nghiên cứu ngoài nước

Trang 14

Nghiên cứu của Aliabadi và cộng sự (2008) mô tả về TTDD của NCT (≥ 60tuổi) Iran cho thấy tỉ lệ NCT có nguy cơ SDD là 45,3% và tỉ lệ SDD là 12,0%.

Nữ có nguy cơ SDD cao hơn nam NCT có trình độ học vấn thấp, sống một mình

và ở vùng nông thôn có nguy cơ SDD cao hơn NCT có trình độ học vấn cao,vùng thành thị và sống với gia đình [38]

Nghiên cứu của Torres LH và cộng sự (2008 - 2009) trên 900 NCT tạiCampinas, Brazil, cho kết quả NCT (≥ 60 tuổi) không có răng nanh hoặc khôngmang răng giả có nhiều nguy cơ bị SDD (tỷ số chênh (OR) = 3,94) và TC/BP(OR = 2,88) Nam giới (OR = 0,56) và những người không sử dụng thuốc đểđiều trị bệnh (OR = 0,41) ít có khả năng bị TC/BP NCT hút thuốc (OR = 2,62)

có nhiều nguy cơ bị SDD NCT với thu nhập trung bình từ 3,1 đến 5 lần mứcchuẩn (OR = 1,69) có nhiều khả năng bị TC/BP (một mức chuẩn tương đương126,88 USD) so với nhóm thu nhập thấp hơn [59]

Nghiên cứu Iftikhar Alam và cộng sự (2011) trên 526 NCT nam giới tạiPakistan cho kết quả tỉ lệ BP, TC và SDD lần lượt là 13,1%, 3,1%và 10,8%.Nhóm tuổi từ 60 đến 70 tuổi có tỉ lệ TC/BP cao nhất trong mẫu nghiên cứuchiếm 8,6%, sau đó là nhóm 70 đến 80 tuổi là 4,0% và nhóm trên 80 là 0,6%[46]

Nghiên cứu của Indeks Jisim Tubuh và cộng sự tại Malaysia (2012) tỉ lệSDD ở NCT (≥ 60 tuổi) là 17,4% (BMI <18,5 kg/m2), tỉ lệ TC/BP (BMI ≥ 25kg/m2) là 28,4% Tỉ lệ SDD (20,7%) và TC/BP (35,6%) ở nữ giới cao hơn namgiới với tỉ lệ là 15,4% và 24,2% với p < 0,05 [47]

Nghiên cứu của Dwit Tessfamichael và cộng sự (2014) tại Ethiopia cho kếtquả tỉ lệ SDD là 21,9% Nhóm NCT không biết đọc, biết viết có khả năng bịSDD cao gấp 2,7 lần nhóm biết đọc, biết viết Nữ giới có nguy cơ SDD cao gấp

3 lần so với nam giới Nhóm NCT có điều kiện kinh tế nghèo có nguy cơ SDDcao gấp 1,8 lần so với nhóm giàu [58]

1.5.2 Nghiên cứu trong nước

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Hạnh và cộng sự (2001) chothấy cả hai tình trạng SDD và TC tồn tại song song ở NCT lần lượt là 21,4% và17,8% Nam giới và người trên 80 tuổi là đối tượng có nguy cơ SDD Tỉ lệ SDD

Trang 15

ở nam giới 26,4% và ở nữ là 18,0%, vùng ngoại thành có tỉ lệ SDD cao hơn sovới vùng nội thành với tỉ lệ là 28,3% so với 8,4% [9].

Theo Nguyễn Đỗ Huy, Nguyễn Thị Lâm (2009) thì tỉ lệ SDD của tất cảbệnh nhân là 21,5% Tỉ lệ SDD theo BMI của bệnh nhân > 65 tuổi cao hơn gần 2lần so với tỉ lệ này ở bệnh nhân < 65 tuổi (p<0,05) [13]

Nghiên cứu của Phạm Thị Tâm và cộng sự (2009) tại Tân Châu - An Giangthì tỉ lệ SDD là 24,2% Nhóm ≥ 80 tuổi có tỉ lệ SDD cao nhất 33,7% TC/BPchiếm 14,4% Tỉ lệ TC/BP cao nhất ở nhóm 60-69 tuổi (19,7%) Kết quả nghiêncứu cho thấy NCT nam SDD (26,6%) cao hơn nữ (22,3%) Ngoài ra, NCT cóthói quen ăn một bữa chính trong ngày có nguy cơ SDD gấp 2,61 lần NCT ăn haibữa chính trong ngày (p < 0,05) [28]

Nghiên cứu của Hà Thị Ninh (2011) tại Mỏ Cày – Bến Tre, tỉ lệ SDD củaNCT chiếm 27,5%, tỉ lệ TC/BP là 28,0% Tỉ lệ béo trung tâm là 21,0% Nhómtuổi có tỉ lệ SDD cao nhất là trên 80 tuổi chiếm 38,1%, nhóm dưới 70 tuổi có tỉ

lệ TC/BP cao nhất chiếm 35,0% Nữ có tỉ lệ TC/BP là 31,4% cao hơn so với tỉ lệTC/BP của nam là 17,4% Nam có tỉ lệ SDD là 41,3% cao hơn so với nữ 22,8%.Nhóm hiện đang hút thuốc lá có tỉ lệ SDD cao gấp 1,8 lần so với nhóm khônghút thuốc lá [22]

Kết quả nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng của NCT xã Hải Toàn, huyệnHải Hậu, tỉnh Nam Định năm 2012” của Trần Thị Phúc Nguyệt, Nguyễn VănKhiêm cho thấy, tỉ lệ SDD ở NCT chiếm 25,7%, nhóm nữ giới (28,0%) cao hơnnam giới (21,2%) Tỉ lệ TC của NCT 9,2% chung cho cả 2 giới, tỉ lệ TC nhóm

nữ giới (10,0%) cao hơn nhóm nam giới (7,7%), không gặp trường hợp nào BPcho cả 2 giới [24]

Theo nghiên cứu của Đỗ Thanh Giang (2012) tại Thái Bình tỉ lệ SDD củaNCT là 26,3%, tỉ lệ TC/BP (BMI ≥ 23) là 20,6%, tỉ lệ béo trung tâm của đốitượng là 28,2% Cân nặng và chiều cao của nam đều cao hơn nữ và ở nhóm tuổicàng cao thì cân nặng và chiều cao trung bình càng giảm [7]

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 16

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên đang sinh sống tại xã Hương Vinh, thị xãHương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế vào thời điểm điều tra

Tiêu chuẩn lựa chọn

Người cao tuổi có hộ khẩu và thường xuyên sinh sống tại khu vực nghiêncứu, tự nguyện tham gia, hợp tác, trí tuệ còn minh mẫn có thể tham gia phỏngvấn được

Tiêu chuẩn loại trừ

Người cao tuổi bị các khuyết tật trên cơ thể không thuận lợi cho đối tượng

để tiến hành đo chỉ số nhân trắc như gù, cụt chân, các trường hợp đi đứng khókhăn hay không đi đứng được

Người cao tuổi quá già yếu, khiếm thính, khiếm thị, đang điều trị bệnh nặngkhông thể tham gia nghiên cứu

Người cao tuổi mắc các bệnh lý không thể trả lời phỏng vấn (nhưAlzheimer, rối loạn tâm thần…) hoặc từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Địa điểm nghiên cứu: xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Thời gian nghiên cứu: từ ngày 01/10/2015 đến ngày 30/04/2016

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, nghiên cứu định lượng

2.3.2 Cỡ mẫu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỉ lệ:

Trang 17

d là độ chính xác của nghiên cứu, chọn d = 0,05.

Cỡ mẫu của nghiên cứu là: n = 1,962∗0,257∗0,05(21−0,257)=294

Ước lượng khoảng 10% từ chối phỏng vấn hoặc lý do nào đó không tiếpcận được đối tượng nghiên cứu

Vậy tổng cỡ mẫu của nghiên cứu là n = (294 * 10%) + 294 = 325 NCT.

Bước 3: Lập danh sách các đối tượng nghiên cứu gửi cho Trưởng trạm y tế

và Trưởng thôn Sau đó phân nhóm các đối tượng theo đơn vị tổ dân số để tiếnhành thu thập số liệu

Trang 18

2.4 PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT THU THẬP SỐ LIỆU

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Đánh giá TTDD: Sử dụng phương pháp nhân trắc học dinh dưỡng để thuthập cân nặng, chiều cao, vòng eo, vòng mông của đối tượng nghiên cứu

Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu, sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn đểtìm hiểu một số yếu tố liên quan đến TTDD

2.4.2 Kỹ thuật thu thập số liệu

Các điều tra viên sẽ được tập huấn về mục đích, cách tiến hành phỏng vấn,cách đo các chỉ số nhân trắc trước lúc tiến hành điều tra

Điều tra viên sẽ đến hộ gia đình thực hiện phỏng vấn để thu thập thông tin

và tiến hành đo chỉ số nhân trắc tại hộ gia đình

2.4.3 Kỹ thuật đo chỉ số nhân trắc

- Cân nặng: Sử dụng cân sức khỏe Tania, có độ chia chính xác đến 0,1

kg Sau khi cân được 10 lần, cân được kiểm tra lại độ chính xác bằng cáchcân với một vật đã biết trọng lượng trước đó Các đối tượng khi cân phảimặc áo quần gọn nhẹ, không mang dép, không đội mũ và cầm bất cứ vật

gì Đối tượng đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọnglượng phân bổ đều hai chân Cân được đặt vị trí ổn định và bằng phẳng,chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số không Người đọc nhìn thẳng chính giữamặt cân, đọc khi cân thăng bằng, ghi số theo kg với 1 số thập phân (0,1kg) [34]

- Đo chiều cao đứng: dùng thước cuộn lưỡi thép Stanley có chiều dài 3 mét, cóđiểm bấm giữ cố định và có độ chia đến milimet Đối tượng bỏ dép, mũ, khăntrùm đầu, đi chân không, đứng thẳng, quay lưng vào tường Tư thếđứng sao cho

hai gót chân, bắp chân, mông, vai và đầu theo một đường thẳng áp sát vào tường(6, 7, 12, 13, 14), mắt nhìn thẳng vào phía trước theo đường nằm ngang (8), haitay bỏ thõng hai bên mình (hình 2.1) Dùng thước dẹt đặt lên đỉnh cao nhất củađầu, song song với mặt đất, đánh dấu vị trí trên tường giao nhau với thước Dùngthước cuộn lưỡi thép đo chiều cao từ mặt đất đến điểm đánh dấu, ghi lại chiềucao theo đơn vị centimet và một số lẻ [34]

Trang 19

Hình 2.1 Tư thế đo chiều cao đứngNguồn: Bộ môn Sinh lý – Khoa y – Trường đại học Y Dược Cần Thơ [14 ].Vòng eo và vòng mông: dùng thước dây không giãn có chiều dài 1,5 mét và

có độ chia đến milimet Đối tượng đứng thẳng ở tư thế thoải mái, kết quả đo ghitheo centimet (cm) và làm tròn một số lẻ (0,1 cm) Vòng eo là vòng bé nhất ởbụng đi qua điểm giữa bờ dưới xương sườn cuối và đỉnh mào chậu trên mặtphẳng ngang Vòng mông là vòng lớn nhất đi qua mông [4]

Hình 2.2 Vị trí đo vòng eo và vòng môngNguồn: https://vi.wikipedia.org.[1]

2.4.4 Biến số nghiên cứu

- Nhóm biến số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu bao gồm:

+ Nhóm tuổi: phân thành 3 nhóm là 60 – 69, 70 – 79, 80 tuổi trở lên

+ Giới: phân định thành nam và nữ

+ Tôn giáo: gồm các tôn giáo là Thiên chúa giáo, Phật giáo, không theo tôngiáo và tôn giáo khác Do đặc điểm TTDD có liên quan đến chế độ ăn chay nênkhi phân tích mối liên quan chia làm hai nhóm là theo Phật giáo và không theoPhật giáo

+ Trình độ học vấn: là lớp học cao nhất đã hoàn tất trong hệ thống giáo dụcquốc dân mà người đó đã theo học gồm các nhóm: mù chữ, tiểu học, trung học

cơ sở (THCS), trung học phổ thông (THPT) trở lên

+ Nghề nghiệp hiện tại gồm: nội trợ, ở nhà; làm ruộng, rẫy; làm thuê; buônbán và nhóm nghề khác Khi phân tích mối liên quan thì dựa vào nghề nghiệp đểxác định tình trạng làm việc ở NCT gồm:

• Có làm việc: là đối tượng còn làm các công việc như làm ruộng, rẫy, làmthuê, buôn bán và làm các nghề khác

• Không làm việc: là các đối tượng như ở nhà, nội trợ, thất nghiệp

Trang 20

+ Tình trạng hôn nhân gồm: có vợ/chồng, độc thân, ly thân/ly dị, góavợ/chồng Khi phân tích mối liên quan chúng tôi chia lại làm hai nhóm như sau:

• Có vợ/ chồng

• Khác bao gồm: độc thân, ly thân/ly dị và góa vợ/chồng

+ Hoàn cảnh sống bao gồm:

• Sống một mình: hiện tại không sống chung với ai

• Sống với vợ/chồng: đối tượng chỉ sống với vợ hoặc chồng, không sốngchung với con cháu

• Sống với con/cháu: đối tượng chỉ sống với con cháu không sống chungvới chồng hoặc vợ

• Sống với vợ/chồng và con/cháu: đối tượng hiện đang sống cùng vợ/chồng

và con/cháu

Khi phân tích mối liên quan thì hoàn cảnh sống của đối tượng được chialàm hai nhóm là sống một mình và sống cùng người thân (sống với vợ/chồng,sống với con/cháu, sống với vợ/chồng và con/cháu)

+ Đánh giá tình trạng kinh tế dựa trên đánh giá của địa phương, loại nhà ở

và các phương tiện sinh hoạt trong gia đình

• Nghèo: dựa theo phân loại đánh giá của địa phương bao gồm các đốitượng có sổ hộ nghèo và cận nghèo

• Trung bình: các đối tượng không được địa phương xếp vào hộ nghèo vàcận nghèo, nhà vách ván hay tường gạch, lợp tôn hay mái ngói, có một vàiphương tiện sinh hoạt trong gia đình như: xe máy, ti vi,…

• Khá giả: các đối tượng có nhà mái bằng, nhà tầng, tường gạch, có đầy đủcác phương tiện sinh hoạt trong gia đình như: xe máy, ti vi, tủ lạnh, ghế salon, tủtrưng bày…

- Nhóm biến số lối sống, thói quen ăn uống của đối tượng nghiên cứu

+ Hút thuốc lá gồm:

Trang 21

• Đang hút thuốc lá: đối tượng có hút thuốc lá với bất kỳ số lượng nào trongvòng 12 tháng qua [29].

• Đã từng hút thuốc lá: đối tượng đã từng hút thuốc lá trước đây, hiện tạikhông hút thuốc lá với bất kỳ số lượng nào trong vòng 12 tháng qua

• Không hút thuốc: đối tượng chưa bao giờ hút thuốc lá

+ Sức khỏe răng miệng (SKRM) gồm:

• Có vấn đề SKRM: là khi đối tượng trả lời như mất răng, đau, ê buốt khi

ăn, mang răng giả, khô miệng, khó cảm nhận mùi vị thức ăn,…

• Bình thường

+ Số bữa ăn bao gồm: < 3 bữa, 3 bữa, > 3 bữa [32]

+ Thói quen sử dụng thức ăn ngọt:

• Có sử dụng thường xuyên là đối tượng có sử dụng các loại đồ uống, cácloại thức ăn ngọt ≥ 4 lần/tuần

• Không sử dụng thường xuyên là đối tượng không sử dụng hay chỉ thỉnhthoảng sử dụng các loại đồ uống, thức ăn ngọt khi có đám tiệc hay lễ hội hoặc sửdụng < 4 lần/tuần

+ Điều trị bệnh:

Trang 22

• Có điều trị: là đối tượng được chẩn đoán tại cơ sở y tế là mắc bệnh và hiệntại đang dùng thuốc.

• Không điều trị

2.5 CÁCH ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN ĐỊNH KẾT QUẢ

-Phân loại TTDD ở đối tượng nghiên cứu theo cơ quan của Tổ chức Y tếThế giới khu vực Tây Thái Bình Dương (WPRO - WHO) để phù hợp hơn vớingười Việt Nam [61]

- Ngoài ra để đánh giá thêm tình trạng BP chúng tôi cũng tiến hành đánhgiá thêm tỉ số vòng eo/vòng mông theo khuyến nghị của Viện dinh dưỡng ViệtNam để xác định tỉ lệ béo trung tâm ở đối tượng nghiên cứu

- Xác định một số yếu tố liên quan đến TTDD bao gồm:

+ Xác định mối liên quan giữa TTDD với một số đặc điểm nhân khẩu học ởđối tượng nghiên cứu như nhóm tuổi, giới, trình độ học vấn, tôn giáo, tình trạngkinh tế, làm việc, hôn nhân và hoàn cảnh sống

+ Xác định mối liên quan giữa TTDD với lối sống, thói quen ăn uống ở đốitượng nghiên cứu như hút thuốc lá, sử dụng rượu bia, tập thể dục, số bữa ăn, sứckhỏe răng miệng và thói quen ăn ngọt

+ Xác định mối liên quan giữa TTDD với tình hình điều trị bệnh tật ở đốitượng nghiên cứu

Trang 23

Nghiên cứu được tiến hành khi có sự chấp thuận của trạm y tế và chính quyền địa phương.

Đối tượng phỏng vấn được giải thích cụ thể về mục đích, ý nghĩa của

nghiên cứu Đối tượng được hỏi ý kiến và có quyền từ chối tham gia nghiên cứu.Các thông tin thu thập được lưu trữ, giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đíchnghiên cứu khoa học

Trang 24

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.1 Nhóm tuổi, giới, tôn giáo và trình độ học vấn

Bảng 3.1 Thông tin về nhóm tuổi, giới, tôn giáo và trình độ học vấn ở đối tượng nghiên cứu

Nữ

Trình độ học vấn

Mù chữ Tiểu học THCS THPT trở lên

Tổng 3.1.2.Tình trạng kinh tế, nghề nghiệp hiện tại và hôn nhân

Bảng 3.2 Thông tin về tình trạng kinh tế, nghề nghiệp hiện tại và hôn nhânở đối

Ngày đăng: 13/08/2018, 08:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w