PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU Từ khi ra đời và tồn tại cho đến ngày nay, tôn giáo nắm giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với xã hội, tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến đời sống của con người, sở dĩ tôn giáo có tầm ảnh hướng lớn như vậy đối với đời sống của con người là do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân đầu tiên phải kể đến đó là nguồn gốc hình thành của tôn giáo và tại sao tôn giáo lại ra đời. Có ba nguồn gốc chính làm nảy sinh tôn giáo đó là nguồn gốc xã hội của tôn giáo, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo và nguồn gốc tâm lý của tôn giáo. Trong quá trình con người tham gia lao động để duy trì sự sống thì tôn giáo đã ra đời và phục vụ cho chính nhu cầu của con người vì vậy mà tôn giáo có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân. Trong quá trình con người tha gia cải tạo, chinh phục tự nhiên, con người cảm thấy bất lực với hiện tượng tự nhiên do trình độ sản xuất yếu kém, trình độ sản xuất yếu kém làm cho con người không có khả năng nắm được một cách thực tiến yếu kém các hiện tượng tự nhiên, thế giới bao quanh người nguyên thủy đã trở thành mối đe dạo, trở thành sự đe dọa đối với người dân, lúc này con người phải tôn thờ những hiện tượng tự nhiên, coi hiện tượng tự nhiên như những vị thần, họ cho rằng phải tôn thờ, suy tôn những hiện tượng này để cầu mong thời tiết ôn định, ôn hòa để cho mùa màng được bội thu. Trong quá trình sản xuất thì xuất hiện mối quan hệ giữa con người với con người, sự phân biệt giai cấp khiến cho những người nô lệ cảm thấy bị bần cùng cả về mặt kinh tế, bị áp bức cả về mặt chính trị, bị tước đoạt những phương tiện và khả năng phát triển tinh thần, quần chúng không thê tìm ra lối thoát hiện thực khỏi sự kìm kẹp và áp bức trên trái đất nhưng họ đã tìm ra lối thoát ở trên trời và thế giới bên kia. Chính do nhận thức của con người còn thấp cũng với sự áp bức về mọi mặt khiến họ không có tiếng nói, họ chỉ biết hi vọng vào một thế giới không có sự bóc lột, một thế giới mà họ có quyền nói lên những tiếng nói của mình, vì vậy tôn giáo ra đời. Tôn giáo ra đời còn là do nguồn gốc tâm lý, khi con người bị rơi vào các trạng thái buồn đâu, cô đơn, khổ hạnh thì mọi người luôn hi vọng có thể thoát ra khỏi cảm xúc đó bằng việc tin tưởng vào một thế giới ảo, một thế giới không có thực để cầu xin sự may mắn, hạnh phúc đến. Khi con người còn có mong muốn hay ước mơ thì họ cũng sẽ tìm đến tôn giáo để cầu mong sự may mắn sẽ đến với họ, cầu mong cho những ước mơ của họ sẽ trở thành hiện thực. Chính vì những lý do trên mà tôn giáo đã ra đời, tôn giáo ra đời lúc đầu là để phục vụ con người, để giải tỏa những yếu tố tâm lý sau đó tôn giáo lại có những ảnh hưởng lớn đến chính cuộc sống của con người, tôn giáo tác động trở lại con người, tôn giáo có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với sự phát triển của con người bao gồm tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, mỗi tôn giáo khác nhau thì sẽ có những ảnh hưởng khác nhau đến các mặt của đời sống.
Trang 1PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi ra đời và tồn tại cho đến ngày nay, tôn giáo nắm giữ một vai trò
vô cùng quan trọng đối với xã hội, tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến đời sống của con người, sở dĩ tôn giáo có tầm ảnh hướng lớn như vậy đối với đời sống của con người là do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân đầu tiên phải kể đến đó là nguồn gốc hình thành của tôn giáo và tại sao tôn giáo lại ra đời Có ba nguồn gốc chính làm nảy sinh tôn giáo đó là nguồn gốc xã hội của tôn giáo, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo và nguồn gốc tâm lý của tôn giáo Trong quá trình con người tham gia lao động để duy trì sự sống thì tôn giáo đã ra đời và phục vụ cho chính nhu cầu của con người vì vậy mà tôn giáo có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân
Trong quá trình con người tha gia cải tạo, chinh phục tự nhiên, con người cảm thấy bất lực với hiện tượng tự nhiên do trình độ sản xuất yếu kém, trình độ sản xuất yếu kém làm cho con người không có khả năng nắm được một cách thực tiến yếu kém các hiện tượng tự nhiên, thế giới bao quanh người nguyên thủy đã trở thành mối đe dạo, trở thành sự đe dọa đối với người dân, lúc này con người phải tôn thờ những hiện tượng tự nhiên, coi hiện tượng tự nhiên như những vị thần, họ cho rằng phải tôn thờ, suy tôn những hiện tượng này để cầu mong thời tiết ôn định, ôn hòa để cho mùa màng được bội thu Trong quá trình sản xuất thì xuất hiện mối quan hệ giữa con người với con người, sự phân biệt giai cấp khiến cho những người nô lệ cảm thấy bị bần cùng cả về mặt kinh tế, bị áp bức cả về mặt chính trị, bị tước đoạt những phương tiện và khả năng phát triển tinh thần, quần chúng không thê tìm ra lối thoát hiện thực khỏi sự kìm kẹp và áp bức trên trái đất nhưng họ đã tìm ra lối thoát ở trên trời và thế giới bên kia Chính do nhận thức của con người còn thấp cũng với sự áp bức về mọi mặt khiến họ không có tiếng nói, họ chỉ biết
Trang 2hi vọng vào một thế giới không có sự bóc lột, một thế giới mà họ có quyền nói lên những tiếng nói của mình, vì vậy tôn giáo ra đời
Tôn giáo ra đời còn là do nguồn gốc tâm lý, khi con người bị rơi vào các trạng thái buồn đâu, cô đơn, khổ hạnh thì mọi người luôn hi vọng có thể thoát ra khỏi cảm xúc đó bằng việc tin tưởng vào một thế giới ảo, một thế giới không có thực để cầu xin sự may mắn, hạnh phúc đến Khi con người còn có mong muốn hay ước mơ thì họ cũng sẽ tìm đến tôn giáo để cầu mong sự may mắn sẽ đến với họ, cầu mong cho những ước mơ của họ sẽ trở thành hiện thực Chính vì những lý do trên mà tôn giáo đã ra đời, tôn giáo ra đời lúc đầu
là để phục vụ con người, để giải tỏa những yếu tố tâm lý sau đó tôn giáo lại
có những ảnh hưởng lớn đến chính cuộc sống của con người, tôn giáo tác động trở lại con người, tôn giáo có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với sự phát triển của con người bao gồm tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, mỗi tôn giáo khác nhau thì sẽ có những ảnh hưởng khác nhau đến các mặt của đời sống
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG
I ẢNH HƯỞNG CỦA TÔN GIÁO ĐẾN CHÍNH TRỊ.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, hiện nay ở Việt Nam có các tôn giáo như Phật Gi áo, Thiên Chúa Gi áo, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài… tuy nhiên dân số Việt Nam hiện nay theo Phật Gi áo chiếm tỉ lệ cao nhất, theo thống kê dân số năm 2009 thỉ số tín đồ theo Phật giáo là 6.802.318 người, tiếp
đó đến Thiên chúa giáo có hơn 5 triệu tín đồ tôn giáo, sau cùng là các tôn giáo khác Như vậy tỉ lệ tín đồ theo Phật giáo chiếm tỉ lệ cao nhất, điều này cũng làm cho Phật giáo có một ảnh hưởng rất lớn đến các mặt trong xã hội bao gồm cả chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục… Ở nước ta từ ngay thời Đinh – Tiền Lê việc xây dựng và củng cố chế độ phong kiến tập quyền sau khi đất nước vừa thoát khỏi một nghìn năm Bắc thuộc đến thế kỉ X thực sự là một thử thách chinh trị
Trong lịch sử tôn giáo thường đi song song với chính trị Điều này được thể hiện rõ nét nhất ở Trung Quốc khi mà các hoàng đế Trung Quốc lấy căn cứ quyền của họ từ Thiên mệnh Mỗi khi ban chiếu các hoàng đế thường bắt đầu chiếu bằng câu “Thuận thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết” ở Trung Quốc tôn giáo có một ảnh hưởng vô cũng lớn đến chính trị, hoàng đế của Trung Quốc được coi là con trời chính vì vậy mà họ có quyền lực trong tay, hoàng đế như là sợi dây trung gian để truyền đạt ý trời cho nhân dân, mỗi khi
ai làm gì trái với vua thì bị coi là đại nghịch bất đạo và bị xử phạt rất nghiêm khắc còn ở Châu Âu, Giáo hội Công giáo Rôma đã thống trị phần lớn châu
Âu cho đến cuộc Cải cách Tin lành Đến Thời đại Ánh sáng vào thế kỷ 18 tại châu Âu, nhiều triết gia tin vào việc tách biệt giữa giáo hội và nhà nước)
Trên thế giới hiện nay, một số nước có tôn giáo độc lập với hiến pháp, tách biệt hoàn toàn với hiến pháp như Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Việt Nam hiến pháp tách biệt giáo hội và nhà nước Các quốc gia này thường cho phép người dân tự do tín ngưỡng, tự do theo tôn giáo nhưng không công nhận bất
Trang 4cứ tôn giáo nào là quốc giáo để trách bị xem là thiên vị Hiện nay vẫn còn một
số nước có tôn giáo được công nhận là quốc giáo tuy nhiên người dân ở đây
họ vẫn có quyền tự do tôn giáo như một số nước Hồi giáo, Công giáo và những nước như Thái Lan (Phật giáo) hay nước Anh (Anh giáo), những nhà nước này chính thức nhận thuế từ dân, hàng năm dân phải đóng một khoản phí để duy trì bộ máy nhà nước Không chính có những nước có quốc giáo mà trên thế giới hiện nay vẫn còn những nước thần quyền, tại một số quốc gia điển hình là Iran và tòa thành Vatican, tôn giáo và chính quyền nhà nước là một, những người nắm giữ chức vụ quan trọng trong nhà nước cũng là những người nắm giữ chức sắc quan trọng trong tôn giáo
Ngoài ra có có một số tin giáo mà nhà nước kiểm soát đó là ở Việt Nam
và ở Trung Quốc, ở những nước này tôn giáo nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước, các tôn giáo muôn được hoạt động phải được nhà nước chấp thuận và việc bổ nhiệm các chức sắc quan trọng trong tôn giáo cũng cần được sự chấp thuận từ chính quyền
II ẢNH HƯỞNG CỦA TÔN GIÁO ĐẾN KINH TẾ.
Tôn giáo không chỉ ảnh hưởng đến chính trị mà còn ảnh hướng lớn đến kinh tế, môt trong những nguồn gốc của tôn giáo là khi mà các giai cấp mâu thuẫn, xuất hiện những bất công trong xã hội thì tôn giáo đã ra đời nhằm xoa dịu đi những nỗi khổ, nỗi bất hạnh, bất công trong xã hội, trong xã hội có sự phân chia giai cấp, giai cấp thông trị sẽ sử dụng quyền lực của mình để chiếm những của cải vât chất của giai cấp bị trị, những người nô lệ phải lao động khổ sai cho những người chủ của mình, những người chủ của mình có bóc lột hêt sức có thể sức lực của người nô lệ từ đó những người nô lệ, những người
có địa vị thấp trong xã hội luôn coi tôn giáo, những vị thần thành như một chỗ dựa tinh thần cho họ, một trong những nguồn gốc khiến tôn giáo ra đời là do
sự áp bức bất công trong xã hội, tuy nhiên từ khi ra đời và tồn tại cho đến nay thì tôn giáo lại có những tác động trở lại đối với kinh tế Những nhà khoa học
Trang 5như Mã Weber đã nghiên cứu về giáo phái Calvin của đạo Tin lành đã dần đến kết luận tôn giáo có tác dụng thúc đẩy kinh tế xã hội Các cải cách của Tin lãnh đã dẫn đến việc duy lú hóa xã hội, con người thay vì chấp nhận số phận và hướng về đời sống sau khi chết theo truyền thông phải đat tới cuộc sống thinh vượng, phải phấn đấu để thành công tỏng mọi lĩnh vực để thực hiện hoạch định của chúa Weber cho rằng chính vì thế chủ nghĩa tư bản hình thành vững chắc ở những nơi mà giáo phái Calvin phát triển mạnh, thậm chí còn gọi tinh thần của tôn giáo này là cốt tủy của chủ nghĩa tư bản
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, giáo hội tham gia nhiều hơn vào việc xóa đói giảm nghèo, cho tín đồ vay vốn phát triển sản xuất, điều này khác với trước đây, trước đây khi mà nói đến hỗ trợ cho người nghèo thường thường các tôn giáo thường cho họ gạo hoặc cung cấp cho họ một khoản tiền nhỏ để trang trải cuộc sống, tuy nhiên cách hỗ trợ này về mặt lâu dài không đêm lại những lợi ích bền chặt bằng việc cung cấp cho họ vốn để họ tự mở rộng sản xuất, kiếm sống cho bản thân
Mặc dù tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến kinh tế nhưng tôn giáo không trức j tiếp sản xuất để cung cấp của cải cho xã hội nhưng tôn giáo cũng có phần nào trách nhiệm trong việcgiúp các tín đồ tạo ra một cuộc sống tươi đẹp hơn mà tôn giáo gián tiếp thúc đấy kinh tế nên cũng đã góp phần trong một cách cách gián tiếp thông qua những yếu tốsau:
- Tôn giáo khuyến khích việc lao động chân tay bằng giảng dạy và gương sáng, chúa Giê-su được coi như một hình mẫu lý tưởng cho các tín đồ của mình, Chúa Giê - su mẫu gương tuyệt hảo của người Ki-tô cũng đã chia
sẻ thân phận của một người lao động trong suốt thời gian 30 năm ẩn dật tại Na-da-rét, chúa Giê – su được sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó, sống như một người nghèo khó và phải chịu chết trên cây thành giá khi mà không một manh áo che thân như một người nghèo nhất
- Mặc dù hòa cảnh nghèo khó, cơ cực đến như thế nhưng trong thời gian giảng đạo gần ba năm, Đức Giê-su luôn khuyên dạy mọi người phải tránh
Trang 6thói ích kỷ chỉ tìm cách hưởng thụ một mình, vị kỉ, phải biết nghĩ đến người khác, quan tâm, chăm sóc cho người khác, phải biết giúp đỡ khi người khác gặp khó khăn, trong quá trình đi giảng đạo chúa Giê – su đã đi nhiều nơi và gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn, mặc dù bản thân chùa Giê su cũng khó khăn nhưng ông luôn giúp đỡ người khác, Chúa khuyên con người nên chấp nhận đi con đường gian khổ leo dốc là khiêm nhường phục vụ tha nhân Người dạy: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”, “Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy” “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em Và ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ anh em”
- Chúa Giê-su cũng kêu gọi những người lao động chài lưới theo làm môn đệ của Người như Người đã kêu gọi các môn đệ đầu tiên: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” Tông
đồ Phao-lô cũng khẳng định lập trường của Ki-tô giáo về việc lao động như sau: “Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn” Chúa kêu goi tất cả mọi người phải tham gai lạo động để tạo ra của cải vật chất để nôi sống chính bản thân mình, ai cũng phải lao động, ngừng lao động là làm lãng phí thời gian như thế cũng là có tội, ai lao động thì được hưởng thành quả lao động của mình, ai lao động tích cực thì được hưởng nhiều thành quả, ai không lao động thì sẽ không được hưởng thành quả và không được ăn thành quả của người khác Lời khuyên này của chúa đã phát huy tính tự giác lao động cho các tín đồ, khuyên can họ bắt buộc phải lao động để tạo ra của cải cho chính bản thân mình, đồng thời chúa cũng phê phán những kẻ chí biết thụ hưởng trên sức lao động của người khác, mọi người phải lao động không biết mệt mỏi, kể cả khi đã có những thành quả nhất định cũng không được dừng lao động, lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất mà trong quá trình lao động con người hoàn thiện bản thân hơn, lao động mang lại cho con người sức khỏe dẻo dai Chính ngài cũng nêu gương lao động: dù bận rộn với bao công việc truyền giáo, nhưng ngài vẫn dành ra thời giờ làm việc dệt vải để mưu sinh, không dám cậy nhờ
Trang 7hoàn toàn vào sự trợ giúp vật chất của các tín đồ, dù ngài có quyền làm như thế Ngoài ra, trong Giáo hội cũng có nhiều dòng tu coi trọng công việc lao động theo châm ngôn như sau: “Ora et labora” (Cầu nguyện và làm việc) Những người theo tôn giáo này cho rằng việc cầu nguyên và làm việc phải luôn đi song song với nhau, không tách rời, họ khuyến khích lao động vầ làm việc, những giáo lý của tôn giáo này mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất trong xã hội nhưng góp một phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế, tất cả mọi người phải lao động, họ coi lao động cũng như những việc làm thường ngày như việc đi cầu nguyện
- Không chỉ gián tiếp thúc đấy sự phát triển kinh tế, Tôn giáo còn cộng tác trong việc xây dựng một xã hội trật tự, an ninh… yếu tố này là điều kiện cần để mọi người an tâm sản xuất: Hoàng đế Na-po-lê-ông người Pháp (1769-1821) đã quả quyết về giá trị của tôn giáo trong việc duy trì an ninh trật
tự xã hội như sau: “Một dân tộc không tôn giáo phải được cai trị bằng súng đạn, nhà tù và bạo lực” Chính trị gia Xa-tô-bi-ăng : cũng đồng quan điểm khi tuyên bố: “Tiêu hủy việc thờ tự theo Tin Mừng, thì mỗi làng phải xây nhiều nhà ngục và phải có nhiều đao phủ thủ” Chính việc tạo ra một môi trường an toàn, ổn định để mọi người yên tâm lao động và cống hiến Tôn giáo có chức năng duy trì sự ổn định xã hội, làm cho xã hội phát triển bền vững hơn, nếu không có tôn giáo thì chỉ có thể cai trị bằng bạo lực, bằng sức mạnh của súng đạn và tù ngục, như vậy tôn giáo làm ổn định xã hội, môi trường xã hội, môi trường để con người lao động có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả lao động, có thể thấy rất rõ điều này ở nước ta trong giai đoạn chiến tranh khi mà toàn dân phải dốc sức để phục vụ chiến tranh thì tất cả của cái làm được đều trở thành hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, nhưng đến khi xã hội ổn định, chiến tranh kết thúc thì của cải trong quá trình lao động được phục vụ chó chính cuộc sống của họ cho nên đời sống được nâng cao, kinh tế phát triển, chính vì vậy việc tôn giáo góp phần duy trì sự ổn
Trang 8định xã hội có một vai trò vô cùng lớn góp phần ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất làm cho kinh tế phát triển hơn
Như vây, về lĩnh vực kinh tế, tuy tôn giáo không trực tiếp sản xuất làm
ra của cải vật chất như tiền bạc, quần áo, đồ dùng… phục vụ cho đời sống của các tín đồ nhưng tôn giáo cũng đã gián tiếp đóng góp công sức trong việc tạo lập một xã hội ấm no hạnh phúc Chính nhờ lời giảng dạy và gương lành của các vị mục tử và tu sĩ nam nữ, mà xã hội đã nên tốt hơn, con người bớt làm điều xấu hơn Cũng nhờ giáo lý về sự công bình bác ái của Đức Giê-su, mà hòa bình giữa các quốc gia trên thế giới đã được duy trì Tất cả những điều ấy
là điều kiện cần để xã hội có thể phát triển kinh tế
III ẢNH HƯỞNG CỦA TÔN GIÁO ĐẾN VĂN HÓA
1.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa Việt Nam
Đạo Phật là một trong những tôn giáo lớn của thế giới, được ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên ở vùng Tây Bắc ẤN Độ do thái tử Tât Đạt Đa sáng lập, lấy hiệu là Thích Ca Mâu Ni
Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ thời xa xưa và gắn bó sâu vào tiềm thức của người Việt Nam, sự gắn bó này đến một cách tự nhiên và không
do áp đặt từ bất cứ một thế lực nào hay từ chính quyền Sự tồn tại lâu dài của Phật giáo đã in in sâu vào tiềm thức của mỗi người dân, chính vì vậy mà Phật giáo đem lại những đóng góp đáng kể trong mọi lĩnh vực của đời sống bao gồm cả chính trị , kinh tế cho đến văn hóa
Tôn giáo được xếp vào phạm trù văn hóa, nếu như hiểu tôn giáo là toàn
bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và phục vụ cho nhu cầu của con người thì tôn giáo cũng là những giá trị tinh thần và do con người sáng tạo ra, từ đó phục vụ cho nhu cầu của con người Khi tìm hiểu về bản sắc văn hóa của một cộng đồng thì nhất định phải tìm hiểu tôn giáo của cộng đồng đó Chẳng hạn để tìm hiểu văn hóa của người Khơ me thì trước tiên phải tìm hiểu xem dân tộc đó họ theo tôn giáo gì bởi vì theo tôn giáo nào
Trang 9sẽ quyết định chủ yếu đến văn hóa của dân tộc đó, những biếu hiện của tôn giáo trong đời sống sinh hoạt và sản xuất sẽ là những biểu hiện của văn hóa
Trải qua các triều đại trong lịch sử cho đến những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ta thấy ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa là vô cùng lớn, tuy có một bộ phận tăng ni trong Phật giáo có sự phân hóa lớn, tuy nhiện thì phần đông các tín đồ, chức sắc trong tôn giáo thì đến tham gia tích cực vào cuộc cánh mạng giải phóng dân tộc trong những năm gần đây, Việt Nam abc đổi sang nền kinh kế mở cửa, hội nhập Phật giáo Việt Nam cũng từ
đó phát triển mạnh mẽ thu hút nhiều tín đồ tham gia hơn, từ đó các đền chùa, nơi thờ tự cũng được sửa sang đẹp đẽ hơn Trước đây thì hầu như chùa là nơi dựa cho những người cao tuổi nhưng hiện nay chùa còn là chỗ dựa lấy được nhiều thiện cảm của những người trẻ
Chính vì sự ăn sâu bám rễ của Phật giáo vào Việt Nam mà vô hình chung văn hóa Việt Nam mang đậm màu sắc Phật Giáo Các giá trị của văn hóa tôn giáo được xây dựng trên cơ sở tiếp nhận những thành tựu đời thường của văn hóa cộng đồng, vì vậy mà rất khó tách biệt đâu là văn hóa đời thường, đâu là văn hóa tôn giáo Các giá trị văn hóa của tôn giáo thấm thấu sâu vào đời sống xã hội đáp ứng nhu cầu về văn hóa cho các cá nhân và cộng đồng có tôn giáo, xuất phát từ những nhu cầu về tín ngưỡng tôn giáo xuất hiện những hiện tượng văn hóa mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng tôn giáo
Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ lúc sơ khỏi thì Người Việt Nam đã có tín người và tôn thờ các vị thần có sức mạnh vô hình hay hữu hình
mà họ cho là có thể giúp đỡ họ hoặc cũng có thể làm hại đến họ nhưng những
vị thần mây, mưa, sấm, sét, lửa… trong bối cảnh tín ngưỡng đa thần này, phật giáo xuất hiện đã nhanh chóng hóa thân qua hình ảnh của bộ tượng tứ pháp ở chùa Dâu, ngôi chùa Phật giáo đầu tiên của Việt Nam ở luy lâu, bộ tượng này
là một hình ảnh sống động và gẫn gũi đối với người dân Việt Nam trong việc cầu xin cho cuộc sống bình an, mưa thuận gió hóa, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống Trong quan niệm từ thời xa xưa, người dân cho rằng Phật là đấng
Trang 10cứu thế có thể ban cho con người may mắn và hạnh phúc, chính vì niềm tin tôn giáo đó mà Phật giáo ngày càng phát triển hơn rất nhiều
Khi Phật giáo mới du nhập vào Việt Nam thì Phật giáo mang dáng dấp của Phật giáo Tiểu thừa và Mật giáo vì vậy Phật giáo Việt Nam gắn với sự cầu xin, sự ban phước lộc hơn là thiền định là tôi luyện trí tuệ Điều nay cho thấy khi con người ta gặp những khó khăn trong cuốc sống thì họ sẽ tìm đến chùa để cầu xin sự may mắn, giải thoát họ và gia đình khỏi kiếp nạn, trong cuộc sống đa số những người đi chùa đều là phụ nữ vì phụ nữ thường là những người chịu nhiều khổ cực và bất hạnh, họ đi chùa để giái tỏa những vướng mắc họ đang gặp phải, thực chất việc đến chùa không phải sẽ giúp họ giải quyết được vấn đề nhưng khi đi chùa thì một phần tâm lý của họ sẽ thanh thản, họ có đầu óc sáng suốt hơn để giải quyết những vướng mắc đó, hành động đi chùa đó thể hiện niềm tin của họ đối với Phật, họ tin tưởng rằng đức Phật sẽ giúp họ thoát qua khỏi những trở ngại trong cuộc sống
Biểu hiện rõ nhất của Phật giáo trong đời sống nhân dân đó chính là nơi thờ tự, chùa làng đã từng là nơi đóng vai trò là trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã Việt Nam, chùa không phải chỉ là nơi giảng đạo, tụng kinh là còn là nơi hội họp, du lịch, trấn an tinh thần trước đây mỗi khi trong làng có một công việc quan trọng cần được sự bàn bạc của người dân trong làng thì hầu như đều đươc đưa ra đình, chùa để bàn bạc Ngày nay những nhu cầu này ngày càng trở nên quan trọng hơn, tuy nhiên do sự phát triển của xã hội, những vấn đề quan trọng đó được đưa ra nơi sinh hoạt chung là nhà văn hóa của các thôn xóm hay tổ dân phố Văn hóa du lịch thì ngày càng ảnh hưởng rất lớn, càng phát triển thì nhu cầu du lịch tâm linh và vãn cảnh càng cao Khi con người ta đã đạt được những thành tựu nhất định hoặc là chưa đạt được những thành tựu nổi trội nào thì người dân có xu hướng đi chùa để cầu may mắn hoặc là tạ ơn những đấng tối cao đã ban cho họ phước lành để họ được thành đạt Ngày nay các cơ sở thờ tự được trang hoàng lộng lẫy đáp ứng nhu cầu tôn giáo của người dân trên cả nước cũng như thế giới