1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác giải quyết việc làm sau tái định cư ở phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

98 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,95 MB
File đính kèm khóa luạn tốt nghiệp.rar (184 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm giải quyết việc làm Giải quyết việc làm là việc một quốc gia thực hiện các biện pháp nhằmtạo điều kiện, cơ hội việc làm cho người lao động, phát huy hết tiềm lực củađất nước, g

Trang 1

Công tác giải quyết việc làm sau tái định cư ở phường Quang Trung, thành

phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc làm và giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội mang tínhtoàn cầu, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Ngày nay, quanniệm về phát triển được hiểu đầy đủ là tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ,công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, giảm tỉ lệ thất nghiệp trong đó thấtnghiệp và thiếu việc làm là bước cản lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Vì vậy, tạo việc làm cho người lao động đang là vấn đề hết sức nóng bỏng vàcấp thiết Tạo việc làm không chỉ là tạo điều kiện, cơ hội việc làm cho ngườilao động, phát huy hết tiềm lực của đất nước mà còn góp phần vào công cuộcxóa đói, giảm nghèo có hiệu quả, là cơ sở để cải thiện và nâng cao chất lượngđời sống nhân dân, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị và trật tự

xã hội, tạo động lực mạnh mẽ thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước

Trong những năm vừa qua, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh BìnhĐịnh khá phát triển, bộ mặt của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực như cáckhu kinh tế, khu công nghiệp mới dần hình thành và đi vào hoạt động có hiệuquả, các khu công nghiệp cũ hoạt động mạnh hơn cả về quy mô lẫn chấtlượng, cơ sở hạ tầng phát triển mạnh, các dịch vụ xã hội ngày càng được quantâm Bên cạnh đó, thành phố Quy Nhơn - trung tâm kinh tế - văn hóa - chínhtrị - xã hội của tỉnh đã có sự phát triển một cách vượt bậc và đã được côngnhận là đô thị loại I, đời sống nhân dân được nâng cao Trong năm 2010, kinh

tế thành phố tiếp tục tăng trưởng, trong đó ngành công nghiệp đã có bướcphục hồi đáng kể Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, côngnghiệp - xây dựng chiếm tỉ lệ 48,67%, dịch vụ 43,92%, nông, lâm, thủy sản

7,41% Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 là 32,9 triệu đồng/người,

Trang 2

tương đương 1.800 USD/người Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xãhội, thành phố Quy Nhơn đã tập trung cho công tác quy hoạch, xây dựng cơbản, chỉnh trang đô thị và quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Từ đó đã tạođộng lực thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống nhân dân, bộ mặt củathành phố đổi thay và phát triển theo hướng văn minh - hiện đại Tuy nhiên,bên cạnh những thành tựu đó thì đời sống một bộ phận không nhỏ người dânđang bị ảnh hưởng do công tác quy hoạch đất đai trên địa bàn thành phố.

Dự án xây dựng đường Xuân Diệu là một trong những dự án mà thànhphố Quy Nhơn thực hiện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Để cóthể thực hiện dự án này, thành phố đã tiến hành thu hồi đất đối với các hộ dânthuộc khu vực 1, 2, phường Trần Phú và bố trí tái định cư lên khu vực khuvực 6, 7, 8 thuộc phường Quang Trung Đa số người dân trong diện di dời đềulàm nghề biển, đời sống bấp bênh và gặp nhiều khó khăn Vì vậy, khi thựchiện dự án quy hoạch đô thị, công tác tái định cư và giải quyết công ăn việclàm cho người dân ở khu vực tái định cư là nhiệm vụ phải được các cấp chínhquyền quan tâm, giải quyết

Tôi lựa chọn đề tài “Công tác giải quyết việc làm sau tái định cư ở phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” làm khóa

luận tốt nghiệp của mình với mục đích nghiên cứu nhiệm vụ này của chínhquyền địa phương cấp xã, đồng thời mong muốn đóng góp một số ý kiến nhấtđịnh nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác giải quyết việc làm chongười dân tái định cư trên địa bàn Phường Quang Trung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm nói chung và giải quyết việclàm sau tái định cư là một vấn đề rất bức thiết trong giai đoạn hiện nay.Chính vì thế, vấn đề này thu hút được rất nhiều sự quan tâm của xã hội, đã

có nhiều đề tài nghiên cứu các cấp trên phạm vi cả nước trong đó có địabàn tỉnh Bình Định Trong đó, các đề tài nghiên cứu về thực trạng việc làmcủa người dân sau tái định cư, việc làm của người dân chịu ảnh hưởng trực

Trang 3

tiếp của quá trình đô thi hóa, việc làm của người lao động ở nông thôn,việc làm của lao động nữ ở nông thôn được quan tâm nhiều Có thể đềcập đến nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu như sau:

Cảnh Thị Ngọc Bích (2007), Công tác tạo việc làm cho người lao động

trên địa bàn huyện Đan Phượng – Hà Tây.

Lê Văn Thành (2008), Công trình nghiên cứu “Đánh giá thực trạng đời sống người dân tái định cư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”.

Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hữu Trung (1997), Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Nguyễn Đình Ngọc (2008), Tìm hiểu thực trạng việc làm của người dân sau tái định cư ở phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn.

Nguyễn Văn Thái (2011), Giải pháp tạo việc làm cho người dân thuộc diện thu hồi đất tại khu kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn.

Phạm Hồng Hiệp (2011), Khảo sát vấn đề việc làm của người dân ở khu vực 9, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn.

Vũ Trường Giang (2010), Vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất

Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về công tác giải quyết

việc làm sau tái định cư của phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Công tác giải quyết việc làm sau tái định cư ở phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” không trùng với các công trình khoa học đã được công bố.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích của đề tài:

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề việc làm và giải quyết việc

Trang 4

làm, phân tích thực trạng của công tác giải quyết việc làm sau tái định củaphường Quang Trung, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao công tác

giải quyết việc làm sau tái định cư của phường Quang Trung, thành phố Quy

Nhơn, tỉnh Bình Định

- Nhiệm vụ của đề tài:

Đề tài tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Một là, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về việc làm, giải quyết việc

làm và nhiệm vụ giải quyết việc làm của cơ quan hành chính nhà nước

Hai là, nghiên cứu và đánh giá thực trạng của công tác giải quyết việc

làm sau tái định cư trên địa bàn phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn,

tỉnh Bình Định

Ba là, đề xuất những giải pháp cơ bản chủ yếu nhằm nâng cao công tác

giải quyết việc làm ở các khu tái định cư trên địa bàn phường Quang Trung,thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu công tác giải quyết việc làm sau tái định cư của phường Quang Trung, thành phố Quy

Nhơn, tỉnh Bình Định

- Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Đề tài nghiên cứu ở phường Quang Trung, thành phố

Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu công tác giải quyết việc làm của

phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định từ năm 2008

đến nay

Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về công tác giải quyết việc

làm của phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở lý luận:

Đề tài được nghiên cứu căn cứ vào quan điểm, chủ trương, chính sách

Trang 5

của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến vấn đề việc làm và giảiquyết việc làm Bên cạnh đó, đề tài có kế thừa, chọn lọc một số đề xuất, sốliệu thống kê của một số công trình khoa học có liên quan.

- Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp như: khảo sát, điều tra nghiên cứuthực tế, tổng hợp, đối chiếu và phân tích, thống kê…

6 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp được kết cấu bao gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận về việc làm và nhiệm vụ giải quyết việc làm cho người lao động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

Chương 2: Thực trạng công tác giải quyết việc làm sau tái định cư của phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm sau tái định cư của phường Quang Trung.

Trang 6

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ NHIỆM VỤ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH

NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG

1.1 Khái niệm về lao động, việc làm và thất nghiệp

1.1.1 Khái niệm về lao động

      Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua lao độngcon người tác động vào tự nhiên cải biến chúng thành những vật có lợi nhằmthỏa mãn nhu cầu của con người Bất kỳ một xã hội nào muốn tồn tại và pháttriển phải không ngừng sản xuất vật chất Điều đó có nghĩa là lao động là hoạtđộng chính của xã hội, là nguồn gốc và động lực phát triển để phát triển xãhội Sự phát triển của lao động, sản xuất là thước đo sự phát triển của xã hội.Theo Ăngghen: “Lao động đã sáng tạo ra con người và xã hội loài người” Vìvậy, xã hội càng văn minh thì tính chất, hình thức và phương pháp tổ chức laođộng càng tiến bộ

Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với việc đổi mới

cơ chế quản lý kinh tế, ở Việt Nam đã dần hình thành hệ thống quan điểm vềchính sách lao động và việc làm thì lý luận về lao động lại được đánh giá ởnhiều khía cạnh:

      - Lao động là phương thức tồn tại của con người, nó gắn liền với lợi íchcủa con người, bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần

- Đặt trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì laođộng được đánh giá ở nhiều khía cạnh mới, cụ thể là:

Thứ nhất, lao động được coi là phương thức tồn tại của con người

nhưng coi trọng lợi ích của con người Bởi vì, lao động biểu hiện bản chất củacon người còn lợi ích của người lao động là vấn đề nhạy cảm nhất, phức tạptrong mối quan hệ giữa con người với con người, quan hệ giữa cá

Trang 7

nhân với xã hội.

Thứ hai, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, lao động được

xem xét trên khía cạnh năng suất, chất lượng và hiệu quả

Thứ ba, bất cứ một hình thức lao động nào của cá nhân nếu đem lại lợi

ích cho cá nhân, cộng đồng và xã hội thì được coi là lao động

1.1.2 Khái niệm về việc làm

Việc làm là một thuật ngữ có rất nhiều cách hiểu, tuỳ theo từng góc độnghiên cứu và xem xét người ta lại đưa ra những định nghĩa khác nhau.Thông thường, thuật ngữ này được hiểu dưới hai góc độ cơ bản như sau:

- Dưới góc độ kinh tế - xã hội:

Việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho ngườilao động được xã hội thừa nhận

Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầumưu sinh của cá nhân Để thoả mãn nhu cầu của mình, con người phải thamgia vào các hoạt động lao động nhất định Đó có thể là công việc được trảcông hoặc các hoạt động mang tính chất tạo việc làm

Bên cạnh ý nghĩa cá nhân, việc làm còn mang tính cộng đồng và mangtính xã hội Điều này đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp nhất định

từ phía nhà nước để tăng số lượng và chất lượng việc làm, đảm bảo đời sốngkiềm chế nạn thất nghiệp và thông qua đó giải quyết các vấn đề xã hội khác

- Dưới góc độ pháp lý:

Theo quan niệm của ILO: “Người có việc làm là những người làm việc

gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặcnhững người tham gia vào những hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vìlợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật’’

Ở Việt Nam, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, người lao độngđược coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận là người làm việc trong cácđơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, quan niệm về việc làm và các vấn

Trang 8

đề liên quan, chính sách giải quyết việc làm đã có những thay đổi cơ bản.

Điều 55, Hiến pháp 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụcủa công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo càng nhiều việc làm cho

người lao động và xã hội” Theo đó, có việc làm là quyền cơ bản của người

lao động nhưng đồng thời cùng là trách nhiệm và nghĩa vụ của người laođộng Quan niệm này mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm

và giải quyết việc làm đối với cả nhà nước và mỗi công dân

Trên cơ sở đó cùng với việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tếvào hoàn cảnh Việt Nam, Điều 13, Bộ Luật Lao động 2005 của nước ta quy

định:“Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.

Như vậy dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố:

- Là hoạt động lao động: đây là hoạt động thể hiện sự tác động của sứclao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm, dịch vụ Mọi người đều cóhoạt động lao động nhưng không có nghĩa đều là việc làm Yếu tố việc làmkhác với lao động thông thường ở chỗ nó phải có tính hệ thống, tính thườngxuyên và tính nghề nghiệp

- Tạo ra thu nhập: thu nhập ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ

là khoản thu nhập trực tiếp mà còn bao hàm cả khả năng tạo ra thu nhập

- Hoạt động phải có tính hợp pháp: không phải mọi hoạt động tạo ra thunhập đều được coi là việc làm Hoạt động tạo ra thu nhập nhưng phải hợppháp, được pháp luật thừa nhận mới được coi là việc làm Dấu hiệu này đã thểhiện đặc trưng pháp lý của việc làm Đặc biệt đối với các nhà nước phápquyền thì đây là một dấu hiệu không thể thiếu trong khái niệm về việc làm

1.1.3 Khái niệm về thất nghiệp

a Khái niệm về thất nghiệp

Thất nghiệp và việc làm là hai phạm trù luôn đi liền với nhau Ngàynay, để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của quốc gia người ta thường căn

cứ vào các chỉ số như chỉ số tăng trưởng GDP, HDI, chỉ số lạm phát, chỉ số

Trang 9

thất nghiệp Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề việc làm sẽ hạn chế được số lượnglao động thất nghiệp, kiểm soát được phần nào thất nghiệp.

Tại hội nghị Quốc tế lần thứ 13 tại Genevơ năm 1982 về Thống kê dân

số hoạt động kinh tế, việc làm, thất nghiệp, thiếu việc làm đã thống nhất đưa

ra khái niệm về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp bao gồm toàn bộ số người

ở độ tuổi quy định trong thời gian điều tra có khả năng làm việc, không có việc làm và đang đi tìm kiếm việc làm”.

Từ định nghĩa về thất nghiệp, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đưa

ra bốn tiêu chí cơ bản để xác định “người thất nghiệp” đó là: trong độ tuổi laođộng; có khả năng lao động; đang không có việc làm; đang đi tìm việc làm.Nhìn chung, các tiêu chí này mang tính khái quát cao, đã được nhiều nước tánthành và lấy làm cơ sở để vận dụng tại quốc gia mình khi đưa ra những kháiniệm về người thất nghiệp

Như vậy về cơ bản có thể hiểu khái niệm thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi những người trong lực lượng lao động muốn tìm việc làm nhưng không có việc làm”.

Liên quan đến khái niệm thất nghiệp là một số khái niệm như:

- Tỉ lệ thất nghiệp là tỉ lệ phần trăm (%) giữa tổng số người thất nghiệp

so với lực lượng lao động

- Thiếu việc làm là tình trạng tồn tại khi những người trong lực lượnglao động có tổng giờ làm việc dưới 8 giờ trên một ngày (thất nghiệp vô hình)mong muốn làm thêm giờ nhưng không tìm được việc làm thêm

- Tỉ lệ thiếu việc làm là tỉ lệ phần trăm (%) giữa tổng số người thiếuviệc làm so với lực lượng lao động

b Phân loại thất nghiệp

Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại Thấtnghiệp có thể đựợc chia thành các loại theo các căn cứ sau:

Căn cứ theo lý do thất nghiệp, thất nghiệp được phân thành 3 loại:

Một là, thất nghiệp tự nguyện: là loại thất nghiệp mà ở một mức

Trang 10

tiền công nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì một số lý

do cá nhân như di chuyển, sinh con… Thất nghiệp loại này thường gắnvới thất nghiệp tạm thời

Hai là, thất nghiệp không tự nguyện: là thất nghiệp mà ở mức tiền công

nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tếsuy thoái (cung lớn hơn cầu lao động)

Ba là, thất nghiệp trá hình (hay còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao

động): là hiện tượng khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng họsẵn sàng làm việc Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của ngành

đó thấp và nó gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động

Căn cứ nguồn gốc thất nghiệp, thất nghiệp được phân thành bốn loại:

Một là, thất nghiệp tạm thời: là loại thất nghiệp phát sinh do sự di

chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việchoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống Thậm chí khi có đủ việclàm vẫn luôn có sự chyển động như: một số người tìm việc làm sau khi tốtnghiệp, di chuyển chỗ ở từ nơi này sang nơi khác, phụ nữ có thể quay lại lựclượng lao động sau khi sinh con… Người thất nghiệp thuộc loại này thườngxếp vào “thất nghiệp tự nguyện”

Hai là, thất nghiệp có tính cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối giữa

cung - cầu lao động (giữa các ngành nghề, khu vực…) Nó gắn liền với sựbiến động cơ cấu kinh tế và gây ra sự suy thoái của một ngành nào đó, hoặc là

sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, aikhông đáp ứng sẽ bị sa thải Chính vì vậy, loại thất nghiệp này còn được gọi

là thất nghiệp công nghệ Khi sự chuyển biến này mạnh và kéo dài, nạn thấtnghiệp sẽ trở lên trầm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn Nếu tiềnlương rất linh hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động sẽ mất đi, khi

đó tiền lương trong khu vực có nguồn cung lao động hạ xuống và cầu laođộng tăng lên

Ba là, thất nghiệp do thiếu cầu: loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu

Trang 11

chung về lao động giảm xuống (suy giảm tổng cầu) Loại này còn được gọi làthất nghiệp chu kỳ, bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với chu kỳ suythoái của chu kỳ kinh doanh Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại thấtnghiệp này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi ngànhnghề trong xã hội.

Bốn là, thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: loại thất nghiệp này xảy

ra khi tiền lương không được ấn định bởi các yếu tố của thị trường và cao hơnmức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động Vì tiền lương không chỉquan hệ đến mức sống tối thiểu, cho nên nhiều quốc gia (chính phủ hoặc côngđoàn) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt củatiền lương (ngược lại với sự năng động của thị trường) dẫn đến một bộ phậnngười lao động mất việc làm hoặc khó kiếm được việc làm

1.1.4 Khái niệm giải quyết việc làm, chính sách việc làm và ý nghĩa của vấn đề giải quyết việc làm đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội

a Khái niệm giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm là việc một quốc gia thực hiện các biện pháp nhằmtạo điều kiện, cơ hội việc làm cho người lao động, phát huy hết tiềm lực củađất nước, giải quyết tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, đảm bảo được đờisống, thu nhập của người lao động góp phần vào công cuộc xóa đói, giảmnghèo có hiệu quả, phát triển kinh tế ổn định, vững mạnh, lâu bền Giải quyếtviệc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặcbiệt đối với những nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam

b Khái niệm chính sách việc làm

Chính sách việc làm là một hệ thống các quan điểm, chủ trương,phương pháp, phương hướng, công cụ và các giải pháp giải quyết việclàm cho người lao động Nó được cụ thể hóa bằng văn bản pháp lý đượcQuốc hội thông qua và ban hành Chính sách việc làm là một trong nhữngchính sách xã hội quan trọng đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã

Trang 12

hội Dưới góc độ chính sách việc làm thì để hạn chế thất nghiệp, một mặtphải tạo ra chỗ làm mới, mặt khác phải tạo điều kiện cho người lao độngtránh được nguy cơ thất nghiệp, đồng thời có chính sách trợ cấp chongười lao động khi họ có nguy cơ thất nghiệp.

c Ý nghĩa của vấn đề giải quyết việc làm đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội

họ sẽ tăng tiêu dùng, từ đó làm tăng sức mua của toàn xã hội Tăng tích luỹ sẽgiúp cho sản xuất được mở rộng, tức là tác động đến tổng cung, tăng tiêudùng sẽ làm cho tổng cầu của nền kinh tế tăng lên kích thích sự phát triển củasản xuất, từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế

Nước ta luôn tồn tại tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm nghiêmtrọng, đại bộ phận dân cư có mức sống thấp, nhiều người lao động cần có việclàm hoặc việc làm phù hợp hơn Giải quyết việc làm ở Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay có ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế, góp phầnđẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và nâng cao thu nhập quốc dân

- Về mặt xã hội:

Trang 13

Giải quyết việc làm là một vấn đề mang tính xã hội Mỗi con người khitrưởng thành đều có nhu cầu và mong muốn làm việc, đó là nhu cầu chínhđáng và cũng là quyền lợi của người lao động Chính vì vậy, giải quyết việclàm đầy đủ cho người lao động có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân và cả

xã hội Khi Chính phủ có chính sách tạo việc làm thoả đáng, điều đó sẽ đemlại công bằng cho xã hội, tạo công ăn việc làm cho tất cả lao động Từ đó màmọi người lao động đều có thu nhập, không phải lo ăn bám, hạn chế được sựphân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội có thể giảm bớt

Ngược lại, nếu không giải quyết tốt việc làm cho người lao động, hiệntượng thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ tăng lên Điều này luôn gắn liền với sựgia tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, ma tuý… làm rối loạn trật tự

an ninh xã hội, tha hoá nhân phẩm người lao động Thất nghiệp ở mức caocòn gây ra sự bất ổn định về kinh tế và chính trị, làm mất niềm tin của nhândân đối với Nhà nước

Giải quyết việc làm trên phạm vi rộng còn bao gồm cả các vấn đề liênquan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động Trêngiác độ này, công tác giải quyết việc làm góp phần nâng cao chất lượngnguồn lao động nhằm đáp ứng những yêu cầu của thị trường, đồng thời xâydựng nguồn lực lâu dài cho đất nước

Giải quyết việc làm gắn liền với quá trình phân công lao động theongành và theo lãnh thổ Nếu không có các biện pháp tạo mở việc làm hợp lýcho khu vực nông thôn, nhiều người lao động ở khu vực này sẽ ra thành thị đểtìm việc làm, gây sức ép cho khu vực thành thị trên tất cả các mặt như: nhà ở,điện nước, y tế, phúc lợi xã hội…

1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động

1.2.1.Thực tiễn của việc làm, thất nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam

a Thực tiễn của việc làm và thất nghiệp trên thế giới

Cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu đến nay đã trở thành

Trang 14

cuộc khủng hoảng trầm trọng về việc làm, tác động đến cuộc sống của hàng tỉngười trên thế giới Hiện nay, kinh tế thế giới chỉ tạo ra được có 40 triệu việclàm cần thiết, và hầu hết trong số đó được tạo ra ở các nước đang phát triển,còn các nền kinh tế phát triển chỉ tạo được 2,5 triệu việc làm Những nước có

tỷ lệ thất nghiệp cao nhất lại là những nước có vấn đề về tài chính côngnghiêm trọng nhất Gần 70% các nền kinh tế phát triển, 50% các nền kinh tếmới nổi và đang phát triển được khảo sát đang trải qua suy thoái về việc làm. 

Theo số liệu thống kê vào 10/2010 của Tổ chức Lao động Quốc tế(ILO), số người thất nghiệp chính thức trên toàn thế giới là 205 triệu người,không cải thiện so với số liệu công bố năm 2009 và cao hơn 27,6 triệu người

so với thời kỳ tiền khủng hoảng Ngoài số người thất nghiệp chính thức, thếgiới còn khoảng 1,53 tỉ người đứng trước nguy cơ thất nghiệp do đang làmnhững công việc không ổn định như việc làm thời vụ, làm tạm thời, hoặc lâukhông tìm được việc làm

Tại Liên minh châu Âu (EU), Cơ quan Thống kê của EU (Eurostat) chobiết, tỷ lệ thất nghiệp chung của Eurozone trong tháng 9/2011 là 10,2%, mứccao nhất kể từ tháng 6/2010 và là tháng thứ 5 liên tiếp tỷ lệ này đứng ở mứccao hơn 10%

Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ trong tháng 11/2010 đã tăng lên mức 9,8% Báocáo của Bộ Lao động Mỹ công bố ngày 3/12/2010 cho biết, hơn 15 triệungười Mỹ không có việc làm, trong đó 6,3 triệu người đã thất nghiệp từ 6tháng trở lên

Trung Quốc cũng phải đối phó với nạn thất nghiệp nghiêm trọng khithống kê chính thức cho thấy, 22% trong tổng số người ở độ tuổi lao động(hơn 1 tỉ người) bị thất nghiệp Bộ Nhân sự và An ninh xã hội Trung Quốctuyên bố nước này “đang phải đối phó với thách thức lớn về việc làm ở thờiđiểm hiện tại và trong tương lai gần”

Các ngành chịu tác động nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp cao là xây dựng, kinh doanh bất động sản, tài

Trang 15

chính, dịch vụ, du lịch Ngoài ra, trong nông nghiệp, số người thất nghiệp vàngười nghèo cần cứu trợ lương thực cũng gia tăng Tại nhiều nước trong Tổchức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), một nửa số người không có việclàm không nhận được trợ cấp thất nghiệp Còn tại phần lớn các nước đangphát triển không có hình thức trợ cấp này Trên thế giới, cứ 10 người thấtnghiệp thì 8 người không được hưởng một khoản bảo hiểm nào (Nguồn:http://www.tapchicongsan.org.vn).

Bước vào năm 2012, trước sự tác động của cuộc khủng hoảng nợ côngxuất phát từ các nước Châu Âu, các biện pháp “thắt lưng buộc bụng” củachính phủ các nước càng làm suy yếu các thị trường lao động trên khắp thếgiới và có nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng việc làm toàn cầu mới TheoILO, những chính sách này đã gây “phản tác dụng” khi hướng tới các mụctiêu củng cố niềm tin và cắt giảm thâm hụt ngân sách Tổ chức có trụ sở tạiGeneva (Thụy Sĩ) này đồng thời cảnh báo chính phủ các nước về nguy cơ giáxăng dầu leo thang nếu họ không thực hiện song song chính sách thắt chặt chitiêu với tạo công ăn việc làm

Theo báo cáo trên, khoảng 50 triệu việc làm đã mất đi kể từ khi xảy racuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tới nay ILO dự báo tỷ lệ thất nghiệptoàn cầu trong năm nay là 6,1%, tương đương khoảng 202 triệu người thấtnghiệp - tăng 3% so với năm 2011

Tổ chức này cũng dự đoán tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên 6,2% vào năm

2013, đồng nghĩa với việc thêm 5 triệu người lao động nữa không có công ănviệc làm ILO cảnh báo xu thế này đặc biệt đáng lo ngại tại châu Âu, nơi gần2/3 số quốc gia đã chứng kiến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng hàng năm kể từ năm

2010 (Nguồn: http://www.vietnamplus.com)

b Thực tiễn của việc làm ở Việt Nam

Vấn đề thiếu việc làm, thất nghiệp cũng đang là vấn đề mang tính thời

sự trong giai đoạn hiện nay

Theo số liệu Tổng cục thống kê vừa công bố vào này 24/12/2012, tỷ lệ

Trang 16

thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 1,99%, giảm so với mức 2,27% năm

2011 Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi tại khu vực thànhthị là 3,25%, khu vực nông thôn là 1,42%

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2012 là 2,8%,trong đó khu vực thành thị là 1,58%, khu vực nông thôn là 3,35% (năm 2011các tỷ lệ tương ứng là: 2,96%; 1,58%; 3,56%)

Tổng cục thống kê cho hay, mặc dù tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việclàm năm 2012 giảm nhẹ so với các tỷ lệ tương ứng của năm 2011 nhưng tỷ lệlao động phi chính thức năm 2012 tăng so với một số năm trước, từ 34,6%năm 2010 tăng lên 35,8% năm 2011 và 36,6% năm 2012

Điều này cho thấy, mức sống của người dân còn thấp, hệ thống an sinh

xã hội chưa phát triển mạnh nên người lao động không chịu cảnh thất nghiệpkéo dài mà chấp nhận làm những công việc không ổn định với mức thu nhậpthấp và bấp bênh

Trong cuộc họp báo tổng kết năm 2012, giải thích cho việc tỷ lệ thấtnghiệp ở Việt Nam ở mức thấp, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ĐỗThức cho biết, việc điều tra lao động thường diễn ra trong vòng 7 ngày, nếutrong khoảng thời gian đó người trong độ tuổi không làm việc gì, không cóthu nhập, đang đi tìm việc thì mới được tính là thất nghiệp Những trườnghợp sinh viên tốt nghiệp nhưng phải làm việc phổ thông, bán hàng… đượctính là sự chuyển dịch lao động giữa các ngành nghề “Bản thân sinh viên ratrường, người mất việc làm cũng chưa chắc đã thất nghiệp ngay Những ngườinày có thể chuyển dịch sang khu vực phi chính thức, kinh doanh cá thể…”(Nguồn: http://www.baomoi.com)

Như vậy, có thể thấy rằng, vấn đề thiếu việc làm, thất nghiệp là mộtvấn đề mang tính toàn cầu, bất kì quốc gia nào cũng phải đối mặt và phải cónhững biện pháp tháo gỡ

Trang 17

1.2.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết việc làm cho người lao động

a Quan điểm của Đảng về giải quyết việc làm cho người lao động

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, dân số - lao động là yếu tố cơ bản vàquyết định sự phát triển kinh tế - xã hội, là mục tiêu và động lực của sự pháttriển Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt vấn đề dân số, lao động,việc làm vào vị trí hàng đầu của chính sách kinh tế - xã hội trong từng thời kỳxây dựng chủ nghĩa xã hội Tư tưởng đó được thể hiện rõ nét trong các quanđiểm cơ bản sau:

Một là, con người là mục tiêu và động lực chính của sự phát triển:

- Đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển hay gọi

là chiến lược con người, lấy lợi ích của con người làm điểm xuất phát của mọichương trình, kế hoạch phát triển

- Khơi dậy tiềm năng của mọi cá nhân, tập thể và cộng đồng dân tộctrong việc thực hiện chương trình xây dựng đất nước, làm giàu cho mình vàcho đất nước

- Coi lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp của sự phát triển trong sự gắn

bó hữu cơ giữa lợi ích của mọi người, của từng tập thể và toàn xã hội

- Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo vệ quyền

sở hữu về thu nhập hợp pháp

Hai là, nguồn nhân lực và con người Việt Nam là lợi thế và nguồn lực

quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta:

- Nước ta có nguồn nhân lực dồi dào và còn tăng lên rất nhanh

- Con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, cókhả năng nắm bắt nhanh khoa học kỹ thuật và công nghệ

- Con người Việt Nam có nhiều năng khiếu, nhanh nhạy với cơ chế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước

Tuy nhiên, nguồn nhân lực này tăng lên quá nhanh mà chưa sử dụnghết, lại là sức ép về đời sống và việc làm Người Việt Nam có hạn chế về thể

Trang 18

lực, kiến thức, tay nghề, còn mang thói quen lạc hậu và dấu ấn của cơ chế cũ.Khắc phục được những nhược điểm đó thì nguồn nhân lực và con người ViệtNam mới thực sự trở thành thế mạnh của đất nước.

Ba là, cần phải tạo ra một sự chuyển biến trong cơ cấu lao động xã hội,

trong đó, lao động công nghiệp và dịch vụ tăng lên cả về số tuyệt đối và sốtương đối trong khi đó lao động nông nghiệp chuyển theo hướng ngược lại

Bốn là, thực hiện phương châm dân tự do việc làm trong các thành

phần kinh tế, khắc phục tâm lý ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước

Nhà nước có chỉ tiêu tạo việc làm trong quá trình phát triển kinh tế - xãhội Nhà nước có chính sách thu hút ưu đãi chủ đầu tư, người sử dụng laođộng, doanh nghiệp mở mang phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm chongười lao động Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn

2001 - 2010 đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của

Đảng: “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” Văn kiện Đại hội Đại

biểu toàn quốc lần thứ X cũng đã định hướng về lao động, giải quyết việc làm

như sau: “Ưu tiên dành vốn đần tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn

xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút người lao động Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hóa và công nghiệp hóa Phát triển các dịch vụ phục vụ đời sống của người lao động ở các khu công nghiệp Tiếp tục thực hiện chương trình xuất khẩu lao động, tăng tỷ lệ lao động xuất khẩu đã qua đào tạo, quản lý chặt chẽ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động”.

b Chính sách của Nhà nước Việt Nam về lao động – việc làm

- Chính sách của Nhà nước Việt Nam về lao động

Chính sách của Nhà nước về lao động được quy định như sau:

Trang 19

Thứ nhất, về quyền và nghĩa vụ của người lao động.

Tại điều 6, điều 7 Bộ Luật Lao động năm 2012 có nêu rõ như sau:

“Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”.

Người lao động được trả lương trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụnglao động nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định vàtheo năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc; được bảo hộ lao động, làmviệc trong những điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động;nghỉ theo chế độ, nghỉ hàng năm có lương và được bảo hiểm xã hội theo quyđịnh của pháp luật Nhà nước quy định chế độ lao động, chính sách xã hộinhằm bảo vệ lao động nữ và các loại lao động có đặc điểm riêng

Người lao động có quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàntheo Luật Công đoàn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đượchưởng phúc lợi tập thể, tham gia quản lý doanh nghiệp theo nội dung củaDoanh nghiệp và quy định của pháp luật

Người lao động có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước laođộng tập thể, chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động và tuân theo sựđiều hành của người sử dụng lao động

Người lao động có quyền đình công theo quy định của pháp luật

Tại điều 16 của Bộ Luật Lao động năm 2012 còn nêu: “Người lao động

có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ nơi nào

mà pháp luật không cấm Người cần tìm việc làm có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng ký tại các tổ chức dịch vụ việc làm để tìm việc tuỳ theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khỏe của mình”.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động.

Tại Điều 6, Điều 8 Bộ Luật Lao động năm 2012 có nêu rõ như sau:

“Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động”.

Trang 20

Người sử dụng lao động có quyền tuyển chọn lao động, bố trí, điềuhành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh; có quyền khen thưởng và

xử lý các vi phạm kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật lao động

Người sử dụng lao động có quyền cử đại diện để thương lượng, ký kếtthỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp hoặc thỏa ước lao động tập thểngành; có trách nhiệm cộng tác với công đoàn bàn bạc các vấn đề về quan hệlao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động

Người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động, thỏaước lao động tập thể và những thỏa thuận khác với người lao động, tôn trọngdanh dự, nhân phẩm và đối xử đúng đắn với người lao động

Tại điều 16 Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định quyền tuyển chọn

lao động của chủ sử dụng lao động như sau: “Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức dịch vụ việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật”.

Thứ ba, chính sách về lao động và sử dụng lao động.

Nhà nước thống nhất quản lý nguồn nhân lực và quản lý lao động bằngpháp luật, có chính sách để phát triển, phân bổ nguồn nhân lực, phát triển đadạng các hình thức, sử dụng lao động và dịch vụ việc làm

Nhà nước hướng dẫn người lao động và người sử dụng lao động xâydựng mối quan hệ lao động hài hòa và ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự pháttriển của đơn vị, doanh nghiệp

Nhà nước khuyến khích việc quản lý lao động, sử dụng lao động dânchủ, công bằng công minh trong đơn vị, doanh nghiệp; trong việc tríchthưởng từ lợi nhuận đơn vị, doanh nghiệp, làm cho người lao động đạt đượclợi ích chính đáng và quan tâm đến hiệu quả hoạt động đơn vị, doanh nghiệpnhằm đạt chất lượng quản lý lao động, năng suất lao động trong sản xuất kinhdoanh đạt kết quả tốt

Nhà nước có các chính sách hỗ trợ đầu tư thoả đáng, cho người lao

Trang 21

động được mua cổ phần, góp vốn phát triển đơn vị, doanh nghiệp.

Ngoài ra, vấn đề quản lý lao động không chỉ trong lĩnh vực sản xuấtkinh doanh, trong Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 31/01/2008 của Thủ tướngChính phủ về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian làm việc của cán bộ,

công chức, viên chức nhà nước tại mục 1, điểm e có ghi: “Đề cao trách nhiệm, gương mẫu thực hiện các quy định về sử dụng thời giờ làm việc; có biện pháp khuyến khích, khen thưởng xứng đáng, kịp thời những cán bộ, công chức, viên chức nghiêm túc chấp hành kỷ luật lao động, làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, sử dụng thời giờ làm việc cao; đồng thời thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các quy định về sử dụng thời giờ làm việc, về kỷ luật lao động; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; không xét khen thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm thời giờ làm việc”.

Thứ tư, quản lý nhà nước về lao động và sử dụng lao động.

Trước hết, quan niệm đúng về việc làm như điều 13 Bộ Luật Lao động

đã quy định: “Mọi hoạt động có ích, mang lại thu nhập không bị pháp luậtngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”

Nhà nước thống nhất quản lý nguồn nhân lực và quản lý lao động bằngpháp luật, có chính sách để phát triển, phân bổ nguồn nhân lực, phát triển đadạng các hình thức sử dụng lao động và dịch vụ việc làm

Nhà nước hướng dẫn người lao động và người sử dụng lao động xâydựng mối quan hệ lao động hài hòa và ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự pháttriển của doanh nghiệp

Nhà nước khuyến khích việc quản lý lao động dân chủ, công bằng,công minh trong doanh nghiệp và mọi biện pháp, kể cả việc trích thưởng từlợi nhuận doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao trong quản lý lao động, quantâm đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao trongquản lý lao động, sản xuất kinh doanh

Nhà nước có chính sách để người lao động mua cổ phần, góp vốn pháttriển doanh nghiệp

Trang 22

- Chính sách việc làm của nước ta.

Bộ Luật Lao động năm 2012 đã quy định chính sách việc làm như sau:

Một là, Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu

tư phát triển kinh tế - xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn vớichương trình giải quyết việc làm; lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngânsách Nhà nước và các nguồn khác, phát triển hệ thống tổ chức dịch vụviệc làm

Hai là, Chính phủ phải có các chính sách và biện pháp tổ chức dạy

nghề, đào tạo lại, hướng dẫn sản xuất kinh doanh, cho vay vốn với lãi suấtthấp từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm, tạo điều kiện để người lao độngtìm việc làm hoặc tự tạo việc làm; hỗ trợ về tài chính cho những địaphương và ngành có nhiều người thiếu việc làm hoặc mất việc làm dothay đổi cơ cấu hoặc công nghệ

Ba là, Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tàichính, cho vay vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện phápkhuyến khích khác để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm,

để các tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triểnnhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho nhiều người lao động

Bốn là, Nhà nước có các chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để

thu hút và sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số

1.2.3 Nhiệm vụ giải quyết việc làm của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương.

Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thay mặt Nhà nướcquản lý tất cả các vấn đề từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại, an ninh,quốc phòng cho đến các vấn đề xã hội của địa phương, trong đó có vấn đềviệc làm và giải quyết việc làm

Các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương với cơ quan chuyênmôn của mình là Sở lao động - Thương binh và xã hội tỉnh, thành phố; Phòng

Trang 23

lao động - thương binh và xã hội huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; bộphân lao động - xã hội thuộc xã, phường, thị trấn có chức năng quản lý nhànước và phụ trách một số mặt công tác sự nghiệp về lĩnh vực lao động -thương binh và xã hội, trong đó có vấn đề giải quyết việc làm của địa phươngtheo chính sách, pháp luật của Nhà nước Tại khoản 4, Điều 90 của Luật Tổchức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quy định nhiệm vụ, quyền hạncủa Ủy ban nhân dân tỉnh trong vấn đề giải quyết việc làm như sau: “Thựchiện kế hoạch, biện pháp về sử dụng lao động và giải quyết các quan hệ laođộng; giải quyết việc làm, điều động dân cư trong phạm vi tỉnh” Tại khoản 6,Điều 102 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quy địnhnhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân huyện trong vấn đề giải quyết việclàm như sau: “Tổ chức, chỉ đạo việc dạy nghề, giải quyết việc làm cho ngườilao động; tổ chức thực hiện phong trào xoá đói, giảm nghèo; hướng dẫn hoạtđộng từ thiện, nhân đạo”.

Căn cứ vào phân cấp quản lý hành chính nhà nước, phương hướng,nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện trong từng thời gian mà

Sở Lao động - Thương binh và xã hội của tỉnh, Phòng Lao động - Thươngbinh và Xã hội huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xây dựng phươnghướng, nhiệm vụ về công tác lao động - giải quyết việc làm trên địa bàn vàtriển khai thực hiện phương hướng nhiệm vụ đó

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện, quận, thị xã, thành

phố thuộc tỉnh hướng dẫn các xã, phường, đơn vị cơ sở trên địa bàn huyện

thực hiện quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và giải quyết việc làmcho người lao động; thực hiện chính sách chế độ bảo trợ xã hội đối với cácđối tượng được hưởng chính sách bảo trợ xã hội của Nhà nước và người laođộng ở các thành phần kinh tế; tổ chức và hướng dẫn các xã, phường, các đơn

vị cơ sở trong huyện thực hiện các dự án di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới,giới thiệu việc làm cho người lao động tham gia sắp xếp việc làm thích hợpcho các đối tượng bảo trợ xã hội có nhu cầu việc làm; quản lý và chỉ đạo các

Trang 24

cơ sở sự nghiệp, nhà bảo trợ xã hội của huyện, xã, cơ sở dạy nghề, sản xuấtcủa các đối tượng bảo trợ xã hội

1.3 Công tác giải quyết việc làm sau tái định cư của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

1.3.1 Khái niệm tái định cư và ý nghĩa của công tác giải quyết việc làm cho người dân sau tái định cư

a Khái niệm tái định cư

Trên cơ sở lý luận để đưa ra được một khái niệm hoàn chỉnh về “táiđịnh cư” là rất khó Trong công trình nghiên cứu “Thực trạng đời sống củangười dân ở các khu vực tái định cư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” củaThạc sĩ Lê Văn Thành, viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra khái

niệm tái định cư : “Tái định cư là quá trình di dời, giải toả và bố trí nơi ở mới cho một cộng đồng dân cư” và ông cũng nhận định: “Việc giải tỏa, di dời, tái định cư không chỉ dừng lại ở việc đưa bộ phận dân cư từ nơi ở này sang nơi ở khác, mà tái định cư còn liên quan tới rất nhiều vấn đề như việc làm, học hành, sự tiếp cận các dịch vụ, các quan hệ xã hội…” Do đó, tái định cư cần

được nhìn nhận như một quá trình thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội củamột bộ phận dân cư hơn là chỉ dừng lại ở việc xem xét đây là một quá trìnhthay đổi chỗ ở

Để hiểu rõ hơn về khái niệm tái định cư, chúng ta cần tìm hiểu một sốkhái niệm liên quan như sau:

Một là, khái niệm kế hoạch tái định cư: là một kế hoạch hành động có

giới hạn về thời gian gồm các nội dung như chiến lược tái định cư, mục tiêu,ảnh hưởng, quyền lợi, khảo sát kinh tế - xã hội, khung chính sách, khung pháp

lý, biện pháp giảm thiểu các ảnh hưởng, khu tái định cư, bồi thường, phục hồithu nhập

Hai là, bồi thường tái định cư: là việc thay thế giá trị các tài sản bị mất

bằng hiện vật hoặc bằng tiền

Ba là, tái định cư bắt buộc: các dự án phát triển đòi hỏi phải có đất,

Trang 25

phải tiến hành giải phóng mặt bằng và hầu hết phải thực hiện ở một số vị trínhất định Do không có diện tích đất cần thiết, chính quyền thường phải sửdụng đến luật pháp chính sách để thu hồi đất đai cho chủ đầu tư.

b Ý nghĩa của vấn đề giải quyết việc làm cho người dân sau tái định cư

Vấn đề ổn định việc làm, ổn định thu nhập là điều kiện cơ bản để nângcao đời sống cho người dân Vấn đề này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọngđối với việc ổn định cuộc sống của người dân tại khu vực tái định cư

Khi người dân ở tại cộng đồng dân cư cũ họ có việc làm Thu nhập cóthể là không ổn định, nhưng họ còn có công việc, có thu nhập Khi di dời tớikhu tái định cư người dân phải thay đổi chổ ở, thay đổi những hoàn cảnh vàđiều kiện sản xuất Chính vì vậy đúng như ngân hàng thế giới đã nhận định:

“Nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm, vấn đề tạo thu nhập thì nguy cơ nghèo đói của người dân là rất cao’’ Đó là chưa kể khi không có việc làm

người dân tái định cư phải khai thác cạn kiệt tài nguyên môi trường để sinhtồn dẫn tới những hậu quả tai hại về môi trường sống

Mặt khác, khi người lao động không có việc làm hay việc làm không

ổn định sẽ dẫn tới ảnh hưởng về thu nhập Khi đó người dân tái định cư sẽthiếu nguồn lực đầu tư cho các dịch vụ khác như nhà ở, y tế, giáo dục, vuichơi, giải trí,… Ngược lại, khi nhà nước có những chính sách, những hướngtác động hợp lý thì sẽ giúp cho người dân có nhiều việc làm, có thu nhập vàkhi đó các vấn đề khó khăn trên sẽ được giải quyết Và đó thực sự là động lựctạo ra một cộng đồng dân tái định cư phát triển bền vững

c Quan điểm về tái định cư Ngân hàng Thế giới và các tổ chức quốc tế

Mục tiêu chính sách tái định cư của tổ chức Ngân hàng Thế giới lànhằm “đảm bảo cho người dân bị ảnh hưởng có được cuộc sống ngang bằnghoặc tốt hơn trước khi dự án được triển khai” Mục tiêu này cũng khá gần vớinguyên tắc tái định cư của Việt Nam, mặc dù giữa chính sách và thực tiễn vẫn

là một khoảng cách lớn Tuy nhiên, điều mấu chốt là chính sách của Ngânhàng Thế giới đòi hỏi bên vay phải xây dựng một chương trình phục hồi thu

Trang 26

nhập, sinh kế để thực hiện mục tiêu trên Việc thoái thác hoặc không cam kếtthực hiện chương trình hỗ trợ tái định cư sẽ có thể là nguyên nhân dẫn đếnviệc rút vốn, dừng công trình dự án.

Ngân hàng thế giới (World bank 2004), ngân hàng phát triển Châu Á(ADB,1995) cảnh báo tái định cư có thể dẫn đến những nguy cơ như ngườidân phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo, khi điều kiện sản xuất và nhữngnguồn tạo thu nhập của họ mất đi, họ có thể bị di dời tới những nơi không cóviệc làm hay các tài nguyên kiếm sống, khiến cho họ phải khai thác đến mức

độ kiết quệ các tài nguyên môi trường để sinh tồn, tác động gây hại đến môitrường Từ đó, các thiết chế cộng đồng và mạng lưới xã hội bị phá vỡ, cácmối quan hệ họ hàng cũng bị ảnh hưởng, các yếu tố truyền thống, văn hóa cóthể mất đi, dân cư tại khu tái định cư không thân thiện, không có nét tươngđồng về văn hóa Đây thực sự là những tổn thất vô hình mà người dân tái định

cư phải gánh chịu bên cạnh những mất mát về đất đai, nhà cửa

Các tổ chức quốc tế còn đề nghị những giải pháp để hạn chế tối đanhững chi phí “vô hình” mà người dân tái định cư phải gánh chịu Tổ chứcChương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đưa ra nguyên tắc bồithường “phi vật chất” cho các hộ dân nên được chú trọng nhiều hơn Cònngân hàng thế giới (World bank 2004) cho rằng trong việc tính toán chi phícho các dự án tái định cư để ý đến cả chi phí tái khôi phục đời sống kinh tế xãhội, và các dự án cần phải hoạch định một cách nghiêm túc vấn đề việc làmcho người dân, cũng như môi trường và vấn đề giảm nghèo

Qua những khuyến cáo trên ta thấy rằng việc quan tâm tới đời sống củangười dân “hậu tái định cư” có một ý nghĩa hết sức quan trọng Bên cạnh cầnquan tâm tới đền bù nhà cửa, đất đai cho dân tái định cư thì cũng cần quantâm đền bù xứng đáng các chi phí “vô hình” cho họ khi tới nơi ở mới Có nhưvậy mới tạo ra được một cộng đồng tái định cư có đời sống tốt hơn hoặcngang bằng so với nơi ở trước đây về cả khía cạnh kinh tế cũng như xã hội

1.3.2 Công tác giải quyết việc làm sau tái định cư của các cơ quan

Trang 27

hành chính nhà nước ở địa phương

1.3.2.1 Quan điểm tái định cư của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Quan điểm về tái định cư của Nhà nước Việt Nam là nhằm bảo đảmcho người dân phải di chuyển có cuộc sống tốt hơn ở nơi ở cũ về các mặt nhà

ở, cơ sở hạ tầng, phúc lợi công cộng, đặc biệt là về điều kiện sản xuất và đảmbảo sự phát triển bền vững trong tương lai Hiến pháp năm 1992 của NướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định quyền của công dân trongviệc sở hữu và bảo vệ quyền hợp pháp về sở hữu nhà ở Tại Hội nghị lầnthứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Đảng ta đã ban hànhNghị quyết 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đaitrong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trong

đó, Nghị quyết đã đề cập về vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cưvới các quan điểm sau đây:

Một là, Nhà nước chủ động thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất hằng

năm đã được xét duyệt Quy định rõ ràng và cụ thể hơn các trường hợp Nhànước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, anninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh

tế, xã hội Đối với các dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sửdụng đất thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng được chuyển nhượng, chothuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất với nhà đầu tư để thực hiện dự án

Hai là, việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc trách

nhiệm của UBND các cấp và có sự tham gia của cả hệ thống chính trị Kiệntoàn, nâng cao năng lực của tổ chức có chức năng phát triển quỹ đất để bảođảm thực thi nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sửdụng đất

Ba là, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải

bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan, công bằng và đúng quy định củapháp luật Người sử dụng đất được bồi thường theo mục đích đất đang sử

Trang 28

dụng hợp pháp Tổ chức thực hiện có hiệu quả phương án đào tạo nghề, tạoviệc làm, tổ chức lại sản xuất và bảo đảm đời sống của nhân dân ở khu vực cóđất bị thu hồi Nghiên cứu phương thức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ để bảođảm ổn định đời sống lâu dài cho người có đất bị thu hồi.

Bốn là, hoàn thiện cơ chế tạo quỹ đất, huy động các nguồn vốn xây

dựng các khu dân cư có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ để bố trí chỗ

ở mới cho người có đất bị thu hồi trước khi bồi thường, giải tỏa Khu dân cưđược xây dựng phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng,miền trong cả nước

Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý liên quan

để nhằm tạo nên khung pháp lý cho việc thu hồi đất, đền bù và tái định cư cóthể kể đến các văn bản pháp lý sau:

Nghị định 22/1998/NĐ-CP có những quy định liên quan đến tái định cư

và chính sách hỗ trợ, cung cấp hướng dẫn thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo

về đền bù, ổn định thu nhập và cuộc sống cho các hộ phải di chuyển

Luật sửa đổi đất đai 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003

và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2004 Đây là một văn kiện quan trọng trongviệc bồi thường tái định cư cho những người bị mất nơi ở và phải tái định

cư không tự nguyện Khoản 3, Điều 42, Luật Đất đai 2003 đã quy định:

“Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiệncác dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ởcho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu tái định cư đượcquy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điềukiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”

Đối với việc đền bù và tái định cư, Nghị định 197/2004/NĐ-CP quyđịnh về bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm quy địnhtại điều 29, được hướng dẫn cụ thể như sau:

a) Việc hỗ trợ chuyển đổi nghề cho số lao động trong độ tuổi lao độngcủa các hộ gia đình bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp được thực hiện bằng

Trang 29

hình thức hỗ trợ một phần chi phí học nghề tại các cơ sở dạy nghề ở địaphương Mức hỗ trợ cụ thể do chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết địnhcho phù hợp với thực tế địa phương.

b) Trường hợp ở địa phương chưa tổ chức được việc đào tạo chuyển đổinghề và chủ dự án sử dụng đất thu hồi không thể tổ chức được đào tạo nghềhoặc người được hưởng hỗ trợ đào tạo nghề không muốn tham gia đào tạonghề thì thực hiện hỗ trợ bằng tiền; mức hỗ trợ bằng tiền cụ thể do chủ tịch Uỷban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế tại địa phương

Nghị định 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung về một số trường hợp cấpGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở vàquyền sử dụng đất ở (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận); về một sốtrường hợp thực hiện quyền của người sử dụng đất; về thu hồi đất và bồithường, hỗ trợ về đất; về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và táiđịnh cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, anninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế và việc giải quyếtkhiếu nại về đất đai

Quyết định 52/2012/QĐ-TTg quy định về về chính sách hỗ trợ giảiquyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nôngnghiệp Quyết định này quy định chính sách giải quyết việc làm, đào tạonghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên phạm vi cả nướckhi Nhà nước thu hồi đất

Như vậy, có thể khẳng định rằng Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâmđến công tác hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho người dân bị thu hồiđất Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương giải quyết việc làm, đào tạonghề, ổn định cuộc sống cho người dân khi thực hiện thu hồi đất phục vụ chocác dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

1.3.2.2 Công tác giải quyết việc làm sau tái định cư của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Tại Điều 43, Nghị định 197/2004/NĐ-CP đã quy định cụ thể về trách

Trang 30

nhiệm Uỷ ban nhân dân các cấp về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khiNhà nước thu hồi đất như sau:

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm là:

a) Chỉ đạo, tổ chức, tuyên truyền, vận động mọi tổ chức, cá nhân vềchính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thực hiện giải phóng mặt bằngtheo đúng quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

b) Chỉ đạo các sở, ban ngành và Uỷ ban nhân dân cấp huyện:

- Lập dự án tái định cư, khu tái định cư để phục vụ cho việc thu hồi đất;

- Lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo thẩm quyền;c) Phê duyệt hoặc phân cấp cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệtphương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;

d) Phê duyệt giá đất; ban hành bảng giá tài sản tính bồi thường,quy định các mức hỗ trợ và các biện pháp hỗ trợ theo thẩm quyền;phương án bố trí tái định cư, phương án đào tạo chuyển đổi nghề theothẩm quyền được giao;

đ) Chỉ đạo các cơ quan có liên quan thực hiện việc giải quyết khiếunại, tố cáo của công dân về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo thẩmquyền pháp luật quy định;

e) Bảo đảm sự khách quan, công bằng khi xem xét và quyết định việcbồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo thẩm quyềnquy định tại Nghị định này;

g) Quyết định hoặc phân cấp cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện cưỡngchế đối với các trường hợp cố tình không thực hiện quyết định thu hồi đất củaNhà nước theo thẩm quyền;

h) Chỉ đạo kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư

Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi có đất bị thu hồi có trách nhiệm là:a) Chỉ đạo, tổ chức, tuyên truyền, vận động mọi tổ chức, cá nhân vềchính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thực hiện giải phóng mặt bằng

Trang 31

theo đúng quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

b) Chỉ đạo Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cùng cấp lập và

tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; thực hiện phêduyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo phân cấp của Uỷ bannhân dân cấp tỉnh;

c) Phối hợp với các sở, ban, ngành, các tổ chức và chủ đầu tư thực hiện

dự án đầu tư xây dựng, phương án tạo lập các khu tái định cư tại địa phươngtheo phân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh;

d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân về bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư theo thẩm quyền được giao; ra quyết định cưỡng chế và tổchức cưỡng chế đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền; phối hợp vớicác cơ quan chức năng tổ chức thực hiện việc cưỡng theo quyết định của

cơ quan có thẩm quyền

Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm là:

a) Tổ chức tuyên truyền về mục đích thu hồi đất, chính sách bồithường, hỗ trợ và tái định cư của dự án;

b) Phối hợp với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiệnxác nhận đất đai, tài sản của người bị thu hồi;

c) Phối hợp và tạo điều kiện hỗ trợ cho việc chi trả tiền bồi thường, hỗtrợ và bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất và tạo điều kiện cho việc giảiphóng mặt bằng

Như vậy, các quy định trên chính là cơ sở để phân định trách nhiệm của

Uỷ ban nhân dân các cấp trong quá trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khiNhà nước thu hồi đất

1.3.2.3 Thực tiễn của vấn đề giải quyết việc làm sau tái định cư hiện nay

Để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội, ở nước ta hiệnnay tuy chưa có con số cụ thể nhưng ta có thể khẳng định rằng có hàng ngànkhu tái định đã được xây dựng và có rất nhiều dự án tái định cư đang đượctiến hành với hàng triệu người dân đang sinh sống Nhưng trên thực tế thì đời

Trang 32

sống của người dân sau tái định cư đang gặp rất nhiều khó khăn Công tác hỗtrợ giải quyết việc làm của các cấp còn nhiều bất cập.

Theo Tiến sĩ Phạm Thị Yến (Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh)cho rằng: “Thực tế ở các khu vực tái định cư phản ánh chính sách tái định cưhiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh, cả nước nói chung, không được triển khaiđồng bộ, thiếu hẳn cơ sở, giải pháp để người dân có cuộc sống ổn định nơi táiđịnh cư Cụ thể là ở các khu tái định cư phần lớn chỉ mới đáp ứng duy nhất làchổ ở, các nhu cầu khác về việc làm, y tế, văn hóa… không được đáp ứng”

Chuyên gia lao động và việc làm Trần Anh Tuấn dẫn chứng thêmcác khu tái định cư, chung cư hiện nay tồn tại khá nhiều cái “không”,không chỗ làm việc, không nhà trẻ, không chợ bán, không bệnh viện,không chỗ vui chơi giải trí…

Tất cả các vấn đề trên cho thấy rằng đó là hệ quả của một thời gian dàitriển khai công tác di dời, giải tỏa chỉ hướng đến mục tiêu cơ bản là thỏathuận giá bồi thường đất và có nhà ở Sau khi đạt được mục tiêu đó rồi, mộtthời gian ở cả người dân và chính quyền mới giật mình nhận ra những điềukiện tối thiểu cho cuộc sống “hậu” tái định cư đã không được tính toán trước

để đáp ứng đầy đủ

Theo ông Lê Văn Thành (phó trưởng phòng nghiên cứu phát triển đôthị - Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh) cho biết: “Công tác quản lý,chăm sóc cuộc sống người dân sau tái định cư ở thành phố Hồ Chí Minhcũng như cả nước đang bị bỏ ngỏ Kết quả từ nhiều công trình nghiên cứu

về thực trạng đời sống kinh tế xã hội của người dân sau tái định cư chothấy trên 80% gia đình sau tái định cư cho rằng không nhận được giúp đỡcủa chính quyền địa phương hay giúp đỡ không hiệu quả khi chuyển đếnnơi ở mới Tuy đây chỉ là một cuộc khảo sát phản ánh qua ý kiến của ngườidân, nhưng phần nào cũng cho thấy thực trạng người dân về khu tái định cưmới chưa đáp ứng được kỳ vọng của họ”

Từ thực tế đó, đòi hỏi công tác giải quyết việc làm sau tái định cư cần

Trang 33

được các cấp các ngành quan tâm và có những chính sách, những hướng tácđộng hợp lý để cuộc sống của người dân ổn định sau tái định cư.

1.3.2.4 Một số yêu cầu khi xây dựng chính sách việc làm ở các khu tái định cư

a Lý thuyết hệ thống áp dụng cho công tác tái định cư

Cộng đồng dân tái định cư được xem như là một hệ thống xã hội vớicác thành phần cấu tạo như kinh tế, giáo dục và đào tạo, các điều kiện nhà ở

và các điều kiện sinh hoạt khác, việc tiếp cận các dịch vụ xã hội, các quan hệ

xã hội Tái định cư là việc di dời một cộng đồng dân cư từ nơi ở này sangnơi ở khác Theo lý thuyết hệ thống chỉ một sự thay đổi về chổ ở này cũng cóthể dẫn đến những thay đổi ở các thành phần khác như kinh tế, giáo dục vàđào tạo, điều kiện nhà ở, điều kiện sinh hoạt khác, việc tiếp cận các dịch vụ xãhội khác… Và như thế trạng thái cân bằng của cộng đồng dân tái định cư đã

bị ảnh hưởng Sự mất cân bằng này có thể hứa hẹn một sự sụp đổ của hệthống cũ và tiến tới thiết lập được một hệ thống mới, một cộng đồng dân cưmới có đời sống tốt hơn nếu có các chính sách tác động phù hợp và hiệu quả

Tuy nhiên, nếu không có chính sách hỗ trợ hoặc các chính sách hỗ trợkhông phù hợp thì có thể dẫn tới việc chất lượng cuộc sống của cộng đồngdân tái định cư sẽ càng ngày đi xuống và tồi tệ hơn Chính sách đóng một vaitrò quan trọng, nếu không nói là có tính quyết định trong việc ổn định cuộcsống của người dân tại khu vực tái định cư, ổn định cuộc sống lâu dài cho

“cuộc sống hậu tái định cư”

b Một số yêu cầu khi xây dựng chính sách việc làm ở khu tái định cư

Xây dựng các chính sách việc làm ở khu vực tái định cư là một việclàm có ý nghĩa then chốt đối với sự ổn định của đời sống người dân “hậu táiđịnh cư” Tuy nhiên để một chính sách ra đời tác động tích cực tới cộng đồngtái định cư là một điều không phải dễ Qua thực tiễn đời sống ta thấy rằngmuốn chính sách ra đời và có hiệu quả đồi hỏi các nhà hoạch định phải xuấtphát từ một số yêu cầu cơ bản sau đây:

Trang 34

Thứ nhất, phải xây dựng các chính sách việc làm ở các cộng đồng tái

định cư dựa trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội ở đây bao gồm các yếu tốnhư tài nguyên môi trường, việc làm, dân tộc, tôn giáo… của người dân di dờiđến và cả người dân bản xứ Có như vậy mới phát huy được các nguồn lực,các thế mạnh tại cộng đồng đồng thời qua đó sẽ hạn chế được sự tác động tiêucực do phải thay đổi cuộc sống của người dân

Thứ hai, xây dựng các chính sách việc làm vừa mang tính chất kinh tế

vừa có tính nhân văn đối với cộng đồng dân cư

Đây cũng là một yêu cầu lớn, đòi hỏi một sự nỗ lực lớn để thực hiện.Một chính sách việc làm ra đời, đầu tiên phải tác động tạo công ăn việc làm,

có thu nhập ổn định cho người dân Tuy nhiên, chính sách đó cũng phải cóhướng tác động tích cực tới các nhóm yếu tố như người già, nhóm phụ nữnghèo, trẻ em nghèo, thanh thiếu niên… để họ tiếp cận tới các dịch vụ nhưnguồn vốn, đào tạo nghề Đó là hướng tác động tạo ra một cộng đồng pháttriển bền vững, đó là giá trị nhân văn của chính sách

Thứ ba, cần huy động một cách tối đa các lực lượng từ cộng đồng vào

công cuộc xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn, việc làm ổn định cho người dân

Một khi xây dựng và ban hành được một chính sách việc làm và thu hútđược sự tham gia của các lực lượng như cơ quan chính quyền, các đoàn thể,các cơ sở sản xuất, các tổ chức nước ngoài và cả người dân thì khi đó sẽ huyđộng được một khối lượng rất lớn cơ sở vật chất và tinh thần tham gia giảiquyết việc làm cho người dân tại khu tái định cư

Thứ tư, điều đáng lưu ý cuối cùng khi xây dựng chính sách việc làm

cho người dân cộng đồng tái định cư thì cần có sự tham gia đóng góp ý kiếncủa chính người dân ở đó Bởi vì, chính sách là xây dựng cho người dân, họthụ hưởng kết quả của chính sách và cũng chính họ là người thực thi chínhsách Vì vậy, họ phải tham gia được đóng góp ý kiến Có như vậy thì chínhsách mới có hiệu quả đối với họ

Trang 35

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM SAU

TÁI ĐỊNH CƯ CỦA PHƯỜNG QUANG TRUNG, THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.1 Tổng quan về phường Quang Trung

2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên của phường Quang Trung

Phường Quang Trung là một đơn vị hành chính thuộc thành phố QuyNhơn, tỉnh Bình Định được thành lập vào năm 1997 Phường Quang Trungnằm ở phía Tây Thành phố biển Quy Nhơn, phía Bắc giáp với phường TrầnQuang Diệu, phía Nam giáp với phường Ghềnh Ráng, phía Đông giáp vớiphường Nguyễn Văn Cừ, phía Tây giáp với đồi núi Điều kiện tự nhiên củaphường Quang Trung không thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp nên

cơ cấu ngành nghề chủ yếu là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Phường Quang Trung có diện tích là 775 ha Với số dân trong toànphường là 19.970 nhân khẩu, 4.882 hộ gia đình Trong đó phường chialàm 8 khu vực:

- Khu vực I có 1.013 hộ gia đình với 3.885 nhân khẩu

- Khu vực II có 739 hộ với 1424 nhân khẩu

- Khu vực III có 351 hộ với 1532 nhân khẩu

- Khu vực IV có 836 hộ với 1532 nhân khẩu

- Khu vực V có 718 hộ với 2.688 nhân khẩu

- Khu vực VI có 358 hộ với 1.532 nhân khẩu

- Khu vực VII có 308 hộ với 1.413 nhân khẩu

- Khu vực VIII có 559 hộ với 2.817 nhân khẩu

Mặt khác, phường Quang Trung có quốc lộ 1D chạy qua Với vị trí địa

lý như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các ngành công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ, giao lưu kinh tế - xã hội với cácphường khác trong khu vực

Trang 36

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của phường Quang Trung

Trong những năm vừa qua cấp uỷ Đảng và chính quyền phường Quang

Trung đã quán triệt, vận dụng sáng tạo các chủ trương của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước để lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội ở địa phương, tạo những bước tiến quan trọng, những khâu đột phá mangtính quyết định, đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề,

cơ cấu lao động; thu ngân sách khá và tăng dần hàng năm; tăng tỷ trọng côngnghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng được tăng cường, các công trình phúc lợicông cộng, an ninh quốc phòng được giữ vững; đời sống vật chất tinh thầncủa nhân dân ngày một nâng cao

Nhằm góp phần hoàn thành thắng lợi mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụphát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của địa phươngnăm 2012, Uỷ ban nhân dân phường đã thực hiện các chương trình công táctrọng tâm, tập trung triển khai đồng bộ các biện pháp chỉ đạo, điều hànhthực hiện nhiệm vụ đạt được như sau:

- Tổng thu ngân sách Nhà nước: 2.711.427.000 đồng đạt 71% so kếhoạch năm (Nghị quyết Hội đồng nhân dân là 100%)

- Các loại quỹ: 297.005.000 đồng đạt 113,1% so kế hoạch năm (Nghịquyết là Hội đồng nhân dân 100%)

- Tổ chức diễn tập chiến đấu, trị an vận hành cơ chế theo Nghị quyết 28

- NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ chính trị Kết quả xếp loại khá, tốt

- Tỷ lệ hộ nghèo 2,2%(129/5644 hộ) giảm 0,7% (Nghị quyết Hội đồngnhân dân là 100% giảm 1%)

- Tỷ suất sinh: 12‰ tăng 4,2‰ so với năm 2011 (Nghị quyết Hội đồngnhân dân giảm 0,3‰)

- Tỷ lệ sinh con thứ 3 chiếm 4,1% (10/243 trường hợp, giảm 0,4% sovới 2011)

- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 4,02 % (Nghị quyết Hội đồng nhândân là 100% giảm còn 4,19%)

Trang 37

- Gọi công dân nhập ngũ 30/30 thanh niên đạt 100%.

- Tỷ lệ dân quân: 0,47 % so với tỷ lệ dân số (Thành phố giao 0,47%)

- Tỷ lệ đăng ký Gia đình văn hóa: 5.218/5.331 gia đình, đạt 97,88%(Nghị quyết Hội đồng nhân dân là 95%)

Về cụ thể, phường đã đạt được một số thành tựu trên các mặt sau:

a Về phát triển kinh tế

Nghị quyết Đảng bộ phường đã xác định cơ cấu kinh tế của địaphương là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, do đó đã tạo điềukiện để các thành phần kinh tế, các hộ gia đình có hướng đi phù hợp trongphát triển kinh tế

Thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế, Uỷ bannhân dân phường đã đứng ra tín chấp cho các Hội đoàn thể của phường làmchủ các dự án vay vốn tạo điều kiện cho các hộ gia đình trong phường đượcvay vốn phát triển kinh tế gia đình với tổng số tiền là 3.251.578.170 đồng,trong đó: vay vốn theo chương trình xoá đói giảm nghèo có 35 hộ nghèo với

số tiền là 626.919.000 đồng; vay vốn từ quỹ quay vòng vốn có 10 hộ với sốtiền 30.000.000 đồng; vay vốn theo chương trình 120 có 02 hộ với số tiền là25.000.000 đồng; vay vốn học sinh, sinh viên có 92 trường hợp với số tiền607.469.170 đồng, vay dự án trồng rừng có 01 hộ với số tiền 125.000.000đồng; vay theo chương trình của ngân hàng Đông Á có 246 hộ với số tiền1.837.190.000 đồng Hiện tổng số dư nợ toàn phường là 6.492.749.598 đồngvới 722 hộ vay

b Về công tác xây dựng cơ bản, quản lý đô thị, công tác vệ sinh môi trường

Trong công tác xây dựng cơ bản: trong năm theo kế hoạch đầu tư xâydựng cơ bản Uỷ ban nhân dân Thành phố giao, Uỷ ban nhân dân phường đãhoàn thành hạ tầng khu quy hoạch dân cư khu vực 4, công trình lát vỉa hè bằnggạch Block tuyến đường Lý Thái Tổ (đoạn từ Nguyễn Thái Học đến HoàngVăn Thụ) đã thi công xong trong tháng 10/2012, tường rào khu sinh hoạt văn

Trang 38

hóa thể thao tại khu vực 4, phường Quang Trung đang tiến hành thi công.

Trong năm qua, nhiều công trình được thành phố đầu tư xây dựngnhằm chỉnh trang đô thị, phục vụ dân sinh như: công trình xây dựng cáclớp mẫu giáo kết hợp với khu sinh hoạt nhân dân các khu vực 2, khu vực 4,khu vực 7, khu vực 8, cải tạo nâng cấp, sửa chữa Trạm y tế, Nhà văn hóaphường; tường rào, hệ thống thoát nước Chợ khu vực 7…

Trong công tác quản lý đô thị: trong năm Uỷ ban nhân dân phườngtiến hành kiểm tra, xử lý theo Nghị định 23, Nghị định 105 và Nghị định 180

là 85 trường hợp Trong đó, Uỷ ban nhân dân phường đã tổ chức cưỡng chế là

63 trường hợp (có 03 trường hợp năm 2011 chuyển sang), 04 trường hợp quaquá trình vận động đã tự nguyện tháo dỡ, hiện còn 21 trường hợp vi phạmtrong năm 2012 và một số trường hợp vi phạm các năm trước còn tồn chưa xử

lý, thu tiền xử phạt vi phạm hành chính được 26 trường hợp với tổng số tiền323.050.000 đồng (trong đó thu năm 2012 được 5 trường hợp và thu các nămtrước được 21 trường hợp)

Uỷ ban nhân dân phường thường xuyên lập kế hoạch ra quân chỉnhtrang đô thị trên địa bàn Uỷ ban nhân dân phường phối hợp với các ngànhchức năng Thành phố, Tỉnh giải tỏa xong nút giao thông Hoàng Văn Thụ, bêtông hóa đường Nguyễn Trường Tộ nối dài, chi trả bồi thường giải phóng mặtbằng cục dữ trữ Nghĩa Bình, hoàn thành xong hệ thống cống thoát nước tại tổ

32, khu vực 4, suối Ông Thừa khu vực 1, cấp giấy chứng nhận biển số nhàkhu vực 3 cho 4 hẻm gồm hẻm 16 Hoàng Văn Thụ, hẻm 582, 590, 628Nguyễn Thái Học, lắp đặt xong biển số nhà tại khu vực 4, khu vực 5

Trong công tác vệ sinh môi trường: Uỷ ban nhân dân phường đã phốihợp với cơ quan chức năng Thành phố tiến hành kiểm tra và xử lý về ô nhiễmmôi trường tại 16 cơ sở trong cụm Công nghiệp Quang Trung và một sốdoanh nghiệp đóng chân trên địa bàn phường, các cơ sở chế biến chả cá Việcxưởng lò hơi của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Năng lượng xanh đóngchân tại nhà máy sữa Bình Định gây tiếng ồn khu dân cư, Uỷ ban nhân dân

Trang 39

phường đã kiểm tra xử lý, công ty cam kết và đã sửa chữa lại hệ thống khắcphục được một phần tiếng ồn Hiện nay, phường đã báo cáo Uỷ ban nhân dânthành phố, Sở Tài nguyên - Môi trường xin cho chủ trương để khắc phục tìnhtrạng này

c Về phát triển văn hoá - xã hội

Đối với công tác giáo dục - đào tạo:

Trong những năm qua, công tác giáo dục ngày càng được chú trọng và

có bước phát triển khá toàn diện cả về chất lượng dạy và học; cơ sở vật chất,trang thiết bị được đầu tư, sửa chữa, nâng cấp ngày càng khang trang sạchđẹp, tạo cảnh quan môi trường sư phạm để các em học sinh yên tâm học tập.Việc huy động học sinh vào Mẫu giáo, lớp 1 và lớp 6 luôn duy trì ở tỷ lệ100% Triển khai thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung dongành phát động và phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinhtích cực” gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HồChí Minh” Duy trì kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở vàcông tác xã hội hóa giáo dục

Đối với công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em:

Phường Quang Trung đã thực hiện tốt chương trình y tế quốc gia,đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh, duy trì công tác kiểm tra vệsinh an toàn thực phẩm các cơ sở kinh doanh ăn uống, sản xuất thựcphẩm; ngăn chặn, đẩy lùi các bệnh xã hội Công tác khám và chăm sócsức khoẻ ban đầu cho nhân dân được quan tâm thực hiện tốt Tổ chứctuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, phòng chống dịch bằng loa đài, tuyêntruyền trực tiếp và tư vấn tại trạm góp phần nâng cao kiến thức về phòngchống dịch bệnh cho cộng đồng Thực hiện có hiệu quả các chương trình y tếQuốc gia và các chương trình nhiệm vụ của ngành đề ra Chương trình tiêmchủng mở rộng được duy trì thường xuyên hàng tháng tại trạm đạt tỷ lệ 100%

Trạm Y tế phường được đầu tư sửa chữa, nâng cấp; cơ sở vật chất,trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh được quan tâm đầu tư để phục

Trang 40

vụ nhân dân ngày một tốt hơn.

Ban Dân số gia đình và trẻ em đã phối hợp với Trạm y tế và các banngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác truyền thông dân số - gia đình và trẻ

em, phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còndưới 13%, vận động chị em đặt vòng tránh thai đạt và vượt chỉ tiêu hàngnăm, góp phần hạ tỷ suất sinh xuống còn dưới 8,3%, duy trì tốt Câu lạc bộkhông sinh con thứ 3 nhằm vận động các cặp vợ chồng trong độ tuổi hạnchế việc sinh con thứ 3 Công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ emthường xuyên được quan tâm như: tổ chức tháng hành động vì trẻ em, tổchức cho các em vui chơi nhân các ngày lễ như Quốc tế Thiếu nhi, TếtTrung thu Thường xuyên củng cố, kiện toàn và bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ cộng tác viên y tế, dân số - gia đình và trẻ em từ phường đến khu vực

d Hoạt động văn hóa thông tin, thể dục, thể thao, đài truyền thanh

Chất lượng các hoạt động văn hóa, thông tin, truyền thông, truyền

thanh, thể dục, thể thao được phát phát huy nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ chính

trị của địa phương; đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa”, xây dựng khu phố, trường học, gia đình văn hóa theo chiềuhướng đi vào chiều sâu Triển khai kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa –văn nghệ, tuyên truyền cổ động trực quan chào mừng các sự kiện, các ngày lễlớn trong năm, tuyền truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước Tăng cường quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, đấutranh với các biểu hiện tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống không lànhmạnh, kịp thời phát hiện và xử lý một số trường hợp vi phạm trong kinhdoanh dịch vụ văn hóa, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnhtrên địa bàn phường

e Thực hiện chính sách an sinh xã hội

Phường đã chỉ đạo thực hiện tốt công tác Lao động - thương binh xãhội đối với các đối tượng chính sách, người có công, gia đình thương binhliệt sĩ, Mẹ Việt Nam anh hùng, quan tâm đến các gia đình chính sách có

Ngày đăng: 12/08/2018, 15:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w