1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)

162 243 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Trường

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác Các thông tin, số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Bá Đoàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn này

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên; phòng Đào tạo, thư viện Nhà trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả xin chuyển lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh: Trường THPT Thuận Thành số

3, trường THPT Hàn Thuyên và trường THPT Quế Võ số 1 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả thực nghiệm sư phạm và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ những khó khăn, cổ vũ, động viên và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Bá Đoàn

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 15

5 Dự kiến kết quả nghiên cứu 20

6 Cấu trúc của luận văn 20

NỘI DUNG 21

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC

KIẾN THỨC VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, BIÊN GIỚI QUỐC GIA 21

1.1 Cơ sở lí luận 21

1.1.1 Các khái niệm và nội dung cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 21

1.1.2 Các khái niệm và nội dung liên quan đến dạy học tích hợp 36

1.2 Cơ sở thực tiễn 39

1.2.1 Sự cần thiết phải giáo dục cho thế hệ trẻ những kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 39

1.2.2 Mục tiêu, nội dung và cấu trúc chương trình Địa lí lớp 12 - Trung học phổ thông 42

Trang 6

1.2.3 Sự phù hợp của việc lựa chọn Địa lí lớp 12 để giáo dục kiến thức

về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 44

1.2.4 Khảo sát thực tế dạy học nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí ở trường trung học phổ thông 45

1.2.5 Đặc điểm tâm, sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 12 - Trung học phổ thông và định hướng lựa chọn mức độ tích hợp 50

Tiểu kết chương 1 52

Chương 2: TÍCH HỢP, LỒNG GHÉP NỘI DUNG KIẾN THỨC VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 53

2.1 Nguyên tắc của việc đề ra phương pháp và biện pháp thực hiện tích hợp, lồng ghép kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 - Trung học phổ thông 53

2.1.1 Xác định đúng những kiến thức cơ bản cần giáo dục 53

2.1.2 Đảm bảo tính khoa học, chính xác và tính sư phạm 53

2.1.3 Phát huy tính tích cực của học sinh 55

2.2 Xác định bài học và nội dung có thể tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong chương trình Địa lí lớp 12 - Trung học phổ thông 55

2.2.1 Các nguyên tắc tích hợp 55

2.2.2 Các phương thức tích hợp 56

2.2.3 Những nội dung có thể tích hợp giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong chương trình Địa lí lớp12 - Trung học phổ thông 57

2.3 Một số phương pháp dạy học tích hợp giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 64

Trang 7

2.3.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở 64

2.3.2 Phương pháp thảo luận 65

2.3.3 Phương pháp nêu vấn đề 67

2.3.4 Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ 68

2.3.5 Phương pháp đóng vai 69

2.3.6 Phương pháp động não 69

2.4 Các hình thức dạy học tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 70

2.4.1 Dạy học nội khóa 70

2.4.2 Dạy học ngoại khóa 71

2.5 Một số giáo án tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 - Trung học phổ thông 77

Tiểu kết chương 2 77

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78

3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 78

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 78

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 78

3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 79

3.3 Quy trình thực nghiệm 79

3.3.1 Nội dung thực nghiệm 79

3.3.2 Chọn trường thực nghiệm 80

3.3.3 Chọn lớp thực nghiệm 80

3.3.4 Chọn giáo viên thực nghiệm 81

3.3.5 Phương pháp thực nghiệm 82

3.3.6 Tổ chức thực nghiệm 82

3.4 Kết quả thực nghiệm 82

3.4.1 Bài thực nghiệm số 1 82

Trang 8

3.4.2 Bài thực nghiệm số 2 84

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 86

3.5.1 Đánh giá về mặt định lượng 86

3.5.2 Đánh giá về mặt định tính 86

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Danh mục các bài thực nghiệm 80

Bảng 3.2 Danh sách các lớp tham gia thực nghiệm 81

Bảng 3.3 Danh sách giáo viên Địa lí dạy thực nghiệm 81

Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 1 83

Bảng 3.5 Tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 1 83

Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 2 85

Bảng 3.7 Tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 2 85

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 1 của

lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 84 Hình 3.2 Biểu đồ tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 2 của

lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 85

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lãnh thổ quốc gia Việt Nam là nơi sinh ra và lưu giữ, phát triển con người và những giá trị của dân tộc Việt Nam Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ cha ông đã phải đổ biết bao mồ hôi và xương máu

để xây dựng, giữ gìn và bảo vệ được lãnh thổ quốc gia toàn vẹn, thống nhất và tươi đẹp như ngày nay Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là kết quả đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử Từ thưở Hùng Vương dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh, đứng trước những kẻ thù to lớn và hung bạo, dân tộc Việt Nam luôn có ý thức và quyết tâm bảo vệ nền độc lập và thống nhất của tổ quốc, luôn nêu cao hào khí anh hùng, lòng tự hào và tự tôn dân tộc

Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam Luật biên giới quốc gia của Việt Nam

đã khẳng định: “Biên giới quốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh của đất nước” [27] Bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh

thổ, biên giới quốc gia Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử và dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc

ta phát triển bền vững Đó là ý chí sắt đá, quyết tâm không gì lay chuyển được của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Thời gian qua, sự biến động của tình hình thế giới, khu vực và trên biển Đông khiến nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước, nhất là an ninh trên biển trở thành nhiệm vụ khó khăn, thách thức Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, điều tiên quyết đặt ra là phải không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân Trong

Trang 13

đó, xây dựng thế trận lòng dân, đảm bảo bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ

và biên giới quốc gia thiêng liêng của Tổ quốc là vấn đề chiến lược mang tính cấp bách, then chốt Hoạt động tuyên truyền các kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong các tầng lớp nhân dân diễn ra sâu rộng, trong đó

có môi trường học đường cho học sinh (HS), sinh viên trên cả nước Bộ Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) đã chỉ đạo các trường, đơn vị chức năng tổ chức triển khai Đề án 373 với đối tượng tuyên truyền khá đa dạng, từ HS trong các bậc học đến sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng và đại học, đưa giáo dục chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia nói chung và chủ quyền biển, đảo nói riêng vào trong chương trình dạy học, trong đó nhấn mạnh tích hợp, lồng ghép nội dung kiến thức chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia vào trong các môn học

Dạy học tích hợp là một nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung

và dạy học Địa lí nói riêng, đây được coi là một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của HS, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục Dạy học tích hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục, rèn luyện và phát triển kĩ năng tư duy, phân tích tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa cho người học Quan điểm dạy học tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Đối với môn Địa

lí là môn học nghiên cứu các kiến thức liên quan đến cả tự nhiên và kinh tế - xã hội (KT-XH) nên trong quá trình học tập đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học

Môn Địa lí nói chung và Địa lí lớp12 nói riêng có nhiều điều kiện thuận lợi để giảng dạy nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Chương trình Địa lí 12 đề cập đến nội dung về địa lí tự nhiên, địa lí KT - XH Việt Nam, là sự nâng cao, mở rộng của Địa lí lớp 9 Với cấu trúc chặt chẽ, nội dung chương trình Địa lí Việt Nam rất phù hợp với việc dạy học tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia vào trong bài giảng

Trang 14

Xuất phát từ những lí do trên mà tác giả đã chọn đề tài: “Giáo dục kiến

thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 - Trung học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn và phạm vi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề về lí luận và thực tiễn về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, luận văn tập trung vào việc xác định những bài học

có thể tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; đề xuất phương án dạy học tích hợp và thiết kế một số giáo án cụ thể trong dạy học Địa

lí lớp 12

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề về lí luận dạy học, dạy học tích hợp

- Nghiên cứu lí luận chung về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

- Nghiên cứu thực trạng việc tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền

lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12

- Biên soạn tài liệu về nội dung chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

- Nghiên cứu đặc điểm chương trình sách giáo khoa (SGK) Địa lí lớp 12

và khả năng tích hợp nội dung kiến thức chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

- Xác định những yêu cầu phải thực hiện và đề xuất một số biện pháp sư

phạm trong việc tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12

- Thiết kế giáo án cụ thể

- Thu thập tài liệu, điều tra, khảo sát, thực nghiệm (TN) sư phạm

2.3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Các khái niệm và nội dung cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, về dạy học tích hợp; tích hợp nội dung nói trên trong dạy học Địa lí lớp 12 ở trường trung học phổ thông (THPT); lựa chọn một số bài thích hợp trong chương trình Địa lí lớp 12 để dạy học tích hợp

Trang 15

- Về địa bàn thực nghiệm: Một số trường THPT được chọn TN nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Các trường này đều có đủ các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học

- Về thời gian thực nghiệm: Tác giả tiến hành TN sư phạm trong học kì

gì có thể so sánh được trên bình diện quốc gia và quốc tế Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau với những mục đích khác nhau khái niệm chủ quyền quốc gia được hiểu theo những khía cạnh khác nhau

Vào thế kỷ 15 - 16 xuất hiện khái niệm chủ quyền tuyệt đối của quốc gia

(trong cuốn sách “The Prince” của Machiavelli, xuất bản năm 1532) với chủ

trương chủ quyền quốc gia phải tuyệt đối, phải được đặt lên trên tất cả mọi quyền lợi khác Sau đó một số học giả như Jean Bodin và Hugo Grotius (thế kỷ

16 - 17) cũng chủ trương chủ quyền quốc gia phải tuyệt đối Theo Jean Bodin

“chủ quyền quốc gia là quyền được lãnh đạo và cưỡng chế, mà không phải chịu

sự lãnh đạo hay cưỡng chế nào”

Gần đây, chủ quyền được coi là đặc trưng cho một quyền lực chính trị

mà xét về mặt pháp lý, quyền lực đó không cần tuân theo bất kỳ một quyền lực nào khác để có thể đưa ra các quyết định hay các mệnh lệnh của mình Paul

Trang 16

Renter cho rằng “Chủ quyền chỉ có một và duy nhất một đặc điểm: không phải

tuân theo bất kỳ một quyền lực nào khác có cùng bản chất Nói một cách đơn giản, chủ quyền có nghĩa là quốc gia phải nằm trên đỉnh trật tự hình tháp của các nhóm người” Điều này một lần nữa được khẳng định tại Điều 2 khoản 1

của “Hiến chương Liên hợp quốc”: “Tổ chức được thành lập dựa trên nguyên

tắc bình đẳng về chủ quyền của tất cả các nước thành viên” [24] Quyết định

Trọng tài năm 1928 trong vụ tranh chấp đảo Palme cũng chỉ rõ “Chủ quyền của

quốc gia trong quan hệ với nhau đồng nghĩa với sự độc lập của quốc gia đó”

Nói cách khác, chủ quyền là một đảm bảo chắc chắn cho độc lập của quốc gia,

nó không cho phép xây dựng một quyền lực cao hơn quốc gia Do đó, các nước

dù lớn hay nhỏ đều được hưởng nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và bất khả

xâm phạm, được ghi nhận trong “Nghị quyết 2625” (1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc “Mọi quốc gia đều có quyền lựa chọn cho mình một hệ thống

chính trị, một mô hình kinh tế, văn hóa, xã hội riêng mà không một quốc gia nào có quyền can thiệp vào” [14]

Trong quá trình phát triển lâu dài của nhân loại, cùng với sự xuất hiện của các quốc gia, luật pháp quốc tế đã dần dần hình thành và phát triển Luật pháp quốc tế là hệ thống những nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế (trước hết và chủ yếu là giữa các quốc gia) Quốc gia là một thực thể được cấu thành bởi 3 yếu tố: dân

cư, lãnh thổ và chính quyền có chủ quyền Nói đến quốc gia là nói đến chủ quyền quốc gia tức là nói đến quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế

Về vấn đề thụ đắc lãnh thổ (“Thụ đắc lãnh thổ” là việc thiết lập ranh giới địa lí chủ quyền của một quốc gia đối với một vùng lãnh thổ mới theo

những phương thức phù hợp với nguyên tắc của pháp luật quốc tế), “Nghị

quyết số 2625” (1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc cơ

bản của luật pháp quốc tế đã quy định rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không

Trang 17

thể là đối tượng của việc thụ đắc bởi một quốc gia khác bằng việc đe dọa hoặc

sử dụng vũ lực Việc thụ đắc lãnh thổ bằng việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp” [14] Cùng với sự phát triển của các mối

quan hệ quan hệ quốc tế, việc sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế đã bị coi là bất hợp pháp thì nguyên tắc này được hiểu với nội hàm rộng hơn, đó là việc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ phi vũ trang

Ra đời trong thời kỳ cách mạng tư sản, nguyên tắc dân tộc tự quyết đã

được thể hiện trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như: “Hiến chương

Liên hợp quốc”, “Nghị định 1514 (XV)” của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày

14/12/1960; “Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc điều

chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia năm 1970”

Ngày 10/12/1982, “Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982”

(gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157), đánh dấu thành công của Hội nghị Liên hợp quốc về Luật biển lần thứ 3, với sự tham gia của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ, cùng xây dựng nên một Công ước mới về Luật biển, được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không

có biển, cùng chấp nhận Công ước Luật biển 1982 đã trù định toàn bộ các quy

định liên quan đến các vùng biển mà một quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như những quy định liên quan đến việc sử dụng, khai thác biển và đại dương

Nói đến chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia thì không thể không nói đến chủ quyền biển, đảo - phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Trên thế giới, đã có rất nhiều luật gia, nhà nghiên cứu lâu năm, chuyên gia về biển viết

về các quần đảo và những tranh chấp chủ quyền trên biển cũng như các tranh

Trang 18

chấp đối với các quần đảo Cuốn sách “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa

và Trường Sa” do nhà cuất bản L’Harmattan Paris ấn hành năm 1996, của bà

Monique Chemiller - Gendreau, giáo sư công pháp và khoa học chính trị trường Đại học Paris VII, nguyên Chủ tịch Hội luật gia dân chủ Pháp, nguyên Chủ tịch Hội luật gia châu Âu Cuốn sách dày gần 300 trang của bà là một công trình nghiên cứu công phu, độc lập và kéo dài nhiều năm, trong đó bà đã nói đến những chứng cứ lịch sử và đánh giá lập luận của các bên, chủ yếu là Trung Quốc và Việt Nam, liên quan đến hai quần đảo, rồi dựa trên việc áp dụng luật pháp và thực tiễn quốc tế để đưa ra những phân tích sâu sắc về vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo

Một người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài, tiến sĩ luật Đại học Sorbonne (Pháp) Từ Đặng Minh Thu cũng bỏ ra một thời gian dài thu thập tài

liệu, nghiên cứu về “Vấn đề tranh chấp Biển Đông” được đăng trên số 11,

tháng 7/2007 của tạp chí nghiên cứu và tạp chí nghiên cứu và thảo luận “THỜI ĐẠI MỚI”, trong đó ông đã phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc để đưa ra những kết luận về cơ sở và thời gian thực hiện chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

3.2 Ở Việt Nam

3.2.1 Về nội dung chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

Nội dung về chủ quyền lãnh thổ và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, bảo vệ an ninh biên giới quốc gia cũng đã có một số tổ chức, nhà nghiên cứu, chuyên gia trên thế giới nghiên cứu và đề cập tới trong các tài liệu, cuốn sách

- Các công trình nghiên cứu về công pháp quốc tế (luật quốc tế) của TS

Nguyễn Thị Thuận (Giáo trình Luật quốc tế, nhà xuất bản (NXB) Công an

nhân dân, 2011) và một số công trình tác giả khác có đề cập đến các nội dung: khái niệm quốc gia, lãnh thổ và lãnh thổ quốc gia, chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ, xác lập chủ quyền quốc gia với lãnh thổ, biên giới quốc gia Những

Trang 19

nội dung này được cụ thể hóa trong việc giáo dục an ninh quốc phòng ở Việt

Nam (“Giáo trình Giáo dục quốc phòng - an ninh” cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng do NXB Giáo dục phát hành năm 2008; “Sách giáo khoa Giáo

dục quốc phòng - an ninh” cho học sinh phổ thông lớp 11, NXB Giáo dục phát

hành hàng năm) với các nội dung kiến thức được đề cập gắn với lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam: khái niệm lãnh thổ quốc gia, các bộ phận lãnh thổ quốc gia, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, nội dung chủ quyền lãnh thổ quốc gia; biên giới quốc gia, sự hình thành biên giới quốc gia Việt Nam, các bộ phận cấu thành biên giới quốc gia, nguyên tắc xác định biên giới quốc gia, các cách xác định biên giới quốc gia; bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia Việt Nam; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; trách nhiệm công dân trong xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

- “Luật biển Việt Nam năm 2012”, trước đó là “Luật biên giới quốc gia

năm 2003”, “Luật an ninh quốc gia năm 2014” được Quốc hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua, trong đó có nhiều khái niệm và nội dung liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

- Riêng với biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc có nhiều hiệp định biên giới giữa các nước Biên giới đất liền với Trung Quốc đã có các văn bản sau:

(1) Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” (ký ngày 30/12/1999)

(2) Hiệp ước về xác định giao điểm đường biên giới giữa nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (ký ngày 10/10/2006)

(3) Hiệp định về quy chế quản lý biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (ký ngày 18/11/2009)

Trang 20

(4) Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (ký ngày 18/11/2009)

(5) Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (ký ngày 18/11/ 2009)

- Biên giới trên biển với Trung Quốc đã có các văn bản sau:

(1) Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế

và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25/12/2000)

(2) Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (ký ngày 25/12/2000)

(3) Nghị định thư bổ sung Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (ký ngày 29/4/2004)

- Với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Việt Nam đã ký các văn bản

về biên giới:

(1) Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (ký kết ngày 18/7/1977)

(2) Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (ký ngày 24/01/1986)

(3) Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (ký ngày 01/3/1990)

(4) Hiệp định Thương mại Biên giới giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (ký kết ngày 27/06/2015)

Trang 21

(5) Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (ký ngày 16/3/2016)

(6) Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới trên đất liền giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

- Với Vương quốc Cămpuchia, Việt Nam đã ký các văn bản về biên giới: (1) Hiệp định về vùng nước lịch sử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Cămpuchia (ký ngày 7/7/1982)

(2) Hiệp định về quy chế biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Cămpuchia (ký ngày 20/7/1983)

(3) Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Cămpuchia (ký ngày 27/12/1985)

(4) Hiệp ước giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Cămpuchia bổ sung hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 (ký ngày 10/10/2005)

- Các tài liệu viết về công tác phân giới cắm mốc:

(1) Ủy ban biên giới quốc gia - Bộ Ngoại giao (2010), “Biên giới trên

đất liền Việt Nam - Cămpuchia”, Tài liệu Dự án hợp tác “Giáo dục nhận thức phát luật tại các vùng biên giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

giai đoạn III (LASRAI III), Hà Nội

(2) Ủy ban biên giới quốc gia - Bộ Ngoại giao (2010), “Biên giới trên

đất liền Việt Nam - Trung Quốc”, Tài liệu Dự án hợp tác “Giáo dục nhận thức phát luật tại các vùng biên giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

giai đoạn III (LASRAI III), Hà Nội

3.2.2 Về nội dung giáo dục chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và tích hợp kiến thức trên trong dạy học bộ môn ở trường trung học phổ thông

Ở Việt Nam cũng đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về chủ quyền lãnh thổ và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và bảo vệ an ninh

Trang 22

biên giới quốc gia, đặc biệt là chủ quền biển, đảo Mỗi công trình, đề tài tiếp cận từ nhiều nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu nhưng đều khẳng định

“chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là bất khả xâm phạm”

Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành trung ương Đảng (khóa X), được sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương và Quân chủng Hải quân, Trung tâm thông tin công tác tư tưởng phối hợp với Cục

chính trị Quân chủng Hải quân biên soạn cuốn “Biển và hải đảo Việt Nam”

xuất bản tại Hà Nội, năm 2007 Tài liệu đã cung cấp những nội dung cơ bản về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các tư liệu, tài liệu

về biển, đảo Việt Nam và quốc tế Tài liệu đã nhấn mạnh: “Biển có vai trò rất

quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển nói riêng và của thế giới nói chung Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng thế mạnh về biển đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao Do tầm quan trọng của biển, từ lâu cuộc chạy đua trong sự phát triển kinh tế biển cũng như triển khai lực lượng quân sự trên biển và sự tranh chấp trên biển diễn ra rất gay gắt” [34] Vì vậy,

“việc xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ quyền lợi biển là vấn đề có ý

nghĩa chiến lược đối với việc gìn giữ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, giữ vững

ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế” [34]

Các tác giả biên soạn “Tài liệu tập huấn giáo viên cốt cán giáo dục

quốc phòng - an ninh” do Vụ giáo dục quốc phòng và chương trình phát triển

Giáo dục phổ thông ban hành cho rằng để thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 theo Nghị quyết số 09-NQ/TƯ ngày 09/02/2007 tại Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa

X), “Chúng ta phải tiến hành xây dựng và phát triển đồng bộ trên tất cả các

lĩnh vực của đất nước, củng cố tiềm lực quốc phòng - an ninh, nhằm bảo vệ vững chắc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, trong đó có vùng biển, đảo của Tổ quốc Thường xuyên tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức

Trang 23

quốc phòng - an ninh, chủ quyền lãnh thổ, biển đảo Việt Nam cho toàn dân, nhất là học sinh, sinh viên là rất quan trọng trong giai đoạn cách mạng hiện nay” [38]

Tác giả Trần Công Trục (2011) trong “Dấu Ấn Việt Nam trên biển

Đông” đã nhấn mạnh về vị trí vai trò của biển Đông trong lịch sử dân tộc,

đồng thời tác giả đã giới thiệu rõ những định nghĩa mang tính chuyên ngành về nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia Theo đó, một quốc gia ven biển như Việt Nam không chỉ có chủ quyền trên đất liền mà còn giữ chủ quyền trên “lãnh hải” hay còn gọi là “vùng nước lãnh thổ” - một dải biển ven bờ nằm ngoài và tiếp liền với lãnh thổ đất liền hoặc nội thủy của quốc gia ven biển, có một chiều rộng nhất định (không quá 12 hải lý) được tính từ đường cơ sở của quốc gia và thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia ven biển Chủ quyền này được mở rộng và áp dụng đối với cả vùng trời trên lãnh hải, cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy của lãnh hải

Tiếp tục khẳng định về chủ quyền biển, đảo Việt Nam, “Người Việt với

biển” của tác giả Nguyễn Văn Kim (2011) đã tập trung khai thác và lý giải mối

quan hệ giữa đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam với thế giới bên ngoài qua

con đường biển “Thế hệ nối tiếp thế hệ, các cộng đồng dân cư sinh sống trên

lãnh thổ Việt Nam đã khai phá đất đai, chinh phục biển cả, xác lập chủ quyền,

mở rộng giao thương, viết tiếp những trang sử hào hùng của cha ông để lại Cùng với quá trình “mở nước” về phương Nam, là những hành trình giương buồm ra khơi làm chủ nhiều quần đảo, nhiều vùng biển” [21] Từ đó, tài liệu

nhấn mạnh “chủ quyền và an ninh biển là chủ đề được quan tâm xuyên suốt

theo dòng chảy của lịch sử đất nước…việc bảo vệ chủ quyền giữ gìn an ninh phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ mang tính chiến lược lâu dài” [21]

Trong “Những điều cần biết về Đất - Biển - Trời Việt Nam” của tác giả Lưu Văn Lợi (2010) đã khẳng định rằng: “Trên chặng đường bốn mươi thế kỉ,

Trang 24

dân tộc ta đã kiên trì và từng bước mở rộng ra biển Đông, từ ven bờ tiến ra biển gần, rồi biển xa, từ đất liền tiến vào các đảo ven bờ rồi các đảo xa hơn Biển có ý nghĩa chiến lược đối với nước ta về cả hai mặt an ninh và phát triển” [22] Theo tác giả, “đối với tất cả các quốc gia dù là Nhà nước - dân tộc

có lịch sử lâu đời hay Nhà nước mới giành được được độc lập và đang phải xây dựng dân tộc, lãnh thổ và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng, trong

đó có cả vấn đề về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc” [22] Cuốn sách nêu các

quyền của nước ta về lãnh thổ, vùng biển, vùng trời, biên giới đất liền với các nước láng giềng, tình hình cập nhật giải quyết các biên giới đất liền và biên giới biển nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản cho người đọc

Bộ GD&ĐT đã ban hành cuốn “Tài liệu hướng dẫn dạy học nội dung

giáo dục tài nguyên và môi trường biển, đảo cho học sinh Trung học phổ thông” nhằm bổ sung thêm thông tin và giáo dục cho HS những hiểu biết về

tiềm năng, mức độ khai thác và sự cần thiết phải khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường biển, đảo; bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc Tài liệu cũng đưa ra những cách thức tổ chức hoạt động ngoại khóa theo nhiều chủ đề khác nhau để giáo dục cho HS ý thức về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc trong nhà trường phổ thông

Trong cuốn “Việt Nam: Quốc hiệu & Cương vực: Hoàng Sa - Trường

Sa” của tác giả Nguyễn Đình Đầu cũng đã đề cập khá rõ nét về vấn đề chủ

quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia qua các thời kì Đây là công trình vừa mang tính khoa học, vừa phổ thông; khái quát suốt chiều dài lịch sử hơn 4000 năm của dân tộc Việt Nam, từ thuở Vua Hùng dựng nước đến nay Đặc biệt, để cập nhật vấn đề thời sự, tác giả bổ sung phần về lãnh hải Việt Nam gồm nhiều

tư liệu và bản đồ cổ của thế giới ghi nhận Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam suốt gần 500 năm qua

Trang 25

Đề cập đến về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia còn có rất nhiều tài liệu do Ủy ban biên giới quốc gia - Bộ ngoại giao biên soạn như:

“Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, biên giới trên đất liền Việt

Nam - Lào, biên giới trên đất liền Việt Nam - Cămpuchia, Những vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông” Ban tuyên giáo

Trung ương cũng đã cho xuất bản cuốn sách “Một trăm câu hỏi - đáp về biển

dành cho tuổi trẻ Việt Nam” và cuốn “Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc: Biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển” Từ năm

2009 - 2012, Viện nghiên cứu Hán Nôm triển khai đề tài “Thư mục hán Nôm

về biển, đảo Việt Nam”, tiến hành khảo sát toàn bộ kho sách Hán Nôm của

Viện và tuyển chọn những đoạn ghi chép hoặc vẽ về biển, đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trong lịch sử

Về nội dung về giáo dục và dạy học tích hợp chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia cũng đã có một số luận văn đề cập tới một khía cạnh của vấn

đề Trong luận văn thạc sĩ “Lồng ghép nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo

vào dạy học Địa lí lớp 9” của tác giả Quan Thị Dưỡng cũng đã đề cập được

một phần việc tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí nhưng với đối tượng là HS lớp 9 và chỉ mới nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo

Bên cạnh đó, trong luận văn thạc sĩ “Giáo dục ý thức về chủ quyền biển,

đảo của tổ quốc cho học sinh sinh trong dạy học Lịch sử 10, trung học phổ thông (chương trình chuẩn)” của tác giả Đậu Thị Hải Vân cũng đã thể hiện

được một phần việc tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học nhưng môn học ở đây là môn Lịch sử với đối tượng

là học sinh lớp 10 và cũng chỉ nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo

Tất cả những công trình nghiên cứu, những tài liệu trên là nguồn tư liệu

có giá trị giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quát về cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

Trang 26

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm duy vật biện chứng

Phép duy vật biện chứng là cơ sở của mọi nhận thức khoa học, khẳng định vật chất quyết định ý thức Phép biện chứng bao gồm hai nguyên lí cơ bản:

- Nguyên lí về mối quan hệ phổ biến của thế giới chỉ ra cho các nhà khoa học tính vô hạn của thế giới và tính hữu hạn của các sự kiện, hiện tượng

cụ thể và mối liên hệ phức tạp của chúng

- Nguyên lí về tính phát triển của thế giới, theo đó ngiên cứu phải xem xét các sự kiện, hiện tượng trong trạng thái vận động và biến đổi không ngừng

Quan điểm này được vận dụng vào nghiên cứu thực trạng giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia thông qua dạy học môn Địa lí ở THPT để đánh giá một cách khách quan, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn dạy học, thông qua đó đưa ra những nhận xét đánh giá, giải thích những vấn đề còn tồn tại trong quá trình dạy học tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Qua đó, thấy được tính cấp thiết của việc dạy học tích hợp trong môn Địa lí, để có thể đáp ứng xu thế phát triển của của xã hội trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay

4.1.2 Quan điểm hệ thống cấu trúc

Hệ thống là một tập hợp các yếu tố nhất định có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, ổn định và có quy luật vận động tổng hợp Việc sử dụng quan điểm hệ thống phải đảm bảo nghiên cứu đầy đủ mối quan hệ hữu cơ giữa mọi yếu tố, nghiên cứu các đối tượng một cách toàn diện

Quan điểm hệ thống là con đường nghiên cứu các đối tượng phức tạp trên cơ sở phân tích đối tượng thành các bộ phận để đi sâu nghiên cứu, tìm ra tính hệ thống, tính toàn diện của đối tượng Phương pháp hệ thống là công cụ phương pháp luận, nó giúp ta nghiên cứu các đối tượng phức tạp và cho ta một sản phẩm khoa học có cấu trúc logic và chặt chẽ

Trang 27

Quan điểm này được vận dụng trong việc nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình sách giáo khoa Địa lí THPT Đồng thời cho phép tác giả nghiên cứu sâu vào chương trình Địa lí lớp 12 để hiểu rõ hơn và định hướng những bài học có thể tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 ở trường THPT

4.1.3 Quan điểm phát triển bền vững

Quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự phát triển bền vững ở cả 3 mặt: kinh tế - xã hội - môi trường

- Về kinh tế là đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hiệu quả và sự ổn định của nền kinh tế

- Về xã hội là phải chú trọng đến việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng thể chế và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc

- Về môi trường là giữ gìn đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự xuống cấp và ô nhiễm môi trường

Quan điểm này được vận dụng trong việc nghiên cứu vai trò của lãnh thổ, biên giới đem lại cho nước ta hiện nay, đồng thời có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn những giá trị mà các bộ phận lãnh thổ, mang lại cũng như có những biện pháp tích cực trong bảo vệ tài nguyên trên các bộ phận của lãnh thổ

4.1.4 Quan điểm thực tiễn

Quan điểm thực tiễn là luận điểm quan trọng của phương pháp luận, phương pháp này yêu cầu phải bám sát vào sự phát triển của thực tế sinh động

Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính lịch sử - xã hội của con người, diễn biến hiện thực là diễn biến khách quan, các sự kiện thực tiện là những gợi ý quan trọng cho những ý tưởng của đề tài nghiên cứu khoa học Chính vì vậy, mọi đề tài nghiên cứu khoa học đều mang tính cấp thiết, xuất phát từ thực tiễn

Quan điểm thực tiễn được vận dụng trong việc nghiên cứu thực trạng của vấn đề chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và việc tích hợp kiến thức về chủ

Trang 28

quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia ở nước ta hiện nay trong dạy học Địa lí, giúp tác giả có những kiến thức ban đầu về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và phương pháp khi dạy học Địa lí

4.1.5 Quan điểm lịch sử - logic

Trong quá trình nghiên cứu khi xem xét hay đáng giá cần phải đứng trên quan điểm lịch sử - logic Quan điểm này đòi hỏi phải nhìn nhận quá khứ để lí giải mức độ nhất định cho hiện tại và dự báo cho tương lai Nếu tách rời quá khứ khỏi hiện tại thì khó có thể giải thích thỏa đáng sự phát triển ở thời điểm hiện tại và nếu không chú ý đến tương lai thì ngành khoa học này mất đi khả năng dự báo

4.1.6 Quan điểm tổng hợp

Trong nghiên cứu Địa lí, việc vận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quan điểm bắt nguồn từ chính đối tượng nghiên cứu khoa học Các hiện tượng tự nhiên và KT - XH rất phong phú, đa dạng, chúng có quá trình hình thành phát triển trong mối quan hệ nhiều chiều giữa bản thân và các đối tượng

Tác giả luận văn vận dụng quan điểm này trong việc nghiên cứu các phương pháp dạy học cụ thể và áp dụng vào việc thiết kế một số giáo án tích hợp kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12

4.1.7 Quan điểm công nghệ dạy học

Công nghệ dạy học là sự sắp xếp công việc dạy và học theo một hệ thống đặc biệt được thiết kế nhằm cung cấp kiến thức cho người học theo một kết quả đã dự đoán trước, điều hành quá trình dạy học một cách có hiệu quả để đưa người học đạt đến mục tiêu học tập đặc biệt Và công nghệ dạy học coi quá trình dạy học như một quy trình công nghệ, có mục đích rõ ràng, có đầu vào, đầu ra và có quá trình tác động Hiện nay, công nghệ dạy học đang là một hướng tiếp cập quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học Địa lí trong nhà trường phổ thông Quan điểm công nghệ dạy

Trang 29

học được vận dụng trong luận văn để nghiên cứu và ứng dụng các PPDH và phương tiện dạy học hiện đại, phù hợp trong dạy học tích hợp

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu

Dựa vào mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu mà tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: Sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các công trình, đề tài nghiên cứu đã được nghiệm thu và các công trình khoa học khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Khi thu thập tài liệu trong quá trình tiến hành thực nghiệm cần chú ý: Nghiên cứu SGK hiện hành làm tài liệu chuẩn cho nội dung thiết kế bài học, đồng thời cần chú trọng thu thập tài liệu bên ngoài SGK để bổ sung kiến thức cho bài học, để bài học trở nên phong phú, hấp dẫn hơn Các nguồn tài liệu bao gồm các tài liệu tổng hợp, các tài liệu bộ phận và các tài liệu của các cơ sở sản xuất Tuy nhiên, nguồn tài liệu thường thiếu và không đồng bộ nên việc thu thập và xử lí tài liệu phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:

- Thống nhất về nguồn tài liệu khi thu thập tài liệu về một đối tượng nào

đó, cố gắng nên lấy một nguồn trên cơ sở tham khảo các nguồn tài liệu khác

- Các tài liệu đã thu thập phải được phân cấp trong cùng một thời gian Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh các hiện tượng để rút ra nhận xét cần thiết hay những quy luật

Phương pháp này được sử dụng trong việc thu thập tài liệu vể chủ quyền lãnh thổ, anh ninh biên giới nhằm làm rõ hơn đề tài nghiên cứu, nắm được các phương pháp nghiên cứu thực hiện và có thêm những kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí

4.2.2 Phương pháp phân tích hệ thống - cấu trúc

Nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học là một chủ thể thống nhất gồm nhiều yếu tố liên quan tạo nên một cấu trúc chặt chẽ của quá trình dạy học Địa lí Do đó để đảm bảo tính khoa học, các đối tượng phải được phân tích hệ thống hoàn chỉnh

Trang 30

Là phương pháp đem đối tượng nghiên cứu xem xét nó trong một số điều kiện hoàn cảnh gồm những yếu tố liên quan với nhau theo một cấu trúc chặt chẽ, trong cấu trúc đó, những mối quan hệ và các đối tượng tương hỗ giữa các yếu tố được đặc biệt chú ý Trong đề tài này, phương pháp phân tích hệ thống - cấu trúc được sử dụng để nghiên cứu nội dung và phương pháp giáo dục nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia với mục tiêu, nội dung, hình thức, các phương pháp, phương tiện dạy học Địa lí lớp 12

4.2.3 Phương pháp điều tra

Tiến hành điều tra, khảo sát tình hình thực tế dạy học nội dung bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia nói chung để thấy được những ưu điểm

và hạn chế của việc dạy học tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

4.2.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng công thức toán học thống kê, phân tích và xử lý kết quả thu được từ thực nghiệm sư phạm nhằm làm tăng tính chính xác, khách quan cho tài liệu nghiên cứu của đề tài Đồng thời, là căn cứ khoa học để xác định xu hướng phát triển của đối tượng để đề xuất những biện pháp thực hiện tốt hơn

4.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi

số lượng, chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do nhà khoa học tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra Phương pháp TN sư phạm được dùng khi đã có kết quả điều tra, quan

Trang 31

sát các hiện tượng giáo dục, cần khẳng định lại cho chắc chắn các kết luận đã được rút ra Phương pháp TN sư phạm cũng là phương pháp được dùng khi nhà khoa học sư phạm, nhà nghiên cứu đề ra một phương pháp giáo dục, một phương pháp dạy học (PPDH) mới, một nội dung giáo dục hay một cách tổ chức dạy học mới, một phương tiện dạy học mới…

TN sư phạm là so sánh kết quả tác động của nhà khoa học lên một nhóm lớp - gọi là nhóm TN - với một nhóm lớp tương đương không tác động (dạy, giáo dục theo hình thức bình thường vẫn được GV phổ thông sử dụng) - gọi là nhóm đối chứng (ĐC) Để có kết quả thuyết phục hơn, sau một đợt nghiên cứu, nhà nghiên cứu có thể đổi vai trò của hai nhóm lớp cho nhau, nghĩa là, các nhóm TN trở thành nhóm ĐC và ngược lại

Phương pháp này được tác giả luận văn vận dụng vào việc giảng dạy tích hợp nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong một số bài giáo án cụ thể tại một số trường cụ thể để kiểm chứng tính tích cực của PPDH tích hợp và kiểm tra việc nắm tri thức của HS thông qua phương pháp tích hợp

5 Dự kiến kết quả nghiên cứu

- Tập tài liệu về nội dung chủ quyền lãnh thổ và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và bảo vệ an ninh biên giới quốc gia

- Một số giáo án tích hợp kiến thức chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12

- Một số hình thức và PPDH tích hợp kiến thức chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài các phần chung, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

Chương 2 Tích hợp, lồng ghép nội dung kiến thức về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trong dạy học Địa lí lớp 12 - Trung học phổ thông

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 32

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KIẾN THỨC

VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, BIÊN GIỚI QUỐC GIA

* Khái niệm về lãnh thổ quốc gia

Lãnh thổ quốc gia là một phần của Trái Đất bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời trên vùng đất và vùng nước, cũng như lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của mỗi quốc gia nhất định [5]

* Các bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia

- Vùng nước: là toàn bộ các phần nước nằm trong đường biên giới quốc gia Vùng nước gồm:

+ Vùng nước nội địa: bao gồm nước ở các biển nội địa, các, hồ, ao, sông, ngòi, đầm, kể cả tự nhiên hay nhân tạo) nằm trên vùng đất liền hay biển nội địa + Vùng nước biên giới: gồm các sông, hồ, biển nội địa nằm trên khu vực biên giới giữa các quốc gia

+ Vùng nội thuỷ: được xác định bởi một bên là bờ biển và một bên khác

là đường cơ sở của quốc gia ven biển

+ Vùng nước lãnh hải: là vùng biển nằm bên ngoài và tiếp liền với vùng nội thuỷ của quốc gia Bề rộng của lãnh hải theo Công ước Luật biển năm 1982 do quốc gia tự quy định nhưng không vượt quá 12 hải lí tính từ đường cơ sở [5]

Trang 33

- Vùng lòng đất: là toàn bộ phần nằm dưới vùng đất và vùng nước thuộc chủ quyền quốc gia Theo nguyên tắc chung được mặc nhiên thừa nhận thì vùng lòng đất được kéo dài tới tận tâm Trái Đất [5]

- Vùng trời: là khoảng không bao trùm lên vùng đất và vùng nước của quốc gia [5]

- Vùng lãnh thổ đặc biệt: Tàu thuyền, máy bay, các phương tiện mang

cờ dấu hiệu riêng biệt và hợp pháp của quốc gia , hoạt động trên vùng biển quốc tế, vùng nam cực, khoảng không vũ trụ ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia mình được thừa nhận như một phần lãnh thổ quốc gia [5]

b) Chủ quyền lãnh thổ quốc gia

* Khái niệm về chủ quyền lãnh thổ quốc gia

Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao, tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, quốc gia có quyền đặt ra quy chế pháp li đối với lãnh thổ Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với lãnh thổ thông qua hoạt động của nhà nước nhự lập pháp và tư pháp [5]

* Nội dung chủ quyền lãnh thổ quốc gia

Lãnh thổ quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn riêng biệt của một quốc gia

- Quốc gia có quyền tự lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với cộng đồng cư dân sống trên lãnh thổ mà không có sự can thiệp áp đặt dưới bất kì hình thức nào từ bên ngoài [5]

- Quốc gia có quyền tự do lựa chọn phương hướng phát triển đất nước, thực hiện những cải cách kinh tế, xã hội phù hợp với đặc điểm quốc gia.Các quốc gia khác, các tổ chức quốc tế phải có nghĩa vụ tôn trọng sự lựa chọn đó [5]

- Quốc gia tự quy định chế độ pháp lí đối với từng vùng lãnh thổ

- Quốc gia có quyền sở hữu hoàn toàn tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ của mình

Trang 34

- Quốc gia thực hiện quyền tài phán (xét xử) đối với những người thuộc phạm vi lãnh thổ của mình (trừ những trường hợp pháp luật quốc gia, hoặc điều ước quốc tế mà quốc gia đó tham gia là thành viên có quy định khác) [5]

- Quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thích hợp đối với những Công ty đầu tư trên lãnh thổ mình

- Quốc gia có quyền và nghĩa vụ bảo vệ, cải tạo lãnh thổ quốc gia theo nguyên tắc chung quốc tế, có quyền thay đổi lãnh thổ phù hợp với pháp luật và lợi ích của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ đó [5]

1.1.1.2 Biên giới quốc gia và bảo vệ an ninh biên giới quốc gia

a) Biên giới quốc gia

* Khái niệm về biên giới quốc gia

Biên giới quốc gia là ranh giới phân định lãnh thổ của quốc gia này với lãnh thổ của quốc gia khác hoặc các vùng mà quốc gia có quyền chủ quyền trên

biển Luật biên giới quốc gia của Việt Nam năm 2003 xác định: “Biên giới

quốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt phẳng thẳng đứng theo các đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [27]

* Các bộ phận cấu thành biên giới quốc gia:

Bốn bộ phận cấu thành biên giới là: biên giới trên đất liền, biên giới trên biển, biên giới lòng đất và biên giới trên không

- Biên giới quốc gia trên đất liền: là đường phân chia chủ quyền lãnh thổ đất liền của một quốc gia với quốc gia khác [5]

- Biên giới quốc gia trên biển: có thể có hai phần:

+ Một phần là đường phân định nội thuỷ, lãnh hải giữa các nước có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau

+ Một phần là đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải để phân cách với các biển và thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển [5]

Trang 35

- Biên giới lòng đất của quốc gia: là biên giới được xác định bằng mặt thẳng đứng đi qua đường biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển xuống lòng đất, độ sâu tới tâm Trái Đất [5]

- Biên giới trên không: là biên giới vùng trời của quốc gia, gồm hai phần:

+ Phần thứ nhất, là biên giới bên sườn được xác định bằng mặt thẳng đứng đi qua đường biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển của quốc gia lên không trung

+ Phần thứ hai, là phần giới quốc trên cao để phân định ranh giới vùng trời thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của giới quốc và khoảng không gian vũ trụ phía trên [5]

b) Xác định biên giới quốc gia Việt Nam

* Nguyên tắc cơ bản xác định biên giới quốc gia:

- Các nước trên thế giới cũng như Việt Nam đều tiến hành xác định biên giới bằng hai cách cơ bản sau:

Thứ nhất, các nước có chung biên giới và ranh giới trên biển (nếu có) thương lượng để giải quyết vấn đề xác định biên giới quốc gia

Thứ hai, đối với biên giới giáp với các vùng biển thuộc quyền chủ quyền

và quyền tài phán quốc gia, Nhà nước tự quy định biên giới trên biển phù hợp với các quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 [5]

- Ở Việt Nam, mọi ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về biên giới của Chính phủ phải được Quốc hội phê chuẩn thì điều ước quốc tế ấy mới có hiệu lực đối với Việt Nam [5]

* Cách xác định biên giới quốc gia:

Mỗi loại biên giới quốc gia được xác định theo các cách khác nhau:

- Xác định biên giới quốc gia trên đất liền: được hoạch định và đánh dấu trên thực địa bằng hệ thống mốc quốc giới

+ Nguyên tắc chung hoạch định biên giới quốc gia trên đất liền bao gồm:

• Biên giới quốc gia trên đất liền được xác định theo các điểm (toạ độ, điểm cao), đường (đường thẳng, đường sống núi, đường cái, đường mòn), vật chuẩn (cù lao, bãi bồi)

Trang 36

• Biên giới quốc gia trên sông, suối được xác định:

Trên sông mà tàu thuyền đi lại được, biên giới được xác định theo giữa lạch của sông hoặc lạch chính của sông

Trên sông, suối mà tàu thuyền không đi lại được thì biên giới theo giữa sông, suối đó Trường hợp sông, suối đổi dòng thì biên giới vẫn giữ nguyên Biên giới trên cầu bắc qua sông, suối được xác định chính giữa cầu không kể biên giới dưới sông, suối như thế nào [5]

+ Phương pháp để cố định đường biên giới quốc gia:

• Dùng tài liệu ghi lại đường biên giới

- Xác định biên giới quốc gia trên biển:

Biên giới quốc gia trên biển được hoạch định và đánh dấu bằng các toạ

độ trên hải đồ, là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo Việt Nam được xác định bằng pháp luật Việt Nam phù hợp với Công ước năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các quốc gia hữu quan [5]

- Xác định biên giới quốc gia trong lòng đất:

Biên giới quốc gia trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất

Mặt thẳng đứng từ ranh giới phía ngoài vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982

và các điều ước giữa Việt Nam và quốc gia hữu quan [5]

Trang 37

- Xác định biên giới quốc gia trên không:

Biên giới quốc gia trên không là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời

Biên giới quốc gia trên không xác định chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt khoảng không gian bao trùm trên lãnh thổ, do quốc gia tự xác định và các nước mặc nhiên thừa nhận Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về vùng trời Việt Nam ngày 5/6/1984 xác định: "Vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là không gian ở trên đất liền, nội thuỷ, lãnh hải và các đảo của Việt Nam và thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [5]

c) Các khái niệm và nội dung khác liên quan đến lãnh thổ và biên giới quốc gia

- Mốc quốc giới là dấu hiệu bằng vật thể dùng để đánh dấu đường biên giới quốc gia trên đất liền [27]

- Cửa khẩu là nơi thực hiện việc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu và qua lại biên giới quốc gia bao gồm cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu đường sắt, cửa khẩu đường thuỷ nội địa, cửa khẩu đường hàng hải và cửa khẩu đường hàng không [27]

- Lối mở biên giới (đường qua lại chợ biên giới, cặp chợ biên giới; điểm thông quan hàng hóa biên giới; đường qua lại tạm thời) được mở cho cư dân biên giới hai bên, phương tiện, hàng hóa của cư dân biên giới hai bên qua lại và các trường hợp khác nhằm thực hiện chính, sách thương mại biên giới theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; hoặc được mở trong trường hợp bất khả kháng hay yêu cầu đặc biệt của hai bên biên giới [10]

- Khu vực biên giới: Phạm vi khu vực biên giới trên đất liền tính từ biên giới quốc gia trên đất liền vào hết địa giới hành chính của xã, phường, thị trấn

có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền Phạm vi khu vực biên giới trên biển tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính của xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo [8]

Trang 38

- Vành đai biên giới là phần lãnh thổ từ đường biên giới quốc gia trở vào, được thiết lập nhằm quản lý, kiểm soát các hoạt động của người, phương tiện trong vành đai biên giới; duy trì an ninh, trật tự và phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật; nơi hẹp nhất 100 m, nơi rộng nhất không quá 1.000 m, trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quy định [9]

1.1.1.3 Phân định và cắm mốc biên giới giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng

a) Sự hình thành biên giới quốc gia Việt Nam

Cùng với việc hình thành và mở rộng lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt nam cũng dần dần hoàn thiện

Tuyến biên giới đất liền: Biên giới Việt Nam - Trung Quốc dài 1449,566

km đã được hai nước kí kết Hiệp ước quốc gia trên đất liền, đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc và kí hiệp định quy chế quản lí biên giới Biên giới Việt nam - Lào dài 2340km được hoạch định và phân giới cắm mốc theo Hiệp ước hoach định biên giới ngày 18/7/1977, hiện nay hai nước thỏa thuận tôn tạo, tăng dày hệ thống mốc quốc giới Biên giới Việt Nam - Campuchia dài 1137

km, được hoạch định theo Hiệp ước 27/2/1985, Hiệp ước bổ sung ngày 10/10/2005 và hai nước thỏa thuận tiến hành phân giới cắm mốc [5]

Tuyến biển đảo Việt Nam đã xác định được 12 điểm để xác định đường

cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải theo tuyên bố ngày 12/11/1982 của chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ điểm 0 đến điểm A11) Đã đàm phán với Trung Quốc kí Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000 Ngày 7/7/1982, Việt Nam đã kí kết với Campuchia thiết lập vùng nước lịch sử giữa hai nước Đồng thời đã kí các Hiệp định phân định biển với Thái Lan, Inđônêxia Như vậy, Việt Nam còn phải giải quyết phân định biển với Trung Quốc trên Biển Đông và chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; với Campuchia về vấn đề biên giới trên biển; với Malaixia về chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; với Philippin về tranh chấp

Trang 39

trên quần đảo Trường Sa Sau khi giải quyết xong những vấn đề trên, Việt Nam mới có thể xác định chính xác, đầy đủ biên giới quốc gia trên biển và các ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam [5]

b) Phân định và cắm mốc biên giới trên đất liền với các quốc gia láng giềng

* Phân định và cắm mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc

- Quá trình phân giới và cắm mốc:

Ngay sau khi ký Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, hai bên đã thành lập Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc; thỏa thuận chia đường biên giới Việt - Trung thành 12 đoạn, giao cho 12 nhóm liên hợp phối hợp tiến hành công tác phân giới cắm mốc trên thực địa [37]

Tháng 12/2001, hai bên tiến hành cắm cột mốc đầu tiên tại cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh - Việt Nam) - Đông Hưng (Quảng Tây - Trung Quốc)

Từ tháng 10/2002, hai bên đồng loạt triển khai phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung [37]

Suốt 8 năm, hai bên đã cùng nhau cố gắng giải quyết các vấn đề trên thực địa và trong đàm phán trên tinh thần thông cảm và chiếu cố đến mối quan tâm của nhau nhằm tìm ra một giải pháp công bằng, phù hợp với lời văn và tinh thần của Hiệp ước 1999 Hai bên đã tiến hành 13 vòng đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ và rất nhiều cuộc gặp hai Trưởng đoàn; 31 vòng đàm phán cấp Chủ tịch Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc Càng về cuối đàm phán càng khó khăn phức tạp Riêng trong năm 2008, hai bên đã tiến hành 11 vòng đàm phán cấp Chủ tịch Ủy ban liên hợp, vòng ngắn nhất kéo dài 9 ngày, vòng dài nhất kéo dài 23 ngày, phiên họp dài nhất tiến hành liên tục suốt hơn 30 giờ liền [37]

Ngày 31/12/2008, hai bên đã giải quyết dứt điểm toàn bộ các vấn đề còn tồn tại, hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc Hai trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên

Trang 40

giới lãnh thổ đã ra Tuyên bố chung về việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc đúng thời hạn như Lãnh đạo cấp cao hai nước đã thoả thuận [37]

- Kết quả phân giới và cắm mốc: Hai bên đã phân giới xong toàn bộ tuyến biên giới đất liền Việt - Trung dài 1449,566km; cắm tổng số 1971 cột mốc (trong đó có 01 mốc ba Việt Nam - Trung Quốc - Lào; 1548 cột mốc chính; 422 cột mốc phụ) Hệ thống mốc giới này đã được đánh dấu, ghi nhận và

mô tả phù hợp với địa hình thực tế một cách khách quan, khoa học, chi tiết Nếu so sánh với đường biên giới của các nước trên thế giới, đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc được đánh giá là có mức độ cột mốc dầy đặc và rõ ràng nhất, được xác định theo phương pháp hiện đại đảm bảo tính trung thực và bền vững lâu dài [37]

Kết quả trên là thỏa đáng, hợp tình, hợp lý, đáp ứng yêu cầu của cả hai bên, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản mà hai bên đã thỏa thuận Đường biên giới được xác lập trên thực địa về cơ bản theo đúng đường biên giới trong Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc 1999 Đối với một số nơi, hai bên cùng điều chỉnh theo nguyên tắc cân bằng về lợi ích và diện tích nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý và không gây xáo trộn đối với cuộc sống của

cư dân biên giới [37]

Ngày 23/2/2009, ta và Trung Quốc đã long trọng tổ chức Lễ chào mừng hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc tại cửa khẩu Hữu Nghị - Hữu Nghị quan Đây là một sự kiện quan trọng không chỉ đối với nước ta và quan hệ Việt - Trung mà còn đối với cả khu vực [37]

* Phân định và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào

Thực hiện điều IV Hiệp ước hoạch định biên giới, hai bên đã thành lập

Ủy ban liên hợp phân giới trên thực địa để tiến hành phân giới cắm mốc toàn

bộ đường biên giới Việt Nam - Lào [50]

Ngày đăng: 10/08/2018, 16:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w