THÍ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊT THÍ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊT THÍ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊTTHÍ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊTTHÍ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊTTHÍ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊTTHÍ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊTTHÍ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊTTHÍ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊT
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: THÍ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊT
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
Người hướng dẫn : TS TRẦN HIỆP
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc.
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Huyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập tại trường và thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, đến nay
em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Ban giám đốc Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi cùng các thầy
cô giáo trong khoa đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ em trong thời gian học tập tại trường Đặc biệt sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo TS Trần Hiệp đã chỉ bảo
và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin cảm ơn sâu sắc tới anh Nguyễn Văn Thông – cán bộ kỹ thuật – Khoa Chăn nuôi, các bạn sinh viên nhóm ASC – Khoa Chăn nuôi - những người giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, giúp
đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Em xin kính chúc các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Huyền
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
Phần I MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2.1 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 3
2.2.1 Mục đích 3
2.1.2 Yêu cầu 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Sơ lược về tình hình chăn nuôi lợn bẳng thức ăn lên men lỏng ở thế giới và Việt Nam 4
1.1.1 Sơ lược về tình hình chăn nuôi lợn bẳng thức ăn lên men lỏng ở thế giới 4
1.1.2 Sơ lược về tình hình chăn nuôi lợn bẳng thức ăn lên men lỏng ở Việt Nam 4
1.1.3 Lợi ích của việc cho ăn lỏng so với cho ăn khô 5
1.2 Thức ăn lên men lỏng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của thức ăn lên men lỏng 6
1.2.1 Thức ăn lên men lỏng 6
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thức ăn lên men lỏng 8
1.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn lên men lỏng đến đường tiêu hóa của lợn 9
1.2.4 Ảnh hưởng của thức ăn lên men lỏng đến các vi khuẩn trong đường tiêu hóa 9
1.2.6 Lợi ích và hạn chế của việc sử dụng thức ăn lỏng lên men 10
1.2 6.1 Lợi ích của việc sử dụng thức ăn lỏng lên men 10
1.3.2 Lợn Yorkshire Large White (lợn Đại Bạch) 15
1.3.3.Lợn lai F1 ( Yorkshire x Móng cái) 15
1.4 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn 16
1.4.1 Khái niệm sinh trưởng phát dục 16
Trang 51.4.2 Quy luật sinh trưởng và phát dục 17
1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng và những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát dục 19
1.5 Nguồn thức ăn sử dụng trong chăn nuôi lợn 24
1.5.1 Thức ăn thô, xơ 24
1.5.2 Một số loại thức ăn giàu năng lượng 26
1.5.4 Một số loại thức ăn bổ sung 29
1.6 Tình hình chăn nuôi lợn ở thế giới và Việt Nam 29
1.6.1 Tình hình chăn nuôi lợn thế giới 29
1.6.2 Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam 30
Chương II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 32
2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 32
2.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 32
2.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 32
2.4.1 Đánh giá thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thô xanh trước và sau khi lên men 32
2.4.2 Xác định tỷ lệ thay thế thức ăn tinh bằng thức ăn xanh lên men trong chăn nuôi lợn thịt 33
2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.5.1 Thiết kế thí nghiệm 34
Chương III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 38
3.1.1 Thành phần dinh dưỡng của nguyên liệu thức ăn 38
3.1.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn lên men 41
3.2 Ảnh hưởng của khẩu phần sử dụng thức ăn hỗn hợp và lên men đến hiệu quả chăn nuôi 43
3.2.1 Khối lượng tích lũy của lợn qua các tháng nuôi 43
3.2.2 Tốc độ tăng khối lượng của lợn qua các tháng nuôi 45
3.2.3 Lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn của đàn lợn thí nghiệm 47
Trang 63.4 Hiệu quả kinh tế 52
3.4.1 Hiệu quả kinh tế sơ bộ 52
3.4.2 So sánh và dự báo hiệu quả chăn nuôi lợn khi sử dụng các loại thức ăn khác nha 54
3.4 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
1 Kết luận 58
2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Sự sinh trưởng của lợn qua các ngày tuổi 19
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 34
Bảng2.2 Thành phần và chi phí cho các công thức thức ăn 34
Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp và thức ăn ủ xanh lên men lỏng tại các thời điểm 35
Bảng 3.1 Thành phần hóa hóa học của các nguyên liệu thức ăn 39
Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp và thức ăn lên men 41
Bảng 3.3 Hàm lượng acid hữu cơ và độ pH của thức ăn lên men 42
Bảng 3.4 Khối lượng tích lũy của đàn lợn qua các tháng tuổi 44
Bảng 3.5 Tốc độ sinh trưởng của đàn lợn qua các tháng tuổi 46
Bảng 3.6.Tổng lượng thức ăn thu nhận 48
Bảng 3.7 Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến của khẩu phần thí nghiệm 49
Bảng 3.8 Hiệu quả chuyển hóa thức ăn 50
Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế sơ bộ của việc sử dụng thức ăn lên men 52
Bảng 3.10 So sánh hiệu quả kinh tế sơ bộ của việc sử dụng thức ăn khác nhau 54
Bảng 3.11 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn 56
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Sự chênh lệch về khối lượng của lợn thịt qua các đợt TN ở hai lô đối
chứng và TN 45
Biểu đồ 3.2 Tăng khối lượng tuyệt đối của đàn lợn ĐC và TN 47
Biểu đồ 3.3 Tổng lượng thức ăn thu nhận 49
Biểu đồ 3.4 Hiệu quả chuyển hóa thức ăn của đàn lợn thí nghiệm 51
Biểu đồ 3.5 Cơ cấu chi phí chăn nuôi lợn thịt trong lô ĐC 53
Biểu đồ 3.6 Cơ cấu chăn nuôi lợn thịt trong lô TN 53
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10Phần I
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong chăn nuôi, thức ăn chiếm tới 70% chi phí chăn nuôi và có khả năngquyết định giá thành sản phẩm Tuy nhiên, thức ăn chăn nuôi nước ta chủ yếu lànhập từ nước ngoài (70-80%) Theo Cục chăn nuôi, năm 2014 Việt Nam nhậpkhoảng 11,7 triệu tấn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, trị giá khoảng 4,9 tỷ USD
(tương đương 108.000 tỷ đồng) Như vậy ngành chăn nuôi Việt Nam thực tế
đang làm lợi cho nông dân nước ngoài Chính vì vây, giá thành sản phẩm thịtsản xuất trong nước không thể cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu Do đó cầnthiết phải thay đổi phương thức chăn nuôi để vừa đảm bảo hiệu quả về kinh tế(năng suất, hiệu quả), xã hội (chất lượng tốt, VSATTP ) và môi trường (tận dụnghiệu quả nguồn tài nguyên sẵn có) và cạnh tranh tốt với sản phẩm ngoại nhập
Chăn nuôi hữu cơ tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên tại chỗ (thức ăn thô xanh,
phụ phẩm công nông nghiệp) sẽ đảm bảo các yếu tố trên.
Mặt khác, một trong những nguyên nhân làm cho hiệu quả chăn nuôi nóichung và chăn nuôi lợn nói riêng còn chưa cao là do người chăn nuôi ở nước taphụ thuộc nhiều vào thức ăn công nghiệp với giá thức ăn cao và biến động lớn.Ngoài ra việc sử dụng tràn lan các chất cấm trong thức ăn chăn nuôi như khángsinh, hormone kích thích sinh trưởng, chất tạo thịt nạc…làm giảm chất lượngsản phẩm thịt lợn, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng mà báo chí và cácphương tiện thông tin đại chúng phản ánh trong thời gian vừa qua Vấn đề vệsinh an toàn thực phẩm đang là một vấn đề nóng của xã hội chúng ta ngày nay.Một trong những giải pháp để giải quyết vấn đề này đó là khuyến khích ngườichăn nuôi chủ động xây dựng khẩu phần dựa trên các nguồn thức ăn sẵn có giá
rẻ Điều này sẽ giúp cho người chăn nuôi quản lý được chất lượng thức ăn sửdụng cho lợn, giảm chi phí chăn nuôi và từ đó nâng cao được hiệu quả kinh tế vàđảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
Trang 11Việt Nam đất chật người đông nên phương thức chăn thả, bán chăn thả sẽkhông khả thi và không phục vụ tốt cho đông đảo người dân, đặc biệt là các hộchăn nuôi nghèo Như vậy để phát triển chăn nuôi hữu cơ thâm canh trên mộtdiện tích hạn chế, cần thiết phải sử dụng nguồn thức ăn xanh năng suất cao(chủyếu là các giống cao sản như cỏ VA06, cỏ Napier: 300 - 500 tấn/ha/năm, ghinê:
100 - 150 tấn/ha/năm, cây ngô: 40-70 tấn/vụ ) và các loại rau củ quả Đây là
các loại thức ăn thường có giá trị dinh dưỡng thấp, khó tiêu hóa nên sẽ không
đảm bảo năng suất và không thể nuôi lợn thâm canh với số lượng lớn Như đãbiết, GSNL có thể sử dụng các loại thức ăn thô là nhờ có hệ vi sinh vật trong dạ
cỏ Chính vì vậy, để nâng cao được dinh dưỡng của các loại thức ăn thô xanh sửdụng cho lợn, men vi sinh cần có hoạt động tương tự như hoạt động của vi sinhvật dạ cỏ để lên men thức ăn xanh trước khi cho lợn ăn
Công nghệ lên men vi sinh các sản phẩm và phụ phẩm để chế biến và bảoquản thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm đã được nghiên cứu và ứng dụng ởnước ta Tuy nhiên, đa số tập trung vào lên men, chế biến và bảo quản các phụphẩm nông nghiệp làm thức ăn cho loài nhai lại, đặc biệt cho bò Rất ít nghiêncứu công nghệ lên men thức ăn cho lợn Trên thực tế đã có chế phẩm sinh học(chế phẩm EM, men vi sinh hoạt tính NN1, chế phẩm đa enzym Viprotics, bổsung chế phẩm sinh học hỗn hợp EVP ) có khả năng lên men thức ăn cho lợn.Tuy nhiên các loại nguyên liệu thức ăn được lên men từ các chế phẩm trên là cácloại nguyên liệu có giá thành cao như ngô, cám, gạo, đậu tương chưa có chếphẩm nào/công trình nào nghiên cứu lên men thức ăn thô xanh như là nguồnthức ăn chính, chất lượng cao cho lợn, đáp ứng yêu cầu phát triển chăn nuôi lợnhữu cơ thâm canh Chính vì vậy, đề tài tiến hành đánh giá tiềm năng và hiệu quảcủa việc lên men thức ăn xanh làm thứ ăn cho lợn thịt
Trang 13CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về tình hình chăn nuôi lợn bẳng thức ăn lên men lỏng ở thế giới
và Việt Nam
1.1.1 Sơ lược về tình hình chăn nuôi lợn bẳng thức ăn lên men lỏng ở thế giới
Hệ thống cho ăn lỏng đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều năm để sử dụngsản phẩm phụ lỏng trong hệ thống cho ăn chăn nuôi lợn ở Tây Âu. Tuy nhiên, sửdụng công nghệ này đã được giới hạn ở Bắc Mỹ và các khu vực khác trên thếgiới cho đến gần đây. Sự phổ biến ngày càng tăng của việc sử dụng hệ thống cho
ăn lỏng ở Bắc Mỹ đang được thúc đẩy bởi giá thực phẩm khô thông thường cao,
sự gia tăng đáng kể về tính sẵn có và chi phí sản phẩm phụ lỏng thấp từ sản xuấtnhiên liệu sinh học và tăng hiệu suất sinh trưởng, sức khoẻ và động vật - lợi thế
mà hệ thống cho ăn lỏng cung cấp so với hệ thống cho ăn khô. Trên thực tế,khoảng 20 phần trăm lợn kết thúc tăng trưởng ở Ontario, Canada được cho ănbằng hệ thống cho ăn lỏng (SLFA, 2007)
Các hệ thống cho ăn lỏng liên quan đến việc sản xuất thức ăn có kiểm soátbằng máy tính và thường xuyên cho ăn chế độ ăn lỏng có thể được sử dụngthành công trong tất cả các giai đoạn chăm sóc lợn. Thông thường, chế độ ănuống lỏng chứa 20 đến 30% chất khô. Trong một số hệ thống cho ăn lỏng, việclên men từng phần các thành phần hoặc chế độ ăn có thể xảy ra, dẫn đến sảnxuất axit hữu cơ và sự gia tăng các vi khuẩn có lợi như Lactobacilusacidophilus (de Lange và cộng sự, 2006). Một trong những khía cạnh quan trọngnhất của việc sử dụng thức ăn lỏng thành công là đảm bảo rằng tỷ lệ nước hợplý: hàm lượng chất khô và tần số cho ăn đạt được cho các giai đoạn sản xuất cụthể khi nó được sử dụng
1.1.2 Sơ lược về tình hình chăn nuôi lợn bẳng thức ăn lên men lỏng ở Việt Nam
Hiện nay, tại Việt Nam có 80% dân số sống chủ yếu bằng nông nghiệp,trong đó chăn nuôi mang lại nguồn thu nhập chính cho các hộ nông dân Donhiều yếu tố khách quan và chủ quan, phần lớn các hộ chăn nuôi lợn hiện nay đa
Trang 14số vẫn ở quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu là quy mô hộ gia đình.
Đã có rất nhiều hộ chăn nuôi vay vốn để đầu tư chuồng trại nuôi theo môhình bán công nghiệp Sử dụng thức ăn chăn nuôi tổng hợp do các nhà máy thức
ăn chăn nuôi cung cấp nhưng cám công nghiệp đến được chuồng nuôi của bàcon có giá quá cao do phải gánh thêm nhiều nấc phân phối và phí vận chuyển.Đặc biệt việc lợn ăn cám công nghiệp nhiều, thiếu rau xanh trong khẩu phần ănnên có sức đề kháng rất thấp Nếu việc vệ sinh chuồng trại và phòng dịch khôngđạt yêu cầu thì lợn rất dễ bị nhiễm bệnh Do đó rất nhiều gia trại, nông trại đã lỗphải treo chuồng Vì vậy thức ăn dạng lỏng tận dụng được các phụ phẩm củangành công nghệ chế biến thực phẩm như phụ phẩm của ngành làm rượu, làmethanol, làm bia, làm đậu nành, làm bánh kẹo , hạ được giá thành sản phẩm,giảm thiểu ô nhiễm môi trường và giảm được chi phi phơi sấy các phụ phẩmdạng ướt Không những thế sử dụng thức ăn lỏng lên men giúp cho quá trình tiêuhóa protein được cải thiện, pH giảm, kích thích hoạt động phân giải proteintrong dạ dày và làm chậm tốc độ làm sạch dạ dày, cho phép thêm thời gian đểtiêu hóa trong dạ dày sẽ diễn ra, nhờ vậy mà thức ăn được tiêu hóa triệt để hơn.THức ăn lên men lỏng là giải pháp giải quyết vấn đề cho người chăn nuôi ViệtNam với hơn 80% là chăn nuôi nông hộ
1.1.3 Lợi ích của việc cho ăn lỏng so với cho ăn khô
Có rất nhiều lợi thế của việc sử dụng hệ thống cho ăn lỏng so với cho ănkhô trong nuôi lợn. Bao gồm cải thiện việc sử dụng chất dinh dưỡng, sự linhhoạt và kiểm soát các chương trình cho ăn, sử dụng các phụ phẩm lỏng rẻ tiền,giảm tác động môi trường và cải thiện hoạt động của động vật (Jensen vàMikkelsen, 1998; Russell và cộng sự, 1996; Canibe and Jensen, 2003; Brooks et.Al., 2001, Lawlor và cộng sự, 2002). Việc cho ăn lỏng cũng có thể làm tăng sứckhoẻ ruột, giảm nhu cầu sử dụng thuốc cho thức ăn và cải thiện phúc lợi vật nuôi(Brooks và cộng sự, 2001 Canibe và Jensen, 2003)
Chế độ ăn uống có chứa thành phần lên men đã cho kết quả cải thiện tăngtrưởng, làm giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật ở những vườn ươm và lợn đang nuôi
Trang 15(Geary và cộng sự, 1996, 1999; Canibe và Jensen, 20
03; Scholten và cộng sự, 1999). Những lợi ích này có vẻ như là do sự sẵn
có của chất dinh dưỡng tăng lên, giảm sự phát triển và sự phát tán của vi khuẩngây bệnh như Yersinia, Salmonella và E coli do pH thấp (Geary và cộng sự,
1996, 1999; Scholten và cộng sự, 1999, van Winsen và cộng sự, 2001,Demeckova và cộng sự, 2001). Hơn nữa, hoạt tính của pepsin tăng do pH thấphơn dẫn đến sự tiêu hóa protein tốt hơn (Scholten et al., 1999). Sự hiện diện của
vi khuẩn axit lactic và axit hữu cơ (axit lactic và butyric) trong thức ăn lỏng lênmen cũng có thể có ảnh hưởng tích cực đến chức năng tiêu hóa và miễn dịch(Simon và cộng sự, 2003, Mroz, 2003)
1.2 Thức ăn lên men lỏng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của thức
ăn lên men lỏng
1.2.1 Thức ăn lên men lỏng
Chăn nuôi lợn bằng thức ăn dạng lỏng (liquid feeding) là công nghệ chănnuôi lợn đang được áp dụng rộng rãi ở châu Âu, nhất là sau khi EU ban bố lệnhcấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi vào năm 2006
Hiện nay có nhiều trại lợn ở Hà lan, Đan mạch, Pháp, Bỉ, Đức… đang ápdụng công nghệ lên men lỏng nhằm tận dụng những phụ phẩm ướt Ở Bắc Mỹcông nghệ này chỉ phát triển mạnh sau khi giá nguyên liệu truyền thống tăng cao
và người nuôi phải tìm đến những nguồn nguyên liệu rẻ tiền hơn, đó là các phụphẩm ướt Hiện nay ở Ontario, Canada đã có 20% lợn thịt được nuôi bằng thức ăndạng lỏng, công nghệ mới này sẽ còn mở rộng hơn nữa ở Canada và Bắc Mỹtrong thời gian tới
Vũ Duy Giảng và Lê Quang Thành (2015) cho biết: Thức ăn lỏng là thức
ăn chứa các nguyên liệu thức ăn khô cùng với nước, tỷ lệ chất khô chiếm khoảng20-30% khối lượng thức ăn Thức ăn lỏng được chia thành các loại:
- Thức ăn lỏng không lên men (nguyên liệu khô trộn với nước ngay trướckhi cho ăn, tỷ lệ thức ăn/nước vào khoảng 1/2 - 1/3)
Trang 16- Thức ăn lỏng lên men (thức ăn ngâm trong nước được lên men tự nhiênhoặc lên men bằng vi khuẩn lactic).
- Thức ăn lỏng axit hoá bằng axit lactic (bổ sung 40 - 42g axit lactic/kg chấtkhô vào hỗn dịch thức ăn để đưa pH về 4,0)
Nuôi dưỡng lợn bằng thức ăn dạng lỏng so với thức ăn dạng khô có nhiều
ưu điểm, đó là:
- Thức ăn dạng lỏng tận dụng được các phụ phẩm của ngành công nghệ chếbiến thực phẩm như phụ phẩm của ngành làm rượu, làm ethanol, làm bia, làm đậunành, làm bánh kẹo , hạ được giá thành sản phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môitrường và giảm được chi phi phơi sấy các phụ phẩm dạng ướt Trong khi đó thức
ăn khô muốn tận dụng phụ phẩm dạng ướt thì phải phơi sấy thành dạng khô, chiphí cho việc phơi sấy làm giá thức ăn tăng cao
- Thức ăn dạng lỏng giảm được việc sử dụng kháng sinh và một số hoádược nhờ bổ sung các chế phẩm lên men sản sinh axit lactic hay bổ sung trực tiếpaxit lactic, làm cho pH đường ruột giảm thấp (4,0 – 4,5) Ở môi trường này vikhuẩn bệnh như E coli và Samonella bị ức chế và bị loại bỏ, hạn chế được tiêuchảy và rối loạn tiêu hoá, nhất là ở lợn con sau cai sữa
- Thức ăn lỏng lên men có pH thấp đã giúp tăng hoạt tính của pepsin ở dạdày, từ đó nâng cao được tỷ lệ tiêu hoá protein thức ăn Khi pH đường ruột thấp,
vi khuẩn bệnh ở ruột bị loại bỏ, niêm mạc ruột được bảo vê, ruột khoẻ, nhờ vậykhả năng tiêu hoá hấp thu thức ăn được nâng cao và chức năng miễn dịch của ruộtcũng được cải thiện
- Sử dụng thức ăn lỏng dễ cơ giới hoá và tự động hoá việc cho ăn, giảmchi phí lao động, thích hợp với chăn nuôi công nghiệp quy mô vừa và lớn
Tuy nhiên, bên cạnh những cái lợi nêu trên thì thức ăn lỏng cũng cónhững hạn chế:
- Thông thường thức ăn lỏng có nguyên liệu là phụ phẩm cho nên thànhphần dinh dưỡng dễ biến đổi từ mẻ phụ phẩm này đến mẻ phụ phẩm khác
Trang 17- Phụ phẩm dùng trong thức ăn lỏng thường có tỷ lệ nước cao (70-90%), vìthế nếu nguồn phụ phẩm xa nhà máy thức ăn chăn nuôi thì chi phí vận chuyển sẽlớn Lợn ăn thức ăn lỏng cũng thải ra lượng phân lớn hơn so với thức ăn khô và
dễ làm cho độ ẩm chuồng nuôi tăng lên
- Có thể làm hao hụt các chất dinh dưỡng đặc biệt là các axit amin tổnghợp bổ sung vào thức ăn lỏng Các nghiên cứu ở Đan mạch cho biết khoảng 17%lysine công nghiệp bổ sung vào thức ăn lỏng lên men bị mất trong 24 giờ bảoquản do vi khuẩn coliform đã sử dụng chúng
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thức ăn lên men lỏng
Các yếu tố bao gồm: loại vi sinh vật có mặt, số lượng vi sinh vật có mặt,nhiệt độ, pH,
Số lượng vi khuẩn lactic có mặt thực tế trong thức ăn chăn nuôi hoặc sốlượng vi khuẩn lactic được thêm vào quyết định đến mức độ sản sinh acid lactic
Số lượng vi khuẩn lactic nhiều sẽ làm sự sản sinh vi khuẩn lactic diễn ra nhanhhơn so với quá trình sản sinh các vi khuẩn gây bệnh như samonella hoặc e.coli.Olstorp et al (2008) báo cáo rằng thành phần các loài vi khuẩn trong lên menthức ăn chăn nuôi dạng lỏng thay đổi trong suốt quá trình lên men, họ chỉ rarằng Pediococus pentosaceus có mật độ chủ yếu khi bắt đầu xảy ra sự lên men,nhưng sau 3 ngày, Lactobacillus plantarum trở thành loài có mật độ chủ yếu
Sự phân bố và có mặt của nấm men cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng củathức ăn lên men cả tích cực và tiêu cực Nấm men có khả năng gắn kết các vikhuẩn có trong ruột trên bề mặt của chúng, bằng cách gây trở ngại trong gắn kếtcác vi khuẩn này với biểu mô ruột Do đó, nồng độ nấm men cao trong thức ănchăn nuôi lên men dạng lỏng sẽ làm giảm các bệnh về đường tiêu hóa Tuy vậy,nồng độ nấm men cao có thể là kết quả của sự sản sinh mùi thối làm giảm tínhngon miện của thức ăn
Các thông số khác như nhiệt độ lên men, pH, tỷ lệ nước trong thức ăn cũng
Trang 18có thể ảnh hưởng đến các đặc điểm của thức ăn chăn nuôi lên men dạng lỏng.Jensen and Mikkelsen (1998) đã báo cáo rằng nên lên men thức ăn chăn nuôi ởnhiệt độ ít nhất là 20°C với pH < 4.5 vì các nguồn bệnh từ ruột như E.coli vàsamonella không chịu được giá trị pH < 4.5 Beal et al (2003) nghiên cứu vềảnh hưởng của nhiệt độ lên men đến sự loại trừ Salmonella, kết quả cho thấythời gian yêu cầu để hạn chế các vi khuẩn này ở 300C ngắn hơn nhiều so với ở
200C Do đó, dù nhiệt độ tối thiểu được lựa chọn tối ưu cho lên men thức ănchăn nuôi dạng lỏng là 200C thì ở nhiệt độ 300C vẫn thích hợp hơn bởi nó chophép sản sinh acid lactic nhanh hơn và sự loại trừ các nguồn bệnh liên quan đếnruột cũng diễn ra nhanh hơn
Lượng nước trong quá trình ủ men cũng ảnh hưởng đến chất lượng thức ăn lênmen Tỷ lệ nước trong thức ăn thường được sử dụng cho sản xuất thức ăn dạng lỏnghoặc lên men thức ăn dạng lỏng có thể dao động giữa 1:1,5 và 1:4
1.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn lên men lỏng đến đường tiêu hóa của lợn
Quá trình lên men làm tăng cường sản xuất ra acid lactic, acid acetic vàetanol làm giảm pH Khi cho ăn thức ăn lên men sẽ làm giảm pH trong dạ dày củalợn và ngăn ngừa các tác nhân gây bệnh như E.coli và samonella phát triển trongống tiêu hóa
1.2.4 Ảnh hưởng của thức ăn lên men lỏng đến các vi khuẩn trong đường tiêu hóa
Số lượng và thành phần vi khuẩn trong đường tiêu hóa khi sử dụng thức ănlỏng lên men lỏng có thể thay đổi đặc biệt là sự gia tăng vi khuẩn lactic ở ruộtnon và dạ dày Lên men thức ăn lỏng ở nhiệt độ 20°C tỉ lệ vi khuẩn lactic trong
dạ dày và ruột non của lợn lớn hơn so với sử dụng thức ăn khô và thức ăn lỏng(Canibe N and Jensen BB, 2003) Vì thế việc sử dụng thức ăn lên men lỏng cóthể làm tăng khả năng tiêu hóa của lợn
Moran et al (2001) đã báo cáo rằng: Số lượng vi khuẩn E.coli ít hơn vi
Trang 19khuẩn lactic trong ruột của lợn con khi sư dụng thức ăn lỏng lên men trong khi ởlợn sử dụng thức ăn khô thì số lượng vi khuẩn E.coli nhiều hơn.
Canibe and Jensen (2012) xem xét giá trị của thức ăn lỏng lên men trong việcgiảm các bệnh đường ruột ở lợn và đã chỉ ra rằng rõ ràng lên men thức ăn lỏng giảm
tỷ lệ mắc Salmonella
Mặt khác thức ăn lỏng lên men làm tăng số lượng tế bào nấm men Nấmmen có khả năng gắn các vi khuẩn đường ruột lên bề mặt của chúng, do đó có thểngăn chặn sự gắn kết của các vi khuẩn này lên các tế bào biểu mô ruột
1.2.5 Ảnh hưởng của thức ăn lỏng lên men về độ pH trong đường tiêu hóa
Nghiên cứu của Canibe và Jensen (2003) đã chỉ ra những thay đổi trong độ
pH dọc theo đường tiêu hóa khi lợn được cho ăn thức ăn lỏng lên men, thức ănlỏng hoặc thức ăn khô Theo kết quả nghiên cứu này khi lợn ăn thức ăn lỏng lênmen, thay đổi nhiều nhất là làm giảm pH trong dạ dày của lợn Dạ dày là mộtrào cản quan trọng chống lại tác nhân gây bệnh, làm giảm độ pH có thể tăngcường hàng rào này và ngăn ngừa tiêu chảy do E.coli gây ra, đặc biệt là ở lợncon cai sữa, lợn con theo mẹ mà thường không có khả năng sản xuất đủ lượngcủa axít dạ dày Ngoài ra, Radecki et al (1998) cho rằng độ pH dạ dày thấp hơn
có thể cho phép tốt hơn hoạt động phân giải protein trong dạ dày do đó cải thiệntăng trưởng của lợn ăn khi ăn thức ăn lỏng lên men
Ngược lại với dạ dày, độ pH trong ruột non của lợn con ăn thức ăn lỏnglên men thường cao hơn ở lợn con ăn thức ăn khô hoặc thức ăn lỏng
1.2.6 Lợi ích và hạn chế của việc sử dụng thức ăn lỏng lên men
1.2 6.1 Lợi ích của việc sử dụng thức ăn lỏng lên men
Lợi ích của lên men thức ăn lỏng cho lợn là nó cải thiện năng suất Ởkhía cạnh này, Kil and Stein (2010) đã xác định thức ăn lỏng lên men là mộttrong những chiến lược cho ăn hiệu quả nhất để thay thế việc sử dụng các chấtkích thích sinh trưởng Tác động có lợi đã được quan sát với lợn con theo mẹ,lợn cai sữa và lợn nuôi thịt
Trang 20Thức ăn lên men lỏng làm giảm số lượng vi khuẩn E.coli và Samonella trongđường tiêu hóa, hạn chế bệnh tiêu chảy, nhất là lợn con theo mẹ và lợn con cai sữa.
Missotten et al (2010) đã tiến hành thử nghiệm về tăng trọng và hiệu quả sửdụng thức ăn lỏng lên men và đã chỉ ra rằng có sự cải thiện 22.3% khả năng tăngtrọng và 10.9% hiệu quả sử dụng thức ăn khi sử dụng thức ăn lỏng lên men so vớithức ăn khô đối với lợn con cai sữa Cho lợn ăn thức ăn ở dạng lỏng giúp lợn concai sữa được cung cấp nước và thức ăn cùng một lúc Bằng cách này, lợn con khôngcần học tập riêng biệt cho ăn và uống do đó hạn chế được việc lợn uống nước từ cácnúm uống, tránh tiêu chảy và có thể tối đa hóa lượng thức ăn thu nhận Jensen andMikkelsen (1998) đã tiến hành thử nghiệm vê hiệu quả của sử dụng thức ăn lỏng lênmen so với thức ăn lỏng và thức ăn khô và đã công bố rằng thức ăn lỏng lên men cóthể cải thiện hơn 4.4% khả năng sinh trưởng và 6.9% trong hiệu quả sử dụng thức
ăn Mặc dù hiệu quả này không cao như ở con cai sữa nhưng bên cạnh đó có thể tăngchất lượng thịt
Thức ăn lỏng lên men giúp tăng tỉ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng Quá trình
lên men có thể kích hoạt các enzyme nội sinh (ví dụ phytase) trong ngũ cốc các loạihạt có thể làm tăng khả năng tiêu hóa và sẵn có của một số chất dinh dưỡng (Brooks
PH et al, 2003) Sử dụng thức ăn lỏng lên men giúp cho quá trình tiêu hóa proteinđược cải thiện, pH giảm, kích thích hoạt động phân giải protein trong dạ dày và làmchậm tốc độ làm sạch dạ dày, cho phép thêm thời gian để tiêu hóa trong dạ dày sẽdiễn ra, nhờ vậy mà thức ăn được tiêu hóa triệt để hơn
Một ưu điểm khác của thức ăn lên men là khả năng giảm các chất kháng dinhdưỡng chứa trong thức ăn (Canibe N, Jensen BB, 2012) Lên men đậu cho 96 hgiảm nồng độ của các yếu tố antinutritional như α-galactosides, phytate, chất ức chếtrypsin, tannin và saponin (Shimelis EA, Rakshit SK, 2008)
Cho ăn thức ăn lên men lỏng có thể làm giảm lượng bụi trong chuồng nuôi,giảm mùi hôi từ phân hơn so với sử dụng thức ăn công nghiệp, cải thiện môi trường
và giảm tác động của các bệnh đường hô hấp trên heo
Trang 21Bên cạnh đó việc sử dụng thức ăn lỏng lên men còn có những mặt hạnchế, chất lượng của thức ăn phụ thuộc vào thời tiết, sử dụng thức ăn lỏng lênmen đôi khi được kết hợp với sự phát triển của bệnh chẳng hạn như hội chứngruột xuất huyết, xoắn dạ dày, viêm loét dạ dày (Brooks PH, 2008) Ngoài ra, quátrình lên men có thể gây ra một sự mất mát của các chất dinh dưỡng cần thiết.
1.2.6.2 Hạn chế của việc sử dụng thức ăn lên men lỏng
Tính nhất quán của việc cung cấp sản phẩm phụ
Cần thiết phải có các thỏa thuận chính thức với các nhà cung cấp phụ phẩm
để đạt được số lượng và chất lượng sản phẩm phụ được sử dụng thườngxuyên. Điều này rất quan trọng bởi vì các hỗn hợp thức ăn khô và các chất bổ sungđược pha chế đặc biệt cho các sản phẩm phụ cụ thể được sử dụng trong thức ănlỏng và vì sự chuyển đổi giữa một số sản phẩm phụ có thể làm giảm hiệu suất tăngtrưởng do nhu cầu hệ thống tiêu hóa của lợn thích nghi với sự thay đổi chất dinhdưỡng, thành phần khi có sự chuyển đổi giữa các sản phẩm phụ
Hàm lượng nước cao của các sản phẩm phụ
Nhiều phụ phẩm có độ ẩm cao (70-90 phần trăm), hàm lượng chất khôthấp. Kết quả là rất khó có thể biện minh về mặt kinh tế cho việc vận chuyển cácsản phẩm phụ lỏng từ xa với chi phí cao cho mỗi kilo chất khô. Hơn nữa, lượngnước cung cấp cho lợn sử dụng thức ăn lỏng cao hơn so với sử dụng trong hệthống cho ăn khô thông thường. Do đó, thể tích phân chuồng có thể tăng cùngvới độ ẩm và độ ẩm tăng lên ở cơ sở chăn nuôi lợn
Sự biến đổi trong hàm lượng chất dinh dưỡng
Hàm lượng chất dinh dưỡng của các sản phẩm phụ có thể thay đổi đáng kểtheo từng đợt và giữa các nguồn (Braun and de Lange, 2004). Việc lấy mẫuthường xuyên và phân tích dinh dưỡng cho phép điều chỉnh chế độ ăn kiêngchính xác hơn để tránh cho ăn các lượng chất dinh dưỡng dư thừa hoặc mộtlượng hạn chế trong hệ thống cho ăn lỏng. Lý tưởng nhất là phải có giấy chứngnhận chất lượng và các thành phần dinh dưỡng từ các nhà cung cấp đảm bảo
Trang 22rằng các sản phẩm phụ không có chất gây ô nhiễm và đáp ứng các yêu cầu vềquy định (Braun and de Lange, 2004).
Hàm lượng muối cao trong một số phụ phẩm
Chất lỏng và chất thải bánh mì có thể chứa một lượng đáng kể muối. Nướcsữa ngọt là sản phẩm phụ còn lại sau khi sản xuất pho mát mềm, trong khi axittrong nước sữa được sản xuất từ thời gian dài hơn để ép cho pho mát cứng và có
độ pH thấp hơn. Vì muối được thêm vào phô mai trước khi ép, chất lỏng còn sótlại có thể chứa tới 10% muối trên cơ chất khô. Do đó, lợn nên được cung cấpkhả năng tiếp cận nước bổ sung với nước có trong thức ăn lỏng để tránh nhiễmđộc muối. Hàm lượng muối cao và độ pH thấp của chất lỏng trong nước sữa cóthể đẩy nhanh sự xuống cấp của sàn bê tong tại chuồng nuôi, thức ăn gia súc vàthiết bị ở các cơ sở chăn nuôi lợn. Tương tự, hàm lượng muối của một số phụphẩm bánh mì có thể yêu cầu giảm hoặc loại bỏ muối bổ sung trong chế phẩm
ăn kiêng và có thể giới hạn lượng sản phẩm phụ được sử dụng
Mất axit amin tổng hợp trong quá trình bảo quản thức ăn lỏng
Các nghiên cứu được tiến hành ở Đan Mạch cho thấy khoảng 17% lysinetổng hợp đã mất sau 24 giờ bảo quản thức ăn lỏng lên men (Pedersen và cộng
sự, 2002). Sự mất mát này có thể là do việc sử dụng các axit amin tự do do các
vi khuẩn được tìm thấy trong thức ăn lên men (de Lange et al., 2006). Niven et
al. (2006) cho thấy những tổn thất này chủ yếu do sự hiện diện của vi khuẩncoliform có trong thức ăn lỏng và khi có một lượng lớn vi khuẩn Lactobacillus,lysine rất ít bị mất. Do đó, để giảm thiểu mất axit amin tổng hợp, chúng nênđược thêm vào thức ăn lỏng sau khi đạt được sự lên men ổn định, khi thức ănlỏng có chứa hơn 75 mMol lactic acid, hoặc khi độ pH dưới 4,5 (Braun and deLange, 2004)
Tính đồng nhất của thức ăn hỗn hợp
Braun and de Lange (2004) cho thấy có sự khác biệt đáng kể về hàm lượngkhoáng trong mẫu thức ăn thu được lần thứ hai hoặc ở van cuối cùng thứ hai
Trang 23trong dòng thức ăn ở một số trang trại thương mại mà họ khảo sát. Họ cũng lưu
ý rằng việc trộn lẫn thức ăn không quan tâm đến việc sử dụng thiết bị cho ănlỏng hiện đại cũng như khi sử dụng các phụ phẩm lỏng có độ nhớt cao hơn nhưcác chất hòa tan cô đặc và nước ngâm ngô (phụ phẩm của ngành công nghiệpethanol) để giữ các hạt khoáng chất trong môi trường huyền phù lâu hơn
1.3 Đặc điểm giống lợn
1.3.1 Lợn Móng Cái
- Nguồn gốc: lợn Móng Cái có nguồn gốc ở huyện Móng Cái và huyện
Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Đặc điểm ngoại hình: đầu đen, giữa trán có một đốm trắng hình tam giác
hoặc hình thoi, đường chéo của hình kéo dài hết chiều dài của mặt lợn Mõm và
4 chân trắng, nét đặc trưng nhất là vành trắng nối với nhau bằng một vành trắngvắt qua vai làm cho phần đen còn lại trên lưng và mông có hình yên ngựa Chỗlông trắng đen tiếp giáp có khoảng mờ 2 – 3 cm có da đen lông trắng
+ Có 3 dòng là dòng xương to, dòng xương nhỡ, dòng xương nhỏ Dònglợn Móng Cái xương to có phần trắng vắt qua vai thường hẹp hơn so với dòngMóng Cái xương nhỡ và xương nhỏ, có con giữa vành trắng vắt qua vai có vùng
- Khả năng sinh trưởng: Trọng lượng lợn sơ sinh 0,5 – 0,7 kg/con; lợn
con cai sữa đạt 6 – 8 kg; nuôi 6 tháng tuổi lợn đạt 30 – 40 kg; 12 tháng tuổi 60kg; lợn trưởng thành có thể đạt 100 – 120 kg Mổ thịt lợn 100 kg có tỷ lệ móchàm 79%; tỷ lệ nạc đạt 38,6%
- Khả năng sinh sản: lợn Móng Cái thành thục về tính sớm Lợn đực ở 2
tháng tuổi đã có thể giao phối Lợn cái 3 tháng tuổi đã có hiện tượng động dục
Trang 24Chu kỳ động dục của lợn cái khoảng 21 ngày (18 – 25 ngày), kéo dài 3 – 4 ngày,thời gian mang thai trung bình 114 ngày; sau cai sữa lợn con 5 – 7 ngày thì lợn
mẹ động dục trở lại Lợn Móng Cái mắn đẻ, đẻ sai 10 – 12 con/lứa, tỷ lệ nuôisống cao 80 – 90% (Nguyễn Thiện và cs, 2004)
- Hướng sử dụng: chọn lọc nhân thuần nâng cao tầm vóc, cải tạo kết cấu
ngoại hình yếu, lưng võng, bụng xệ, tỷ lệ nạc thấp, mỡ nhiều Cho lợn Móng Cáilai với Yorkshire hoặc Landrace tạo nái nái nền; sau đó cho phối với các giốnglợn ngoại để tạo con lai mang 3/4 hoặc 7/8 máu ngoại nuôi thịt
1.3.2 Lợn Yorkshire Large White (lợn Đại Bạch)
- Nguồn gốc: từ vùng Yorkshire nước Anh Khả năng thích nghi với các
điều kiện sinh thái các vùng của giống lợn này rất cao
- Đặc điểm ngoại hình: da lông trắng tuyền, tai đứng; có nhóm giống tai
hơi ngả về phía trước; trán rộng, mõm thẳng, ngực rộng, thể chất chắc chắn, bốnchân khỏe, chịu đựng kham khổ khá, khả năng chống chịu với stress cao
- Khả năng sinh trưởng: trọng lượng trưởng thành con đực 300 – 400kg,
con cái 250 – 300kg Lợn nuôi thịt tăng trọng lượng bình quân 650 – 750g/ngày; tiêu tốn thức ăn/1kg tăng trọng: 2,8 – 3,1; nuôi 6 tháng đạt 90 – 100 kg
Tỉ lệ nạc cao: 55 - 59%, có dòng 59 – 63,5%
- Khả năng sinh sản: lợn sinh sản tương đối cao, đẻ 10 – 11 con/lứa; lợn
con sơ sinh đạt 1,1 – 1,2 kg/con Yorkshire đang nuôi ở nước ta bình quân đạt9,57con/ổ; khối lượng lợn sơ sinh đạt 1,24kg/con (Lê Hồng Mận và cs, 2013)
- Hướng sử dụng: nhân thuần hoặc cho lai với Móng Cái cho con lai sử
dụng làm nái nền; tiếp tục cho lai với các giống lợn ngoại khác tạo con lai 3/4,7/8 máu ngoại để nuôi thịt
1.3.3.Lợn lai F1 ( Yorkshire x Móng cái)
- Nguồn gốc: Được tạo ra giữa lợn đực Yorkshire và lợn nái Móng cái
Trang 25- Đặc điểm: Tầm vóc trung bình màu lông trắng, rải rác có bớt đen nhỏ
trên mình Có đốm nhỏ quanh 2 mắt Thân dài vừa phải lưng hơi võng, 4 chânvững chắc
- Chỉ tiêu năng suất: số con đẻ ra một lứa từ 10-12 con.
- Số con cai sữa trên một lứa: 9-11 con
- khối lượng: Lợn cai sữa từ 40 ngày tuổi đạt từ 9-11 kg/con
- Ưu điểm: Lớn nhanh hơn lợn nội,
khả năng thích nghi với môi trường tốt hơn lợn ngoại
nuôi con khéo
- Nhược điểm: Yêu cầu điều kiện nuôi dưỡng tốt hơn lợn nội
1.4 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn
1.4.1 Khái niệm sinh trưởng phát dục
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ trong quá trình đồng hoá và
dị hoá, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng bộphận và toàn cơ thể Trong chăn nuôi lợn, khả năng sinh trưởng của lợn liênquan đến khối lượng cai sữa, khối lượng xuất chuồng, ảnh hưởng rất lớn đến giáthành và hiệu quả chăn nuôi
Phát dục là quá trình thay đổi về chất lượng, tăng thêm, hoàn chỉnh thêm cáctính chất chức năng của cơ quan bộ phận cơ thể
Để biểu thị tốc độ sinh trưởng của vật nuôi, người ta thường sử dụng 3 độsinh trưởng sau đây:
+ Độ sinh trưởng tích luỹ
Độ sinh trưởng tích luỹ là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thểhay của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng Độ sinh trưởng tíchluỹ thường được tính bằng gram hoặc kilôgram
+ Độ sinh trưởng tuyệt đối
Độ sinh trưởng tuyệt đối là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơthể hay của từng bộ phận cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian thường được
Trang 26tính bằng gram/ ngày Công thức tính như sau:
A=
V2−V1
T2−T1
Trong đó: A là độ sinh trưởng tuyệt đối
V2, V1 là khối lượng cơ thể vật nuôi tại thời điểm T2, T1
+ Độ sinh trưởng tương đối
Độ sinh trưởng tương đối là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơthể hay của từng bộ phận cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau tăng lên so vớithời điểm sinh trưởng trước, thường được biểu thị bằng số phần trăm và có côngthức tính như sau:
R(%) =
V2−V1( V2+V1)/2 x 100Trong đó: R (%) là độ sinh trưởng tương đối (%)
V2, V1 là khối lượng, kích thước, thể tích tại thời điểm khảo sát sau và trướcTheo quy luật chung, đồ thị độ sinh trưởng tích luỹ có dạng cong hìnhchữ S với các pha sinh trưởng chậm, sinh trưởng nhanh, sinh trưởng chậm vàcuối cùng là pha cân bằng Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng cong gần nhưparabonl với pha sinh trưởng nhanh, đạt cực đại sau đó là pha sinh trưởng chậm
Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng đường cong gần như hình hyperbon liêntục giảm dần theo lứa tuổi (Trần Đình Miên, 1985); (Nguyễn Quế Côi, 1995)
Có thể so sánh đường cong sinh trưởng thực tế với đường cong sinh trưởng lýthuyết để từ đó có thể phân tích, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng củacác sự sai khác đó Ngoài ra nghiên cứu độ sinh trưởng của vật nuôi còn gópphần quan trọng để dự đoán tốc độ sinh trưởng cũng như việc khai thác tốtnhất tốc độ sinh trưởng của vật nuôi để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Giữasinh trưởng và phát dục có mối liên quan chặt chẽ với nhau Nếu phát dục khôngđầy đủ sẽ trở nên dị tật và nếu sinh trưởng không đầy đủ cơ thể sẽ bị còi cọc,gầy yếu (Nguyễn Hải Quân, 2002)
Trang 271.4.2 Quy luật sinh trưởng và phát dục
Lợn cũng như các loài vật nuôi khác đều tuân theo các quy luật sinh trưởng:Quy luật sinh trưởng, phát dục không đồng đều, quy luật sinh trưởng phát dụctheo giai đoạn và quy luật sinh trưởng phát dục theo chu kì
1.4.2.1 Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều
Quy luật này thể hiện thông qua sự khác nhau về tốc độ của các hệ như:
Hệ xương, hệ cơ và hệ mỡ Hệ xương của lợn thường phát triển sớm nhất ở giaiđoạn ngoài thai Quá trình phát triển của hệ cơ ở cả giai đoạn trong thai và ngoàithai đều phát triển mạnh và sớm Ở giai đoạn ngoài thai, sự phát triển của hệ cơcũng thay đổi:
+ Từ khi đẻ đến 6 tháng tuổi: Hệ cơ phát triển về cả số lượng và kíchthước tế bào nhưng chủ yếu là số lượng
+ Từ 6-8 tháng tuổi: Chủ yếu tăng kích thước và khối lượng
Quá trình tích lũy mỡ: Sự tích lũy mỡ thay đổi theo thời gian, lúc đầu tích lũy
ở các cơ quan nội tạng, sau đó tích lũy trong cơ và cuối cùng tích lũy ở dưới da
1.4.2.2 Quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn
+Giai đoạn phát triển trong cơ thể mẹ (114-116 ngày)
Thời kì phôi: Từ khi trứng thụ tinh hình thành hợp tử đến khi hợp tử bám
chắc vào niêm mạc tử cung
Thời kì tiền thai: Bắt đầu từ khi hợp tử bám chắc vào niêm mạc tử cung đến
khi xuất hiện các nét đặc trưng về giải phẫu, sinh lí, trao đổi chất của các lá phôi
Thời kì thai nhi: Là thời kì cuối của giai đoạn trong thai, thời kì này tăng
trọng, kích thước của thai tăng lên rất nhanh Tháng thứ nhất khối lượng phôithai là 1,7gam tháng thứ 2 khối lượng đạt 680 gam đến khi đẻ khối lượng đạt1000-1400 gam
+ Giai đoạn phát triển ngoài cơ thể mẹ
Thời kì bú sữa: Từ khi đẻ ra đến khi cai sữa
Thời kì thành thục: Thời kì này lợn có tốc độ sinh trưởng nhanh, các bộ
Trang 28phận sinh dục bắt đầu hoạt động, có sự phân biệt rõ rệt về tính đực, cái.
Thời kì trưởng thành: Cơ thể lợn phát triển toàn diện về cơ thể và khả
năng sinh sản
Qua nghiên cứu thực tế sản xuất thấy rằng khối lượng sơ sinh thì sau 10ngày tuổi tăng gấp 2 lần, sau 20 ngày tuổi tăng gấp 4 lần và sau 60 ngày tuổităng gấp 10 lần Điều đó được tác giả Trương Lăng (1993) nghiên cứu thể hiệnqua bảng 1.1
Bảng 1.1 Sự sinh trưởng của lợn qua các ngày tuổi
Giống Sơ sinh (kg) 10 ngày (kg) 20 ngày (kg) 60 ngày (kg)
Yorkshire 1,2 – 1,3 2,4 – 2,6 4,8 – 5,2 12 – 13
1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng và những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát dục
1.4.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng
Mục đích của chăn nuôi lợn thịt cuối cùng là có sản phẩm thịt nên người
ta thường chú ý đế một số chỉ tiêu chứng tỏ giá trị kinh tế của lơn thịt như sau:
+ Khối lượng lúc bắt đầu nuôi thịt (kg): Là chỉ tiêu quan trọng có ảnh
hưởng lớn tới khả năng tăng trọng cũng như tiêu tốn thức ăn trong quá trình nuôithịt
+ Thời gian nuôi thịt (ngày): Cho biết năng suất nuôi thịt, thời gian quay
Trang 29trình độ chăn nuôi, chế độ chăm sóc, quản lý.
+ Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng (kg thức ăn/kg tăng trọng): Cho thấy
hiệu quả kinh tế giữa đầu tư và lợi nhuận
1.4.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
Tính trạng về khả năng sinh trưởng và cho thịt của vật nuôi nói chung vàcủa lợn nói riêng được gọi chung là tính trạng sản xuất và chúng hầu hết là tínhtrạng số lượng do đó nó chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và ngoại cảnhtrong chăn nuôi
+ Ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Các giống gia súc khác nhau thì khả năng cho thịt không giống nhau, khảnăng này phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng của con vật Đó là quá trình tích luỹprotein của cơ thể dưới sự điều hoà của hệ thống enzime điều khiển quá trìnhsinh tổng hợp protein
Yếu tố di truyền có ảnh hưởng quyết định đối với số lượng và chất lượngthịt lợn Thực tế cho thấy rằng, các giống lợn ngoại nuôi trong điều kiện dùngthức ăn hỗn hợp để nuôi thì tăng trọng nhanh, thời gian nuôi ngắn, tiêu tốn ítthức ăn để tăng 1 kg khối lượng ngược lại nếu dùng nhiều thức ăn thô xanh thìlợn ngoại tăng trọng chậm hơn lợn nội Vì vậy: Nếu nuôi lợn lấy thịt tốt nhất lànuôi lợn lai kinh tế vì lợi dụng được ưu thế lai, sức sống mạnh hấp thu thức ăntốt, thời gian nuôi thịt ngắn hơn
Theo Hazel L.N (1993) cho biết hệ số di truyền với sự tăng trưởng ở lợntrong thời gian theo mẹ là 0,15 Theo Đặng Vũ Bình ( 2000) các tính trạng có hệ
số di truyền trung bình từ 0,2- 0,4 bao gồm các tính trạng thuộc về tốc độ sinhtrưởng, chí phí thức ăn của 1kg tăng trọng Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọngcũng là chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi lợn thịt, tiêu tốn thức ăn có hệ số ditruyền trung bình và có thể dễ dàng được cải thiện thông qua chọn lọc lai tạo
+ Ảnh hưởng của chăm sóc, nuôi dưỡng
Ngoài các yếu tố di truyền, các yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng rất lớn
Trang 30đến các tính trạng sinh trưởng và cho thịt của lợn.
- Ảnh hưởng của dinh dưỡng và thức ăn đến khả năng sinh trưởng
Dinh dưỡng là một trong các yếu tố quan trọng nhất của yếu tố ngoại
cảnh, nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng, phát triển của vật nuôi.Đặc biệt đối với chăn nuôi lợn thì dinh dưỡng có vai trò quyết định tới khả năngsinh trưởng, phát triển của đàn lợn và chất lượng của các sản phẩm chăn nuôi
Dinh dưỡng được đảm bảo đầy đủ, cân đối cả về số lượng và chất lượngthì con vật mới phát huy hết được tiềm năng di truyền của nó Nếu khẩu phần ănkhông được đảm bảo đủ về số lượng, tốt về chất lượng thì các nhân tố di truyềnkhông những không phát triển theo hướng tích cực, mà thậm chí còn ngược lại Tùy từng giai đoạn phát triển của vật nuôi mà điều chỉnh các thành phầndinh dưỡng cho phù hợp, nếu nuôi lợn ở hai tháng cuối mà sử dụng thức ăn thựcvật có 4% dầu mỡ trở lên thì mỡ sẽ bị mềm và nhão Nếu chăn nuôi lợn dùngnhiều gluxit, protein thì phần mỡ được tổng hợp sẽ chắc Vì vậy, trong giai đoạn
vỗ béo, ta dùng thức ăn có nhiều gluxit vì nếu khẩu phần ăn nhiều mỡ thì giữacác thớ thịt cũng nhiều mỡ làm cho thịt trở lên mềm, mất màu, thịt chóng bị ôi
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1995), thức ăn rất quan trọng đối với khả năngsinh trưởng của lợn, ví dụ: Thiếu các axit amin quan trọng sẽ làm giảm tínhthèm ăn và khả năng sử dụng thức ăn, ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chấttrong cơ thể gia súc, dẫn đến giảm sự phát triển của gia súc nói chung và lợn nóiriêng Theo Nguyễn Nghi (1995), mối quan hệ giữa năng lượng và protein trongkhẩu phần là yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng trưởng, tỷ
lệ thịt nạc, thịt mỡ và tiêu tốn thức ăn của lợn thịt
Ở giai đoạn khác nhau nhu cầu dinh dưỡng của lợn cũng khác nhau.Trong giai đoạn đầu nhu cầu về năng lượng và protein thấp hơn giai đoạn sau.Bởi vì, ở giai đoạn đầu để cấu tạo và phát triển cơ thể lợn cần nhiều protein.Càng về sau hàm lượng protein càng giảm bớt, thức ăn chủ yếu là loại giàu năng
Trang 31lượng (chất bột đường) Nhưng khối lượng cơ thể lợn ở giai đoạn sau cao hơngiai đoạn trước, cho nên nhu cầu năng lượng và protein/con/ngày vẫn tăng Tuyvậy, tỷ lệ giữa protein, năng lượng và chất khoáng như: canxi, photpho hàmlượng các vitamin, các nguyên tố vi lượng cũng góp phần quan trọng trong quátrình chuyển hoá các chất dinh dưỡng tạo thành thịt và tăng phẩm chất thịt.
- Phương thức nuôi dưỡng:
Phương thức nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, sứcsản xuất của con vật Khi cho ăn khẩu phần ăn tự do thì tăng trọng nhanh hơn,tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng khi đánh giá chất lượng thịt thì thấy dày mỡlưng lại cao hơn so với khi cho ăn khẩu phần ăn hạn chế Phương thức nuôi lợntheo hướng nạc - mỡ cần thời gian nuôi dài hơn, khối lượng giết mổ lớn hơn,ngược lại phương thức nuôi lợn hướng nạc yêu cầu thời gian nuôi ngắn hơn,khối lượng giết mổ nhỏ hơn so với phương thức nuôi lợn hướng nạc - mỡ(Hammond, 1980)
+ Khối lượng bắt đầu nuôi thịt
Khối lượng bắt đầu nuôi thịt có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tăng trọngsau này Nếu khối lượng khi bắt đầu đưa vào nuôi thịt cao thì trong quá trình nuôilợn sẽ tăng trọng nhanh
Khối lượng khi đưa vào nuôi thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổiđưa vào nuôi thịt, trình độ chăm sóc lợn con theo mẹ và lợn con cai sữa, kỹ thuật
chế biến thức ăn cho lợn con tập ăn cũng như thức ăn cho lợn con cai sữa
+ Khối lượng kết thúc nuôi thịt
Khối lượng kết thúc nuôi thịt phụ thuộc vào đặc điểm của giống, khả năngtăng trọng của lợn nuôi Tuỳ theo đặc điểm của từng giống lợn mà định ra khốilượng kết thúc nuôi khác nhau Lợn ngoại và lợn có máu ngoại có khối lượng kếtthúc nuôi cao hơn so với lợn nội
Trang 32ăn của lợn, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng.
Trong chăn nuôi lợn thịt ở giai đoạn vỗ béo người ta thường sử dụng thuốc
an thần, che tối chuồng trại cho lợn nghỉ ngơi ít vận động thì cho thấy hiệu quả rõrệt, lợn sinh trưởng nhanh rút ngắn được thời gian nuôi Những thay đổi đột ngột
về thời tiết, thức ăn lạ, vận chuyển, tiêm thiến, phân đàn, thay đổi chuồng nuôi…đều có ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng và phẩm chất thịt
- Ánh sáng
Đối với lợn con sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc
độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 0,5 – 1,5% so với lợn con được vận động dướiánh sáng mặt trời Ánh sáng mặt trời có tác dụng làm tăng cường hoạt động vàquá trình sinh lý của cơ thể vật nuôi Dưới ánh sáng mặt trời cơ thể phát sinh
Trang 33những phản ứng bên trong và bên ngoài có lợi, tăng cường sinh trưởng phát dục,phục hồi cơ thể Tuy nhiên, ánh sáng gay gắt cũng làm mỡ của những vật nuôi
vỗ béo bị oxy hóa mạnh Do vậy, khi trời nóng bức không nên để vật nuôi làmviệc dưới trời nắng lâu
- Mật độ lợn trong chuồng nuôi:
Có ảnh hưởng chủ yếu đến năng suất Khi nhốt lợn ở mật độ cao hay sốcon/ô chuồng quá nhiều lợn sẽ ảnh hưởng đến tăng trọng hằng ngày của lợn vàảnh hưởng đến chuyển hóa thức ăn Mật độ cao sẽ tăng sự tấn công lẫn nhau,giảm bớt thời gian ăn và nghỉ Khi nuôi lợn với mật độ thấp sẽ làm tăng đượctốc độ tăng trọng và giảm mức tiêu tốn thức ăn Chăm sóc ảnh hưởng chủ yếuđến năng suất, chuồng vệ sinh kém dễ gây ra bệnh, chuồng nuôi ồn ào, khôngyên tĩnh đều làm giảm năng suất Sức khỏe trong giai đoạn bú sữa kém nhưthiếu máu, còi cọc thì đến giai đoạn nuôi thịt tăng trọng kém (Vũ Đình Tôn vàTrần Thị Nhuận, 2005)
- Thể chất,khối lượng sơ sinh
Thể chất, khối lượng sơ sinh của lợn con khoẻ hay yếu, khối lượng sơsinh cao hay thấp và trong giai đoạn bú sữa sinh trưởng và phát triển tốt hay xấuđều liên quan mật thiết đến khả năng tăng trọng, thời gian nuôi thịt Thực tiễn đãchứng minh, những lợn con có khối lượng sơ sinh cao, trong điều kiện chăm sócnhư nhau đem so sánh với những lợn con có khối lượng sơ sinh thấp hơn, sauthời gian kết thúc nuôi thịt, lợn con có khối lượng sơ sinh cao sẽ tăng trọngnhanh hơn
1.5 Nguồn thức ăn sử dụng trong chăn nuôi lợn
1.5.1 Thức ăn thô, xơ
1.5.1.1 Bèo tây
Tồn tại tự nhiên ở các mặt nước ao, hồ, đầm Bèo tây có lá to vươn caotrên mặt nước, đồng thời cũng có bộ rễ phát triển Bèo tây có chất khô thấp (6 –7%) nhiều xơ (trên 200 g/kg chất khô), giàu khoáng 180 – 190 g/kg chất khô và
Trang 34giá trị năng lượng thấp (1800 – 1900 Kcal/kg chất khô; hay 7,6 – 8,0 MJ/kg chấtkhô) Tại các vùng nông thôn bèo tây thường được tận dụng làm thức ăn để chănnuôi lợn.
1.5.1.2 Rau muống
Rau muống là thực vật có tốc độ sinh trưởng nhanh trong mùa mưa, kémchịu lạnh, được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi nhất là chăn nuôi lợn Trongđiều kiện thuận lợi về thời tiết, đủ phân rau muống có năng suất và chất lượngcao Hàm lượng chất khô ở rau muống trung bình 100 g/kg rau tươi Trong 1kgchất khô có 2450 – 2500 kcal (10,3 – 10,5 MJ) năng lượng trao đổi là 170 – 250
g protein thô, 130 – 200 g đường, 100 – 115 g khoáng tổng số… nên gia súc rấtthích ăn Rau muống dùng làm thức ăn xanh cho lợn rất tốt, thích hợp với các
mô hình chăn nuôi nông hộ
1.5.1.3 Rọc khoai
Loài được trồng nhiều ở nước ta và các xứ nhiệt đới để lấy củ ăn. Rọckhoai có khả năng thích nghi tương đối rộng trên các loại đất: sét, thịt, cát, pha,cát thô với độ pH cao Khoai môn có 2 thời kỳ sinh trưởng, 6 tháng đầu pháttriển dọc và lá, từ tháng thứ 7 phát triển củ; khi củ già, lá rụng dần.Lá và cuống
là nguồn cung cấp provitamin A và vitamin C Củ chứa tới 30% một chất hộtmàu trắng, dính, không mùi vị với những hạt bột rất nhỏ; Trong củ có ít nhiềuloại hoạt chất chát đắng làm kích thích các màng nhầy nhất là ở ống tiêu hoá, cóthể gây ngộ độc; mà có tác giả cho là sapotoxin Nhưng hoạt chất đó tan trongnước và bay hơi, do đó khi nấu hoặc khi rửa kỹ đều làm mất hoạt chất trong củ.Trong củ còn có các tinh thể oxalat calcium gây cảm giác ngứa, nên khi luộc cầnphải thay 2 lần nước thì ăn mới hết ngứa Dù có luộc chín vẫn giữ lại 37-70%hàm lượng vitamin B1, còn riboflavin hay vitamin B2 và vitamin PP vẫn đượcgiữ lại với một tỷ lệ khá cao.Tại các vùng nông thôn rọc khoai thường được tậndụng làm thức ăn để chăn nuôi lợn
1.5.1.4 Cỏ voi
Trang 35Cỏ voi có nguồn gốc từ Nam Phi, phân bố rộng rãi ở các nước nhiệt đớitrên thế giới.- Thân cao từ 2 – 4m, thân có lóng đốt như thân cây mía nhưngđường kính nhỏ hơn ( 1 –2cm), nhiều lá và còn giữ được lá xanh khi cây đã cao.
- Thích hợp cho việc thu cắt cho ăn tươi hay ủ ướp
- Cây sinh trưởng nhanh Nếu đủ phân bón và nước tưới vào mùa khô thìcắt quanh năm và năng suất rất cao có thể đạt 400 – 500 tấn/ha/năm
- Không chịu được bóng râm
-Trồng một lần khai thác được nhiều năm
- Chất lượng cỏ rất tốt, bò thích ăn vì đường nhiều, ngọt Tuy nhiên, nếukhông thu cắt kịp thời thân hoá gỗ cứng, giảm độ ngon miệng và tỉ lệ lợi dụng thấp
1.5.1.5 Cây ngô
Ngô (bắp) là một loại cây lương thực được thuần canh tại khu vực Trung
Mỹ và sau đó lan tỏa ra khắp châu Mỹ Ngô (bắp) lan tỏa ra phần còn lại của thếgiới sau khi có tiếp xúc của người châu Âu với châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15,đầu thế kỷ 16
Cây ngô (cây bắp) được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc.Ngô (bắp) làloại cây nông nghiệp có diện tích thu hoạch lớn thứ hai tại Việt Nam sau lúa gạo
1.5.2 Một số loại thức ăn giàu năng lượng
1.5.2.1 Ngô
Trong ngô có chứa khoảng 720 – 800 g tinh bột/kg chất khô và hàm lượng
xơ thấp, giá trị năng lượng trao đổi cao, khoảng 3100 – 3200 kcal/kg Hàmlượng protein thô trong ngô biến động lớn từ 80 – 120 g/kg phụ thuộc vào từnggiống Tỷ lệ chất béo trong ngô tương đối cao 4 – 6% (Viện Chăn nuôi, 2001)
Trang 36chủ yếu là axit béo chưa no Gia súc, gia cầm tiêu hóa tốt các chất dinh dưỡngtrong hạt ngô (tỷ lệ tiêu hóa xấp xỉ 90%)
Tuy vậy lượng protein của ngô vẫn thấp hơn nhu cầu của gia súc Trongprotein của ngô thiếu 30 – 40% lizin, 15 – 30% tryptophan, 80% lơxin so vớinhu cầu của lợn Ngô nghèo canxi và một số khoáng chất, vitamin (đặc biệt làcác vitamin nhóm B), do đó cần phải sử dụng phối hợp ngô với các loại thức ănkhác để đảm bảo dinh dưỡng vật nuôi, cân đối protein, các khoáng và vitamin.Hàm lượng dầu trong ngô khá cao, mà chủ yếu là axit béo chưa no nên khôngthể sử dụng nhiều ngô trong khẩu phần vỗ béo lợn vì làm mỡ mềm (Bùi QuangTuấn, 2012)
1.5.2.2 Cám gạo
Cám gạo là loại thức ăn có hàm lượng protein cao, khoảng 120 – 140 g/kgchất khô, đồng thời nó cũng có hàm lượng mỡ rất cao: 110 – 180 g/kg chất khô.Sau khi xay xát enzyme lypolytic (phân giải lipit) trở nên hoạt động, do đó làmtăng nhanh hàm lượng axit béo tự do (chưa no), cám dễ bị ôi và trở nên đắngkhét Vì vậy, không nên dự trữ cám gạo quá lâu, muốn dự trữ trong thời gian dàithì nó phải xử lý bằng nhiệt (sấy hoặc dùng các chất ức chế hóa học) Cám gạogiàu vitamin nhóm B, rất hấp dẫn với mọi loại vật nuôi Tuy nhiên, do trong cámgạo có lẫn một phần vỏ trấu, làm tỷ lệ xơ trong cám gạo cao, giảm khả năng tiêuhóa thức ăn của vật nuôi, nhất là với những gia súc dạ dày đơn Để nâng cao tỷ
lệ tiêu hóa xơ trong những khẩu phần có sử dụng nhiều cám gạo người ta đã bổsung enzyme tiêu hóa xơ vào khẩu phần để tăng tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu cácchất dinh dưỡng của Theo Lã Văn Kính và cs (2007), với tỷ lệ cám gạo 25%trong khẩu phần thì enzyme tiêu hóa xơ sử dụng ở mức 0,1% mang lại hiệu quảkinh tế cao nhất, tăng khối lượng của lợn được cải thiện 3,47 – 6,95% Nhóm tácgiả cũng cho biết tỷ lệ sử dụng cám gạo tốt nhất là 8 – 16% với lợn giai đoạn 20– 50kg, và 25% với lợn từ 50 – 100kg Bùi Quang Tuấn (2012) cho biết, mức sửdụng cám gạo trong khẩu phần của lợn trong khoảng 30 – 40% là tốt, nếu caohơn trong công thức phối trộn sẽ ảnh hưởng tới phẩm chất thịt, làm thịt bị nhão
Trang 371.5.3 Một số loại thức ăn giàu protein
1.5.3.1 Khô dầu đậu tương
Là một trong những nguồn thức ăn lý tưởng bổ sung đạm cho lợn Proteincủa khô dầu đậu tương chứa hầu hết các axitamin không thay thế nhưng hàmlượng cysteine và methionine còn dưới mức tối ưu Methionine là axitamin hạnchế số một của hạt đỗ tương và đặc biệt quan trọng trong các khẩu phần giàunăng lượng Trong khô dầu đậu tương có một số độc tố (saponin và isoflavon) làcác chất kháng trypsin, hemaglutinin nên khô đậu cần xử lý qua nhiệt để phát huyđược tác dụng của nguồn protein và tránh được những tác dụng độc hại Khô đậutương là nguồn cung cấp Ca, P tốt hơn hạt ngũ cốc nhưng lại nghèo vitamin nhóm B
Vì vậy khi kết hợp khô đậu tương và hạt cốc trong khẩu phần ăn của lợn cho kết quảrất tốt Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức đậu tương càng cao trong khẩu phầncủa lợn thì chi phí tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng giảm xuống Nói cáchkhác bổ sung khô đậu tương vào khẩu phần đạt được đồng thời 2 mục tiêu: đẩymạnh tốc độ tăng trọng và giảm bớt chi phí thức ăn
1.5.3.2 Bột cá
Đây là loại thức ăncung cấp protein có nguồn gốc động vật có chất lượngdinh dưỡng cao nhất Bột cá được chế biến từ cá tươi hay phụ phẩm của ngànhcông nghiệp chế biến cá hộp Hàm lượng protein trong bột cá sản xuất ở nước tabiến động từ 35 – 60%, khoáng tổng số 19,6 – 34,5%; trong đó hàm lượng muốikhoảng 5 – 10%; canxi 5,5 – 8,7%; photpho 3,5 – 4,8% Các chất hữu cơ trongbột cá được gia súc, gia cầm tiêu hóa và hấp thụ với tỷ lệ cao 85 – 90% Nếu bổsung bột cá cùng thức ăn tinh sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng lên một mức đáng
kể Bột cá có chứa các yếu tố kích thích tăng trọng do đó giảm chi phí thức ăncho 1kg tăng khối lượng Laksesvela (1961) (trích Nguyễn Thiện và cs, 2004)chứng minh rằng nếu bổ sung bột cá vào khẩu phần ăn sẽ làm tăng tốc độ sinhtrưởng của lợn và giảm chi phí thức ăn cho một kilogam tăng khối lượng Kết