U nang buồng trứng chiếm 4,46 %, viêm tử cung chiếm 5,35 % khá cao so với một số khảo sát khác, bệnh này không gây chết hàng loạt nhưng có ảnh hưởng lớn và để lại hậu quả về sau đối với
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT BỆNH TÍCH TRÊN CƠ QUAN SINH DỤC, PHỔI, THẬN, DẠ DÀY CỦA HEO NÁI THẢI LOẠI TẠI LÒ MỔ TÂN MỸ CHÁNH, THÀNH PHỐ
MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
Họ và tên sinh viên : DƯƠNG VĂN THÔNG
Niên khóa : 2005 - 2009
Tháng 9 - 2009
Trang 2KHẢO SÁT BỆNH TÍCH TRÊN CƠ QUAN SINH DỤC, PHỔI, THẬN, DẠ DÀY CỦA HEO NÁI THẢI LOẠI TẠI LÒ MỔ TÂN MỸ CHÁNH, TP MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
Tác giả
DƯƠNG VĂN THÔNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầucấp bằng Kỹ sư ngành Chăn Nuôi
Giáo viên hướng dẫn
Th.S VÕ VĂN NINH
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Chân thành cảm ơn
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng toàn thể quý thầy cô trong khoa
đã hết lòng giảng dạy, chỉ bảo và truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập
Thầy Th.S Võ Văn Ninh đã hết lòng giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Ban lãnh đạo Chi Cục Thú Y tỉnh Tiền Giang
Th.S Lê Minh Khánh Chi Cục Trưởng – Chi Cục Thú Y tỉnh Tiền Giang
Anh Hồ Quỳnh Mai trưởng phòng xét nghiệm – Chi Cục Thú Y tỉnh Tiền Giang
Toàn thể cán bộ công nhân viên chức của Chi Cục Thú Y tỉnh Tiền Giang, đặc biệt là các anh chị trong phòng xét nghiệm đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp
Các bạn trong lớp Chăn Nuôi Khóa 31 (DH05CN) đã giúp đỡ và động viên tôi vượt qua khó khăn trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Người thực hiện
Dương Văn Thông
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài “Khảo sát bệnh tích trên cơ quan sinh dục, phổi, thận, dạ dày của
heo nái thải loại tại lò mổ Tân Mỹ Chánh, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang” được
thực hiện trong thời gian từ 09/03/2009 đến 09/06/2009 Thực hiện đề tài nhằm phát hiện và xác định tỷ lệ bệnh tích trên phổi, thận, dạ dày, cơ quan sinh dục của heo nái được giết mổ tại lò mổ Tân Mỹ Chánh ảnh hưởng đến khả năng sinh sản gây vô sinh, chậm sinh và loại thải nái Qua quá trình khảo sát chúng tôi ghi nhận có 224 heo nái được giết mổ trong đó có 108 có biểu hiện bệnh tích trên các cơ quan khảo sát, 116 con còn lại bị loại thải có thể vì các nguyên nhân khác
Trong 108 con biểu hiện bệnh tích có 93 con bệnh tích đơn và 15 con bị bệnh tích ghép Tỷ lệ bệnh tích từng cơ quan sau khi đã tổng hợp bệnh tích đơn và bệnh tích ghép như sau:
- Bệnh tích trên phổi có 48 con, chiếm 21,43 % trên tổng số khảo sát
- Bệnh tích trên thận có 18 con, chiếm 8,04 % trên tổng số khảo sát
- Bệnh tích trên dạ dày có 19 con, chiếm 8,48 % trên tổng số khảo sát
- Bệnh tích trên cơ quan sinh dục có 42 con, chiếm 18,75 % trên tổng số khảo sát
Bệnh tích khảo sát được chủ yếu tập trung ở phổi và cơ quan sinh dục (40,18 % tính trên tổng số khảo sát) Trên cơ quan sinh dục tỷ lệ bệnh tích như sau: tử cung chiếm 10,71 %, buồng trứng chiếm 6,70 %, ống dẫn trứng chiếm 1,34 % U nang buồng trứng chiếm 4,46 %, viêm tử cung chiếm 5,35 % khá cao so với một số khảo sát khác, bệnh này không gây chết hàng loạt nhưng có ảnh hưởng lớn và để lại hậu quả về sau đối với sự sinh sản của heo nái rất lớn Do đó, cần thường xuyên theo dõi sức sinh sản của heo nái để phát hiện sớm bệnh và loại thải đúng lúc nhằm giảm tối thiểu thiệt hại về kinh tế
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các bảng vii
Danh sách các biểu đồ viii
Danh sách các hình ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Giới thiệu sơ lược về lò mổ Tân Mỹ Chánh 3
2.2 Cấu tạo và chức năng của phổi, thận, dạ dày và cơ quan sinh dục của heo nái 3
2.2.1 Phổi 3
2.2.2 Thận 5
2.2.3 Dạ dày 8
2.2.4 Cơ quan sinh dục cái 9
2.2.4.1 Buồng trứng 10
2.2.4.2 Ống dẫn trứng 11
2.2.4.3 Tử cung 12
2.2.4.4 Cổ tử cung 12
2.2.4.5 Âm đạo 13
2.2.4.6 Âm hộ 13
2.3 Cơ sở lý luận 14
2.4 Một số nguyên nhân dẫn đến hiện tượng vô sinh, chậm sinh trên heo nái 16
Trang 62.4.1 Nguyên nhân bên trong 16
2.4.1.1 Yếu tố di truyền 16
2.4.1.2 Rối loạn nội tiết tố 17
2.4.1.3 Tổn thương bộ phận sinh dục 17
2.4.2 Nguyên nhân bên ngoài 19
2.4.2.1 Dinh dưỡng 20
2.4.2.2 Lứa đẻ 23
2.4.2.3 Điều kiện ngoại cảnh, chăm sóc, quản lý tác động đến sự sinh sản 24
2.4.3 Nguyên nhân do bệnh 25
2.4.3.1 Bệnh sinh sản 25
2.4.3.2 Bệnh trên cơ quan khác 26
2.5 Các trường hợp vô sinh, chậm sinh 27
2.5.1 Không động dục, không xuất noãn, giảm sự thụ tinh gây vô sinh, chậm sinh 27
2.5.2 Sự chết phôi, chết thai 28
Chương 3 NỘI DỤNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 29
3.1 Địa điểm và thời gian khảo sát 29
3.2 Đối tượng khảo sát 29
3.3 Phương pháp khảo sát 29
3.4 Các chỉ tiêu khảo sát 30
3.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 30
Chượng 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Tỷ lệ bệnh tích đơn trên heo nái khảo sát 31
4.2 Tỷ lệ các dạng bệnh tích ghép trên heo nái khảo sát 32
4.3 Tỷ lệ bệnh tích từng cơ quan sau khi đã tổng hợp bệnh tích đơn và ghép 34
4.4 Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên phổi 35
4.5 Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên thận 38
4.6 Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên dạ dày 42
4.7 Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên cơ quan sinh dục 44
4.7.1 Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên buồng trứng 45
4.7.2 Biểu hiện bất thường trên tử cung 48
Trang 7Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Những hạn chế của đề tài 52
5.3 Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 55
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Tỷ lệ bệnh tích từng cơ quan trên heo có bệnh tích đơn 31
Bảng 4.2: Tỷ lệ các dạng bệnh tích ghép 33
Bảng 4.3: Tỷ lệ bệnh tích trên từng cơ quan khảo sát 34
Bảng 4.4: Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên phổi 36
Bảng 4.5: Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên thận 38
Bảng 4.6: Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên dạ dày 42
Bảng 4.7: Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên cơ quan sinh dục 44
Bảng 4.8: Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên buồng trứng 45
Bảng 4.9: Tỷ lệ các dạng bất thường trên tử cung 48
Trang 9DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ bệnh tích từng cơ quan trên heo có bệnh tích đơn 32
Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ các dạng bệnh tích ghép 34
Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ bệnh tích trên từng cơ quan khảo sát 35
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên phổi 36
Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên thận 39
Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên dạ dày 42
Biểu đồ 4.7: Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên cơ quan sinh dục 44
Biểu đồ 4.8: Tỷ lệ các dạng bệnh tích trên buồng trứng 46
Biểu đồ 4.9: Tỷ lệ các dạng bất thường trên tử cung 49
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cấu tạo phổi 3
Hình 2.2: Cấu tạo thận 6
Hình 2.3: Cấu tạo dạ dày 9
Hinh 2.4: Cấu tạo cơ quan sinh dục 10
Hình 4.1: Viêm phổi dính sườn 37
Hình 4.2: Viêm phổi hoại tử, thoái hóa tổ chức 37
Hình 4.3: Phổi nhục hóa 38
Hình 4.4: Thận xuất huyết 39
Hình 4.5: Hư thận nước 40
Hình 4.6: Viêm thận hoại tử, nhạt màu 41
Hình 4.7: Xuất huyết dạ dày 43
Hình 4.8: Loét dạ dày 43
Hình 4.9: U nang buồng trứng 46
Hình 4.10: U nước gần buồng trứng 47
Hình 4.11: Chết thai 50
Hình 4.12: Thai gỗ 50
Trang 11Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Đất nước ta ngày càng phát triển, đời sống vật chất và nhu cầu của người dân cũng ngày càng được nâng cao, nhu cầu về lương thực, thực phẩm đầy đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay đòi hỏi các ngành sản xuất phải tự hoàn thiện hơn nữa, nâng cao năng suất sản xuất, nâng cao tiêu chuẩn chất lượng để thỏa mãn nhu cầu này Chăn nuôi là một ngành rất được chú trọng trong việc tạo ra sản phẩm thịt, trứng, sữa với số lượng đủ lớn và đảm bảo chất lượng cho người tiêu dùng Ở nước ta, trong sản phẩm thịt cung cấp thì thịt heo là chủ yếu vì thế chăn nuôi heo rất được chú trọng và đây cũng là một ngành truyền thống có từ lâu đời
ở nước ta Để làm được điều này thì ngành chăn nuôi phải có một đàn heo nái vững mạnh, sức sản xuất cao, khả năng kháng bệnh tốt, …
Tuy nhiên, thực tế ngành chăn nuôi hiện này còn rất nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của đàn nái trong nước như: nhu cầu về con giống tốt, thức ăn, công tác thú y, qui trình kỹ thuật … tất cả những yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất đàn nái, khả năng sinh sản, khả năng chống lại các loại bệnh tật Các bệnh này sẽ gây ra những biến đổi bất thường trên cơ quan sinh dục, gây tổn thương đến các cơ quan làm nhiệm vụ cần thiết cho quá trình sống: hấp thu dưỡng chất, dưỡng khí, tiêu hủy các độc tố, loại thải các chất cặn bã và độc tố ra bên ngoài… Tất cả những biến đổi này khi tác động trên đàn heo nái có thể làm tổn thất rất nặng nề về kinh tế cho nhà chăn nuôi Khi những heo nái có các biểu hiện bệnh kể cả trên cơ quan sinh dục hay trên các cơ quan khác đều rất dễ xảy ra những rối loạn về sinh sản, làm rối loạn chu kỳ động dục, tỷ lệ thụ thai giảm, tăng tỷ lệ chết phôi, chết thai, tăng tỷ lệ thai dị hình, dễ gây sẩy thai, đẻ non, đẻ khó… hậu quả là làm giảm số lượng heo con trong một lứa, giảm số lứa đẻ, giảm số heo nuôi thịt cung cấp cho thị trường, nghiêm trọng hơn nữa có thể gây vô sinh cho heo nái và nhà chăn nuôi phải tiêu tốn thức ăn để nuôi heo nái thêm một thời gian trước khi đi đến quyết định cuối cùng là loại thải
Trang 12Do đó, việc làm tốt công tác giống, phát hiện bệnh kịp thời và các biện pháp phòng ngừa bệnh trên heo nái đang là một vấn đề rất được quan tâm hiện nay
Để tìm hiểu về bệnh các cơ quan trên đường sinh dục, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết của heo nái ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, gây vô sinh, chậm sinh, ảnh hưởng tới
sự phát triển của đàn heo tại khu vực TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Được sự phân công của Khoa Chăn Nuôi – Thú Y, sự hướng dẫn của Thầy Võ
Văn Ninh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát bệnh tích trên cơ quan
sinh dục, phổi, thận, dạ dày của heo nái thải loại tại lò mổ Tân Mỹ Chánh, TP
Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Tìm hiểu về một số bệnh tích trên cơ quan sinh dục, phổi, thận, dạ dày đối với heo nái sinh sản Từ đó tìm ra biện pháp giúp nâng cao năng suất sinh sản của heo nái
1.2.2 Yêu cầu
Theo dõi, nhận dạng, ghi nhận những dạng bệnh tích trên các cơ quan khảo sát, xác định tỷ lệ bệnh tích từng cơ quan đối với heo nái được giết mổ tại lò mổ
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 Giới thiệu sơ lược về lò mổ Tân Mỹ Chánh
• Địa chỉ: khu phố 2, phường 9, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
• Điện thoại liên lạc: 0733.851.213
• Lò mổ Tân Mỹ Chánh được thành lập vào tháng 9 năm 1998 thuộc hợp tác xã nông nhiệp Tân Mỹ Chánh với tổng diện tích 3.000 m2 bao gồm khu nhập, lưu giữ, giết mổ cả heo và bò và cả khu xử lý chất thải Riêng khu giết m
• Ban quản lý lò mổ gồm 4 người: 2 quản lý trực tiếp và 2 thủ kho
• Trung bình giết mổ khoảng 60 – 65 con/đêm
• Thời gian giết mổ từ 1h – 5h sáng
2.2 Cấu tạo và chức năng phổi, thận, dạ dày và cơ quan sinh dục của heo nái 2.2.1 Phổi
Trang 14Phổi chiếm phần lớn xoang ngực, phổi bình thường có màu hồng, mềm, xốp, nổi, đàn hồi, ấn vào nghe tiếng lào xào Hai lá phổi không giống nhau về hình dạng, kích thước và được bao bọc bên ngoài bằng màng phổi
Màng phổi là một màng tương dịch gồm 2 lá: lá thành và lá tạng
• Lá tạng phổi là màng mỏng bao bọc bên ngoài phổi đến tể phổi, liên tục với màng phổi giữa
• Lá thành phổi là một màng mỏng bao bọc xung quanh ngực một túi kín,
lá thành phủ mặt trong xương sườn, sụn sườn và cơ liên sườn gọi là màng phổi sườn Lá thành của mặt trước cách mô gọi là màng trước cách mô, bao phủ cửa trước gọi là màng phổi cổ, ngăn đôi xoang ngực gọi là màng phổi giữa Màng phổi bình thường láng vì có một chất nhờn làm trơn ướt bề mặt Dịch này tăng lên khi có viêm màng phổi, lúc đó màng phổi trở nên dày và có thể kết dính lá tạng và lá thành
Phổi chia làm nhiều thùy phổi Phổi trái có 3 thùy: thùy đỉnh, thùy tim và thùy hoành cách mô Phổi phải có 4 thùy: thùy đỉnh, thùy tim, thùy hoành cách mô và thùy trung gian (thùy lẻ, thùy Azygos) Thùy đỉnh phổi phải lớn hơn thùy đỉnh phổi trái
Hạch phổi gồm 2 hạch ở chổ chia đôi khí quản, 1 hạch ở phế quản đỉnh của phổi, 1 hạch ở phế quản trái
¾ Sự tương quan giữa cấu tạo và chức năng của phổi
Đối với heo thùy phổi có ít hệ thống thông khí thứ phát, điều này có ý nghĩa là
có sự cản trở ở một đường thông khí sẽ dẫn đến sự hư hại của một vùng nhu mô ở xa hơn và có khi là cả một tiểu thùy
Trái lại, ở chó mèo có sự tiếp xúc trung gian đối với vùng lân cận của phổi đều, duy trì chức năng tốt hơn của phế quản nếu có trường hợp một ống dẫn khí bị nghẹt, ngoại trừ trường hợp hệ thống bảo vệ bị quá tải
Ở đa số các loài, bệnh viêm phổi xảy ra ở thùy đỉnh và thùy tim, có lẽ ở hai thùy này là vùng chịu ảnh hưởng của trọng lực nhưng cũng có lẽ là bởi vì thùy này có
hệ thống thông khí thứ phát kém hơn thùy cách mô
¾ Cơ chế phòng vệ của phổi
Cơ chế phòng vệ của phổi có thể phân chia theo nhiều cách nhưng thông
Trang 15• Sự phòng vệ cấu trúc: cấu tạo giải phẩu của đường hô hấp trên giúp cho những vật có đường kính lớn hơn 10 µm không đến được phổi, đó là nhờ sự hiện diện của chất dịch và các nhung mao Phản xạ ho và co thắt phế quản cũng ngăn ngừa sự xâm nhập của hơi độc và các vật nhỏ đã xuyên qua được mũi
• Sự phòng vệ bởi các tế bào không chuyên biệt: Bên cạnh các hệ thống nhung mao có chất nhày và hệ thống miễn dịch chuyên biệt Các tế bào giữ một vai trò quan trọng, tế bào có khả năng thực bào dính ở phổi là các đại thực bào nằm trong vách phế nang Nó sẽ bắt giữ các vật lạ và đẩy xuyên qua hàng rào lông rung trong vòng 24 giờ, những tế bào này đóng vai trò như một nhạc trưởng, trình bày kháng nguyên cho các lympho bào, sản xuất interferon và hình thành nhiều chức năng khác
Tuy nhiên, chúng tạo ra một số tác hại trong một số điều kiện nào đó Tiết ra enzyme phân hủy sợi keo đàn hồi rồi giải phóng vào nhu mô phổi làm mô phổi bị hư hại Chúng hoạt động hữu hiệu hơn đại thực bào nhưng do chúng chết trong quá trình thực bào nên cũng tạo tác hại xấu trên phổi
• Sự phòng vệ bởi tế bào chuyên biệt: đó là nhờ vai trò của lympho bào và các loại tế bào chuyên biệt hóa từ nó Chúng tạo ra kháng thể, hoạt hóa hệ bổ thể tham gia vào quá trình bảo vệ
• Sự phòng vệ do chế tiết: hai trong số những yếu tố phòng vệ nhờ quá trình chế tiết là hệ thống lông rung có chất nhầy và hệ kháng thể chuyên biệt
Những loại khác là interferon do đại thực bào Những yếu tố này có thể ngăn ngừa sự sinh sản của virus hoặc những vi trùng khác hay đóng vai trò trung gian của chất hướng động, phân hủy tế bào hoặc chế tạo ra chất enzyme bảo vệ (antitrypsin)
2.2.2 Thận
¾ Cấu tạo thận
Thận có màu đỏ, mềm hình hạt đậu, bề mặt trơn láng và không phân thùy Hai quả thận nằm sát thành bụng trên và nằm đối xứng nhau phía dưới những mấu ngang của 4 đốt sống thắt lưng đầu trên, thận trái thường xa về phía trước hơn thận phải một chút, trọng lượng thận khoảng 1 % so với trọng lượng cơ thể
Bao ngoài thận là mô liên kết có nhiều sợi đàn hồi, rốn thận là nơi động mạch
đi vào và tĩnh mạch ống dẫn tiểu đi ra
Trang 16Thận gồm hai vùng: vùng vỏ và vùng tủy Vùng vỏ nằm sát bao liên kết có màu
đỏ sẫm, phần còn lại là vùng tủy có màu vàng hình khía dọc Cả vùng vỏ và vùng tủy
có nhiều thùy Tủy thận heo có 10 – 15 tiểu thùy được gọi là tháp Mỗi tháp có đáy rộng hướng về vùng vỏ, trong lúc đỉnh tháp hay nhú thận nhô vào phểu, gọi là bể thận,
là phần đầu đường dẫn tiểu Phần cuối cùng đơn vị thận là ống góp, mở rộng vào nhú thận, đẩy nước tiểu vào bể thận
Mạch máu: máu vào thận bằng động mạch thận sau đó chia nhánh thành động mạch gian thùy chạy trong mô liên kết rồi tạo thành động mạch hình cung chạy song song mặt đất Những nhánh khác đi vào miền tủy tạo lưới mao mạch miền tủy, bao quanh các ống thận Quản cầu thận sau khi tập hợp thành động mạch đi ra tạo thành một lưới mao mạch bao quanh các ống thận ở miền vỏ Cuối cùng máu sẽ tập hợp lại thành hệ thống tĩnh mạch tương đương và ra khỏi thận bằng tĩnh mạch thận
Hình 2.2: Cấu tạo thận
Trang 17Ống thận: là những ống nhỏ có đường kính và kích thước thay đổi tùy theo ống,
có đoạn chạy xoắn, có đoạn chạy thẳng gồm: ống lượn gần, quai Henle, ống lượn xa
và ống góp
¾ Chức năng của thận
Theo Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang (2006), thận giữ chức năng loại thải chất ngoại bào và các chất hữu cơ tạo ra trong quá trình biến dưỡng cơ thể Sản phẩm loại thải gồm urea được tạo ra từ biến dưỡng protein, sắc tố mật được tạo ra từ phân hủy hemoglobin Sắc tố mật làm nước tiểu có màu vàng Trong lúc loại thải các chất cặn bả, thận tái hấp thu các chất quan trọng như glucose, acid amin và protein, ngăn không cho chúng bị mất trong nước tiểu
Ngoài chức năng loại thải và tái hấp thu các chất thì thận còn tham gia các chức năng khác
- Ổn định áp suất thẩm thấu và thể tích dịch ngoại bào
- Điều hòa nồng độ ion trong dịch ngoại bào
- Loại thải các chất lạ từ bên ngoài đưa vào máu
- Cân bằng acide – base bằng cách loại thải ion H+ và HCO3- trong nước tiểu
- Sản xuất glucose từ các chất khác nhau không phải carbohydrate, vì vậy giúp giảm tối đa hàm lượng glucose máu lúc nhịn đói kéo dài
- Sản xuất kích thích tố erythropoietin kích thích tạo và trưởng thành hồng cầu
- Sản xuất calcitriol (dạng hoạt động của vitamin D) ở ống xoắn gần bằng cách gắn nhóm hydroxyl (OH) vào 25 (OH) – vitamin D thành 1,25 (OH)2 – vitamin D
Trang 18(calcitriol) Calcitriol hoạt động như một kích thích tố điều hòa biến dưỡng calci bằng cách tăng vận chuyển ion calci và ion phospho từ ruột vào máu
- Sản xuất renin điều hòa sản xuất angiotensin II làm tăng thể tích dịch ngoại bào và tăng huyết áp
Để thực hiện tốt chức năng thận thường phối hợp với sự hoạt động của các cơ quan khác Ví dụ, khi điều hòa pH, thận phối hợp với hệ thống hô hấp Khi loại thải nước tiểu và hấp thu các chất dinh dưỡng thận phối hợp với hệ thống tuần hoàn
2.2.3 Dạ dày
¾ Cơ thể học
Dạ dày gồm thượng vị, đáy vị, thân vị, hạ vị Thượng vị là phần nhỏ nhất Riêng ở heo thượng vị là phần có kích thước lớn và thức ăn dự trữ ở đây Thân vị là buồng trộn thức ăn với nước bọt và dịch vị Cơ hạ vị rất phát triển để trộn thức ăn Cơ vòng hạ vị hoạt động như van điều hòa thức ăn từ dạ dày vào ruột non
Chất nhày dạ dày được tiết từ nhiều loại tế bào khác nhau làm nhiệm vụ bảo vệ niêm mạc dạ dày tránh bị tổn thương cơ giới hoặc bị tấn công bởi acid Chất nhày giảm làm dạ dày dễ bị loét Tế bào biểu mô tạo thành những lỗ ăn sâu vào trong thành
dạ dày khoảng 1 – 3 cm Phân tiết dịch vị do tuyến hình ống gọi là dịch vị Tuyến vị là tuyến ống hình trụ, phân tiết dịch vị qua lỗ tuyến Hầu hết, dịch vị được sản xuất ở vùng thân và hạ vị Tuyến vị ở các phần này có bốn loại là: tế bào tiết chất nhày, tế bào thành, tế bào chính và tế bào tiết kích thích tố
Tế bào ở cổ tuyến tiết chất nhày có độ nhớt cao Chất nhày ít nhớt hơn được sản xuất bởi tế bào tiết biểu mô trên bề mặt dạ dày Chất nhày bảo vệ niêm mạc dạ dày chống tác dụng của acid HCl Sâu vào trong tuyến vị ở vùng thân và hạ vị là tế bào thành và tế bào chính Tế bào thành tiết acid HCl và yếu tố nội tại glucoprotein hấp thu
B12 Tế bào chính sản xuất pepsinogen và chất nhày Tuyến dạ dày cũng tiết vài kích thích tố như là tế bào G tiết gastrin vào máu làm tăng phân tiết HCl và dịch vị Tế bào tiết kích thích tố có vùng đáy rộng đối diện với lòng tuyến vị Histamin phóng thích từ
tế bào ECL phụ thuộc vào kích thích, nó hoạt động như là một kích thích tố, kích thích tiết acid HCl bằng cách tiếp nhận với điểm tiếp nhận trên tế bào thành kế cận
Trang 19Cơ vòng thực quản
Thượng vị Tâm vị
ăn trong dạ dày vào ruột với tốc độ vừa phải để hiệu quả tiêu hóa cao
Thức ăn nhào trộn với dịch vị nhờ tế bào cơ trơn dạ dày co dãn làm lượng thức
ăn lớn thành hỗn hợp dịch lỏng phân tán Hỗn hợp thức ăn và chất tiết ống tiêu hóa đi vào dạ dày gọi là dưỡng trấp Tiêu hóa và hấp thu ở ruột non hiệu quả nhất khi ruột non nhận hỗn hợp dịch lỏng có phân tử nhỏ từ dạ dày (theo Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006)
2.2.4 Cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục cái
Bộ phận sinh dục cái gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, cổ tử cung,
âm đạo và phần sinh dục phía ngoài Về cấu trúc của thành ống, mỗi phần của đường sinh dục có 4 lớp: lớp ngoài cùng là màng tương nối kết với màng phúc mạc của mặt trong thành bụng; lớp cơ trơn gồm lớp cơ dọc và lớp cơ tròn; lớp dưới màng nhày chứa mạch máu, dây thần kinh và bạch huyết; lớp màng nhày (màng niêm) lót mặt trong của đường sinh dục, gồm một lớp tế bào biểu mô có khả năng phân tiết Lớp màng nhày cùng với lớp dưới màng nhày được gọi là lớp nội mạc
Trang 20Hình 2.4: Cơ quan sinh dục cái 2.2.4.1 Buồng trứng
Buồng trứng giống như khối u tròn với chức năng cơ bản là tạo giao tử cái (noãn) và tiết các kích thích tố estrogen, progesterone, oxytocin, relaxin, inhibin và activin Inhibin là một glycoprotein do nang noãn tiết, có tác dụng ức chế phân tiết FSH Activin là một protein trong dịch nang noãn, gây phân tiết FSH invitro nhưng chưa rõ tác dụng nên chưa được xem là kích thích tố
Không một bộ phận nào trong cơ thể trải qua những thay đổi lớn trong một thời gian ngắn mà ta có thể tiên đoán được như ở buồng trứng Thí dụ, trong vòng 3 tuần ở
bò, heo và ngựa, nang noãn phát triển và tiết kích thích tố estrogen, xuất noãn (rụng trứng), phần còn lại của nang noãn tạo thành thể vàng để tiết kích thích tố progesterone, sau đó thể vàng thoái biến, nang noãn mới tiếp tục phát triển và xuất noãn, như thế một chu kỳ động dục hoàn tất Điều này không những làm thay đổi hoạt động sinh lý lẫn hành vi của thú cái mà còn làm thay đổi hình thái của bản thân buồng trứng
Ở bề mặt của buồng trứng có một lớp mô liên kết (lớp áo) được bọc bởi lớp biểu mô hình khối Bên dưới lớp áo là lớp vỏ chứa các nang noãn, thể vàng, thể trắng (thể vàng thoái biến) Phần tủy của buồng trứng nằm ở giữa; gồm mạch máu, dây thần kinh, bạch huyết và mô liên kết
Trang 21Trên lớp vỏ buồng trứng, có thể gặp các loại nang noãn với các giai đoạn phát triển khác nhau Có bốn loại nang noãn trong buồng trứng Nang noãn nguyên thủy nhỏ nhất và noãn được bao bọc bởi một lớp tế bào vảy Nang noãn nguyên thủy phát triển thành nang noãn bậc một với đặc điểm là noãn được bao bọc bởi một lớp tế bào hình lập phương (tế bào nang) Khi được sinh ra, buồng trứng của thú cái đã có sẵn các nang noãn nguyên thủy và nang noãn bậc một cho hoạt động sinh sản suốt đời Nang noãn bậc một có thể thoái hóa hoặc phát triển thành nang noãn bậc hai nếu trở nên nhạy cảm với FSH Nang noãn bậc hai có hai hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng không
có xoang nang (khoảng trống chứa dịch nang) Thông thường, noãn của nang noãn bậc hai được bao bọc bởi một lớp trong suốt tương đối dày (vùng trong suốt) Nang noãn
có xoang được xem là nang noãn bậc ba, chứa dịch nang và có thể trở nên trội hẳn để chuẩn bị xuất noãn (nang Graaf) Nang noãn có xoang tương tự như vết phỏng trên bề mặt buồng trứng và có thể quan sát được bằng mắt trần Kích thước của nang noãn có xoang biến động khoảng nhỏ hơn 1 milimet đến vài centimet tùy theo giai đoạn phát triển hoặc thoái biến và tùy từng loài thú
Nang noãn có xoang gồm 3 lớp: lớp bao ngoài, lớp bao trong và lớp tế bào hạt Lớp bao ngoài là mô liên kết lỏng lẻo Lớp bao trong sản xuất kích thích tố androgen dưới ảnh hưởng của LH (kích tố thể vàng) Lớp tế bào hạt tách rời lớp bao trong bởi màng đáy mỏng Tế bào hạt sản xuất nhiều chất sinh học và trên bề mặt tế bào có thụ thể tiếp nhận LH Những chất quan trọng được sản xuất bởi tế bào hạt là estrogen, inhibin và dịch nang
Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất huyết tại chỗ Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết xuất huyết được gọi
là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều lần Sau đó, tế bào của lớp bao trong và lớp tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng Thể vàng tiết progesterone,
đó là kích thích tố cần thiết để duy trì sự mang thai
2.2.4.2 Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phểu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phểu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm khoảng ½ chiều dài ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có
Trang 22lông nhỏ Phần eo nối tiếp tử cung, có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh Trong ống dẫn trứng, tiết các chất để nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết ra các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi
đi vào tử cung
Nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng và di chuyển của phôi vào tử cung Ở heo,
sự co thắt của nơi tiếp giáp eo – tử cung tạo thành vật cản đối với tinh trùng để không quá nhiều tinh trùng đi đến phần rộng, nhờ đó tránh được hiện tượng nhiều tinh trùng xâm nhập vào noãn
2.2.4.3 Tử cung
Tử cung nối liền ống dẫn trứng với cổ tử cung Dựa vào hình thái của tử cung thì tử cung heo thuộc loại tử cung sừng kép: có hai sừng và một thân tử cung Chiều dài thay đổi tùy theo loài
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Trương lực co càng cao (tử cung trở nên cứng) khi có nhiều estrogen trong máu và trương lực co giảm (tử cung mềm) khi nhiều progesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung
Lớp nội mạc của tử cung có tác dụng tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi phát triển và duy trì sự sống cho tinh trùng Dưới ảnh hưởng của estrogen, các tuyến của tử cung phát triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn tròn lại Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tùy theo chu kỳ động dục
Một chức năng quan trọng khác của tử cung là gây thoái hóa thể vàng nếu thú không mang thai, nhờ vậy thú trở lại chu kỳ động dục mới Chất gây thoái biến thể vàng là prostaglandin F2α (PGF2α) được tiết bởi lớp nội mạc tử cung
2.2.4.4 Cổ tử cung
Cổ tử cung có thành dày và cấu trúc không phức tạp Hình dạng khác nhau tùy
Trang 23gấp) tùy loài phụ thuộc vào hình dạng của dương vật con đực Ví dụ, ở heo đực có dương vật hình xoắn nên heo cái có các vòng xen kẽ tuần tự theo chiều dài cổ tử cung làm cho dương vật có thể được giữ chặt ở cổ tử cung Như thế, khi phối giống heo, tinh dịch được đặt ở cổ tử cung
Vai trò của cổ tử cung là tiết chất nhày trong lúc động dục Chất nhày này còn làm trơn âm đạo, đẩy vật lạ và làm giảm sự xâm nhập của vi sinh vật vào tử cung trong lúc phối giống
Trong thời gian mang thai, cổ tử cung có tác dụng ngăn cách tử cung với môi trường bên ngoài bằng cách tạo một vật cản chứa chất nhày Dưới ảnh hưởng của progesterone, chất nhày của cổ tử cung trở nên đặc, có đặc tính giống như chất keo (hàn) các nếp gấp của cổ tử cung với nhau, do đó vật lạ không thể xâm nhập vào tử cung Nếu vết hàn này bị vỡ có thể gây nên sẩy thai, viêm nhiễm bộ phận sinh dục, chết thai do vi sinh vật xâm nhập
2.2.4.5 Âm đạo
Âm đạo là bộ phận dùng để giao phối và thải nước tiểu Lớp màng nhày thay đổi tùy theo vị trí trong âm đạo Vùng biểu mô âm đạo gần tử cung thì có hình trụ và tiết nhiều chất nhày
Phần sau của âm đạo (được gọi là tiền đình) thuộc đường sinh dục lẫn đường bài tiết Tiền đình nằm từ lỗ ống đái cho đến mép của âm môn Phần sau tiền đình có tuyến tiết chất nhày (tuyến Bartholin), những tuyến này tăng hoạt động khi thú động dục
2.2.4.6 Âm hộ
Âm hộ là phần ngoài của đường sinh dục và gồm hai mép âm môn Trong phần lớn trường hợp, mép âm môn khép lại để giảm thiểu sự xâm nhập của vật lạ vào âm đạo Mép âm môn có nhiều tuyến tiết chất nhày và tuyến mồ hôi Phần da nằm giữa hậu môn và chỗ tiếp giáp giữa hai mép âm môn có thể bị rách khi sinh do heo con lớn vóc hoặc nằm sai vị trí
Trong tiền đình có âm vật (gần chỗ tiếp giáp của mép âm môn), đó là bộ phận tương ứng với dương vật của thú đực và được phân bố nhiều thần kinh cảm giác Kích thích âm vật lúc gieo tinh nhân tạo có thể tăng tỷ lệ đậu thai (theo Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006)
Trang 242.3 Cơ sở lý luận
Chu kỳ động dục ở heo thường khoảng 17 – 27 ngày (trung bình 21 ngày) gồm
có 2 pha: pha nang noãn và pha thể vàng; chia làm bốn thời kỳ Pha nang noãn gồm thời kỳ trước động dục và thời kỳ động dục Pha thể vàng gồm kỳ sau động dục và thời
kỳ nghỉ ngơi; pha này kéo dài hơn pha nang noãn và chiếm khoảng 80 % thời gian của chu kỳ động dục
Tóm tắt chu kỳ động dục ở heo như sau:
• Thời kỳ trước động dục: dưới tác động của FSH và LH nang noãn phát triển
và tiết ra estrogen để đạt được đủ lượng estrogen trong máu cần thiết cho việc khởi động hành vi động dục
• Thời kỳ động dục: thú động dục, nang noãn trưởng thành và xuất noãn Hiện tượng xuất noãn là do hàm lượng cao của LH đưa đến một số thay đổi ở buồng trứng: tích tụ dịch chất để tăng áp lực, tăng tổng hợp collagenase để làm yếu mô liên kết ở bề mặt buồng trứng, tăng dòng máu đến buồng trứng và tích dịch ở mô quanh nang noãn trưởng thành, đồng thời nhiều prostaglandin được sản xuất ra trong dịch nang gây co tế bào cơ trơn ở buồng trứng
• Thời kỳ sau động dục: thể vàng phát triển và tiết progesterone dưới ảnh hưởng của LH
• Thời kỳ nghỉ ngơi: thể vàng tiết nhiều progesterone để chuẩn bị cho thời kỳ mang thai Thời kỳ này chấm dứt khi thể vàng thoái biến và lượng progesterone trong máu giảm Trong thời kỳ này nang noãn vẫn có thể phát triển nhưng không xuất noãn Như vậy, sau thời kỳ này sẽ có 2 trường hợp xảy ra đối với thể vàng: nếu không có sự thụ tinh thì thể vàng sẽ tồn tại một thời gian sau đó sẽ thoái biến để các nang noãn mới tiếp tục phát triển chuẩn bị cho 1 chu kỳ động dục mới; nhưng nếu có sự thụ tinh xảy
ra thì thể vàng sẽ tiếp tục được duy trì và tiết ra progesterone để hỗ trợ cho sự phát triển của phôi và bào thai Yếu tố hỗ trợ và thoái biến thể vàng:
¾ Thể vàng có 2 loại tế bào: tế bào lớn và tế bào nhỏ LH tác động lên thụ thể tiếp nhận trên tế bào nhỏ của thể vàng LH chính là yếu tố hỗ trợ thể vàng Estrogen có tác dụng kích thích thể vàng giúp đời sống của thể vàng được duy trì Chất tiết từ phôi ức chế sự phân tiết PGF2α từ tử
Trang 25¾ Trong thời kỳ nghỉ ngơi của chu kỳ động dục, oxytocin từ thể vàng tiết ra kích thích tử cung tiết PGF2α gây nên thoái hóa thể vàng PGF2α sẽ làm tăng tính thấm calci vào tế bào chất nên đưa đến chuỗi diễn biến làm chết tế bào thể vàng Ở heo, PGF2α chỉ tác động sau ngày thứ 12 của chu kỳ động dục.
Việc nắm vững từng thời kỳ của chu kỳ sinh dục để xác định đúng thời điểm phối giống là rất quan trọng có ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của heo nái Thường ở heo thì thời điểm phối giống vào khoảng 36 – 40 giờ sau khi bắt đầu động dục
Sau khi phối giống thì tinh trùng sẽ di chuyển trong bộ phận sinh dục cái đến 1/3 đoạn đầu ống dẫn trứng và thụ tinh ở đó Tinh trùng di chuyển được là nhờ sự cử động của bản thân tinh trùng và sự co bóp của tử cung (nhờ oxytocin từ tuyến yên và prostaglandin trong tinh dịch) Trong đường sinh dục con cái (khoảng 4 – 6 giờ đầu) tinh trùng hoàn thiện dần khả năng thụ tinh bao gồm: mất các phân tử protein ở bề mặt tinh trùng và thay đổi thành phần lipid của màng tinh trùng
Sau khi đã hoàn thiện khả năng thụ tinh nếu tinh trùng gặp trứng sẽ xảy ra hiện tượng thụ tinh để tạo thành hợp tử và sau đó là giai đoạn mang thai Ở heo thời gian mang thai thường kéo dài 110 – 118 ngày (trung bình 114 ngày) Hợp tử bắt đầu từ ngày thụ tinh đến ngày thứ 7, phôi từ ngày 8 – 28, thai từ ngày 29 đến khi sinh Ống dẫn trứng tiết ra nhiều dịch chất để nuôi dưỡng phôi dưới ảnh hưởng của progesterone nhờ tiến trình khuếch tán trong lúc phôi di chuyển xuống 2 sừng tử cung heo mẹ để làm tổ Khi đến sừng tử cung thì phôi vẫn còn lơ lửng ở xoang tử cung trong vài ngày Lúc này chính nhờ sự tiếp xúc và chất tiết của phôi đã làm ức chế tử cung phân tiết PGF2α ngăn cản sự thoái hóa thể vàng Khi phôi tăng kích thước thì tiến trình khuếch tán chất dinh dưỡng không đủ để cung cấp, cho nên lúc này đòi hỏi nhau thai hình thành và chuyển dần sang giai đoạn bào thai
Khi chuyển sang giai đoạn bào thai sự lưu thông chất dinh dưỡng giữa mẹ và con là thông qua nhau Chất dinh dưỡng phải cung cấp đầy đủ để thai có thể phát triển bình thường Do đó, phải có chế độ chăm sóc heo mẹ thật chu đáo Tuy nhiên tùy từng trường hợp thể trạng heo nái mà có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng thích hợp tránh tình trạng sinh khó do thai to khi chuyển sang giai đoạn sinh đẻ
Trang 26Thông thường lúc sắp sinh heo nái có biểu hiện rất rõ: ít ăn hoặc không ăn, kêu rên, phá chuồng, quầng ổ, tuyến vú phát triển, nặn vú thấy có sữa non …Heo nái sinh sản bình thường kéo dài khoảng 3 – 4 giờ (khoảng 15 – 20 phút/con) Sau khi sinh, nái chuyển sang giai đoạn nuôi con Thông thường heo nái nuôi con khoảng 24 – 28 ngày rồi cho heo con cai sữa là tốt nhất Tuy nhiên tùy điều kiện của mỗi trại có thể cai sữa sớm hơn (vào lúc 21 ngày tuổi) Sau cai sữa heo nái sẽ có một thời gian nghỉ ngơi để chờ phối giống lại cho chu kỳ sinh sản kế tiếp Cứ như vậy, heo nái sẽ sinh sản khoảng
6 – 7 lứa thì loại thải vì lúc này khả năng sinh sản đã giảm sút
Nếu nuôi dưỡng tốt thì khả năng sinh sản của heo nái cứ diễn ra theo một trình
tự như vậy cho đến khi loại thải vì nái già, khả năng sinh sản giảm Tuy nhiên, trong quá trình sinh sản heo nái có những bất thường, rối loạn chức năng sinh sản làm cho heo nái trở nên vô sinh hoặc chậm sinh thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nhà chăn nuôi Do đó, những nguyên nhân dẫn đến loại thải heo nái là một trong những điều mà nhà chăn nuôi cần phải quan tâm để có thể đề phòng và có biện pháp can thiệp kịp thời tránh gây tình trạng nghiêm trọng dẫn đến loại thải
2.4 Một số nguyên nhân dẫn đến hiện tượng vô sinh, chậm sinh trên heo nái sinh sản
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự vô sinh hay chậm sinh trên heo nái Ví dụ:
do di truyền, sự rối loạn chức năng sinh lý, quá già, bệnh tật, tình trạng sức khỏe, trạng thái chung của cơ thể, dinh dưỡng, môi trường (thời tiết, khí hậu), kỹ thuật chăm sóc,
kỹ thuật gieo tinh nhân tạo, khám thai, đỡ đẻ,…không hợp lý
Có thể chia thành những nhóm nguyên nhân chính sau:
2.4.1 Nguyên nhân bên trong
2.4.1.1 Yếu tố di truyền
Những rối loạn đột biến di truyền do sự tương tác và kết hợp gen không bình thường dẫn tới vô sinh, những gia súc này thường bị khuyết tật về cơ thể học của cơ quan sinh dục, hay tuyến sinh dục phát triển không đầy đủ Những rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục, tuyến sinh dục phát triển không đầy đủ hoặc không bình thường
là nguyên nhân trực tiếp gây nên vô sinh và chậm sinh, việc không động dục thường là hậu quả do giảm chức năng hoạt động của buồng trứng và một số tuyến Ảnh hưởng
Trang 27của yếu tố di truyền có thể gây ra hậu quả: thai chết, thai nhỏ, dị hình, và những bệnh
về máu
Nếu công tác giống không chặt chẽ sẽ sinh ra hiện tượng lai tạo đồng huyết, cận huyết cũng làm cho giống heo bị thoái hóa, chậm sinh, vô sinh Heo nái có chửa sẽ khó đẻ, thai yếu và dễ sinh ra các quái thai
2.4.1.2 Rối loạn nội tiết tố
Kích thích tố có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình động dục, mang thai, sinh đẻ
và kể cả quá trình nuôi con của heo nái Hoạt động của hệ thống nội tiết tố bị xáo trộn gây ra tình trạng mất cân bằng về sản xuất kích thích tố mà thường là bị thiếu và xem như là nguyên nhân gây vô sinh
Các kích dục tố của heo phát triển không bình thường khiến cho buồng trứng phát triển không ổn định, trứng không rụng hoặc rụng ít và không đều, khả năng thụ thai kém Ví dụ: nếu không có FSH hoặc FSH giảm tiết thì sẽ kéo theo tình trạng giảm tiết estrogen dẫn đến hàm lượng estrogen trong máu giảm thấp không đủ để khởi động hành vi động dục gây nên tình trạng không động dục
Progesterone từ thể vàng tiết ra cần thiết cho sự tồn tại của thai Nếu thiếu progesterone dễ gây ra tình trạng chết phôi vì progesterone có tác dụng kích thích tử cung và ống dẫn trứng tiết dịch chất nuôi dưỡng phôi lúc phôi di chuyển từ ống dẫn trứng đến sừng tử cung làm tổ và đồng thời nó cũng làm giảm sự co thắt của sừng tử cung để phôi có thể định vị, làm tổ và phát triển trong giai đoạn thai
Tuy nhiên, trong trường hợp tồn hoàng thể thì progesterone vẫn tiếp tục được tiết ra kìm hãm sự phát triển của noãn dẫn đến heo nái mất chu kỳ động dục Có nhiều nguyên nhân gây tồn hoàng thể, nhưng chủ yếu do có những vật thể tồn tại trong sừng
tử cung (phôi chết, thai chết, thai gỗ, u nhầy, tử cung có mủ )
Tỷ lệ FSH/LH không thích hợp cũng gây trở ngại cho sự rụng trứng, hàm lượng
LH quá thấp, con vật động dục quá mức, động dục liên tục hay kéo dài, những biểu hiện hưng phấn quá mạnh mẽ thường đa số không thụ thai sau khi phối
2.4.1.3 Tổn thương bộ phận sinh dục
Chế độ dinh dưỡng, nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, kỹ thuật gieo tinh nhân tạo,
kỹ thuật khám thai, kỹ thuật đỡ đẻ, sinh khó do thai lớn vóc, hư thai, thai chết lưu, viêm nhiễm từ bệnh ngoài… gây tổn thương bộ phận sinh dục, gây thoái hóa, thay đổi
Trang 28tổ chức các cơ quan sinh dục từ đó làm cho các cơ quan này mất chức năng trong quá trình sinh sản và cuối cùng gây nên hiện tượng vô sinh hoặc chậm sinh nếu cấu tạo và chức năng của các bộ phận này có thể phục hồi lại được
Một số tổn thương gây vô sinh ở heo nái như: u nang buồng trứng, tồn hoàng thể, teo buồng trứng, tắt ống dẫn trứng, khối u trong đường sinh dục, tắt cổ tử cung, niêm mạc tử cung bị thay đổi tổ chức, sừng hóa…
Buồng trứng có u nang thì những u nang này chèn ép sự phát triển của bao noãn dẫn đến mất động dục kéo dài hay vĩnh viễn, heo nái bị u nang buồng trứng dẫn đến hậu quả không chửa đẻ
Ngoài ra, cũng có những nang nước rất lớn trong bộ phận sinh dục heo nái Nang nước này có kích thước lớn nhỏ khác nhau 1 – 5 cm có thể lên đến 10 cm có ở khắp nơi trên bộ phận sinh dục gây chèn ép sự phát triển và trưởng thành của nang noãn, gây rối loạn chu kỳ động dục, đường sinh dục không được thông suốt làm cản trở quá trình thụ tinh, cản trở sự di chuyển, định vị và làm tổ của phôi, đối với những nang nước lớn còn có thể chèn ép thai, làm giảm thể tích sừng tử cung cần thiết cho sự phát triển bình thường của thai trong sừng tử cung
- Nang hoàng thể: do hoàng tuyến hoạt động mạnh, tiết nhiều progesterone, thường chỉ gặp trong thời kỳ mang thai
• U nang thực thể: xảy ra ở một bên hay cả hai bên buồng trứng Đa số là
u lành, tuy nhiên, cũng có trường hợp ác tính như:
Trang 29- U nang trứng nước: thường là những nước có thể có một nang rất lớn, thành dày, có 2 lớp ngoài cùng là một tổ chức xơ, trong nang là một tổ chức nước trong
- U nang nhày: thường hay gặp ở một bên buồng trứng, có thể rất to, có nhiều thùy, thành dày, trong là một thứ nước sánh đặc Lớp thành thường có hai lớp: ngoài là lớp xơ, trong là lớp thượng bì
- Nang bì: nang không to lắm, thường có thể gặp ở hai bên buồng trứng Thành nang có kiến trúc rất giống lớp tế bào thượng bì da, trong nang thường có chất nhày như bã đậu
¾ Thiểu năng và teo buồng trứng: có thể gặp ở nhiều loài gia súc khi
sinh sản nhiều hoặc già nua
• Triệu chứng: không động dục kéo dài hoặc động dục yếu và các giai đoạn không rõ ràng Buồng trứng bé hơn bình thường, không có thể vàng và cũng không có nang trứng phát triển
• Nguyên nhân gây thiểu năng và teo buồng trứng do nhiều yếu tố: dinh dưỡng kém, tỉ lệ FSH và LH do tuyến yên tiết ra không cân đối
Tử cung bị viêm nhiễm lâu ngày sẽ dẫn đến thay đổi cấu tạo, sừng hóa lớp biểu
mô làm cho tử cung trở nên cứng rắn, giảm đàn hồi làm cho phôi rất khó tìm được chỗ thích hợp để định vị trên tử cung và tử cung này sẽ không co dãn tốt khi thai đã lớn cần nhiều thể tích Ngoài ra nó cũng làm tử cung giảm tiết một số kích thích tố cần thiết cho quá trình sinh sản
Phần da nằm giữa hậu môn và chỗ tiếp giáp giữa hai mép âm môn có thể bị rách khi sinh do bởi heo con lớn vóc hoặc nằm sai vị trí Sinh khó làm cho heo rặn đẻ quá mức, heo bị suy nhược, sức khỏe yếu sau khi sinh, có thể dẫn đến sa âm đạo, sa tử cung gây viêm nhiễm ảnh hưởng đến lứa đẻ kế tiếp
2.4.2 Nguyên nhân bên ngoài
Dinh dưỡng khi nuôi con, chăm sóc, số lứa đẻ, khí hậu, mùa trong năm, thời gian nuôi con… là những nguyên nhân gây tác động mạnh đến chức năng sinh sản của heo nái
Trang 302.4.2.1 Dinh dưỡng
Trong quá trình sinh sản của heo nái, việc cung cấp một khẩu phần đầy đủ và cân bằng các dưỡng chất là rất quan trọng Do heo nái phải nuôi trong thời gian dài nên khi cơ thể có bất kỳ sự thay đổi nào trong lứa đẻ này đều có ảnh hưởng đến các lứa đẻ kế tiếp Cần phải cân đối khẩu phần protein, các chất khoáng, vitamin để có thể hạn chế được những thay đổi về mặt cơ thể cũng như chức năng các cơ quan do yếu tố dinh dưỡng gây ra
Ví dụ: Ở thời kỳ phôi thì nhu cầu dưỡng chất không cao vì chủ yếu phôi lấy chất dinh dưỡng từ noãn hoàng, ống dẫn trứng, tử cung nhưng nếu cho heo mẹ ăn quá nhiều sẽ ảnh hưởng xấu đến sự sống của phôi, làm phôi chết nhiều, giảm số con sơ sinh Thời kỳ này phôi di động dễ dàng nên rất dễ bị bong khỏi vị trí của nó ở màng sừng tử cung do vậy phải chăm sóc thú mẹ thật cẩn thận Nhưng ở giai đoạn thai (khoảng 39 – 114 ngày tuổi) thì nhu cầu dưỡng chất rất lớn vì vậy phải đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cả về số lượng lẫn chất lượng cho heo mẹ Tuy nhiên cũng cần phải định lượng khẩu phần cho heo mẹ để tránh tình trạng heo con quá to gây sinh khó
Nếu heo mẹ bị thiếu dưỡng chất trong giai đoạn nuôi con thì sức sản xuất sữa sẽ giảm, heo con chậm phát triển, giảm số trứng rụng ở các lứa kế tiếp, tỷ lệ phôi sống giảm và thời gian động dục kéo dài
Hiện nay người ta ứng dụng trong thực tế:
¾ Trước khi phối giống (2 – 3 tuần) thì tăng cao lượng thức ăn nhằm tăng
• Thai kỳ 2 (85 – 110 ngày): 2,5 kg/ngày/con
• Thai kỳ 3 (110 đến lúc sinh): 1,5 kg/ngày/con Khẩu phần nên có nhiều chất xơ để tạo độ no, nhuận trường, giúp heo nái sinh dễ hơn Tuy nhiên còn tùy thuộc vào thể trạng của heo nái mà tăng hoặc giảm khẩu
Trang 31Việc cho heo ăn nhiều chất bột, chất đường sẽ làm cho heo béo mập, nhiều mỡ Trong khi đó thiếu đạm và vitamin A, D, E sẽ làm cho buồng trứng chậm phát triển và làm chậm quá trình động dục hoặc không động dục ở heo, heo nái có chửa thì thai thường yếu và quái thai
Thông thường để đánh giá sự mập ốm của heo nái ta dựa vào điểm P2 Heo nuôi tốt có P2 từ 19 – 22 mm, nếu heo có P2 lớn hơn 23 mm là heo mập Khi heo nái mập (bị nâng) có tác hại là gây ra sự đẻ khó, tỷ lệ sót nhau cao do khả năng co thắt tử cung và cơ bụng yếu, mỡ bao quanh buồng trứng, tử cung do vậy đẻ con khó Heo nái quá mập thì sự hình thành tế bào trứng có thể tiếp tục, nhưng quá trình rụng trứng không thực hiện được do buồng trứng bị bao bọc một lớp mỡ dày đặc, các kích dục tố dạng steroid bị hấp thu vào mỡ, gây hiện tượng chậm động dục
Không cung cấp đủ nước uống cho heo sẽ gây ra hiện tượng táo bón và góp phần làm tăng hội chứng MMA (Mastitis – Metritis – Agalactie) Vì vậy cần cung cấp
đủ nước uống cho heo và đảm bảo nhiệt độ nước uống thích hợp
¾ Về protein
Theo Nguyễn Văn Thành (2003), khi nuôi nái mang thai khẩu phần quá thừa protein có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai, tăng tỷ lệ chết thai vì protein quá cao làm gan, thận tích lũy protein quá nhiều, gây mất cân bằng làm cản trở việc chuyển hóa hormone sinh dục, giảm sinh sản
Khẩu phần quá thiếu protein sẽ gây ức chế chức năng điều tiết thùy trước tuyến yên, khi FSH và LH tiết ra không đầy đủ làm heo nái chậm động dục Hao mòn của cơ thể heo nái trong quá trình nuôi con là nguyên nhân gây chậm động dục, sự hao mòn tăng dần từ lứa thứ 1 đến lứa thứ 5, sau đó giảm xuống đến các lứa sau, trong một lứa
sự hao mòn heo mẹ phụ thuộc vào số lứa đẻ, số con trong lứa, thời gian cai sữa muộn (50 – 60 ngày) và thường ảnh hưởng do nuôi dưỡng
Cung cấp thức ăn không cân đối và không đủ nước uống, cho nái ăn nhiều chất đạm, ít chất xơ và khoáng (chú ý nhất là thiếu calci và phosphor) trong giai đoạn cuối thai kỳ hoặc nái quá mập cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh MMA
¾ Về vitamin
Vitamin A: là một vitamin cần thiết cho sự sinh trưởng, sinh sản và kháng bệnh Thiếu vitamin A, lớp tế bào mầm để tạo ra tinh trùng và trứng sẽ bị thoái hóa Lớp tế
Trang 32bào mầm này rất cần cho heo đực và cái trong việc sản xuất ra giao tử, và nó rất nhạy cảm với sự thiếu vitamin A Thiếu vitamin A heo đực sản xuất ít tinh trùng, tinh trùng yếu, độ thụ tinh thấp; còn trên heo cái thì ít trứng rụng, gây bất thường chu kỳ động dục, giảm tỷ lệ đậu thai, đặc biệt vitamin A cần thiết để hình thành hoàng thể Nếu thiếu vitamin A trong giai đoạn đầu của thai kỳ cũng gây dị hình thai, heo con đẻ ra yếu ớt, chết nhiều hơn Làm cho lớp tế bào niêm mạc tử cung, cổ tử cung, ống dẫn trứng bị thoái hóa, sừng hóa làm cho bào thai chết khô trong tử cung, tạo điều kiện nhiễm trùng gây nên hội chứng MMA
Vai trò của caroten với sự sinh sản: caroten ngoài vai trò là một tiền chất của vitamin A nó còn có những vai trò sinh học riêng Caroten còn rất cần thiết cho sự hoạt động của thể vàng (nơi chứa nhiều caroten) Nếu thiếu caroten thì sự hoạt động của thể vàng sẽ bị trở ngại, sự tổng hợp progesterone cũng sẽ bị ngăn cản Hậu quả là sự động dục kéo dài, rối loạn chu kỳ động dục, có thể dẫn đến vô sinh
Vitamin D: nếu thiếu gây sẩy thai và ảnh hưởng đến trao đổi calci – phosphor Vitamin E: cần thiết cho sự sinh sản, thiếu vitamin E thì khả năng sinh sản của thú đực và cái đều giảm Ở thú đực gây thoái hóa tinh hoàn, tăng tinh trùng kỳ hình, kém hoạt lực Ở thú cái thì ít trứng rụng, sự định vị phôi kém, dễ bị sẩy thai, chết thai, heo con sau khi sinh yếu ớt, dễ bị bệnh tật…
Vitamin B: trong nhiều nghiên cứu cho thấy việc cung đạm thực vật thì thành phần acid amin và vitamin nhóm B thường không được cân đối và đầy đủ (so với khẩu phần cung đạm động vật, hay đạm thực vật có bổ sung thêm vitamin B12) thì thường làm cho thai chết sớm hơn
Thiếu vitamin B1 heo cái chậm động dục sau khi cai sữa Thiếu vitamin B2 sẽ làm cho heo chậm lớn, nhiều thai chết khô (thai gỗ), hoạt động sinh dục bất bình thường Vitamin B12 là yếu tố sinh trưởng cần thiết cho heo, nhất là heo con, heo cái mang thai Thiếu B12 heo chậm lớn, thiếu máu, đi không vững, sinh sản kém Vitamin
B9 cần thiết cho sự sinh trưởng, sinh sản, chống thiếu máu, trên heo nái rất cần thiết tăng số heo con đẻ ra còn sống trong mỗi lứa Thiếu B complex là nguyên nhân không thụ tinh ở heo