1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

dự trữ lá mía làm thức ăn cho gia súc ăn cỏ

8 194 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 3,71 MB
File đính kèm Khung poster.rar (344 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dự án nghiên cứu khoa học kỹ thuật cho học sinh trung học cơ sở đã đạt giải: Lá mía là một nguồn phụ phẩm có sẵn trong vụ thu hoạch mía với khối lượng rất lớn. Nếu biết sử dụng Lá mía một cách hợp lý để khắc phục những hạn chế của nó ta có thể có được một nguồn thức ăn thô dồi dào quanh năm cho gia súc nhai lại. Để sử dụng được Lá mía trong những tháng khó khăn về thức ăn thô xanh ngoài vụ thu hoạch mía thì biện pháp hàng đầu là sử dụng các phương pháp bảo quản thông qua ủ chua.

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI HÀ

TRƯỜNG THCS …

- 

-BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI

DỰ TRỮ LÁ MÍA LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC ĂN CỎ

Lĩnh vực: 1 - Khoa học động vật

NHÓM THỰC HIỆN:

1 Vũ Thị Nhung Nhóm trưởng

2 Lê Thị Chi Thành viên

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: …

……., Tháng 10 Năm 2016

Trang 2

ĐỀ TÀI

DỰ TRỮ LÁ MÍA LÀM THỨC ĂN

CHO GIA SÚC ĂN CỎ

1 Lý do chọn đề tài

Mía là một loại cây trồng có năng suất sinh khối cao hơn nhiều loại cây cỏ nhiệt đới khác Cây mía có một số đặc điểm nổi trội

Xã Quảng Chính huyện Hải Hà có diện tích trồng mía của cả xã đạt 110 hecta (Thống kê 2016) Phần lá mía sau khi thu hoạch người nông dân bỏ đi

Theo thống kê năm 2016, đàn gia súc ăn cỏ của xã có 485 con Nguồn cung cấp thức ăn hạn chế vào mùa khô lạnh làm cho đàn gia súc chậm phát triển Nông dân không dám mạnh dạn nuôi thêm

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài được đưa vào sử dụng một cách có hiệu quả thì sẽ tận dụng được nguồn phụ phẩm tiềm năng từ cây mía, nhằm khắc phục tình trạng thiếu thức ăn trong mùa đông xuân, tiết kiệm sức lao động

3 Những điểm mới đề tài

Xác định được tổng sản lượng lá trên

So với việc ủ chua bằng rỉ mật, bột sắn thì ủ chua lá mía bằng cám gạo cũng cho hiệu quả tương tự nhưng chi phí thực hiện rẻ hơn, dễ thực hiện vì rỉ mật cà bột sắn là nguyên liệu không sẵn có trên địa bàn xã

Có thể áp dụng rộng rãi tới mọi hộ gia đình mang lại hiệu quả kinh tế

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được năng xuất thu hoạch lá mía để từ đó đánh giá được tiềm năng cây mía qua lượng thức ăn thu được từ lá mía và tính toán được lượng thức ăn

mà mỗi gia đình có thể dự trữ được cho gia súc

- Tìm ra mức bột sắn hợp lý nhất trong chế biến lá mía bằng phương pháp lên men yếm khí để từ đó đề xuất ý kiến bảo quản lá mía dùng làm thức ăn cho gia súc Nhai lại trên địa bàn xã

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Năng xuất lá mía được thống kê trên 6 vườn mía đang thu hoạch của xã Quảng Chính, diện tích được chọn để thống kê trên mỗi vườn là 100 m2

Do hạn chế về điều kiện về cơ sở vật chất: phòng thí nghiệm, các dụng cụ phân tích thành phần phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của lá mía được chế biến theo các phương thức khác nhau Nên chúng em chọn cách đánh giá chất lượng của

lá mía đã được lên men thông qua cảm nhận về giác quan như mầu sắc, mùi vị, phản

Trang 3

ứng của gia súc.

Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: mầu sắc, mùi vị của lá mía sau khi lên men

Tính ngon miệng của gia súc khi được cho ăn lá mía được lên men, áp dụng với 2 trâu và 1 bò trưởng thành

5 Phương pháp nghiên cứu

a) Phương pháp thống kê: Thống kê sản lượng lá mía để tính giá trị trung

bình

b) Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các loại tài liệu về kỹ thuật

ủ chua các phụ phẩm nông nghiệp

c) Phương pháp thực nghiệm: Ủ chua lá mía với các tỉ lệ bột cám gạo khác

nhau, đánh giá sản phẩm thu được và rút ra kết luận

6 Nội dung nghiên cứu: “Dự trữ lá mía làm thức ăn cho gia súc ăn cỏ” 6.1 Năng suất lá mía và thực trạng khan hiếm thức ăn gia súc vụ đông xuân thuộc địa bàn xã Quảng Chính

a) Năng suất lá mía

- Nhóm gồm 9 bạn học sinh tham gia thu gom lá mía

- Thời gian: vụ thu hoạch mía tháng 4 và 5 năm 2016

- Địa điểm: Vườn mía 6 hộ gia đình, trong đó 3 vườn mía đen và 3 vườn mía trắng (mía tre)

- Diện tích được chọn: 100 m2

- Kết quả thu được:

+) Loại mía đen: Vườn 1: 52 Kg/100m2

Vườn 2: 58 Kg/100m2

Vườn 3: 59 Kg/100m2

Sản lượng trung bình: 56 kg/100m2

+) Loại mía trắng: Vườn 1: 66 Kg/100m2

Vườn 2: 66 Kg/100m2

Trang 4

Vườn 3: 72 Kg/100m2

Sản lượng trung bình: 68 kg/100m2

- Kết luận: Diện tích trồng mía của cả xã là 110 hecta gồm 70% diện tích mía đen và 30% diện tích mía trắng ta có thể tính được sản lượng lá mía xanh thu được

là 678 tấn Thực tế, trung bình một con trâu ăn 30Kg thức ăn xanh một ngày thì lượng lá mía trên đủ cung cấp cho 400 con trâu trong 2 tháng Nếu ta dự trữ và bảo quản được thì đây là lượng thức ăn dồi dào cho gia súc

b) Thực trạng khan hiếm thức ăn gia súc vụ đông xuân

Vụ đông xuân tỉnh ta thường có rét đậm rét hại kéo dài nên các loại thức ăn thô xanh cho trâu bò thường không sinh trưởng và phát triển được, đa số người dân chăn nuôi theo cách chăn thả tự nhiên, những thức ăn thô xanh như cỏ trồng cỏ tự nhiên, thân cây ngô, lá mía rất dồi dào vào mùa mưa sau vụ thu hoạch thường không được phơi khô hoặc ủ xanh dự trữ cho mùa đông mà người nông dân có thói quen khi cần thì mới cắt cho ăn

Đa phần diện tích đất nông nghiệp của xã trồng mía và diện tích chăn thả gia súc nhỏ hẹp Đây cũng là nguyên nhân của tình trạng thiếu thức ăn cho trâu bò trong mùa giá lạnh làm cho đàn gia súc chậm phát triển, Thiếu khả năng chống trọi với giá lạnh dẫn đến hiện tượng trâu bò chết rét

Bác Đinh Khắc Khanh- một người nông dân ở thôn 5 xã Quảng Chính cho biết: Về mùa đông thường rất vất vả trong việc lấy thức ăn đôi khi cần đến 2 nhân công mới lấy đủ thức ăn cho đàn bò 3 con Mùa mưa có rất nhiều nguồn thức ăn nhưng không có cách nào dự trữ

6.2 Tác dụng của phương pháp ủ chua

Ủ chua là kỹ thuật ủ yếm khí thức ăn xanh thô có hàm lượng nước cao (75-80%), nhờ hệ vi sinh vật lên men tạo ra axit lactic và một lượng nhất định các axit hữu cơ khác Do đó nhanh chóng đưa độ pH của thức ăn ủ hạ xuống 4-4,5; ở độ pH này hầu hết các loại vi sinh vật và các men (enzim) chứa trong thực vật đều bị ức chế Nhờ vậy thức ăn ủ chua có thể bảo quản được hàng năm Quá trình lên men thức ăn xanh xảy ra nhờ chính nhóm vi khuẩn lactic và nhóm vi khuẩn khác vốn có sẵn trên bề mặt cây cỏ

Trang 5

Ngày nay người ta thừa nhận rằng ngay cả ở các nước nhiệt đới, 4 mùa tràn đầy ánh nắng mặt trời cũng cần ủ dự trữ thức ăn cho gia súc trong mùa khô Thức

ăn ủ chua ngoài cung cấp năng lượng còn cung cấp cho gia súc vitamin và khoáng chất Vấn đề ủ chua rất cần thiết, không chỉ dự trữ thức ăn xanh thô để điều hoà l-ượng thức ăn trong các mùa vụ, thời tiết bất lợi cho trồng trọt mà còn để chế biến,

dự trữ thức ăn có nguồn gốc động vật, như các phụ phẩm của hải sản, hay của các

lò mổ gia súc

6 3 Tiến hành

a Vật liệu dùng để ủ:

- Lá mía tươi: 100kg -Cám gạo: 5 kg

b Chuẩn bị túi ủ: 10 túi Nilon cỡ vừa có thể đựng 10kg lá mía tươi.

c Cách tiến hành:

Lá mía lấy về phơi nhẹ trong bóng râm 3 giờ (cứ 1 giờ cần đảo 1 lần để lá héo đều), băm nhỏ 2 - 3 cm

Chia lá mía thành 10 phần đều nhau Sau đó trộn đều với cám gạo theo các tỷ

lệ sau (%): 0; 1; 1,5; 2; 2,5; 3; 3,5; 4; 5 ; 6%

Cho 10 phần thức ăn đã trộn cám vào trong 10 túi ủ, vừa cho vừa nén cho thật chặt, tránh làm rách túi Nilon Nếu túi bị rách không khí sẽ lọt vào, quá trình ủ chua sẽ không thành công Buộc chặt miệng túi lại và cất thức ăn ủ chua vào trong chỗ râm mát

Trang 6

Quan sát sự thay đổi màu sắc, mùi, mức độ thối hỏng của lá mía ủ chua và ghi chép hàng tuần cho đến ngày 60

Theo dõi màu sắc, mùi của túi ủ sau 15 ngày

Biểu hiện phấn khởi của trâu khi ăn lá mí đã ủ chua

d Kết quả: Kết quả được ghi chép vào ngày 60 sau khi ủ:

Công thức ủ Mầu sắc Mùi Nhận xét

Lá mía ủ không bổ xung Mầu tro Chua gắt Hỏng

Lá mía ủ 1% cám gạo Mầu tro Chua Hỏng

Lá mía ủ 1,5% cám gạo Mầu tro Chua Hỏng

Trang 7

Lá mía ủ 2% cám gạo Vàng nhạt Chua thơm nhẹ TB

Lá mía ủ 2,5% cám gạo Vàng nhạt Chua thơm nhẹ TB

Lá mía ủ 3% cám gạo Vàng rơm Thơm chua nhẹ Tốt

Lá mía ủ 3,5% cám gạo Vàng rơm Thơm chua nhẹ Tốt

Lá mía ủ 4% cám gạo Vàng rơm Thơm chua nhẹ Tốt

Lá mía ủ 5% cám gạo Vàng rơm Thơm chua nhẹ Tốt

Lá mía ủ 6% cám gạo Vàng rơm Thơm chua nhẹ Tốt

Qua bảng trên, Nghiệm thức 2; 2,5; 3; 3,5; 4; 5 ; 6% cám gạo có màu vàng nhạt và mùi chua thơm nhẹ bước đầu thuận lợi khi cho gia súc ăn Trong khi đó nghiệm thức 0; 1; 1, % cám gạo có màu tro Vì thế đối với nghiện thức này không cho gia súc ăn Lá mía xử lý 2; 2,5; 3; 3,5; 4; 5 ; 6% cám gạo đem cho trâu bò ăn cho thấy nghiệm thức 3; 3,5; 4; 5 ; 6% bò ngửi và ăn ngay rồi tiếp tục ăn tiếp, lấy ngọn mía ra bò vươn cổ tới đòi ăn, khi ăn được biểu hiện phấn khởi Nghiệm thức 2; 2,5 % cám gạo bò ngửi rồi ăn nhai từ từ và ăn tiếp

Lá mía được xử lý 3; 3,5; 4; 5 ; 6% cám gạo cũng được theo dõi trên 100 ngày nhận thấy là không có sự thay đổi lớn mầu sắc, mùi và cảm quan khi cho bò

ăn Điều này cho thấy là ta có thể xử lý và bảo quản lá mía trên 2 tháng

II KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Kết quả

Lá mía ủ chua được bổ sung 3% cám gạo trở lên đã đạt mức "chất lượng tốt"

2 Thảo luận

Các mức cám gạo khác nhau đã có ảnh hưởng đến chất lượng lá mía ủ chua

Bổ sung bổ sung từ 3 % cám gạo trở lên cho kết quả tốt Tuy nhiên không nên bổ sung quá nhiều cám gạo dẫn đến tốn kém không cần thiết

3 Kết luận khoa học

Lá mía là một nguồn phụ phẩm có sẵn trong vụ thu hoạch mía với khối lượng rất lớn Nếu biết sử dụng Lá mía một cách hợp lý để khắc phục những hạn chế của

nó ta có thể có được một nguồn thức ăn thô dồi dào quanh năm cho gia súc nhai lại Để sử dụng được Lá mía trong những tháng khó khăn về thức ăn thô xanh ngoài

vụ thu hoạch mía thì biện pháp hàng đầu là sử dụng các phương pháp bảo quản thông qua ủ chua Tuy nhiên cần phải có nhiều nghiên cứu hơn nữa để tìm ra được các dạng bổ sung tốt nhất và rẻ tiền

4 Một số kiến nghị và đề xuất

Áp dụng vào sản suất công thức ủ chua lá mía bổ sung từ 3% cám gạo

Trang 8

III TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Gs.Ts.Lê Văn Liễn, Ts.Nguyễn Hữu Tào, Viện chăn nuôi quốc gia: Kĩ thuật chế biến bảo quản phụ phẩm nông nghiệp và thủy hải sản làm thức ăn chăn nuôi gia súc NXB lao động-xã hội, 2004

2.http://www.cucchannuoi.gov.vn/WebContent/bantinchannuoi/index.aspx? index=detailNews&num=20&TabID=4&NewsID=128

3.Lý Kim Bảng, Lê Thanh Bình, Tạ Kim Chỉnh, 1985: Ứng dụng vi sinh vật trong việc bảo quản thức ăn cho gia súc (báo cáo khoa học).

http://www.khuyennongvn.gov.vn/e-khcn/du-tru-va-bao-quan-thuc-an-tho-xanh-cho-vu-111ong-phan-ii

5.http://agriviet.com/nd/1144-u-thuc-an-xanh/

xã Quảng Chính năm 2016

Khung poster:

Ngày đăng: 12/08/2018, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w