Vì thế trong chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng các yếu tố có ảnh hưởng đến sức sinh trưởng của gà như: giống, thức ăn, chăm sóc, thú y cần được quan tâm nhiều hơn nữa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
ههه ههه
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG TRÙN QUẾ
(Perionyx excavatus) TRONG KHẨU PHẦN
ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ
NĂNG SUẤT CỦA GÀ TA
Họ Tên Sinh Viên: DƯƠNG DUY CƯỜNG
Ngành: Thú Y Niên khóa: 2003 – 2008
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG TRÙN QUẾ
(Perionyx excavatus) TRONG KHẨU PHẦN
ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ
NĂNG SUẤT CỦA GÀ TA
Tác giả
DƯƠNG DUY CƯỜNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác Sĩ Thú Y
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực tập: DƯƠNG DUY CƯỜNG
Tên luận văn: “Ảnh hưởng của việc bổ sung trùn Quế (Perionyx excavatus)
trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng và năng suất của gà Ta”
Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý
kiến đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa ngày 25 - 26/06/2009
Giáo viên hướng dẫn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4Lời Cảm Ơn
Thành kính ghi ơn:
Ông Bà, Bố Mẹ người đã suốt đời hy sinh hết lòng vì con
Chân thành cảm ơn:
Bam giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm
Ban chủ nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Bộ môn Sinh lý – Sinh hóa
Quý Thầy Cô cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Trường Đại Học Nông
Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt cho tôi vốn kiến
thức, những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập
Chú Đức ở phường Phú Khương, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã cung cấp
giống gà, hướng dẫn trong suốt quá trình thực tập
Thành kính biết ơn:
TS Đỗ Hiếu Liêm và TS Dương Nguyên Khang đã tận tình hướng dẫn,
giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cảm ơn sự giúp đỡ của Thịnh, Sinh, Cẩm, Luyến, các thành viên trại bò và
tất cả bạn bè gần xa đã động viên chia sẻ cùng tôi những vui buồn cũng như hỗ trợ
về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt
Trang 5Ta” Đề tài được thực hiện từ 20/06/2008 đến 04/10/2008 tại Trại bò, Trung tâm
Nông - Lâm - Ngư, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố CRD (completely random design) trên 200 con gà 30 ngày tuổi không phân biệt giới tính được chia làm 4 lô thí nghiệm, mỗi lô 50 con Khẩu phần thức ăn như sau:
- Lô I: cho ăn cám hỗn hợp Proconco C235 + cám trộn (tỷ lệ 1/1) được thay thế 15% của hàm lượng đạm tổng số 20 % bằng trùn Quế và bắp vàng
- Lô II: cho ăn cám hỗn hợp Proconco C235 + cám trộn (tỷ lệ 1/1) được thay thế 10% của hàm lượng đạm tổng số 20 % bằng trùn Quế và bắp vàng
- Lô III: cho ăn cám hỗn hợp Proconco C235 + cám trộn (tỷ lệ 1/1) được thay thế 5
% của hàm lượng đạm tổng số 20 % bằng trùn Quế và bắp vàng
- Lô IV (đối chứng): cho ăn cám hỗn hợp Proconco C235 + cám trộn (tỷ lệ 1/1) có hàm lượng đạm tổng số 20 %
Kết quả khảo sát cho thấy lô I thay thế trùn Quế và bắp 15% phát triển tốt hơn so với lô thay thế trùn Quế và bắp ít là 10; 5 và 0% Trọng lượng trung bình ở
lô IV, III, II và I lần lượt là 1604; 1495; 1384 và 1300g Tăng trọng tuyệt đối ở lô I,
II, III và IV lần lượt là 20,22; 18,46 ;16,30 và 15,49g Lượng thức ăn tiêu thụ cho 1kg tăng trọng ở 14 tuần tuổi ở lô I, II, III và IV lần lượt là 3,82; 4,17; 4,20 và 4,37
kg Tỷ lệ nuôi sống đến 14 tuần tuổi thì lô I, II, III và IV lần lượt là 100; 96; 96 và 92% Tỷ lệ quầy thịt ở lô I, II, III và IV lần lượt là 71,91; 72,39; 71,89 và 69,3% Qua thời gian tiến hành thí nghiệm chúng tôi thấy khi thay thế đạm của hỗn hợp trùn Quế và bắp vàng nhiều hơn đã ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh trưởng và năng suất của gà Ta, vì thế việc cho gà ăn trùn tươi đem lại hiệu quả cao
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Chương I MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2 Yêu cầu 3
Chương II TỔNG QUAN 4
2.1 Tình hình phát triển ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới 4
2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi gà tại Việt Nam 4
2.3 Nguồn gốc của gia cầm 5
2.4 Giới thiệu một số giống gà nuôi ở nước ta 5
2.4.1 Giống gà Ta nuôi ở hộ gia đình 5
2.4.1.1 Gà Tàu Vàng 6
2.4.1.2 Gà Ta Vàng 6
2.4.1.3 Gà Hồ 6
2.4.1.4 Gà Tre 6
2.4.1.5 Gà Ri 7
2.4.1.6 Gà Chọi 7
2.4.2 Giống gà nhập nội 7
2.4.2.1 Gà Lương Phượng 7
2.4.2.2 Gà Tam Hoàng 8
2.4.2.3 Gà Bình Thắng (BT1) 8
2.4.2.4 Gà Sasso 9
2.4.2.5 Gà Kabir 9
2.5 Dinh dưỡng và thức ăn cho gia cầm 10
2.6 Trùn Quế (Perionyx excavatus) 11
2.6.1 Khái quát tên gọi 11
2.6.2 Phân loại 11
Trang 72.6.3 Hình thái bên ngoài 12
2.6.4 Dinh dưỡng trùn Quế 13
2.6.5 Tập tính ăn 14
2.6.6 Ứng dụng trùn Quế trong chăn nuôi 15
2.6.7 Phân trùn Quế 16
Chương III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 19
3.2 Bố trí thí nghiệm 19
3.3 Thức ăn thí nghiệm 19
3.4 Điều kiện thí nghiệm 21
3.4.1 Chuồng trại chăn nuôi 21
3.4.2 Trang thiết bị chăn nuôi 22
3.4.3 Nuôi dưỡng - chăm sóc 22
3.4.4 Quy trình vệ sinh phòng bệnh 23
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.5.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng 24
3.5.1.1 Trọng lượng bình quân 24
3.5.1.2 Tăng trọng tuyệt đối 24
3.5.2 Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn 24
3.5.2.1 Lượng thức ăn tiêu thụ 24
3.5.3 Chỉ tiêu về sức sống 25
3.5.3.1 Tỷ lệ nuôi sống tích lũy (%) 25
3.5.3.2 Tỷ lệ chết 25
3.5.4 Các chỉ tiêu mổ khảo sát quầy thịt 25
3.5.5 Hiệu quả kinh tế 27
3.6 Xử lý số liệu 27
Chương IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Trọng lượng bình quân 28
4.2 Tăng trọng tuyệt đối 33
Trang 84.3 Lượng thức ăn tiêu thụ 35
4.4 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng 37
4.5 Tỷ lệ nuôi sống tích lũy 40
4.6 Chỉ tiêu về khảo sát quầy thịt 42
4.7 Hiệu quả kinh tế 43
Chương V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 1
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Sản lượng thịt gia cầm và thịt vịt năm 1991, 2000 và 2002 4
Bảng 2.2 Hàm lượng dinh dưỡng của bột trùn (tính trên vật chất khô) 13
Bảng 2.3 Thành phần amino acid trong trùn khô 14
Bảng 2.4 Đặc tính tổng quát của phân trùn nguyên chất 18
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 19
Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng cám Con Cò (C225 và C235) 20
Bảng 3.3: Công thức của cám trộn 20
Bảng 3.4: Phần trăm thay thế trùn Quế và bắp vàng cho gà từ 05 đến 14 tuần tuổi 21
Bảng 4.1: Trọng lượng bình quân của đàn gà thí nghiệm qua các giai đoạn 28
Bảng 4.2: Tăng trọng tuyệt đối của gà qua các giai đoạn 33
Bảng 4.3: Lượng thức ăn tiêu thụ trong tuần của gà qua các giai đoạn tuổi 35
Bảng 4.4: Lượng thức ăn tiêu thụ cho 1kg tăng trọng của gà qua các giai đoạn 37
Bảng 4.5: Tỷ lệ nuôi sống tích lũy của đàn gà thí nghiệm qua các giai đoạn 40
Bảng 4.6: Các chỉ tiêu mổ khảo sát của gà Ta lúc 14 tuần tuổi 42
Bảng 4.7: Chi phí chăn nuôi cho các lô gà thí nghiệm 44
Trang 11DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Trang
Biểu đồ 4.1: Trọng lượng bình quân của gà qua 14 tuần tuổi 33
Biểu đồ 4.2: Tăng trọng tuyệt đối trung bình của gà qua 14 tuần tuổi 35
Biểu đồ 4.3: Lượng thức ăn tiêu thụ của gà thí qua 14 tuần tuổi 37
Biểu đồ 4.4: lượng thức ăn tiêu thụ cho 1kg tăng trọng của gà qua 14 tuần tuổi 39
Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ nuôi sống tích lũy của gà qua 14 tuần tuổi 41
Hình 2.1 Trùn Quế / Trùn Đỏ (Perionyx excavatus) 11
Hình 3.1.1 Chuồng nuôi gà nhỏ 21
Hình 3.1.2 Chuồng nuôi gà lớn 21
Hình 4.2.1 Gà trống lúc 14 tuần tuổi 33
Hình 4.2.2 Gà mái lúc 14 tuần tuổi 33
Hình 4.3.1 Trọng lượng quầy thịt 43
Hình 4.3.2 Tim gà lúc 14 tuần tuổi 43
Hình 4.3.3 Gan gà lúc 14 tuần tuổi 43
Hình 4.3.4 Ống tiêu hóa gà lúc 14 tuần tuổi 43
Trang 12âm thanh quá quen thuộc và gần gũi với nông thôn Việt Nam Với ưu điểm con gà
dễ nuôi, ít vốn đầu tư, tận dụng thức ăn thừa trong nhà, tận dụng thời gian nhàn rỗi, cung cấp thịt thơm ngon, chất lượng cao, là nguồn cung cấp thức ăn thường xuyên trong nhà, đồng thời tăng thu nhập cho người nông dân nên chăn nuôi gia cầm rất được quan tâm trong các chương trình nông nghiệp Bên cạnh những ưu điểm đó, thì tiêu tốn thức ăn trên gà chiếm tỷ lệ khá cao và rủi ro về dịch bệnh trong chăn nuôi là rất lớn
Vì thế trong chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng các yếu
tố có ảnh hưởng đến sức sinh trưởng của gà như: giống, thức ăn, chăm sóc, thú y cần được quan tâm nhiều hơn nữa… Trong đó thức ăn đóng vai trò quan trọng về mặt sinh học cũng như kinh tế, nên việc cân đối thức ăn đầy đủ dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gà sẽ đem lại năng suất cao, thức ăn thường chiếm tỷ trọng rất lớn, vào khoảng 70 – 80 % trong tổng số chi phí chăn nuôi
Chi phí thức ăn cao thấp tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu từng vùng sinh thái hoặc phụ thuộc vào cung cầu thị trường nguyên liệu thức ăn gia súc Trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các công ty và xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc trong nước và ngoài nước đã tạo sự thiếu hụt nguồn thực liệu và giá
cả bị đẩy lên cao, đặc biệt ảnh hưởng đến nguồn thức ăn giàu đạm như bột cá, đậu
Trang 13nành hạt… Thức ăn giàu đạm nhất là thức ăn động vật đã có tác dụng rõ rệt trên sinh trưởng, phát triển và sinh sản của gia súc, gia cầm thường phải được mua ở mức giá cao
Để tạo ra nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tìm kiếm, dễ sản xuất tại chỗ và đầu tư thấp là việc làm cấp thiết và có ý nghĩa thiết thực, giúp cho nhà chăn nuôi ít vốn có thể nuôi được gà với số lượng vừa phải quanh năm, ổn định về thu nhập Trong đó, từ rất lâu, con trùn là vật rất quen thuộc với nông dân, là một loại thức ăn
bổ sung đạm động vật có giá trị dinh dưỡng cao là loại thức ăn “khoái khẩu” của gà
Gà ăn trùn sẽ mau lớn, khỏe, bộ lông đẹp, đẻ nhiều, ít bệnh, qua đó góp phần hạ giá thành sản phẩm vật nuôi, giúp tăng thu nhập cho người chăn nuôi Xuất phát từ vấn
đề trên được sự phân công của bộ môn Sinh lý - Sinh hóa, khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TS
Đỗ Hiếu Liêm và TS Dương Nguyên Khang, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Ảnh hưởng của việc bổ sung trùn Quế (Perionyx excavatus) trong khẩu phần
đến khả năng sinh trưởng và năng suất của gà Ta”
Trang 141.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Khảo sát ảnh hưởng của việc thay thế các mức độ đạm của hỗn hợp trùn Quế và bắp vàng đến khả năng sinh trưởng phát triển của gà Ta nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa chất lượng cao cung cấp thịt cho người tiêu dùng
1.2.2 Yêu cầu
Theo dõi mức độ thay thế đạm 15; 10; 5 và 0% của trùn Quế trong khẩu phần cơ bản là cám Proconco C235 + cám trộn (tỷ lệ 1/1) chứa 20% đạm đến sinh trưởng và phát triển của gà Ta với các chỉ tiêu khảo sát sau: trọng lượng bình quân, tăng trọng tuyệt đối, lượng thức ăn tiêu thụ, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng, tỷ lệ nuôi sống tích lũy, phẩm chất quầy thịt như tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ quầy thịt, tỷ lệ ống tiêu hóa, tỷ lệ gan, tỷ lệ tim, tỷ lệ ức, tỷ lệ đùi và hiệu quả kinh tế
Trang 15Chương II
TỔNG QUAN
2.1 Tình hình phát triển ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới
Theo báo cáo của Hội nghị gia cầm Châu Âu (tháng 7 năm 1990 tại Barcelona Tây Ban Nha) thì trên toàn thế giới sản lượng thịt gia cầm tăng 33,7% trong vòng 10 năm (1980 – 1990), riêng trong khối EEC tăng 12% Sản lượng trứng tăng không đáng kể, tăng chủ yếu ở các nước đang phát triển và giảm ở các nước phát triển theo Faostat 2001 thì sản lượng thịt gia cầm trên thế giới có mức tăng đều, giai đoạn từ 1995 đến 2000 sản lượng thịt gia cầm tăng 17,68%, trong đó mức tăng cao nhất là ở khu vực châu Mỹ (18,67%) Tại khu vực châu Á số đầu gia cầm tăng nhưng sản lượng thịt tăng không đáng kể
Bảng 2.1: Sản lượng thịt gia cầm và thịt vịt năm 1991, 2000 và 2002 (triệu tấn)
Thịt vịt 1.27 (chiếm 3,4 %) 2.77 (chiếm 4,2 %) 3.2 (chiếm 4,33 %) Thịt ngỗng 0.76 (chiếm 2,0 %) 1.91 (chiếm 2,9 %) 2.7 (chiếm 3,65 %)
Nguồn: FAO (1992, 2001, 2003; Trích dẫn từ Lâm Thị Diệp Quỳnh Trâm, 2007)
2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi gà tại Việt Nam
Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Cao Đức Phát cho biết, dù gặp nhiều khó khăn
do thiên tai dịch bệnh trong những năm gần đây, nhưng chăn nuôi vẫn tăng trưởng khá Tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu ngành nông nghiệp đã tăng từ 22% (năm 2005) lên 24% vào năm 2007 Theo chiến lược vừa được phê duyệt đến năm 2010,
tỷ trọng chăn nuôi sẽ chiếm khoảng 32%, đến 2015 là 38% và đạt trên 42% vào năm 2020 Như vậy, trong giai đoạn 2008 – 2010, ngành chăn nuôi tăng bình quân 8% - 9%/năm, giai đoạn 2010 – 2015 là 6% - 7%/năm và giai đoạn 2015 - 2020 là
Trang 165% - 6%/năm Với tốc độ tăng trưởng này, đến 2020, nước ta sẽ đạt sản lượng khoảng 5.500 nghìn tấn thịt; 14 tỷ quả trứng, hơn 1 triệu tấn sữa Bình quân, mỗi người sẽ được sử dụng 56 kg thịt, 140 quả trứng và hơn 10kg sữa/năm
2.3 Nguồn gốc của gia cầm
Gia cầm có nguồn gốc từ các loại chim rừng, gà rừng và chúng được thuần hoá rất sớm Từ những kỷ nguyên XIV – VII trước công nguyên Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, loài người đã dày công thuần hoá, chọn lọc, lai tạo thành nhiều giống gà, vịt, ngỗng… như hiện nay Gia cầm hiện nay có nhiều đặc điểm khác xa với tổ tiên của chúng như tầm vóc, sắc lông, năng suất
Trong hệ thống phân loại động vật, gia cầm được xếp loại như sau:
Giới: động vật
Ngành: động vật có xương sống
Lớp chim: có lông vũ, không răng, có xương ức
Thuộc bộ gallifomis, ăn thức ăn là hạt ngũ cốc
Họ: phasiandae
Giống (genus): gallus domesticus
2.4 Giới thiệu một số giống gà nuôi ở nước ta
2.4.1 Giống gà Ta nuôi ở hộ gia đình
Gà Ta nuôi thả ở Việt Nam có nguồn gốc từ một số giống gà địa phương
và gà có xuất xứ từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam từ lâu đời và đã trở thành hình ảnh quen thuộc, phổ biến ở làng quê phía Nam và nó đóng góp một phần quan trọng trong kinh tế nông thôn Với phương thức nuôi thả vườn hoặc bán công nghiệp, gà Ta đã cung cấp một khối lượng thịt và trứng đáng kể cho xã hội
Gà Ta thuộc giống gà nhẹ cân, thân hình thon nhỏ, nhanh nhẹn, linh hoạt
Có chân và xương nhỏ, thịt thơm ngon nhưng tốc độ sinh trưởng chậm Gà Ta có khả năng thích nghi cao với môi trường nuôi thả đất, có sức chống chịu với thời tiết xấu, kháng bệnh tốt không đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc cao
Tuy lớn chậm nhưng nhờ có giá bán cao nên gà Ta đem lại hiệu quả kinh
tế cao (Dương Thanh Liêm và Nguyễn Như Pho, 2000)
Trang 17Con mái: đầu nhỏ, hình thù vuông, có loại trụi đuôi hoặc cũng có loại đuôi dài, ấp giỏi, giữ con hay, gà mái tơ 07 tháng tuổi bắt đầu đẻ 100 - 120 trứng/mái/năm, nặng 45 – 50g/quả, lúc trưởng thành từ 2 – 2,5kg, thịt và trứng thơm ngon hơn giống gà ngoại, nuôi lâu có thể lớn hơn nữa Khối lượng cơ thể lúc mới
nở 30g Đặc biệt gà này có bộ lông mọc từ cẳng chân đến ngón
2.4.1.2 Gà Ta Vàng
Con trống có dáng vẻ hùng dũng, hăng hái, hiếu chiến, sắc lông màu vàng
đỏ, mướt, óng ánh, nuôi một năm nặng 2,2 – 3,5kg
Con mái có lông màu vàng lợt, lông cổ vàng sậm hơn, có lẫn lông màu đen thành một viền cổ sọc, nuôi một năm nặng 2 – 2,5kg, gà 6 tháng tuổi bắt đầu đẻ 80 -
100 quả/mái/năm Gà mái ấp giỏi, giử con hay, gà mới nở có lông màu vàng nhạt và
có 2 sọc đen trên lưng dài song song từ cổ đến đuôi
2.4.1.3 Gà Hồ
Là giống gà nội, có nguồn gốc từ huyện Thuận Thành – Bắc Ninh Được chọn theo hướng nuôi gà cảnh Rất ít lông, lông có màu đất, xám đỏ thẩm Tầm vóc cao to, có hai ba hàng vải màu trắng Tốc độ sinh trưởng nhanh Rất khó nhân giống nhanh, chủ yếu nuôi ở Bắc Ninh và các vùng lân cận
2.4.1.4 Gà Tre
Được nuôi ở các tỉnh Nam Bộ, vóc dáng nhỏ, thịt thơm ngon Sáu tháng tuổi trống nặng 800 - 850g/con, mái nặng 600 - 620g/con Đầu nhỏ, màu hạt đậu, con trống có màu vàng ở cổ, vai và đuôi còn lại màu đen, lông dài, lông con mái thường màu xám xen lẫn màu trắng Sản lượng trứng 50 - 60quả/mái/năm, nặng 21 - 22g
gà Tre được dùng làm cảnh và thi chọi ở nhiều nơi trên nước ta
Trang 182.4.1.5 Gà Ri
Là giống gà nội phổ biến nhất Gà Ri có tầm vóc nhỏ, ở tuổi trưởng thành con trống nặng 1,8 – 2,3kg, con mái nặng 1,2 – 1,8kg Gà Ri có dáng thanh, đầu nhỏ, mỏ vàng, cổ và lưng dài, chân nhỏ màu vàng Phổ biến nhất là giống gà có bộ lông màu nâu sẫm, gà mái lông màu nhạt Gà Ri thuần thục về tính tương đối sớm (4 – 4,5 tháng tuổi) Sản lượng trứng 90 - 120quả/mái/năm, khối lượng trứng nhỏ (38 - 42g), gà mái có tính ấp bóng cao, ấp trứng và nuôi con khéo Nuôi thịt có tốc
độ tăng trưởng chậm, thịt thơm ngon, gà Ri thích hợp với nuôi chăn thả hoặc bán chăn thả
2.4.1.6 Gà Chọi
Phân loại: nhóm giống
Nguồn gốc: có ở Việt Nam từ lâu đời
Phân bố: nuôi ở nhiều nơi
Hình thái: con trống có cổ trụi, màu đỏ Thân hình to lớn, chắc, gọn, xương
to, cơ bắp phát triển, chân cao to khỏe Cựa ngắn hoặc không phát triển Trông hung
dữ
Lông thưa ít lông ở đầu, cổ và chân đùi Màu lông đa dạng: đen tuyền, xám trắng… màu da đầu, cổ, ức, đùi có màu đỏ, các phần khác có màu lông vàng, trắng
Gà trống trưởng thành nặng 4 - 5kg, gà mái nặng 3,5 - 4kg/con
Bắt đầu đẻ: một năm tuổi, sản lượng trứng: 25 - 40 quả/mái/năm
2.4.2 Giống gà nhập nội
2.4.2.1 Gà Lương Phượng
Gà Lương Phượng hay còn gọi là gà Lương Phượng Hoa Trung Quốc Xuất phát từ khu Lương Phượng Giang Nam Ninh (thuộc Quảng Tây Trung Quốc), được lai tạo giữa giống gà nội của Trung Quốc với gà nhập nội, nhập vào nước ta từ sau năm 1997 Gà có màu lông đa dạng: vàng đốm đen ở vai, lưng và lông đuôi Lông
cổ có màu vàng pha ánh kim, búp lông đuôi có màu xanh đen Dòng mái có màu đốm đen, cánh sẽ là chủ yếu
Trang 19Dòng trống chủ yếu có màu vàng nâu nhạt đốm – đen Chân màu vàng, màu đơn, đỏ tươi, thân hình cân đối Gà có thân hình chắc, thịt ngon Khối lượng cơ thể lúc mới nở 34,5g, lúc 8 tuần tuổi đạt 1,2 – 1,3g Khối lượng gà lúc 20 tuần tuổi con trống 2,0 – 2,2kg, gà mái 1,7 – 1,8kg/con, tuổi đẻ đầu tiên 140 – 150 ngày, sản lượng trứng 150 - 170quả/mái/năm
2.4.2.2 Gà Tam Hoàng
Nhập vào nước ta từ Trung Quốc và Hồng Kông từ hai dòng: 882 và Jiangcun Gà có màu lông vàng, mỏ vàng, chân vàng, có thân hình chắc: ngực nở, bầu bỉnh, nhanh nhẹn, thích kiếm mồi, thịt thơm ngon Tính chống chịu bệnh tật cao Lông gà con mới nở không đồng nhất về màu sắc, màu lông biểu hiện chính là màu lông vàng (62%) sau đó đến màu xám (23%) và một số màu khác với tỷ lệ ít, khoảng cách sai khác giữa các màu lông mất dần theo tuổi Gà trưởng thành chủ yếu
là màu vàng Da chân vàng, mào đơn đỏ, ngực nở, đùi to
Khối lượng cơ thể lúc mới nở là 35g Dòng 882 màu lông vàng hoặc lốm đốm đen, đa số có cườm ở cổ, ở 11 tuần tuổi con trống nặng 1,4 – 1,45kg, mái nặng 1,2kg Dòng Jiangcun lông màu vàng tuyền, ở 11 tuần tuổi con trống nặng 1,3kg, con mái nặng trên dưới 1kg
Gà Tam Hoàng có những đặc điểm nổi bật là: tỷ lệ sống cao, chống chịu bệnh tật, chịu khó kiếm mồi, phẩm chất thịt thơm ngon, sản lượng trứng và thịt cao hơn các giống gà nội Việt Nam, hợp với thị hiếu của người nuôi và tiêu dùng ở Việt Nam Do đó, gà Tam Hoàng được nuôi khắp 3 miền: Bắc – Trung – Nam với số lượng trên triệu con để lấy thịt và trứng
2.4.2.3 Gà Bình Thắng (BT1)
Gà BT1 là giống gà cải tiến trong nước được lai tạo tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi Bình Thắng trên đối tượng là gà Goldline 54 và gà RhodeRi
Ngoại hình: gà có lông màu nâu nhạt, mào đơn, chân vàng, tầm vóc to, chân cao vừa phải, chắc khỏe, con trống lông màu đỏ, con mái lông nâu nhạt, lông cổ nâu sẩm, đầu thanh, ngực sâu, bụng sệ, chân da màu vàng
Trang 20Khối lượng cơ thể lúc 5 tháng tuổi, con trống nặng 3,2 – 3,5kg, con mái nặng 2,2 – 2,5kg sản lượng trứng đạt 180 - 200 quả/mái/năm, khối lượng trứng 54 - 55g/ quả Gà BT1 có những ưu điểm của gà bố là: tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng đẻ trứng lớn, có những ưu điểm của gà mẹ là: có sức sống tốt, khả năng chống chịu với ngoại cảnh, bệnh tật,… cao Đây là giống gà kiêm dụng thích hợp với các hình thức: công nghiệp, bán chăn thả và chăn thả
2.4.2.4 Gà Sasso
Gà sasso là dòng gà thịt của Pháp nhập vào nước ta từ năm 2002 được nuôi nhiều ở Tam Đảo (Vĩnh Phú), trại thực nghiệm Liên-Ninh (Hà Tây) và một số nơi ở phía Bắc Dòng trống: con trống lông màu nâu, con mái lông màu trắng Dòng mái: lông màu nâu Dòng thương phẩm có lông màu nâu vàng hoặc nâu đỏ, chân, mỏ và
da màu vàng Khối lượng lúc 9 tuần tuổi nặng 2,5kg/con Dòng trống, đàn ông bà có năng suất trứng 65 tuần đạt 180 quả, khối lượng trứng 50g/quả
Gà Sasso có khả năng chống chịu bệnh tốt, chúng chịu được nóng và độ ẩm cao Gà lớn nhanh, lúc 2 tháng tuổi nuôi đúng kỹ thuật gà đạt 2,2 - 2,5kg/con, chất lượng thịt tốt: thịt rắn, chắc, thơm ngon, có vị ngon đậm đà tương tự gà Ri của Việt Nam Đặc biệt, gà Sasso tận dụng được ngô, tấm, gạo, sắn và thức ăn thừa của lợn
Gà đạt hiệu quả kinh tế cao kể cả nuôi thả vườn và tập trung Do đó, gà Sasso có thể nuôi được từ Bắc vào Nam và hiện nay nuôi gà Sasso theo hướng thịt
2.4.2.5 Gà Kabir
Gà Kabir có nguồn gốc từ Israel, nhập vào nước ta tháng 07/1999 và được người nuôi Việt Nam ưa chuộng Các dòng khác nhau có ngoại hình và màu lông khác nhau Gà có màu lông nâu vàng hoặc đỏ vàng, da chân vàng thân hình chắc, to hơn giống gà hướng trứng Khối lượng gà mới nở 41g/con, lúc 8 tuần tuổi đạt 920g/con, lúc 25 tuần tuổi gà trống nặng 2,8kg, gà mái nặng 2,2kg/con Năng suất trứng của đàn bố mẹ 170quả/mái/70 tuần tuổi Khối lượng trứng 59g/quả, tỷ lệ sống 97% Khối lượng cơ thể lúc sơ sinh 39g/con, lúc 8 tuần tuổi đạt 520g/con Khi 20 tuần tuổi đạt 2 -2,1kg/con, lúc 9 tháng tuổi trung bình 2100g/con (Bùi Đức Lũng và
Lê Hồng Mận, 2003, trích dẫn bởi Nguyễn Xuân Trúc, 2008)
Trang 21Gà Kabir có thịt chắc ngon, sức sống tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam, khối lượng cơ thể và trứng tương đối lớn Đây là giống gà kiêm dụng trứng và thịt Nhưng gà Kabir có khả năng chống chịu bệnh tật và thay đổi ngoại cảnh không được tốt lắm
2.5 Dinh dưỡng và thức ăn cho gia cầm
Do nhu cầu protein cho tăng trưởng và mọc lông cao hơn so với các loại gia súc khác nên giá thành để sản xuất ra 1kg thức ăn hỗn hợp cho gia cầm cao hơn, từ
đó việc nghiên cứu để tiết kiệm thức ăn tạo ra một đơn vị sản phẩm trở nên rất bức xúc Những hướng chính trong việc nghiên cứu thức ăn gia cầm như:
- Nghiên cứu kỹ đặc tính sinh lý tiêu hóa của gia cầm để chế biến thức ăn phù hợp, làm cho gia cầm ăn được nhiều, tiêu hóa thức ăn tốt để tận dụng triệt để các chất dinh dưỡng trong thức ăn Từ những biện pháp tác động vật lý như cho gà
ăn sỏi, xay nghiền và nén viên thức ăn đến những biện pháp hóa học như bổ sung Enzyme, men tiêu hóa vào thức ăn để cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột nâng cao khả năng tiêu hóa hấp thu thức ăn từ đó làm giảm tiêu hóa thức ăn cho một đơn vị sản phẩm
- Nghiên cứu nhu cầu các chất dinh dưỡng cho gia cầm theo từng giai đoạn sinh lý sản xuất khác nhau để chế tạo thức ăn hỗn hợp đầy đủ các chất dinh dưỡng cân đối theo nhu cầu, vì vậy tiết kiệm được thức ăn trong chăn nuôi gia cầm
- Tận dụng nguồn thức ăn sẵn có rẻ tiền thông qua chế biến bổ sung hay thay thế chất dinh dưỡng còn thiếu để trở thành thức ăn tốt hơn góp phần làm giảm giá thành
- Phải bảo quản thức ăn tốt để tránh nhiễm độc tố nấm gây thiệt hại cho gia cầm, tránh sự hư hỏng chất dinh dưỡng của thức ăn
- Phải luôn luôn chú ý quản lý đàn gia cầm thật tốt tránh rơi vãi thức ăn gây lãng phí, giữ chuồng trại sạch sẽ để tránh các bệnh truyền nhiễm, bệnh đường ruột,… làm giảm sự hấp thu và chuyển hóa thức ăn ở gia cầm
Trang 22Trùn Quế (Perionyx excavatus)
2.6.
2.6.1 Khái quát tên gọi
Trùn Quế (một số tài liệu nước ngoài thường gọi là Blue Worm, Indian Blue, Malaysian blue) là động vật không xương sống, cơ thể phân đốt, phần đầu thoái hoá, có mang đai sinh dục (clitellum), các hệ cơ quan bên trong cơ thể như hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ bài tiết… cũng sắp xếp theo đốt Mỗi đốt mang một đôi hạch thần kinh giúp cho trùn ghi nhận cảm giác và phản ứng đáp trả của cơ thể đối với môi trường ngoài rất nhạy bén Trùn thuộc nhóm trùn ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy, trong tự nhiên ít tồn tại với quần thể lớn và không có khả năng cải tạo đất trực tiếp như một số loài trùn địa phương như trùn hổ sống trong đất Trùn Quế là một trong những giống trùn đã được thuần hóa, nhập nội và đưa vào nuôi công nghiệp Là loài trùn mắn đẻ, xuất hiện rải rác ở vùng nhiệt đới, dễ bắt bằng tay, dễ thu hoạch Được sử dụng rộng rãi trong việc xử
lý chất thải ở Phillippines, Australia… và một số nước khác (Gurrero, 1983; Edwards, 1995; trích dẫn bởi Trương Anh Phú, 2008)
Chúng phân bố ở nhiều quốc gia như: Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Úc, Phillipines, Đài Loan, Hawaii, Madagascar, Samoa…
2.6.2 Phân loại
Hình 2.1 Trùn Quế / Trùn Đỏ (Perionyx excavatus)
Trang 23Phân loại:
- Ngành: Annelida (Giun đốt)
- Lớp: Clitellata (Có đai sinh dục)
- Lớp phụ: Oligochaeta (Giun ít tơ)
- Họ: Megascolecidae
- Giống: Perionyx
- Loài: Perionyx excavatus (Perrier)
2.6.3 Hình thái bên ngoài
Cơ thể trùn P.excavatus có hình trụ, dài hơi dẹp, phần đầu và đuôi hơi nhọn,
cơ thể thon dài phân thành nhiều đốt, bên trong cũng phân đốt tương ứng gọi là
xoang thân Đem trùn P.excavatus ra ngoài ánh sáng thì cơ thể phát dạ quang màu
xanh tím (fluorescence) Nó có thể sống thích hợp trong điều kiện nhiệt độ từ 20oC – 27oC Nó là loài ăn phân, có thể được dùng để chế biến phân hữu cơ (Vermicompost) từ chất thải Các loài trùn khác nhau có số lượng đốt khác nhau, thay đổi từ 110 – 180 đốt trên mỗi đốt có một vành tơ, khi di chuyển các đốt co duỗi kết hợp các lông tơ phía bên dưới các đốt bám vào cơ chất đẩy cơ thể di chuyển một cách dễ dàng
Trên cơ thể trùn đã trưởng thành về sinh dục thường thấy 1 cái vòng có dạng như thiếc nhẫn, đây là đai sinh dục Đai sinh dục thể hiện rất rõ ở giai đoạn sinh sản, thường là ở khoảng ngày thứ 30 trong chu kỳ đời sống
Màu sắc: tùy theo tuổi, trùn mới nở có màu trắng, trùn con có màu hồng
nhạt, trùn trưởng thành và già có màu đỏ đến mận chín, đậm ở mặt lưng màu nhạt dần về phía bụng, bên ngoài cơ thể có một lớp kitin mỏng chứa sắc tố do đó khi ra ánh sáng cơ thể chúng thường phát dạ quang màu xanh tím, có đường kẻ dưới bụng màu nhạt hoặc sáng ở gần vành miệng
Kích thước: trùn nhỏ dài khoảng 3cm, tiết diện thân 0,2cm Trùn trung bình
dài khoảng 3 - 10cm, tiết diện thân 0,2 - 0,5cm Trùn lớn dài trên 10cm, tiết diện thân khoảng 0,5cm Chiều dài cơ thể dao động trung bình 100 - 180mm, đường kính
5 - 6mm (Gautam và Chaudhuri, 2002; trích dẫn bởi Nguyễn Văn Bảy, 2006)
Trang 242.6.4 Giá trị dinh dưỡng của trùn Quế
Trùn Quế là loại thức ăn cung đạm cao cấp dùng cho vật nuôi, đối với loài thủy sản trùn Quế là một trong những loại thức ăn hấp dẫn nhất, các loại cá, baba, tôm, ếch, lươn, cua biển… đều thích ăn trùn Còn đối với gia súc, gia cầm, trùn là loại thức ăn bổ dưỡng, chỉ cần cung cấp một lượng rất nhỏ và 2 lần một tuần sẽ cho đàn gia súc, gia cầm chúng lớn rất nhanh Gà có khả năng sử dụng trùn tươi rất tốt,
không bị nhiễm vi khuẩn và ký sinh trùng độc hại, gà ăn trùn sẽ mau lớn, khỏe, ít bệnh, có bộ lông đẹp và đẻ nhiều
Theo Nguyễn Văn Bảy (2006), trùn tươi có chứa: nước (80,18%); protein thô
(11,76%); béo khô (1,32%); xơ thô (0,11%); Ca (0,09%); P (0,14%); tro thô (0,32%); cát sạn (0,59%) Theo Ulep và Lopez (1982; trích dẫn bởi Nguyễn Xuân
Trúc, 2008), trùn khô P.excavatus có năng lượng thô: 4995 kcal/kg và năng lượng
trao đổi: 3905 kcalo/kg
Bên cạnh đó, trùn Quế còn được chế biến thành dạng bột được ứng dụng
trong chăn nuôi làm tăng khả năng tăng trưởng, phát triển cơ, tăng trọng, bồi đắp
lượng protein và acid amin thiếu hụt, tăng cường khả năng sinh sản, ngon miệng và làm cho thức ăn có vẻ hấp dẫn và lôi cuốn hơn đối với vật nuôi Vì vậy, tránh được
hiện tượng thừa thải thức ăn và việc chăn nuôi gặt được nhiều thắng lợi Hàm lượng
dinh dưỡng của bột trùn và amino acid trong trùn khô được trình bày trong bảng 2.1
Tro 6,3% Hơi ẩm 8,3%
Nguồn: (www.trunque.net/vietnam.files/trunsaykho.htm)
Trang 25Bảng 2.3 Thành phần amino acid trong trùn khô
Amino acid % trong trùn khô % trong protein
lá tràm bông vàng) đều có thể giết trùn hoặc làm trùn bỏ trốn Thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao sẽ hấp dẫn chúng và giúp chúng sinh trưởng - sinh sản tốt hơn
Do vậy trong tự nhiên, trùn Quế không đào hang sâu mà thường sống ở phía trên lớp mặt đất, những nơi ẩm thấp, gần cống rãnh, nơi có nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy và thối rữa như trong đống phân động vật, rác hoai mục Chúng thường tìm thức ăn khi trời tối Chúng rất ít hiện diện trên các đồng ruộng canh tác dù nơi
Trang 26đây có nhiều chất thải hữu cơ Có lẽ do tỉ lệ C/N của những chất thải này thường cao, không hấp dẫn và do môi trường nơi đây không đảm bảo điều kiện ẩm độ thường xuyên
Đặc biệt, trùn rất nhạy cảm với thức ăn ngọt và có vị tanh Do vậy, khi nuôi trùn nên chú ý cho ăn các loại hoa quả dập nát và tưới nước tôm cá lên thức ăn sẽ
làm tăng tính thèm ăn của trùn
2.6.6 Ứng dụng trùn Quế trong chăn nuôi
Bột trùn Quế đã được dùng thí nghiệm trong khẩu phần chăn nuôi gia cầm bởi nhiều nhà khoa học trên thế giới: Harwood – Úc (1976), Yoshida và Hoshii (1978), Mekada – Nhật và ctv (1979), Taboga – Mỹ (1980) như một nguồn protein chính của khẩu phần, cho tăng trưởng tương đương hoặc tốt hơn khi cho gia cầm ăn thức ăn truyền thống giàu protein Harwood (1976) và Mekada và ctv (1979; trích dẫn bởi Nguyễn Xuân Trúc, 2008), cho rằng gà được cho ăn trùn Quế đã cải thiện mức tiêu tốn thức ăn tốt hơn đối chứng, nghĩa là gà ở lô thí nghiệm có cùng tăng trọng với lô đối chứng nhưng lại tiêu thụ ít thức ăn hơn
Mekada và ctv (1979; trích dẫn bởi Nguyễn Xuân Trúc, 2008) làm thí nghiệm, dùng 5% bột trùn trong khẩu phần của gà, và không thấy có sự tăng trọng
rõ rệt nhưng có xu hướng giảm tiêu hao thức ăn Họ cũng thành công trong những thí nghiệm trên gà đẻ với khẩu phần thức ăn có bổ sung trùn tươi
Một số thí nghiệm ở India (Kale và ctv, 1982) và Philipines (Guerro, 1983;
trích dẫn bởi Trương Anh Phú, 2008) cho rằng, trùn Quế loài P.excavatus biến đổi
phân gia súc thành công, tạo ra nguồn nguyên liệu protein dùng làm thức ăn bổ sung cho gia súc
Louis (1985; trích dẫn bởi Nguyễn Xuân Trúc, 2008) cho rằng có thể sử dụng trùn Quế làm thức ăn nuôi chim và một lượng nhỏ trùn Quế cho gia cầm để hạn chế bệnh thiếu dinh dưỡng Thực vậy, gia cầm là đối tượng có một tỷ lệ chết nhất định và khi bổ sung trùn Quế vào thức ăn của nó, tỷ lệ chết giảm Anthony (trích dẫn bởi Nguyễn Xuân Trúc, 2008) làm thí nghiệm và xác định rằng trùn Quế
Trang 27là thức ăn thích hợp để nuôi gà, nó đóng vai trò là nguồn protein bổ sung chính hay
bổ sung đơn độc
Theo Phan Tử Diên và ctv (1988, trích dẫn bởi Trương Anh Phú, 2008):
Dùng trùn Quế cho gà thịt với số lượng 10 – 15 con trùn/gà/ngày là thích hợp Ứng dụng khác của trùn Quế
Làm thực phẩm: ở một số nước trên thế giới người ta dùng trùn Quế để chế biến thức ăn như Italia (món Pate), Nhật Bản (bánh quy), Australia (món ốp-lết)…
Làm mỹ phẩm, thuốc tây: hàng ngàn năm qua, tại Trung Quốc người ta đã biết sử dụng trùn trong những bài thuốc chữa bệnh rất hay Ngày nay khoa học phát triển người ta sử dụng trùn vào việc chế biến một số loại thuốc tây và mỹ phẩm Nhật và Canada là hai quốc gia sử dụng trùn nhiều nhất trên thế giới trong việc chế biến mỹ phẩm
Bên cạnh lợi ích trong chăn nuôi, trùn Quế cũng được sử dụng trong vấn đề
xử lý chất thải Ngày nay ở các nước tiên tiến trên thế giới như: Canada, Mỹ, Nhật, Úc… người ta sử dụng trùn Quế trong xử lý chất thải trong nông nghiệp và công nghiệp nhằm tránh gây ô nhiễm môi trường
2.6.7 Phân trùn Quế
Phân trùn (vermicompost) được hình thành sau khi phân hữu cơ đi qua ống tiêu hóa của trùn Quế, nên còn được gọi là Earthworm compost
Cấu tạo: Phân trùn có màu nâu sẫm, dạng than bùn, kết cấu dạng viên, bền
chắc, tơi, mịn xốp, thoáng khí, có tính giữ nước và thoát nước tốt, dự trữ lâu ngày không bị đóng cục cứng lại Đó là những đặc điểm mà ít có một loại phân hữu cơ nào có thể so sánh được
Giá trị dinh dưỡng: phân trùn là loại phân hữu cơ tự nhiên duy nhất hiện
nay có chứa đầy đủ hàm lượng các chất cần thiết, có sự hiện diện của các enzyme
và các kích thích tố khác cho các loại cây trồng Phân trùn chứa không nhiều hàm lượng của các nguyên tố đa lượng nhưng trong phân trùn có nhiều nguyên tố trung
vi lượng và các vi sinh vật, đây là nguồn bổ sung lý tưởng về dinh dưỡng cho cây trồng, ngoài ra một lượng hữu cơ đáng kể được bổ sung vào đất khi bón phân trùn
Trang 28sẽ góp phần cải tạo các thành phần của đất Phân trùn khi đã làm khô có thể tồn trữ trong mát và sử dụng từ từ cho cây trồng, hoặc có thể bón lót với số lượng nhiều mà không làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây
Phân trùn có tác dụng hơn hẳn các loại phân hóa học vì trong phân trùn chứa các nhóm vi khuẩn, đặc biệt là hệ vi khuẩn cố định đạm tự do (Azotobacter), vi khuẩn phân giải lân, phân giải cellulose và chất xúc tác sinh học Vì thế hoạt động của các vi sinh vật lại tiếp tục phát triển trong đất Phân trùn cung cấp các chất khoáng trung và vi lượng cho cây trồng, cải tiến và nâng cao tính ổn định của cấu trúc đất, giúp bộ rễ cây phát triển tốt…
Phân trùn có khả năng khử mùi và trung hòa pH của đất trồng Chất lượng của phân trùn tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu thức ăn cho trùn Phân trùn được làm từ phân gia súc, gia cầm thì có chất lượng tốt hơn cả Nhưng phân trùn được làm từ rơm rạ, mạt cưa thì lại có cấu hình tơi xốp, tạo độ thông thoáng và giữ nước tốt cho cây trồng
Phân trùn cung cấp các chất khoáng cần thiết cho sự phát triển của cây trồng như Nitrat, Photpho, Kali, Canxi, Magiê và Nitơ Nó cũng chứa Mangan, đồng, kẽm, Coban, Borat, Fe Sự hữu dụng nhất là các chất này có thể được cây hấp thụ ngay Phân trùn có khả năng cố định các kim loại nặng trong chất thải hữu cơ Điều này ngăn ngừa cây trồng hấp thu nhiều phức hợp khoáng hơn nhu cầu của chúng
Chất mùn có trong phân loại trừ được những độc tố, nấm hại và những vi khuẩn có hại trong đất Do vậy, phân trùn hạn chế được các tác nhân gây hại cho cây trồng Phân trùn hoạt động như một máy ổn định độ pH, giúp cây phát triển trong đất ở độ pH quá cao hay quá thấp
Phân trùn chứa nhiều chất dinh dưỡng hòa tan trong nước và chứa đựng hơn
50 % chất mùn được tìm thấy trong lớp đất mặt Không như phân động vật, phân trùn có thể được cây trồng sử dụng ngay
Acid Humid trong phân trùn kích thích sự phát triển của cây trồng, thậm chí ngay cả ở nồng độ thấp Trong phân trùn acid Humic ở trạng thái mà cây trồng có thể hấp thu dễ dàng nhất Acid Humic cũng kích thích sự phát triển của vi khuẩn trong đất
Trang 29Bảng 2.4 Đặc tính tổng quát của phân trùn nguyên chất
Vi khuẩn phân hủy chất bột đường 84,5 x 108 c/g
Nguồn: Werner và Cuevas (1996; trích dẫn bởi Nguyễn Văn Bảy, 2002)
Giá trị sử dụng: phân trùn có thể cải tạo được tính chất vật lý của đất làm
cho đất tơi xốp ra, tạo sự thông khí trong đất từ đó thúc đẩy vi sinh vật phát triển có
lợi cho việc hút nước của cây, tăng khả năng giữ nước và giữ độ phì cho đất không
bị cuốn trôi Phân trùn giàu dinh dưỡng kích thích sự tăng trưởng của cây trồng
Phân trùn được hấp thu ngay một cách dễ dàng bởi cây trồng Phân trùn không chỉ
kích thích sự tăng trưởng cây trồng mà còn có thể ngăn ngừa các bệnh về rễ
Trang 30Chương III
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thời gian: Từ ngày 20/6/2008 đến ngày 04/10/2008
Địa điểm: Trại bò thuộc Trung tâm Nông – Lâm – Ngư Trường Đại Học
Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
3.2 Bố trí thí nghiệm
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm trên giống gà Ta được mua từ tỉnh Bến Tre
Lúc gà được 30 ngày tuổi chọn ra những gà khỏe mạnh, tương đối đồng đều về
trọng lượng, giới tính, bụng thon nhẹ, mắt to, sáng, nhanh nhẹn, chân bóng cứng
cáp, không dị tật ở mô chân, gà đi lại bình thường Tiến hành bố trí thí nghiệm lúc
gà 05 tuần tuổi, chia làm 4 lô với số lượng trống mái tương đương nhau là 25 con,
bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, được trình bày ở bảng 3.1
Giai đoạn từ 01 - 30 ngày tuổi cho ăn cám hỗn hợp C225 Con Cò, từ
30 ngày tuổi đến xuất chuồng cho ăn cám hỗn hợp C235 Con Cò + cám trộn (tỷ lệ
1/1 gọi là thức ăn cơ sở) Cám Con Cò C225 và C235 do công ty cổ phần Việt Pháp
Proconco sản xuất Thành phần dinh dưỡng được trình bày ở bảng 3.2
Trang 31Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng cám Con Cò (C225 và C235) cho gà thí nghiệm
(ghi trên bao bì)
Thành phần dinh dưỡng Giai đoạn 1 - 42 ngày
Trang 32Khi bổ sung trùn Quế vào khẩu phần thức ăn của gà Ta, chúng tôi phải bổ sung thêm bắp vàng, vì trùn Quế (động vật) có mức cung protein cao nhưng cung cấp năng lượng (KCal) cho cơ thể vật nuôi thấp ngược lại bắp (ngũ cốc) có mức cung năng lượng cao nên hàm lượng protein trong trùn Quế và mức năng lượng của bắp vàng trong khẩu phần thức ăn gà ta qua bảng 3.4
Bảng 3.4: Phần trăm thay thế trùn Quế và bắp vàng cho gà từ 05 đến 14 tuần tuổi
Lô
TPTĂ
I chứa 15% đạm
từ trùn Quế
II chứa 10% đạm
từ trùn Quế
III chứa 5% đạm
từ trùn quế
IV chứa 0% đạm
3.4 Điều kiện thí nghiệm
3.4.1 Chuồng trại chăn nuôi
Hình 3.1.1 Chuồng nuôi gà nhỏ Hình 3.1.2 Chuồng nuôi gà lớn
Trang 33Gà từ 01 đến 05 tuần tuổi được nuôi trên chuồng úm hình chữ nhật sàn lưới
và bốn bên bao bằng kẽm, dài 2m x 1m x 1m (kể cả chân đáy 0,5m) Sàn chuồng cách mặt đất 0,5m
Gà từ 05- 14 tuần tuổi được nuôi trên chuồng sàn lưới kẽm dài 3m x 2 x 1m Sàn chuồng cách mặt đất 0,5m, tạo độ thông thoáng trong chuồng thích hợp cho gà vận động bay nhảy
3.4.2 Trang thiết bị chăn nuôi
Mỗi lô thí nghiệm được trang bị gồm:
Máng ăn, máng uống được vệ sinh sát trùng hằng ngày
3.4.3 Nuôi dưỡng - chăm sóc
Trước khi đem gà về, chuồng trại phải được vệ sinh sạch sẽ, đem phơi nắng khô ráo, sau đó đem gà về xung quanh chuồng phải được che kín bằng bao thức ăn để tránh gió Máng ăn và máng uống cũng phải được vệ sinh sạch sẽ hằng ngày, nước uống được pha BiO-ViT PLUS® 2g/4 lít hằng ngày cho gà uống tự do Diện tích cho mỗi ô chuồng chứa 100 gà con là 2m x 1m x 1m
Việc theo dõi và điều chỉnh nhiệt độ sưởi ấm cho gà trong giai đoạn này rất quan trọng Nhiệt độ sưởi phải đủ ấm, không được quá nóng, cũng không được để
gà bị lạnh Cụ thể: tuần 1 nhiệt độ sưởi 31 – 34oC, tuần 2 nhiệt độ sưởi 29 – 31oC, tuần 3 nhiệt độ sưởi 26 – 29oC, tuần 4 nhiệt độ sưởi 22 – 26oC Tuy nhiên, trong thực tế người nuôi thường quan sát các phản ứng của gà để điều chỉnh nhiệt độ thích hợp
Nhiệt độ quá thấp: Gà tập chung lại gần nguồn nhiệt, co ro hay đứng chồng lên nhau, lúc này người nuôi cần hạ bóng đèn thấp xuống để tăng nhiệt độ úm lên
Trang 34Nhiệt độ quá cao: Gà tản ra xa xung quanh vách lồng úm, nằm thở mạnh, lúc này người nuôi nên dời bóng đèn lên cao để giảm nhiệt độ úm xuống
Khi nhiệt độ thích hợp thì quan sát thấy gà ở rải rác khắp chuồng, đi lại, ăn uống bình thường
Trong ngày đầu bắt gà về cho gà nghỉ 30 phút sau đó cho gà uống nước nhưng không cho ăn để chống stress cho gà Nước uống cần phải pha vitamine C hoặc đường glucoze, liều lượng 1g/lít nước.Từ ngày thứ 2 cho gà ăn, cho gà ăn nhiều lần trong ngày, mỗi lần một ít để thức ăn luôn được mới, thơm ngon nhằm kích thích tính thèm ăn của gà Sang tuần thứ năm bắt đầu phân lô thí nghiệm và bổ sung phần trăm trùn quế vào trong thức ăn cho từng lô thí nghiệm Hằng ngày, theo dõi số gà chết và loại ngay những con còi cọc, ủ rũ, không ăn, phân lỏng dính vào phần lông ở hậu môn… Cuối tuần tổng kết tính tỉ lệ
Nước uống: Sử dụng máng uống bằng hộp nhựa, chai đựng đầy nước úp ngược (phía dưới là đĩa có gờ để nước rỉ dần ra đĩa cho gà uống)
Máng ăn: Khi gà còn nhỏ (01 – 03 ngày tuổi): rải các loại thức ăn trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn
Khi gà 04 ngày tuổi đến 15 ngày tuổi: sử dụng máng ăn dành cho gà con Khi gà trên 15 ngày tuổi: sử dụng loại máng ăn treo
3.4.4 Quy trình vệ sinh phòng bệnh
Vệ sinh: mỗi buổi sáng phải được vệ sinh phân gà bằng cách dùng vòi nước xịt cho sạch sẽ, xung quanh chuồng được quét dọn sạch sẽ
Phòng bệnh: Nhằm tăng cường sức đề kháng cho gà trong những ngày đầu
và các tác động như: Thời tiết thay đổi, thức ăn thay đổi nên chúng tôi cho gà uống vaccine
Trang 35
Lịch tiêm (uống) vaccine phòng bệnh
Tiêm dưới da Nhỏ mắt hoặc mũi Tiêm trong cánh dưới da Nhỏ mắt hoặc mũi 1g cho 1lít nước Nhỏ mắt hoặc uống Nhỏ mắt hoặc uống
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi
3.5.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng
3.5.1.1 Trọng lượng bình quân
Cân trọng lượng tất cả các gà lúc 30 ngày tuổi và mỗi tuần sau đó Công việc
được tiến hành lúc 07 giờ sáng hằng tuần
Tổng trọng lượng gà cân được TLBQ (g) =
Tổng số con gà lúc cân
3.5.1.2 Tăng trọng tuyệt đối
Pn – Pn-1 TTTĐ (g) =
7
pn: Trọng lượng trung bình ở tuần n
Pn – 1: Trọng lượng trung bình ở tuần n – 1
3.5.2 Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn
3.5.2.1 Lượng thức ăn tiêu thụ
Tổng thức ăn trong tuần
LTĂTT (g) =
Tổng số gà ngày trong tuần