1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi

49 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 186,77 KB
File đính kèm gạo tấm thay thế 75% ngô.rar (133 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi Sử dụng gạo tấm thay 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi Sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi Sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi Sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi Sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi Sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi Sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi Sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này

là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đãđược cảm ơn và thông tin trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này,ngoài sự nỗ lực cố gắng của bảnthân,tôi còn nhận được sự giúp đỡ của ban giám đốc học viện,các thầy cô giáo ,đặc biệt các thầy cô giáo trong ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi,những người đãtrang bị cho tôi những kiến thức cơ bản và những định hướng đúng đắn tronghọc tập tu dưỡng đạo đức ,tạo tiền đề tốt cho tôi học tập và nghiên cứu

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS TônThất Sơn bộ môn dinh dưỡng và thức ăn đã quan tâm sâu sắc,tận tình giúp đỡ đểtôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.Em xin bày tỏ sâu sắc đến thầy

Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo ,cô giáo trong bộ môn Dinhdưỡng và Thức ăn ,trường Học viện nông nghiệp Việt Nam đã chỉ bảo để khóaluận của tôi được hoàn thành

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới :TH.S Nguyễn Hữu Thọ phó chi cụctrưởng chi cục tỉnh Bắc Ninh,TH.S Lê Thị Minh Thu giám đốc công ty TNHHMTV lợn giống lạc vệ.Ban giám đốc cùng toàn thể anh chị em công nhân viêntrong công ty đã giúp đỡ đóng góp ý kiến trong suốt quá trình tôi nghiên cứu đềtài này

Đặc biệt tôi xin cảm ơn tới bố mẹ, gia đình và toàn thể anh chị em , bạn bè

đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn!

ii

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Giới thiệu về gạo tấm 3

2.1.1.Tiềm năng sử dụng gạo tấm làm thức ăn chăn nuôi 3

2.1.2.Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của gạo tấm 6

2.2 Một số đặc điểm sinh lý của lợn nái nuôi con 10

2.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng sữa của lợn nái 12

2.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái nuôi con 13

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 14

2.3.1Tình hình nghiên cứu trong nước 14

2.3.2 Tình hình ngoài nước 16

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Nội dung nghiên cứu 18

3.2 Thời gian địa điểm và vật liệu nghiên cứu 18

3.3 Phương pháp nghiên cứu 18

3.4 Phương pháp các chỉ tiêu theo dõi 20

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 22

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Ảnh hưởng của việc sử dụng gạo tấm thay thế cho ngô trong khẩu phần ăn của lợn nái nuôi con ở giai đoạn sau khi sinh đến khi cai sữa lợn con(1-24 ngày) 23

iii

Trang 4

4.1.1 Khối lượng hao hụt của lợn nái qua các thời kỳ sau sinh,(1-14 ngày),

( 14-24 ngày) 23

4.1.2 Lượng thức ăn thu nhận của lợn nái sau khi sinh đến cai sữa lợn con (1-24 ngày) 25

4.1.3 Ảnh hưởng của việc sử dụng gạo tấm thay thế cho ngô đến sức sống và khả năng phòng chống bệnh của lợn nái ở giai đoạn sau khi sinh đến cai sữa lợn con(1-24 ngày) 26

4.1.4 Ảnh hưởng của việc sử dụng gạo tấm thay thế cho ngô đến việc nên giống trở lại sau cai sữa 24 ngày 27

4.2 Ảnh hưởng của việc sủ dụng gạo tấm thay thế cho ngô trong khẩu phần ăn của lợn nái đến lợn con ở giai đoạn sau khi sinh đến khi cai sữa lợn con (1-24 ngày)… 28

4.2.1 Khối lượng lợn con qua các thời kỳ (1-4 ngày), (4-11 ngày), (11- 18 ngày), (18 - 24 ngày) 28

4.2.2 Lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con giai đoạn theo mẹ đến cai sữa (1-24 ngày) 31

4.2.3 Ảnh hưởng của việc sử dụng gạo tấm thay thế cho ngô trong khẩu phần ăn của lợn nái đến bệnh tiêu chảy ở lợn con ở giai đoạn sau khi sinh đến cai sữa (1-24 ngày) 34

4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng gạo xay thay thế 75% ngô trên lợn nái nuôi con 37

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40

5.1 kết luận 40

5.2 KIẾN NGHỊ 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

iv

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng thành phần axit amin trong thóc,gạo tẻ,ngô tẻ,lúa mỳ 8

Bảng 2.2 Thành phần axit béo của ngô và gạo xay(%) 9

Bảng 1.3 Gía trị DE,ME ,NE một số loại hạt ngũ cốc làm thức ăn cho lợn 10

Bảng 2.1 Ảnh hưởng của số lợn con /ổ tới sản lượng sữa lợn mẹ 13

Bảng 2.2 Thành phần hóa học của thóc và gạo lật giống IR 15404( %VCK) 15

Bảng 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 19

Bảng 2.4 CÔNG THỨC THỨC ĂN Ở 2 LÔ THÍ NGHIỆM 19

Bảng 2.5.THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA THỨC ĂN THÍ NGHIỆM 20

Bảng 4.1 Khối lượng hao hụt của lợn nái qua các giai đoạn sau sinh -24 ngày 23

Bảng 4.2 Lượng thức ăn thu nhận( ĐV Kg/con/ngày) 25

Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh ở lợn nái nuôi con 27

Bảng 4.5 Khối lượng lợn con thí nghiệm giai đoạn sơ sinh -24 ngày tuổi 29

Bảng 4.7 Lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn cho lợn con giai đoạn sơ sinh – 24 ngày tuổi 32

sau sinh - 24 ngày tuổi 38

v

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.2 Khối lượng hao hụt của lợn nái qua các giai đoạn 24

Biểu đồ 4.3 Lượng thức ăn thu nhận của lợn nái nuôi con Giai đoạn sau sinh đến 24 ngày cai sữa 26

Bảng 4.4 Tỷ lệ nên giống trở lại của lợn nái 28

Biểu đồ 4.6 khối lượng lợn con qua các thời kỳ 31

Biểu đồ 4.7 Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con giai đoạn từ 4 -24 ngày tuổi 33

Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con từ 4 – 24 ngày tuổi sau sinh - 24 ngày tuổi 39

vi

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

vii

Trang 8

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nền nông nghiệp nước ta gắn liền với cây lúa nước trên diện tích khoảng4,3 triệu hecta Nước ta cũng là quốc gia sản xuất lúa gạo lớn thứ hai trên thếgiới (chỉ sau Thái Lan) Đây là một tiềm năng rất lớn cần được khai thác cho thịtrường thức ăn chăn nuôi Trong những năm gần đây, ngành sản xuất thức ăncông nghiệp Việt Nam đã phát triển nhanh, với sản lượng năm 2012 đạt 12,7triệu tấn và đến năm 2013 với 234 nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp (côngsuất thiết kế 22,3 triệu tấn/năm) đã sản xuất 17 triệu tấn thức ăn/năm, vượt TháiLan (Cục Chăn nuôi, 2014) Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu 7 triệu tấn gạo thu

về 3 tỷ đô la nhưng hàng năm Việt Nam lại phải nhập khẩu đến 80% nguyênliệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi Năm 2011, Việt Nam đã sử dụng gần 3,7 tỷ

đô la để nhập khẩu gần 8 triệu tấn thức ăn, trong đó đáng chú ý 1,3 tỷ đô la đểnhập 3,86 triệu tấn ngô, cám gạo và lúa mỳ (Cục Chăn nuôi, 2012) Để đáp ứngchiến lược phát triển chăn nuôi, đến năm 2020 nhu cầu sử dụng thức ăn của ViệtNam ước tính là 27,4 triệu tấn (tăng 1,3 lần so với năm 2012) Như vậy với nănglực của ngành nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữanguyên liệu thức ăn chăn nuôi, đặc biệt các loại giàu năng lượng như ngô, lúa

mỳ, khô dầu đỗ tương Tuy nhiên Hội đồng ngũ cốc quốc tế (IGC) dự báo sảnlượng ngô thế giới trong một số năm tới sẽ giảm nhiều do thời tiết khô hạn ởmột số quốc gia sản xuất lớn như Mỹ, Ấn Độ Dự báo sản lượng lúa mỳ thế giớiước tính giảm xuống còn 662 triệu tấn so với dự kiến 665 triệu tấn Trong mộttương lai không xa, chúng ta hướng đến chăn nuôi để xuất khẩu Vì vậy nếuchăn nuôi luôn phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu thức ăn chănnuôi từ các nước như hiện nay thì sẽ là một rào cản khó vượt qua để hướng đếnmục tiêu Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới nhưng vẫn phảinhập quá nhiều nguyên liệu như ngô, đậu tương, cám gạo thì không thể đảm bảo

Trang 9

cho một ngành chăn nuôi bền vững Bên cạnh đó, hàng năm Việt Nam còn tồn

dư một lượng lớn thóc trong dân, giá lúa nhiều lúc giảm thấp, nhà nước đã phảichi nguồn ngân sách không nhỏ cho việc mua tạm trữ lúa gạo để bình ổn giá.Như vậy trong khi nguồn lúa gạo trong nước tồn đọng khá lớn (khoảng 2 triệutấn mỗi năm), thì ngành chăn nuôi lại chi ra một khoản ngoại tệ 2 không nhỏ đểnhập 4 triệu tấn nguyên liệu cung cấp năng lương như ngô lúa mì để sản xuấtthức ăn chăn nuôi Để đáp ứng được chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm

2020 nhu cầu sử dụng TĂCN của cả nước ước tính là 27,4 triệu tấn, như vậy vớinăng lực của ngành nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữatrong khi sản lượng ngô, lúa mì trên thế giới đang trên đà sụt giảm mạnh, giáliên tục tăng Vì vậy, Việt Nam phải tìm cách thoát ra khỏi sự lệ thuộc vàonguồn nguyên liệu của các nước như hiện nay Để giúp ngành chăn nuôi giảiquyết khó khăn trong việc tìm nguyên liệu và chủ động được nguồn nguyên liệu

trong nước chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô trong thức ăn cho lợn nái nuôi con từ sau khi sinh đến 24 ngày tuổi”.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xác định ảnh hưởng của việc sử dụng gạo tấm trong thức ăn hỗn hợp đếnkhả năng thu nhận thức ăn và chất lượng đàn con

- Đánh giá hiệu quả sử dụng gạo tấm thay thế ngô trong thức ăn hỗn hợpcho lợn nái nuôi con

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu về gạo tấm

2.1.1.Tiềm năng sử dụng gạo tấm làm thức ăn chăn nuôi

Việt nam là nước sản xuất lúa gạo lớn thứ 2 trên thế giới với truyền thốngcanh tác lúa nước có từ xa xưa gắn liền với nền nông nghiệp nông thôn.việc tiêuthụ và sản xuất lúa gạo không chỉ trong nước mà còn ra cả thế giới,những phụphẩm từ lúa gạo được người nông dân tận dụng làm thức ăn chăn nuôi nhưtấm ,cám ngày nay với nền kinh tế phát triển thóc lúa không còn khan hiếmnhư trước kia nên gạo xay cũng được làm nguyên liệu cho ngành sản xuất thức

ăn chăn nuôi

Nước ta có hai vùng trọng điểm sản xuất lúa là đồng bằng sông Cửu Long(khoảng 4 triệu ha gieo trồng/năm) và đồng bằng sông Hồng (khoảng 1,1 hagieo trồng/ năm) Năm 2011, diện tích gieo cấy lúa cả nước là 7,652 triệu ha,năng suất trung bình đạt 55,3 tạ/ha, sản lượng thóc cả nước khoảng 42,3 triệutấn (Niên giám thống kê, 2011) Theo Cục Trồng Trọt - Bộ Nông nghiệp và pháttriển Nông thôn, qui hoạch quĩ đất trồng lúa năm 2015 là 3,899 triệu ha, trong

đó lúa nước hai vụ trở lên là 3,258 triệu ha, diện tích gieo trồng là 7,3 triệu ha.;Năm 2020 bảo vệ quỹ đất lúa ổn định là 3,812 ha, trong đó lúa hai vụ trở lên là3,222 triệu ha, diện tích gieo trồng 7 triệu ha Áp dụng đồng bộ các biện phápthâm canh tiên tiến để đạt sản lượng 42 – 43 triệu tấn vào năm 2015 – 2020,đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu gạo Như vậy, sản lượng thóc củanước ta từ nay đến năm 2020 dao động trong khoảng từ 42 - 43 triệu tấn/năm.Nhu cầu thóc giống trong nước từ 0,8 - 1 triệu tấn/năm Nhu cầu thóc để ăn và

dự trữ trong cả nước mỗi năm khoảng 22 - 24 triệu tấn Nhu cầu thóc để chếbiến khoảng 0,6 - 1,0 triệu tấn Nhu cầu cho chăn nuôi và hao hụt từ 7,5 - 8,5triệu tấn/năm Như vậy, lượng thóc hàng hóa dự kiến trong năm 2015 là 11,1triệu tấn và năm 2020 là 8,7 triệu tấn Đây là nguồn thóc gạo rất lớn đối với thị

Trang 11

trường trong nước Việt Nam là quốc gia sản xuất lúa gạo lớn thứ hai trên thếgiới (chỉ sau Thái Lan) Trong năm 2011, nước ta đã xuất khẩu khoảng 7,1 triệutấn gạo Theo Tổng Công ty Lương thực Miền Nam, những năm gần đây xuấtkhẩu gạo của Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tuy có tăng về lượng nhưng giảmdần về giá trị Năm 2012, sản lượng gạo xuất khẩu đạt 7,72 triệu tấn (tăng 8,3%

so năm 2011), 4 trị giá FOB 3,45 tỉ USD (giảm 1,98%); năm 2013 đạt gần 6,7triệu tấn, trị giá FOB hơn 2,89 tỉ USD Có nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản làgạo Việt Nam vừa không có thương hiệu, chất lượng lại thấp (khoảng 70%lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam là gạo có phẩm cấp thấp - 25% tấm) nên khótiếp cận vào các phân khúc thị trường cấp cao Trong khi đó phân khúc cấptrung, cấp thấp lại có nhiều quốc gia cùng cạnh tranh, đưa đến giá bán và lợinhuận giảm Để giảm thiểu rủi ro và nâng cao lợi nhuận, các chuyên gia nghiêncứu đưa ra báo cáo này khuyến nghị, cần chọn phân khúc thị trường gạo chấtlượng cao và đặc sản cho xuất khẩu trong thời gian tới, đồng thời cần chú trọngvào việc chế biến đa dạng hóa các sản phẩm từ lúa gạo Một vấn đề được nhiềungười quan tâm, nó như một nghịch lý, khi Việt Nam là một nước nông nghiệp,kim ngạch xuất khẩu gạo hàng năm đạt khoảng 3,7 tỷ USD thì kim ngạch nhậpkhẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cũng gần 3 tỷ USD Vìệc sản xuất thức ănchăn nuôi phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu thức ăn nhập khẩu mà giácác nguyên liệu này lại không ngừng tăng lên Giá nguyên liệu thức ăn chănnuôi tăng lên do rất nhiều nguyên nhân, trong đó thiên tai cũng là những cảnhbáo đáng lo ngại Vụ thiên tai cuối năm 2011 và đầu năm 2012, một vụ khô hạnchưa từng có trong 25 năm qua ở Mỹ đã làm cho 61% diện tích đất trồng trọt bịảnh hưởng và làm giảm đáng kể sản lượng ngô và đỗ tương World Bank cảnhbáo rằng khô hạn sẽ còn tiếp tục diễn ra ở Mỹ, Nga và Ấn Độ, điều này làm chogiá ngô và đỗ tương tăng lên tới hai lần so với năm 2010 Báo cáo tổng hợp tìnhhình thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của phòng Thông tinthương mại và hội nhập quốc tế tháng 9/2013 cho biết, giá thức ăn và nguyên

Trang 12

liệu thức ăn chăn nuôi trên thế giới đang có xu thế giảm dần Giá ngô đã giảmxuống mức thấp nhất (180,9 USD/tấn) trong phiên giao dịch ngày 20/9/2013 do

dự báo sản lượng ngô, lúa mỳ và đỗ tương trên thế giới sẽ tăng lên vào niên vụ2013/2014 Tuy vậy, sự bất ổn về giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thịtrường thế giới vẫn là những khó khăn dẫn đến sự phát triển không bền vững củangành sản xuất thức ăn chăn nuôi nước ta Ngành chăn nuôi của Việt Nam sẽphải đương đầu với những khó khăn, gần như một thảm họa nếu sản xuất thức

ăn chăn nuôi bị chi phối bởi nguồn nguyên liệu nhập khẩu Như vậy, việc khaithác nguồn nguyên liệu trong nước để chủ động sản xuất thức ăn chăn nuôi đang

là một yêu cầu bức thiết

Ngày nay với nhu cầu thị yếu của người tiêu dùng tăng cao do đó cần phảinâng cao giá trị dinh dưỡng và năng xuất của cây lúa ,đòi hỏi các nhà khoa họcphải lai tạo ra được nhiều giống lúa có chất lượng và năng xuất cao nhất,ngoài ravới lợi thế về xuất khẩu lúa gạo lớn mà giá trị kinh tế của nó so với ngô nhậpkhẩu lại thấp hơn đây là bài toán cho các nhà lãnh đạo nhà nước và các công tysản xuất thức ăn tính toan cho phù hợp nhất.Nếu theo thời điểm giá tháng 11năm 2013,1kg thóc loại thường tại kho có giá từ 5250-5420 VNĐ (báo cáo thịtrường lúa gạo tháng 11/2013 của VITIC-Trung tâm thông tin và thương mạicủa bộ công thương),tỷ lệ gạo xay/thóc là 80% thì giá 1kg gạo xay la 6563-6813VNĐ(chưa tính chi phí xay sát)tương đương với giá ngô,1kg ngô giá 6800VNĐ.Nhưng đến tháng 3/2014,giá lúa vụ đông xuân tại đồng bằng song cửulong có giá từ 4800-5000 đ/kg(thời báo kinh tế sài gòn,2014),giá gạo xay giảmcòn 6000-6250 đ/kg rẻ hơn ngô 1kg ngô giá 6500 đ/kg

Như vậy, tiềm năng lúa gạo sản xuất trong nước sử dụng làm thức ăn chănnuôi là rất lớn Với các giải pháp như qui hoạch vùng sản xuất lúa gạo để sảnxuất thức ăn chăn nuôi (Các giống lúa không đòi hỏi chất lượng gạo cao);Nghiên cứu chọn tạo, gieo trồng các giống lúa cao sản phù hợp với mục đíchlàm thức ăn chăn nuôi; xây dựng qui trình thâm canh phù hợp nhằm phát huy hết

Trang 13

tiềm năng năng suất lúa; đồng thời nghiên cứu công nghệ chế biến lúa gạo làmthức ăn chăn nuôi có hiệu quả.

2.1.2.Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của gạo tấm

Thóc và phụ phẩm của ngành chế biến thóc gạo bao gồm các thành phầnnhư trấu (husk), chiếm tỷ lệ khoảng 20%; gạo xay (còn gọi là gạo lức, gạo lật -brown rice) với tỷ lệ khoảng 80%; cám bổi (polard) chiếm 11%, trong đó, cámmịn (Rice polishing) là 8% và cám thô (bran) là 3%; tấm (crack rice) khoảng 2%

và gạo trắng (white rice) chiếm tỷ lệ khoảng 67%

Tuy nhiên, hiện nay chúng ta có thể sử dụng cả gạo để sản xuất thức ănchăn nuôi Vì thế, thông thường người ta hay sử dụng gạo xay (còn gọi là gạohay gạo lật) Tỷ lệ gạo xay chiếm tới 80%, bao gồm cả tấm và cám Thành phầnhóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại hạt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốkhác nhau như giống cây trồng, chế độ canh tác, đặc điểm thổ nhưỡng và mùa vụgieo trồng v.v Vì vậy, các kết quả nghiên cứu trên các giống khác nhau, chế độcanh tác và mùa vụ ở các địa phương khác nhau thì kết quả cũng sẽ khác nhau.Thành phần hóa học của ngô và gạo xay được trình bày ở bảng 1.1

Chỉ tiêu gạo tấm ngô

STFC* Ablolio** STFC*

Độ ẩm,% 13.8 14.2 13.5Protein thô,% 7.9 8.1 8.8Lipit thô,% 2.3 2.1 3.9Chiết xuất không nito(NFE),% 73.7 74.3 70.7

Xơ thô,% 0.9 0.9 1.9Tro thô,% 1.4 1.4 1.2

ME gia cầm (Mcal/kg) 3.29 3.35 3.27 Nguồn: Kiyomi Kosaka (1990)

*STFC: Srandard Tables of Feed Composition in Japan, 1987

Trang 14

** Arbolio: Một chủng thóc của Ý, chi tiết từ Yamzaki et al (1988 )

Kết quả ở bảng 2.1 cho thấy, sự khác nhau về hàm lượng protein thô, chấttriết không nitơ và tro thô giữa ngô và gạo xay là không đáng kể Đặc biệt giá trịnăng lượng trao đổi của ngô và gạo xay gần như tương đương nhau (3,27 và3,29 Mcal/kg) Mặc dù hàm lượng lipit thô của gạo xay thấp hơn ngô khá nhiều(2,1 8 và 3,9 %) Điều này cho thấy thay thế ngô bằng gạo, hoàn toàn đáp ứng

đủ nhu cầu về năng lượng Hàm lượng xơ thô trong gạo xay thấp hơn trong ngô

là 1% (0,9 và 1,9%) Điểm yếu nhất của gạo tấm so với ngô là rất nghèo sắc tố(xanthophyll và criptoxanthine…) Riêng thóc, có nhiều yếu điểm hơn so vớingô và gạo tấm Giá trị năng lượng trao đổi của thóc thấp hơn so với gạo xay vàngô khoảng 15-20% Hàm lượng xơ thô cao hơn gạo xay từ 6,1 – 7,7% và caohơn ngô từ 5,1 – 6,7% Đặc biệt vỏ trấu của thóc rất khó tiêu hóa Theo Sikka(2007) trong vỏ trấu có 35% cellulose, 30% lignin, 18% pentosans và 17% tro thô Gạo xay có thành phần axit amin cũng tương đối cao so với các nguyênliệu khác.Trích nguồn Viện chăn nuôi có bảng 1.2

Trang 15

Bảng thành phần axit amin trong thóc,gạo tẻ,ngô tẻ,lúa mỳ

Axit amin(g/kg thức ăn) Thóc tẻ Gạo tẻ Ngô tẻ

chỉ có hàm lượng lysine là thấp hơn so với các nguyên liệu khác còn lại là tương

đối cao chỉ kém so với lúa mỳ

Trang 16

Theo Sittya và CS (2011) giá trị ME tương ứng của ngô và gạo tấm là 2790

Bảng 2.2 Thành phần axit béo của ngô và gạo xay(%)

Chỉ tiêu Ngô Gạo tấm

Axit béo bão hòa

C14:0

-C16:0 1.3016 1.8931C18:0 0.0824 0.1139 Tổng 1.3840 2.0070 Axit béo chưa bão hòa

Chưa bão hòa đơn

C16:1 - - C18:1 0.5226 0.1169

Chưa bão hòa đa

C18:2 0.4087 0.7643 C18:3 0.0286 0.0243 Tổng 0.4373 0.7886

Tổng axit béo chưa bão hòa 0.9599 0.9055

Tỷ lệ axit béo chưa bão hòa /bão hòa 0.6936 0.4512 Nguồn: Piao et al.(2002)

Hàm lượng chất béo của gạo xay tuy chỉ bằng khoảng 2/3 của ngô,nhưng hàm lượng axit béo no của gạo tấm lại cao hơn ngô (2,007 và 1,384).Tuy nhiên, 9 hàm lượng axit béo chưa no lại thấp hơn ngô (0,9055 và0,9599) Kết quả là tỷ lệ axit béo chưa no và axit béo no (USFA/SFA) củagạo tấm (0,4512), thấp hơn của ngô (0.6936) Điều này giúp cho mỡ thân thịtcủa gia súc, gia cầm sử dụng gạo tấm để vỗ béo có độ cứng hơn và dễ chế

Trang 17

biến hơn so với sử dụng ngô để vỗ béo.

Bảng 1.3 Gía trị DE,ME ,NE một số loại hạt ngũ cốc làm thức ăn cho lợn

DE ME NE Loại thức ăn (MJ/kg VCK) (MJ/kg VCK) (MJ/kg VCK)

Thóc 12.5 11.45 9.3 Gạo xay 17.2 16.8 13.4 Gạo tấm 15.9 16.6 13.5 Ngô 16.5 16.1 12.9 Lúa mỳ 15.9 15.5 12.1(INRA,CIRAD và FAO,2012)-PHILSAN(2003,Philippine Socitety of AnimalNutritionist)

Theo bảng 1.3 thì gạo tấm có giá trị ME,NE,DE là cao nhất so vớithóc ,gạo tấm, lúa mỳ,ngô

Như vậy chúng ta có thể nhận thấy việc sử dụng gạo tấm làmnguyên liệu thay thế cho ngô làm thức ăn chăn nuôi là có thể thực hiện đượctrong tương lai không xa cho các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi

2.2 Một số đặc điểm sinh lý của lợn nái nuôi con

Trong chăn nuôi lợn nái nuôi con có ý nghĩa hết sức quan trọng đó là khâu Cuối cùng tạo ra sản phẩm và chất lượng trong chăn nuôi lợn nái nuôicon.Giai đoạn này quyết định đến chất lượng con giống cũng như hiệu quả kinh

tế trong chăn nuôi lợn nái Vì vậy trong chăn nuôi lợn nái cần đạt được nhữngyêu cầu đó là:

+ Lợn nái tiết nhiều sữa với chất lượng tốt

+ Cả lợn mẹ và lợn con khỏe mạnh,lợn con sinh trưởng nhanh,có số con vàtrọng lượng cai sữa cao

+ Tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con cao

Trang 18

+ Lợn mẹ ít bị hao mòn về khối lượng trong giai đoạn nuôi con và sớmđộng dục trở lại sau khi cai sữa đàn con

Cấu tạo của tuyến sữa

Cấu tạo của tuyến sữa lợn gồm 2 phần: phần phân tiết và phần dẫn sữa.Phần phân tiết:gồm vô số các tuyến bào tạo thành từng chùm như các chumnho phần phân tiết nằm ở mặt trong các tuyến bào,tổng hợp sữa và phân tiết vàocác xoang của tuyến bào

Phần dẫn sữa:gồm hệ thống các tuyến ống dẫn sữa xuát phát từ các xoangcủa tuyến bào,các ống dẫn sữa nhỏ được tập chung lại thành các ống dẫn sữatrung bình để rồi trở thành các ống dẫn sữa lớn,để cuối cùng đổ vào bể sữa Bểsữa được thông ra ngoài bởi ống dẫn sữa

Qúa trình hình thành sữa

Sự hình thành sữa là một quá trình tổng hợp phức tạp xảy ra trong các tếbào tuyến.chọn lọc dinh dưỡng từ huyết tương để tổng hợp nên những thànhphần đặc trưng của sữa.Thành phần của sữa và huyết tương là rất khác nhau,hàm lương đường sữa gấp 90-95 lần, mỡ sữa gấp 40 lần.Nhưng ngược lại một sốchất lại ít hơn như protit nhỏ hơn 2 lần, vitamin 6 lần… y globulin, enzyme,hocmon khoáng được lọc từ máu vào các thành phần casein, mỡ, lacto phải trảiqua quá trình tổng hợp từ tế bào tuyến

+ Cazein sữa được tổng hợp ở ti thể của tế bào tuyến,từ các a xít amin củahuyết tương,sự tổng hợp casein giống như sự tổng hợp protein của mô bào,các axít amin từ máu được chuyển qua được hoạt hóa và gan với ARN vận chuyển để

đi tới riboxom của tế bào tuyến để tiến hành tổng hợp casein và một số proteinđặc thù của sữa như lactoglubolin…

+ Lactoz sữa được hình thành từ 2 đương đơn(monosacarit): glucoz vàgalacto

Trang 19

+ Mỡ sữa được tổng hợp từ các a xit béo mạch ngắn 4-12C, các a xít béođược kết hợp với glixerin để tạo ra mỡ trung tính.Một phần mỡ sữa được tạo ra

từ mỡ trung tính có trong huyết tương

+ Y glubolin sữa được máu chuyển thẳng vào

Qúa trình thải sữa

Đối với lợn khác với trâu bò sữa được sản xuất ra không có bể sữa để dựtrữ mà nó được sản xuất ra từ các tuyến bào và được dự trữ trong các xoang củatuyến bào.Việc tiết sữa của chúng dựa vào cơ chế thần kinh thể dịch theo ba pha.Khi lợn con bú, đầu tiên lợn con ngậm và thúc vào vú mẹ, luồng xung độngthần kinh theo hướng dây thần kinh về vỏ não rồi xuống vùng dưới đồi, tiết cácyếu tố giải phóng ,các yếu tố giải phóng truyền tới vùng sau tuyến yên tiếtoxytocin,oxytocin đi tới tuyến vú làm co bóp tế bào biểu mô, cơ tuyến bào cơtuyến vú co bóp từ đó sữa được được thải ra từ các xoang tuyến qua ống dẫn sữanhỏ rồi đến ống dẫn sữa lớn đến ống tiết sữa,từ đó lợn con với bú được,quá trìnhlọn con bú theo ba pha: pha ngậm và thúc vú (80-100s), pha nằm im( 20s) vàpha mút vú (20s)

2.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng sữa của lợn nái

* Giống : Allen và Laslcy lợn Berkshire có sản lượng sữa 1.9-3.3 kg /

ngày, lợn Polanchina là 1.5-3.8 kg/ngày, duroc là 1.9-3.5kg/ngày, lợn landrace2.5-3.5kg/ngày Một số tài liệu hiện nay cho biết giống lợn landrace vàYorkshire có sản lượng sữa > 10 lít / ngày

* Số con để nuôi trong một ổ: theo Burger thì số con để nuôi với sảnlương sữa có mối tương quan chặt chẽ (r= 0.8, salmon, r=0.72) do đó nó cótương quan chặt chẽ với nhau

Trang 20

Bảng 2.1 Ảnh hưởng của số lợn con /ổ tới sản lượng sữa lợn mẹ

Số con nuôi /ổ Sản lượng sữa(kg/ngày) Sản lượng sữa/con/ngày(kg)

* Số vú lợn mẹ: số vú lợn mẹ và sản lương sữa có mối tương quandương(r=0.262)

* Vị trí của vú: sản lượng sữa giảm dần từ vú trước ngực ra sau bụng.Dovậy trong quá trình chăn nuôi lợn nái nuôi con việc cố định đầu vú bú cho lợncon rất quan trọng quyết định sự đồng đều cho heo con

* Thời tiết khí hậu:thời tiết mát mẻ lợn mẹ ăn được nhiều hơn do vậy sảnlượng sữa cũng cao hơn nhiệt độ lý tưởng của lợn nái là 20 độ c nếu lớn hơn haythấp hơn nhiệt độ này thì tỷ lệ ăn vào của lợn tăng hoặc giảm 323kcalo DE/1 độ c

2.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái nuôi con

Lợn nái nuôi con có nhu cầu về dinh dưỡng cao đảm bảo cho duy trì thểtrạng tốt cũng như tiết sữa nuôi con quyết định đến chất lượng đàn con

Nhu cầu dinh dưỡng:

Nhu cầu về năng lượng(ME): cần đảm có 3100-3200 Kcal ME/ 1kg TĂhoặc có thể cung cấp đến 3500-3600 Kcal ME/1kg TĂ.Có thể bổ xung them mỡđộng vật

Nhu cầu vê protein: hàm lượng protein tho(CP) trong khẩu phần ăn củalợn nái nuôi con cần đảm bảo

+ Lợn nội protein thô (CP): 14-15%

+Lợn lai protein thô (CP) :15-16%

Trang 21

+Lợn ngoại protein thô(CP):16-17%

Sữa đầu có 15% protein ,sữa thường có 6% protein

Nhu cầu về khoáng:

Nhu cầu về vitamin

+ Viatmin A:4000 UI/kgTĂ

+Vitamin B:480mg/kg TĂ(B1,B2,B3,B6,B12)

+VitaminC:100mg/kgTĂ

+VitaminD:300UI/kgTĂ

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1Tình hình nghiên cứu trong nước

Ngành chăn nuôi của việt nam nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng,việc ápdụng những tiến bộ khoa học vào trong chăn nuôi đã nhiều nhưng còn nhữngnghiên cứu về sử dụng lúa gạo đặc biệt là gạo tấm là phụ phẩm ngành xay sátthóc gạo còn chưa nhiều trong khi đó việt nam lại là nước có nguồn nguyên liệuthóc gạo và phụ phẩm dồi dào,cũng có nhiều công trình nghiên cứu về sử dụnggạo tấm làm nguyên liệu cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi nhưng chưađược á dụng rộng rãi

Tôn Thất Sơn và CS (2010) trong thức ăn tập ăn cho lợn con đã sử dụng20% gạo tấm

Lã Văn Kính và CS(2015) đã tiến hành nghiên cứu tỷ lệ tiêu hóa các chấtdinh dưỡng và giá trị năng lượng của thóc và gạo lật làm thức ăn cho giacầm.Thí nghiệm này được tiến hành trên 210 con gà trống lương phượng đãđược cắt bỏ manh tràng có khối lượng trung binh 558gam/con ,được bố trí ngẫu

Trang 22

nhiên vào các cũi với trao đổi chất dược lặp lại 5 lần với 3 khẩu phần.Các khẩuphần được sử dụng trong thí nghiệm gồm:thí nghiệm cơ sở (1),khẩu phần thínghiệm thóc:80% khẩu phần cơ sở và 20% thóc tính theo khối lượng(2),khẩuphần thí nghiệm gạo lật:60% khẩu phần cơ sở và 40% gạo lật tính theo khốilượng ,thời gian thí nghiệm 7 ngày 4 ngày thích nghi 3 ngày thu mẫu,để xácđịnh tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, chất hữu cơ,protein thô, xơ thô ,béothô,khoáng,dẫn xuất không nito,giá trị năng lượng trao đổi của thóc và gạolật(giống IR 50404).Kết quả thí nghiệm cho thấy thóc có tỷ lệ tiêu hóa vật chấtkhô,chất hữu cơ thô, protein thô,béo thô,xơ thô, khoáng, dẫn xuất không nitolần lượt là: 72,80;77,50;72,31;64,77;35,47;60,23;83,29% Năng lương trao đổibiểu kiến và năng lượng trao biểu kiến hiệu chỉnh của 1kg thóc là 88,82% VCK

là 2.876 và 2,570 kcal Gạo lật có tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, chất hữu cơ,protein thô, béo thô, xơ thô, khoáng và dẫn xuất không nito là:74,15;87,82;79,63;79,74;46,42;62,54;89,96% Năng lượng trao đổi biểu kiến vànăng lượng trao đổi biểu kiến hiệu chỉnh của 1kg gạo lật là 87,81% VCK là3,212 và 3,041 kcal/kg

Bảng 2.2 Thành phần hóa học của thóc và gạo lật giống IR 15404( %VCK)

Chỉ tiêu thóc gạo lật

Vật chất khô 88,74 87,81 Chất hữu cơ 96,76 98,56 Protein thô 7,47 7,83

Lipit 1,80 2,26

Xơ thô 9,14 1,12

NDF 16,18 9,17 Khoáng tổng số 3,24 1,44 DXKN 66,85 75,78

Nguồn: Lã Văn Kính và cs (2015)

2.3.2 Tình hình ngoài nước

Trang 23

Nhiều nghiên cứu trên thế giói đã chỉ ra rằng việc thay thế gạo lứt cho ngô

không làm ảnh hưởng đến chất lượng và tốc độ sinh trưởng của gia súc gia cầm.

Patricia và Freddy (1999) có thể sủ dụng thóc thay thế 60-100% ngô trongkhẩu phần ăn cho lợn thịt.Giai đoạn đầu tỷ lệ tiêu hóa còn giảm do trong thóc cóhàm lượng chất xơ cao,làm giảm sinh trưởng nhưng giai đoạn vỗ béo thì sinhtrưởng tuyệt đối (g/con/ngày) tương đương các lô không sử dụng thóc và giá trịdinh dưỡng của thóc bằng 94% ngô

Kết quả nghiên cứu của Piao et al (2002) đã cho thấy, tỷ lệ tiêu hoá các

chất dinh dưỡng trong khẩu phần có gạo lật cao hơn so với khẩu phần cơ sở làngô Có ý kiến cho rằng, ở lợn con, do khả năng tiết các enzyme phân giải tinhbột (amylopsin và ptyalin) hạn chế nên hiệu quả sử dụng gạo lật và tấm khôngcao (Li, 1996) Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây tại Trung quốc (Zhang et al.,2002) cho thấy, sử dụng gạo lật thay thế hoàn toàn ngô không ảnh hưởng đến tỷ

lệ tiêu hoá vật chất khô, chất hữu cơ và tốc độ sinh trưởng của lợn Kết quảnghiên cứu của Pluske et al (2005) cho thấy, sử dụng tấm trong khẩu phần ăncho lợn con làm giảm đáng kể tỷ lệ tiêu chảy Kết quả nghiên cứu của Li et al.(2006) về khả năng tiêu hóa của ngô và gạo lật trên lợn giai đoạn sinh trưởng(khối lượng lợn lúc đưa vào thí nghiệm là 24 kg) cũng cho kết luận rằng hầu hếtcác chất dinh dưỡng trong gạo lật của Trung Quốc đều có tỷ lệ tiêu hóa cao hơnngô, năng lượng trao đổi (ME) của gạo lật tương đương với ngô

Các chương trình nghiên cứu của Nhật về giá trị dinh dưỡng của thóc vàkhả năng thay thế thóc cho các loại hạt khác trong thức ăn chăn nuôi bắt đầuthực hiện từ năm 1970, khi mà thóc đã vượt quá nhu cầu tiêu thụ trong nước.Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất của nhật giá một tấn thóc lên tới 600 USD,trong khi giá một tấn ngô nhập khẩu ở thời điểm đó chỉ có 286 USD Mặc dùchương trình này không khả thi, nhưng các nhà khoa học Nhật cho rằng, các kếtquả nghiên cứu của họ sẽ có ích cho các nước châu Á khác có điều kiện khí hậu

Trang 24

và đất đai thuận lợi cho việc trồng lúa đảm bảo năng suất lúa cao và giá thành hạhơn ngô.

Các nghiên cứu của Piao et al (2002) ở trường Đại học Nông nghiệp BắcKinh đã tập trung vào việc đánh giá tỷ lệ tiêu hóa của các chất dinh dưỡng củagạo lật và ngô nhằm xem xét khả năng thay thế ngô của gạo lật trong khẩu phần.Kết quả thí nghiệm của Piao cho thấy khẩu phần chứa 60% gạo lật đã có tỷ lệtiêu hóa tốt hơn khẩu phần chứa 60% gạo lật lần lượt là 87,7; 81,7 và 78,5%trong khi các chỉ tiêu này của khẩu phần chứa 60% ngô tương ứng là 80,5; 80,2

và 75,2% Giống như kết quả của Piao, trước đó He et al (1994) cũng cho biết,

tỷ lệ tiêu hóa Protein và tỷ lệ EM/GE của gạo lật là 73,71 và 65,03%, cao hơncủa ngô tương ứng là 69,17 và 59,89% Kết quả nghiên cứu của Piao et al.(2002) còn cho biết, hàm lượng Ure (BUN) và glucose (TG) huyết thanh của lợn

ăn khẩu phần chứa 60% gạo lật đều thấp hơn so với khẩu phần 60% ngô (21 và

23 mmol/dl) Hàm lượng BUN có tương quan nghịch với sự cân bằng axit aminkhẩu phần, BUN của khẩu phần 60% gạo lật thấp chứng tỏ protein của gạo lật

có cân bằng axit amin tốt hơn protein của ngô Hàm lượng đường glucose huyếtthanh của lợn ăn khẩu phần gạo lật thấp hơn của khẩu phần ngô (137,5 và 151,6mg/g) cũng chứng tỏ lợn ăn gạo lật có đáp ứng insulin tốt hơn so với ăn

Ngày đăng: 11/08/2018, 15:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lã Văn Kính, Nguyễn Thị Lệ Hằng và Trần Quốc Việt (2015).Xác định khả năng thay thế ngô bằng thóc trong khẩu phần nuôi gà thịt lông màu. Báo cáo khoa học năm 2015, phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi – Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định khả năng thay thế ngô bằng thóc trong khẩu phần nuôi gà thịt lông màu
Tác giả: Lã Văn Kính, Nguyễn Thị Lệ Hằng, Trần Quốc Việt
Nhà XB: Báo cáo khoa học năm 2015, phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi – Viện chăn nuôi
Năm: 2015
2. Ninh Thị Len và Lê Văn Huyên (2011). Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài “Nghiên cứu nhu cầu năng lượng, Protein và axit amin thiết yếu (Lysine, methionine, threonine và tryptophan) cho các tổ hợp x ngoại nuôi thịt ở Việt Nam, Viện Chăn nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài “Nghiên cứu nhu cầu năng lượng, Protein và axit amin thiết yếu (Lysine, methionine, threonine và tryptophan) cho các tổ hợp x ngoại nuôi thịt ở Việt Nam
Tác giả: Ninh Thị Len, Lê Văn Huyên
Nhà XB: Viện Chăn nuôi
Năm: 2011
3. Phan Xuân Hảo (2006), Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái ngoại Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace x Yorkshire) đời bố mẹ, tạp chí KHKT Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái ngoại Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace x Yorkshire) đời bố mẹ
Tác giả: Phan Xuân Hảo
Nhà XB: tạp chí KHKT Nông nghiệp
Năm: 2006
4. Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Đào Thị Phương, Ninh Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Nhân Hòa và Nguyễn Thị Thúy (2015). Giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật dùng trong chăn nuôi lợn.Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật dùng trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Đào Thị Phương, Ninh Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Nhân Hòa, Nguyễn Thị Thúy
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Năm: 2015
6. Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Ninh Thị Huyền và Nguyễn Thị Ngọc Anh (2015). Tình hình sử dụng thóc và gạo lật để sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Báo cáo khoa học năm 2013 – 2015, phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi – Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng thóc và gạo lật để sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Ninh Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Anh
Nhà XB: Báo cáo khoa học năm 2013 – 2015, phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi – Viện chăn nuôi
Năm: 2015
7. Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Đào Thị Phương, Ninh Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Nhân Hòa và Nguyễn Thị Thúy (2015). Giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật dùng trong chăn nuôi lợn. Báo cáo khoa học năm 2013 – 2015, phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi – Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật dùng trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Đào Thị Phương, Ninh Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Nhân Hòa, Nguyễn Thị Thúy
Nhà XB: Báo cáo khoa học năm 2013 – 2015, phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi – Viện chăn nuôi
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w