1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bai viet 2 cung em an tap chi thiet bi GD 2017

9 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 475,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Thị Thúy An Trường Đại học Tây Nguyên Tóm tắt: Đổi mới phương pháp dạy học PPDH nói chung, môn Lịch sử LS ở trường phổ thông nói riêng là một vấn đề lớn, đã được nhiều nhà nghiêu c

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY

(Title: Some issues about the innovation in teaching methods of History subject at some high schools nowadays)

(Bài đăng trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục, tháng 12/2017, tr 41 - tr 43)

PGS.TS Nguyễn Mạnh Hưởng (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) ThS Lê Thị Thúy An

(Trường Đại học Tây Nguyên)

Tóm tắt: Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) nói chung, môn Lịch sử (LS) ở trường

phổ thông nói riêng là một vấn đề lớn, đã được nhiều nhà nghiêu cứu giáo dục trao đổi Nhưng trên thực tế nhiều GVLS có quan niệm chưa đúng, dẫn đến việc đổi mới mang tính hình thức,

áp đặt Từ thực tiễn nghiên cứu lí luận và DH bộ môn ở trường phổ thông, bài viết này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề: quan niệm đổi mới PPDH và định hướng đổi mới PPDH trong môn LS (thông qua một ví dụ cụ thể)

Từ khóa: đổi mới, PPDH, môn Lịch sử, DHLS…

Summary: Reformation in teaching methods in general and in teaching history

subject in secondary schools in particular, is now a big concern of many researchers in different educational institutions in Viet Nam as well as around the world In fact,however, there are many history teachers have not had proper awearness and understanding of this reformation process which obviously leads to the mechanical application into their own teaching situations From in-depth theoretical study and teaching experience of the researcher

in different schools, this paper will contribute to clarify some factors of the reformation process in history teaching methods such as: the definition of the reformation process, the orientation this reformation process in history teaching methods (using a specific example)

Keywords: Reformation, teaching methods, History subject, teaching history

1 Mở đầu

Cải cách, đổi mới (cả cách dạy và cách học) để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nói chung, môn Lịch sử (LS) ở trường phổ thông nói riêng đã trở thành xu thế tất yếu khách quan trong chiến lược phát triển giáo dục của Việt Nam Nó là đơn đặt hàng của xã hội đối với giáo dục, phản ánh quy luật về mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau

Trang 2

giữa giáo dục đối với nền kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Tuy nhiên, cải cách giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là một quá trình khó khăn, phức tạp, luôn tiềm ẩn nguy cơ thất bại, nếu chúng ta không có quan niệm đúng đắn và nắm vững định hướng về đổi mới PPDH

2 Nội dung

2.1 Quan niệm về đổi mới PPDH

Khi đề cập đến thuật ngữ “đổi mới”, người ta thường suy luận phải “thay đổi cái cũ bằng cái mới”, nhưng thế vẫn chưa đủ, vì đổi mới còn có nghĩa làm cho cái cũ

được cải tiến tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước Trong thời đại khoa học và công nghệ, đổi mới có thể tiến hành bằng hai cách: nghiên cứu để tạo ra cái mới và tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ từ nơi có trình độ cao hơn Song ở nước ta vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào về đổi mới PPDH có tầm cỡ quốc gia, cũng chưa

có cuộc chuyển giao công nghệ giáo dục nào đáng kể cho tất cả các bậc học, ngành học Điều này nói lên rằng chúng ta cần phải tìm ra PPDH mới và thực thi chúng có hiệu quả

Những năm gần đây, trên các diễn đàn khoa học giáo dục, nhiều người đã đưa ra

quan điểm về đổi mới PPDH, xuất hiện nhiều khái niệm và cụm từ như PPDH “tích cực”, “lấy học sinh làm trung tâm”, “kim tự tháp”, kĩ thuật DH “bể cá”, “công não” (*)

,… trong đó PPDH “lấy học sinh làm trung tâm” và “tích cực” được bàn luận sôi nổi Theo tác giả Trần Bá Hoành, đổi mới PPDH nghĩa là giáo viên (GV) phải chỉ

cho học sinh (HS) cách học, phải áp dụng PPDH tích cực để các em chủ động trong

nhận thức [1; tr.26] Hoặc, đổi mới PPDH cần “khắc phục tình trạng làm cho HS học tập thụ động trong nghe giảng, ghi chép và trả lời đúng như thầy giảng, sách viết khi kiểm tra,…” [2; tr.180] Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt thì quan niệm: đổi mới

PPDH theo hướng phát huy tính tích cực và hoạt động nhận thức độc lập của HS là việc

tổ chức cho các em tự mình phát hiện được vấn đề, tự mình đề xuất được cách giải

quyết và tự giải quyết được [3; tr.118],…

2.2 Định hướng về đổi mới PPDH

Khi đề cập đến vấn đề đổi mới PPDH, nhiều nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước

ta từng phê phán lối DH thụ động, coi trọng hướng “thầy chủ đạo, trò chủ động”, hoặc

thầy tổ chức điều khiển, trò chủ động học tập, khuyến khích HS tự học, áp dụng các PP giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết

vấn đề Tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục phổ thông (1963), Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Về giảng dạy, tránh lối dạy nhồi

Trang 3

sọ, về học tập, tránh lối học như vẹt” [4; tr.227] Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng khẳng định: “Phương pháp dạy học mà các đồng chí nêu ra, nói gọn lại là lấy người học làm trung tâm…., nói cho cùng phương pháp này là tích cực Sự tích cực này thể hiện nó có chiều sâu, nó tạo cho người học - tức là trung tâm phát huy trí tuệ, tư duy,

óc thông minh của mình” [5]

Rõ ràng, những định hướng về đổi mới PPDH “từ bỏ lối truyền thụ một chiều”,

“dạy nhồi sọ”, “nhồi nhét” kiến thức cho HS,… chuyển sang các PPDH theo hướng

phát huy tính tích cực, chủ động của HS đã được các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta nêu ra từ rất sớm Tư tưởng này hiện nay vẫn còn nguyên giá trị, cần được phát huy Trong bối cảnh cuộc cải cách giáo dục và đổi mới PPDH đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, từ những năm 90 của thế kỉ XX, các tài liệu của Đảng, Chính phủ đều định

hướng việc đổi mới PPDH phải “lấy người học làm trung tâm”, “phát huy tính tích cực, chủ động”, “khuyến khích tinh thần tự giác, tự học”, “áp dụng những PP giáo dục hiện đại phù hợp với thực tiễn Việt Nam để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy, giải quyết vấn đề” [6; tr 338]…

Đổi mới PPDH nói chung, các môn học ở trường phổ thông nói riêng được pháp

chế hóa trong chương II, điều 28 Luật Giáo dục (sửa đổi và bổ sung năm 2010) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “PP giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng PP tự học, khả năng làm việc nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [7; tr 30] Thông báo Kết luận số 242 - TB/TW ngày 15/4/2009 Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và phương hướng phát triển giáo dục, đào tạo của Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2020 giúp chúng ta hiểu rõ hơn định

hướng của việc đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn tới:

“Khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lí thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho HS; gắn bó chặt chẽ giữa học lí thuyết và thực hành” [8; tr 2], [11]…

Như vậy, cốt lõi của việc đổi mới PPDH mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương áp dụng đối với mọi cấp học, môn học, trong đó có LS là phải: khuyến khích HS học tập tích cực, chủ động, chống lại thói quen học tập tiêu cực, thụ động, loại bỏ PPDH truyền thụ một chiều, nhồi nhét kiến thức; phải hướng vào phát triển năng lực tự học của HS,

đa dạng hóa các hình thức, PP học tập để tạo điều kiện cho người học được hoạt động tích cực, tự khám phá kiến thức và giải quyết vấn đề, tự rút ra kết luận trên cơ sở hướng

Trang 4

dẫn, tổ chức và gợi ý của GV; phải hướng tới tăng cường sự tương tác, phối hợp giữa người dạy với người học và giữa người học với nhau, coi trọng vốn hiểu biết, kinh nghiệm đã có của người học và tăng cường sử dụng các phương tiện kĩ thuật DH hiện đại, đặc biệt là ứng dụng hiệu quả những thành tựu của công nghệ thông tin (CNTT)

2.3 Định hướng đổi mới PPDH trong môn Lịch sử

Thực chất của việc đổi mới PPDH nói chung, môn LS ở trường phổ thông nói

riêng là chuyển từ mô hình DH “lấy GV làm trung tâm” sang mô hình “lấy HS làm trung tâm” “Lấy HS làm trung tâm” trong DHLS chính là phát huy tính tích cực, độc

lập nhận thức của người học, chủ yếu là phát triển khả năng tư duy Nhưng trên thực tế

đã xuất hiện hai thái cực:

Thứ nhất, quá tích cực hưởng ứng các PPDH mà thế giới đang áp dụng nên một

bộ phận GV đã tuyệt đối hóa các PPDH từ bên ngoài truyền thụ vào (thảo luận nhóm,

sử dụng CNTT, kĩ thuật DH “bể cá”, “kim tự tháp”,…) và thường phủ nhận sạch trơn

các PP đã được sử dụng trước đây (thuyết trình, thông báo, tường thuật,…), xem đó là

những PP “truyền thống” cổ hủ, lạc hậu

Thứ hai, phản đối (thậm chí rất gay gắt) những PPDH “nhập nội”, trung thành

tuyệt đối với các PP truyền thống

Vì vậy, cần phải hiểu rằng đổi mới PPDHLS không phải là thay đổi mục tiêu, hay việc xóa bỏ mọi kinh nghiệm quý giá đã được đúc kết trong thực tiễn DH ở trường phổ thông từ trước đến nay, mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả thiết thực, bằng những quan niệm đúng đắn, với những hình thức, bước đi và biện pháp

thích hợp Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới, cái gì cũ mà xấu thì bỏ Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lí Cái gì mà tốt phải phát triển thêm Cái gì mới mà hay thì ta làm” [9; tr 4] Nói cách khác, mục đích của việc đổi mới PPDHLS không phải là

xóa bỏ mọi PP truyền thống đã được thừa nhận và sử dụng hiệu quả trước đó, thay thế hoàn toàn bằng các PPDH hiện đại, mà là thay đổi cách sử dụng chúng theo hướng tích cực, chủ động (ngược với hướng tiêu cực, thụ động), kiên quyết loại bỏ tận gốc những sai lầm của việc DH một chiều, nhồi nhét kiến thức, không phát huy được năng lực nhận thức độc lập, trí tuệ thông minh của HS, tạo nên niềm vui, sự hứng thú của HS trong quá trình học tập Ví dụ, trong DHLS (cũng như nhiều môn học khác), HS phải ghi nhớ những sự kiện cơ bản về niên đại, địa danh, nhân vật LS, vì chúng cần thiết cho việc khôi phục hình ảnh quá khứ một cách chân thực Tuy nhiên, GV cần tránh lối DH

“thầy đọc, trò ghi” cốt để “nhồi nhét sự kiện”, bắt HS phải học thuộc lòng mà không

Trang 5

hiểu, không biết vận dụng những kiến thức đã học vào việc tiếp thu kiến thức mới có liên quan và trong cuộc sống Ghi nhớ là cần thiết cho việc học tập tất cả các môn học, chứ không phải dành riêng cho môn LS (ví như khi học môn Toán, HS sẽ không thể

làm được các phép tính nếu không ghi nhớ và thuộc Bảng cửu chương), song cũng không nên quan niệm “học LS chẳng qua là học thuộc lòng” Cũng cần nhấn mạnh

rằng, PPDHLS luôn phù hợp với nội dung DH, nội dung nào thì PP ấy, không có PP vạn năng cho mọi nội dung DH khác nhau Do đó, để thuận lợi cho việc lựa chọn PPDH tối ưu, GV phải nghiên cứu kĩ nội dung LS ở từng mục, theo đơn vị kiến thức một cách khoa học, rồi sử dụng PP sao cho hiệu quả

Chúng ta cùng so sánh và hình dung ra hai kiểu DH “lấy GV làm trung tâm” (theo định hướng tiếp cận nội dung) và “lấy HS làm trung tâm” (theo định hướng tiếp

cận năng lực) dưới đây:

Kiểu DH theo định hướng

tiếp cận nội dung là chủ yếu

Kiểu DH theo định hướng tiếp cận năng lực

(Định hướng đổi mới PPDHLS hiện nay)

1 GV cung cấp nhiều sự kiện

LS cốt để HS nhớ tốt, học tốt

1 GV tổ chức cho HS tìm hiểu kiến thức cơ bản, cung cấp sự kiện có chọn lọc, phù hợp với yêu cầu, trình độ nhận thức để hiểu sự kiện sâu sắc

2 GV là nguồn kiến thức duy

nhất của HS

2 Ngoài kiến thức LS có trong SGK và từ GV, HS được tiếp cận nhiều nguồn kiến thức khác: từ bạn

bè, sách báo, mạng Internet,…

3 GV bắt HS nhớ sự kiện LS

một cách áp đặt thông qua học

thuộc lòng, học vẹt

3 GV hướng dẫn HS các PP ghi nhớ sự kiện LS trong quá trình học tập (ghi nhớ sự kiện, nhân vật, thời gian, địa điểm diễn ra sự kiện,…)

4 GV chỉ dừng lại ở câu hỏi, bài

tập có sẵn trong SGK, bắt HS

ghi chép lí thuyết vắn tắt

4 Ngoài khai thác triệt để câu hỏi trong SGK, GV còn sử dụng nhiều loại câu hỏi khác nhau, giúp HS vận dụng những điều đã học gắn với thực tiễn

5 GV không gắn lí thuyết với

thực hành; mọi kết luận của bài

học đều do GV đưa ra

5 HS được học lí thuyết kết hợp với thực hành, liên hệ thực tiễn; được trao đổi, thảo luận và nêu ý kiến riêng của mình, cuối cùng GV nhận xét

6 GV chỉ sử dụng các PPDH

truyền thống, phản đối những

PPDH “nhập nội”

6 Ngoài sử dụng các PPDH truyền thống đã được cải tiến, GV còn tiếp thu, vận dụng nhiều PPDH khác (thảo luận, ứng dụng CNTT,…)

7 Việc tổ chức DH của GV 7 GV tổ chức cho HS học tập tích cực, chủ động,

Trang 6

mang tính áp đặt, HS học tập thụ

động, bị gò bó

đưa các em vào tình huống có vấn đề, sau đó tổ chức cho các em giải quyết vấn đề

8 GV chủ yếu độc diễn, độc

thoại, tập trung vào cá nhân HS

8 GV định hướng cho HS học tập khám phá, DH đối thoại, hợp tác và tập trung vào nhóm HS

9 GV chỉ tập trung vào dạy nội

dung, dạy kiến thức LS

9 DH tập trung vào cả quá trình, dạy HS cách học, cách lĩnh hội và làm chủ kiến thức

10 Việc DHLS của GV bị tách

rời với các môn học khác

10 GV vận dụng nguyên tắc DH liên môn, tích hợp kiến thức của nhiều môn (Văn học, Địa lí,… nên kiến thức của HS phong phú, vững chắc hơn

11 Lớp học căng thẳng, HS có

cảm giác nặng nề, mệt mỏi

11 Không khí lớp học sôi nổi, HS cảm thấy giờ học nhẹ nhàng, thoải mái và rất hứng thú

Một cách tổng quát, định hướng đổi mới PPDHLS ở trường THPT hiện nay là đổi mới cách thức tổ chức hoạt động nhận thức cho người học và triển khai nội dung

DH để đạt được mục tiêu DH tốt nhất – người học không chỉ biết, hiểu kiến thức mà còn phải vận dụng kiến thức ấy vào giải quyết vấn đề có trong thực tiễn (tức là chuyển

từ DH tiếp cận nội dung là chủ yếu sang hướng tiếp cận năng lực) Quá trình đổi mới này cần phải được tiến hành trên cả ba góc gộ:

Một là, cải tiến, hoàn thiện các PPDH đang sử dụng để góp phần nâng cao hiệu

quả, tiến tới nâng cao chất lượng của việc DH

Hai là, bổ sung, phối hợp với nhiều PPDH khác để khắc phục những mặt hạn

chế của các PP đang sử dụng nhằm đạt mục tiêu DH đề ra

Ba là, từng bước thay đổi, tiến tới loại bỏ PPDH cũ mang tính áp đặt, nhồi nhét

kiến thức bằng các PP mới, ưu việt để đem lại hiệu quả DH cao hơn

2.4 Ví dụ về hướng dẫn HS kĩ năng khai thác tranh ảnh LS theo định hướng đổi mới PPDH hiện nay (tiếp cận năng lực người học)

Kênh hình trong DH nói chung, môn LS ở trường phổ thông nói riêng là một loại phương tiện trực quan quan trọng chứa đựng, chuyển tải lượng thông tin của GV trong quá trình DH và là nguồn tri thức phong phú đa dạng, góp phần tạo biểu tượng, phát triển trí tuệ, nâng cao năng lực nhận thức cho HS trong quá trình học tập Để hình thành, rèn luyện và đánh giá được các kĩ năng khai thác kênh hình LS cho HS, từ khâu chuẩn bị bài dạy, GV cần xác định mục tiêu, nội dung kiến “ẩn” liên quan đến kênh

hình, tiêu chí đánh giá kĩ năng và các dạng câu hỏi phù hợp để đánh giá [10]

Trang 7

Ví như, GV đánh giá HS qua kĩ năng khai thác tranh biếm họa, hoạt động tìm

hiểu, phát hiện kiến thức mới, mục I Nước Pháp trước cách mạng (bài 2 Cách mạng

tư sản sản Pháp (1789 – 1794), lớp 8 THCS) Để đánh giá đúng, hiệu quả những kĩ

năng khai thác tranh biếm họa của HS, trước tiên xác định mục tiêu, nội dung kiến thức

và các tiêu chí đánh giá, gồm:

Mục tiêu: HS phát hiện, tìm hiểu kiến thức mới liên quan đến nguyên nhân bùng

nổ cách mạng Pháp (tiền đề kinh tế, chính trị - xã hội); qua đó biết vận dụng kiến thức

đã học (ở mục này) vào đánh giá sự kiện LS (phần cách mạng bùng nổ)

Nội dung kiến thức (tên bức tranh): “Tình cảnh nông dân Pháp trước cách mạng”, sử dụng khi dạy mục I Nước Pháp trước cách mạng, giúp học sinh nhận thức

rõ những tiền đề (kinh tế, chính trị - xã hội) dẫn đến cách mạng Pháp bùng nổ

Các tiêu chí đánh giá kĩ năng: Biết quan sát, nhận diện đúng loại tranh ảnh LS;

khai thác những yếu tố LS thể hiện qua tranh châm biếm (các nhân vật và vật dụng của

họ đại diện cho mỗi đẳng cấp trong xã hội); có thái độ cảm thông với đẳng cấp thứ ba (bị bóc lột), ủng hộ cách mạng Pháp; biết rút ra nguyên nhân cách mạng bùng nổ,…

Trên cơ sở xác định rõ mục tiêu và những tiêu chí đánh giá HS về kĩ năng khai

thác tranh biếm họa, GV thiết kế và trình chiếu slide bức tranh “Tình cảnh nông dân Pháp trước cách mạng” (kèm theo câu hỏi liên quan định hướng cách khai thác), rồi

giao nhiệm vụ cho HS tìm hiểu (hình dưới):

1) Ba người trong bức tranh tượng trưng cho những đẳng cấp nào của nước Pháp trước cách mạng?

2) Những đồ vật, dụng cụ của ba người này cho chúng ta biết điều gì (cây thánh giá, thanh kiếm, cái cuốc, con vật,…)?

3) Em có nhận xét gì về tình cảnh người nông dân Pháp trước cách mạng?

Trang 8

Hình minh họa GV đánh giá HS qua kĩ năng khai thác tranh biếm họa, hoạt động tìm hiểu, phát hiện kiến thức mới

Hết thời gian, GV gọi HS đứng lên báo cáo kết quả khai thác thông tin LS qua bức tranh biếm họa Căn cứ vào câu trả lời của HS, GV sẽ đánh giá được kĩ năng khai thác kênh hình ở mức độ 1, mức độ 2 hay mức độ 3 (thông thường, HS chỉ đạt được ở mức độ 2 – trừ một số em có đam mê, năng khiếu với môn Sử)

Sau khi đã đánh giá được các kĩ năng phát hiện, tìm hiểu kiến thức LS của HS qua bức tranh biếm họa, GV nhận xét, trình bày bằng PP miêu tả khái quát có phân tích

(kết hợp với Sơ đồ chế độ ba đẳng cấp ở Pháp và Biểu đồ thu nhập của nông dân Pháp), giúp các em tiếp tục hoàn thiện các kĩ năng trong học tập [11.tr.30 - 36, 30]

3 Kết luận

Trong sự phát triển của nền giáo dục hiện đại, vai trò và vị trí của người học đã

và đang có sự chuyển đổi căn bản (người học phải ở vị trí trung tâm của nhà trường, là người tham gia trực tiếp, tích cực vào quá trình nhận biết, khám phá và phản biện,…)

Để đáp ứng được sự chuyển đổi này, GV phải đi trước, không chỉ nhận thức đúng mà còn hành động, vận dụng vào thực tiễn DH thông qua lựa chọn các PP và biện pháp sư phạm linh hoạt, như: sử dụng câu hỏi, SGK, kênh hình, vận dụng nguyên tắc DH nêu vấn đề, liên môn, ứng dụng CNTT,… Đổi mới PPDHLS luôn là một quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, đòi hỏi người dạy, người học và cả những người có liên quan phải có sự chuyển biến thực sự mạnh mẽ trong nhận thức, hành động, phải có

ý chí bền bỉ, quyết tâm cao khi thực hiện./

(*)Kĩ thuật DH “bể cá” (fish bowl): GV tổ chức cho một vài nhóm HS thảo luận, một vài nhóm

khác được quan sát im lặng, sau đó đổi vai hoặc trao đổi chung

Trang 9

PPDH “kim tự tháp” (pyramid): GV đưa ra vấn đề, tổ chức cho HS thảo luận sơ bộ trong từng

nhóm nhỏ (biểu tượng hình chóp kim tự tháp) để tạo ý tưởng ban đầu, sau đó vấn đề được phác thảo sâu hơn bằng cách gộp 2, 3, 4,… nhóm nhỏ thành nhóm lớn hơn,… (biểu tượng đáy kim tự tháp) Sau cùng, cả lớp sẽ có bảng tổng kết ý kiến thống nhất dựa trên ý kiến của số đông

Kĩ thuật DH “công não” (brain storming): GV tổ chức cho HS tìm hiểu vấn đề để làm bật ra

nhiều ý từ một vấn đề đã nêu, sau đó cùng bình luận và đánh giá

Trên thực tế, các PP và kĩ thuật DH này còn xa lạ với GV phổ thông và khó có thể áp dụng

Tài liệu tham khảo

1 Trần Bá Hoành (2000), Đổi mới PPDH ở THCS (Tài liệu dùng trong các lớp bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục THCS), Bộ Giáo dục – Đào tạo, HN

2 Trịnh Đình Tùng (Chủ biên, 2005), Hệ thống PPDHLS ở trường THCS, Nxb ĐHSP, HN

3 Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987), Giáo dục học, Tập I Nxb GD HN

4 Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục (1990) Nxb GD, HN

5 Phạm Văn Đồng (1994), PP tự học và lòng ham học – đó là cái quý nhất Báo Nhân dân,

ngày 18/11

6 Phan Ngọc Liên (Chủ biên, 2008) Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp giáo dục, đào tạo Nxb ĐHSP, HN

7 Luật Giáo dục năm 2010 (2010) Nxb Lao động, HN

8 Các nhiệm vụ, giải pháp phát triển GD & ĐT đến năm 2020 (2009), Tạp chí GD, số 215

9 Tạp chí Nghiên cứu GD, 1997, số 12

10 Nguyễn Mạnh Hưởng, Rèn luyện cho HS kĩ năng khai thác kênh hình trong DHLS theo

hướng phát triển năng lực người học, Tạp chí GD, số 377, tr.36 – 38 và tr.30

11 Chiến lược Phát triển giáo dục 2011 – 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ)

12 Nguyễn Mạnh Hưởng (2011), Nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin (Qua thực nghiệm sư phạm ở một số tỉnh/ thành phố Đồng bằng Bắc Bộ), Luận án Tiến sĩ Giáo dục, Hà Nội

13 Nguyễn Mạnh Hưởng (2017), Thiết kế và tổ chức hoạt động DHLS ở trường phổ thông theo hướng tiếp cận NLHS, Tạp chí Khoa học, ĐHSP Hà Nội, Vol 62, No 1, tr 119-126

Ngày đăng: 11/08/2018, 13:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w