1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT CÁC BỆNH VỀ MẮT TRÊN CHÓ VÀ GHI NHẬN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠM CHẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM VÀ ĐIỀU TRỊ CHI CỤC THÚ Y TP.HỒ CHÍ MINH Sinh

62 594 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 7,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về cấu tạo mô học, võng mạc gồm 10 lớp tế bào nhưng quan trọng nhất là các tế bào thị giác.. - Sự hình thành lớp phim nước mắt trước giác mạc từ tuyến lệ chính và tuyến lệ phụ tạo nên lớ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT CÁC BỆNH VỀ MẮT TRÊN CHÓ VÀ GHI NHẬN

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠM CHẨN ĐOÁN

XÉT NGHIỆM VÀ ĐIỀU TRỊ CHI CỤC THÚ Y

TP.HỒ CHÍ MINH

Sinh viên thực hiện: ĐOÀN THANH THỤY Ngành: THÚ Y

Lớp: TC03 TYTP Niên khóa: 2003 - 2008

Tháng 6/2009

Trang 2

KHẢO SÁT CÁC BỆNH VỀ MẮT TRÊN CHÓ VÀ GHI NHẬN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠM CHẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM VÀ ĐIỀU TRỊ

CHI CỤC THÚ Y TP.HỒ CHÍ MINH

Tác giả

ĐOÀN THANH THỤY

Khóa luận được đệ trình đề đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Bác sỹ ngành

Thú Y

Giáo viên hướng dẫn PGS.TS LÊ VĂN THỌ BSTY VŨ KIM CHIẾN

Tháng 6/2009

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

 Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Cha mẹ, người đã nuôi nấng, dạy dỗ, suốt một đời vì tương lai của con

 Xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

- PGS.TS Lê Văn Thọ

- BSTY Vũ Kim Chiến

Đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

 Xin chân thành cảm ơn

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm, Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng toàn thể quý thầy cô đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng tôi trong những năm đại học

Ban lãnh đạo Trạm Chẩn đoán Xét nghiệm và Điều trị, Chi cục Thú y TP.HCM cùng toàn thể cô, chú, anh, chị công tác tại Trạm đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian thực tập

 Xin cảm ơn

Tất cả bạn bè thân yêu đã chia sẽ những khó khăn và nhiệt tình hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trang 4

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài ”Khảo sát các bệnh về mắt trên chó và ghi nhận kết quả điều trị tại Trạm

Chẩn đoán Xét nghiệm và Điều trị, Chi cục Thú y TP.HCM”

Trong thời gian thực hiện đề tài từ 24/08/2008 đến 24/12/2008 chúng tôi tiến

hành khảo sát 4.610 trường hợp chó bệnh được đem đến khám và điều trị tại Trạm

Kết quả được ghi nhận như sau:

* Tỷ lệ bệnh về mắt trong thời gian khảo sát là 5,77 % (tương ứng với 266 ca)

- Có 199/3489 trường hợp chó dưới 5 năm tuổi mắc bệnh mắt, chiếm tỷ lệ 5,7%

- Có 54/923 trường hợp chó từ 5 đến 10 năm tuổi mắc bệnh mắt, chiếm tỷ lệ

5,85%

- Có 13/198 trường hợp chó trên 10 năm tuổi mắc bệnh mắt, chiếm tỷ lệ 6,56%

* Có 6 nhóm bệnh lý về mắt được ghi nhận với tỷ lệ theo thứ tự giảm dần là: viêm

kết mạc (34,59%), viêm giác mạc (34,21%), sa tuyến lệ (15,04%), chấn thương mắt

(11,28%), đục thủy tinh thể (3,76%) và các trường hợp khác (1,12%)

* Kết quả điều trị chung các bệnh về mắt tại Trạm là 78,57% Trong đó bệnh có

tỷ lệ khỏi cao nhất là sa tuyến lệ (100%) và bệnh đục thủy tinh thể có kết quả điều trị

thấp nhất

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục iv

Danh sách các hình vii

Danh sách các bảng viii

Danh sách biểu đồ viii

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích 2

1.3 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Cấu tạo cơ thể học của mắt 3

2.1.1 Bộ phận bảo vệ mắt 4

2.1.2 Các lớp màng bọc nhãn cầu 5

2.1.3 Các môi trường trong suốt của nhãn cầu 8

2.1.4 Các bộ phận phụ thuộc nhãn cầu 10

2.2 Các phương pháp chẩn đoán bệnh 10

2.2.1 Kiểm tra bằng mắt thường 10

2.2.2 Kiểm tra giác mạc bằng thuốc thử Fluoresccin 11

2.2.3 Kiểm tra áp lực mắt 11

2.2.4 Kính soi đáy mắt 11

2.3 Các bệnh thường gặp trên mắt chó và phương pháp điều trị 12

2.3.1 Viêm kết mạc (Mắt đỏ) 12

2.3.2 Viêm giác- kết mạc khô (Ketatoconjunctivitis sicca) 13

2.3.3 Viêm mí mắt 15

2.3.4 Lông quặm 16

Trang 6

2.3.5 Lông mi kép (Distichiasis) 17

2.3.6 Thể da trong mắt chó (Demoids in the eye of dogs) 17

2.3.7 Sa tuyến lệ (Cherry eye) 18

2.3.8 Loét giác mạc 19

2.3.9 Sự ăn mòn giác mạc không lành (Indolent corneal erosions)21 2.3.10 Loạn dưỡng giác mạc 22

2.3.11 Mắt xanh (Blue eye) 22

2.3.12 Mờ đục thủy tinh thể (Cataract) 23

2.3.13 Tăng nhãn áp (Glaucoma) 25

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 28

3.1 Nội dung 28

3.1.1 Thời gian và địa điểm khảo sát 28

3.1.2 Đối tượng khảo sát 28

3.1.3 Dụng cụ và vật liệu khảo sát 28

3.1.4 Nội dung nghiên cứu 28

3.1.5 Chỉ tiêu theo dõi 28

3.2 Phương pháp tiến hành 29

3.2.1 Lập hồ sơ bệnh án 29

3.2.2 Khám lâm sàng 29

3.2.3 Điều trị bệnh 29

3.2.4 Các công thức tính 29

3.2.5 Xử lý thống kê 30

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Tỷ lệ bệnh mắt trên chó 31

4.2 Tỷ lệ bệnh mắt trên chó theo giống 31

4.3 Tỷ lệ bệnh mắt trên chó theo giới tính 33

4.4 Tỷ lệ bệnh mắt trên chó theo lứa tuổi 34

4.5 Các nhóm bệnh về mắt và kết quả điều trị 34

4.5.1 Viêm kết mạc 35

4.5.2 Viêm giác mạc 36

Trang 7

4.5.4 Chấn thương mắt 39

4.5.5 Đục thủy tinh thể 42

4.5.6 Các trường hợp khác 42

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 47

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Cấu tạo mắt chó 3

Hình 2.2 Hốc mắt 4

Hình 2.3 Bộ khám ngũ quang 11

Hình 2.4 Lông quặm trên chó 16

Hình 2.5 Thể da trong mắt chó 18

Hình 4.1a Viêm kết mạc trước khi điều trị 36

Hình 4.1b Sau khi điều trị viêm kết mạc 36

Hình 4.2a Viêm (loét) giác mạc trước khi điều trị 37

Hình 4.2b Viêm (loét) giác mạc sau khi điều trị 37

Hình 4.3a Chó bị sa tuyến lệ 38

Hình 4.3b Phẫu thuật sa tuyến lệ 38

Hình 4.3c Sau khi phẫu thuật sa tuyến lệ 38

Hình 4.4a: Chó bị sa nhãn cầu 39

Hình 4.4b: Phẫu thuật nhét nhãn cầu 39

Hình 4.5a Chấn thương nhãn cầu 40

Hình 4.5b Phẫu thuật cắt bỏ nhãn cầu 40

Hình 4.5c Sau khi hậu phẫu cắt bỏ nhãn cầu 40

Hình 4.6a Chó bị rách mí mắt 41

Hình 4.6b Phẫu thuật may mí mắt 41

Hình 4.6c Sau khi may mí mắt 41

Hình 4.7 Đục thủy tinh thể 42

Hình 4.8 Tăng nhãn áp 43

Hình 4.9 Bứu mí mắt 43

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Tỷ lệ bệnh mắt trên chó 31

Bảng 4.2 Tỷ lệ bệnh mắt trên chó theo nhóm giống 32

Bảng 4.3 Tỷ lệ từng giống chó ngoại mắc bệnh về mắt 32

Bảng 4.4 Tỷ lệ bệnh mắt trên chó theo giới tính 33

Bảng 4.5 Tỷ lệ bệnh mắt trên chó theo lứa tuổi 34

Bảng 4.6 Tỷ lệ các nhóm bệnh về mắt và kết quả điều trị 35

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ từng giống chó ngoại mắc bệnh về mắt 33

Trang 10

Tuy nhiên cùng với sự gia tăng đàn chó thì tỷ lệ bệnh xảy ra trên chúng ngày một nhiều hơn Và một trong những bệnh hiện nay được quan tâm là những bệnh về mắt trên chó Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh về mắt, có thể là do chó mắc những bệnh do vi khuẩn, virus, nấm, bẩm sinh,… Nhưng phổ biến nhất là do sự bất cẩn của chủ nuôi làm chó bị chấn thương ở mắt như bị tai nạn giao thông, bị dị vật vào mắt hoặc cắn nhau… và hậu quả của những bệnh này khá nghiêm trọng Nếu thú không được điều trị sớm và hợp lý thì không những ảnh hưởng đến thị lực của thú mà trường hợp nặng thú sẽ bị mù hẳn

Mắt là bộ phận rất quan trọng trên cơ thể của thú cũng như con người, chính vì thế việc chăm sóc và bảo vệ đôi mắt là rất cần thiết Nhân y đã có những tiến bộ kỹ thuật rất cao và được đưa vào ứng dụng trong chẩn đoán cũng như điều trị các bệnh về nhãn khoa Mặc dù vậy những nghiên cứu chuyên sâu về mắt trong lĩnh vực thú y ở nước ta vẫn còn hạn chế, nguồn tài liệu tham khảo cũng không nhiều Tuy nhiên, trong thực tế điều trị bệnh trên chó thì các bệnh lý về mắt cũng rất đa dạng và phổ biến

Trang 11

Để có cái nhìn tổng quát hơn về các bệnh trên mắt chó, được sự đồng ý của khoa Chăn Nuôi Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Trạm Chẩn đoán Xét nghiệm và Điều trị, dưới sự hướng dẫn của PGS Tiến Sĩ Lê Văn Thọ

và BSTY Vũ Kim Chiến, chúng tôi tiến hành đề tài:

“KHẢO SÁT CÁC BỆNH VỀ MẮT TRÊN CHÓ VÀ GHI NHẬN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠM CHẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM VÀ ĐIỀU TRỊ CHI CỤC THÚ Y TP.HỒ CHÍ MINH“

- Ghi nhận các triệu chứng lâm sàng của các bệnh về mắt

- Theo dõi kết quả điều trị các bệnh về mắt

Trang 12

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 CẤU TẠO CƠ THỂ HỌC CỦA MẮT

Trang 13

Mắt là cơ quan thu nhận ánh sáng, nó hoạt động nhờ các bộ phận phụ thuộc bao quanh có nhiệm vụ hỗ trợ và bảo vệ gồm:

2.1.1 Bộ phận bảo vệ mắt

* Hốc mắt: Có nhiệm vụ chứa và bảo vệ nhãn cầu, là một xoang xương

hình nón nằm ở hai bên sống mũi được giới hạn bởi 6 xương: Xương trán, xương bướm, xương hàm, xương gò má, xương khẩu cái và xương lệ Các xương này được bao bọc bởi màng xương hốc mắt, ở đỉnh hốc mắt, màng xương hòa nhập với màng cứng bao quanh thị thần kinh ở phía trước, màng xương hốc mắt tiếp nối với vách hốc mắt và màng xương mặt

Giữa nhãn cầu và hốc mắt có tổ chức mỡ là mô đệm và nguồn cung cấp máu chủ yếu cho hốc mắt là động mạch mắt

Trang 14

- Mi mắt là lớp da che phủ nhãn cầu, lớp da mi mỏng, không có lớp mỡ dưới da Mi trên rộng và dày hơn mi dưới và chúng cách nhau bởi khe mi Trên chó lông mi chỉ hiện diện ở mí trên và giúp ngăn chặn bớt bụi lọt vào mắt

- Cơ nhắm mắt chính của mi là cơ vòng cung mi Cơ này co (nhờ tác dụng của dây thần kinh mặt - dây thần kinh VII) làm cho khe mi hẹp lại, một phần của

cơ vòng cung mi còn đóng vai trò bơm nước mắt

- Cơ mở mắt gồm cơ nâng mi và cơ sụn trên (cơ Muller):

+ Cơ nâng mi trên chịu trách nhiệm mở mi trên và được chi phối bởi dây thần kinh vận nhãn (dây thần kinh III)

+ Cơ Muller là cơ trơn, bổ sung hoạt động của cơ nâng mi mắt trên

- Sụn mi: là tấm mô liên kết đóng vai trò như bộ xương của mi mắt Những

mô xơ liên kết quanh sụn mi bám vào màng xương hố mắt tạo thành vách ngăn hốc mắt là giới hạn giữa mi mắt và hốc mắt Trong sụn mi có các tuyến như:

+ Tuyến Meibomius (tuyến mi - tiết bã nhờn ở dưới kết mạc của mi mắt): nằm ở bên trong bờ mi, có 20 - 40 tuyến trong mỗi mi mắt, những ống dẫn lưu của chúng được phân bố dọc khe bên trong mép mi

+ Tuyến Zeis: là tuyến bã nhờn nối liền với nang lông mi

Ngoài ra còn có các tuyến khác như: tuyến Moll, tuyến Krause, tuyến Wolfring nằm trên kết mạc sụn mi

* Kết mạc:

Nằm sau sụn mi, kết mạc là một lớp niêm mạc trong suốt lót mặt sau mi mắt và mặt trước nhãn cầu Ở trong góc mắt, kết mạc hơi dày nhô thành cục lệ và gấp lại thành một nếp gấp bán nguyệt rất phát triển gọi là mí mắt thứ ba Mí mắt thứ ba gồm lớp sụn và mô bạch mạch, đây là màng bảo vệ cơ học phụ cho mắt

Trang 15

Còn 1/5 phía trước trong suốt gọi là giác mạc, do đó có thể thấy được mống mắt ở phía sau (tròng đen) Độ cứng của nhãn cầu là do áp suất của các dịch chứa bên

trong Củng mạc có nhiệm vụ bảo vệ cho các lớp màng và các môi trường bên

* Màng bồ đào (màng mạch nho): Là lớp lót bên trong củng mạc, là

màng giàu mạch máu gồm ba phần từ trước ra sau: mống mắt, thể mi và hắc mạc Mống mắt và thể mi gọi là màng bồ đào trước còn hắc mạc gọi là màng bồ đào sau Nhiệm vụ chung của màng bồ đào là nuôi dưỡng nhãn cầu và điều hòa nhãn

áp

- Mống mắt cấu tạo chủ yếu bởi mô liên kết và cơ trơn, là màng ngăn giữa tiền phòng và hậu phòng, có lỗ tròn ở giữa gọi là đồng tử Mống mắt tiếp giáp với thể thủy tinh phía sau và thủy dịch phía trước, màu sắc mống mắt thay đổi tùy theo màu sắc của các tế bào sắc tố bên trong Mống mắt được cấu tạo bởi hai cơ:

+ Cơ co đồng tử: là cơ vòng quanh đồng tử, có tác dụng làm đồng tử giảm đường kính khi bị kích thích ánh sáng

+ Cơ giãn đồng tử: có tác dụng làm nở đồng tử khi trong tối

Nhờ sự co giãn phối hợp giữa cơ co và cơ giãn đồng tử nên mống mắt có tính chất co giãn theo cường độ ánh sáng, độ nhìn xa - gần, đồng tử thu hẹp hoặc nở rộng

ra

Mống mắt có nhiều mạch máu và các sợi thần kinh cảm giác, nó có nhiệm

vụ hạn chế các tia sáng quá mạnh từ ngoài vào mắt bằng cách điều chỉnh kích thước đồng tử và điều tiết lượng ánh sáng, ngăn cản các tia ở vùng rìa không cho lọt vào vì chúng sẽ làm cho hình ảnh ngoại vật trên võng mạc không rõ

Trang 16

- Thể mi: là một gò hình nhẫn, nối liền với mống mắt ở phía trước liên tục với hắc mạc ở phía sau Thể mi gồm hai phần:

+ Phần ụ thể mi: nối liền sau mống mắt và nối tiếp phần phẳng, đầu ụ có những sợi dây chằng Zinn (dây treo thủy tinh thể), phần này chứa nhiều mạch máu, được coi là những tuyến tiết ra thủy dịch, cung cấp cho buồng trước của mắt

+ Phần phẳng: nối liền với ụ thể mi và nối tiếp với võng mạc, phần này không chứa mạch máu

- Mạch mạc (hắc mạc): là lớp mô mỏng nối tiếp với thể mi, có nhiều mạch máu và sắc tố Nhờ sắc tố, hắc mạc tạo thành buồng tối trong nhãn cầu, tạo điều kiện cho hình của vật hiện rõ trên võng mạc

Hắc mạc có nhiệm vụ nuôi dưỡng phần ngoài võng mạc

* Võng mạc:

Là màng lót trong nhất của nhãn cầu do các sợi thần kinh thị giác tỏa ra bọc lấy toàn bộ mặt trong của mạch mạc Về cấu tạo mô học, võng mạc gồm 10 lớp tế bào nhưng quan trọng nhất là các tế bào thị giác Hệ thống mạch máu trong võng mạc rất phong phú, nằm trước các tế bào thị giác nhưng rất khó quan sát ở trạng thái bình thường Võng mạc tiêu thụ oxy nhiều nhất trên một đơn vị cân nặng so với bất kỳ mô nào trên cơ thể nên có hai hệ thống tuần hoàn: 1/3 phía ngoài được cung cấp bởi tuần hoàn mạch mạc, 2/3 phía trong nhận dinh dưỡng từ tuần hoàn võng mạc Cấu tạo từ trong ra ngoài, võng mạc gồm:

- Tế bào võng mạc: là loại biểu mô sắc tố, tế bào phát ra những mõm bào tương trùm lên tế bào nhận cảm ánh sáng Nó có vai trò tiếp nhận kích thích và dinh dưỡng đối với tế bào nhận cảm

- Tế bào nhận cảm ánh sáng: gồm hai loại tế bào hình que và hình nón Tế bào que chứa Rhodopsin giúp thú nhìn được trong bóng tối Tế bào nón chứa Iodosin giúp thú nhìn sự vật trong điều kiện ánh sáng ban ngày

- Tế bào lưỡng cực thứ I: kích thích ánh sáng từ tế bào que và nón sẽ truyền đến sợi gai của tế bào này sau đó theo sợi trục của tế bào đến các tế bào hạch ở dưới

Trang 17

- Tế bào hạch: kích thích sẽ được truyền tiếp đến những tế bào đa cực gọi là

tế bào hạch Những tế bào này sẽ tạo ra hạch thần kinh thị giác Có hai dạng: hạch lớn tham gia hình thành cảm giác thấy, hạch nhỏ giữ vai trò giao cảm liên lạc với các trung khu ở hành tủy Những hạch này còn tiết ra dịch chảy về thủy tinh dịch

- Sau lớp hạch là lớp sợi thần kinh được tạo bởi nhánh trục của những tế bào hạch để tạo ra thần kinh thị giác Các sợi thần kinh thị giác đi qua lỗ thị giác, giao thoa với thị thần kinh bên kia rồi truyền cảm giác vào thùy chẩm là cơ quan thị giác trung ương

Ngoài những tế bào thần kinh trên, võng mạc còn có mô thần kinh đệm, chứa những tế bào thần kinh đệm xếp thành cột hướng từ trong ra ngoài

Tuy nhiên không phải tất cả các vùng của võng mạc đều có cấu tạo giống nhau vì hình ảnh thường chỉ tập trung ở đáy nhãn cầu Ở vùng này cảm giác và thị giác rõ hơn và được gọi là điểm vàng, tập trung nhiều tế bào nhận ánh sáng Một vùng khác của võng mạc là điểm mù, không chứa tế bào nhận ánh sáng mà chỉ là nơi tập trung các sợi trục của tế bào hạch để tạo thành dây thần kinh thị giác

2.1.3 Các môi trường trong suốt của nhãn cầu

Bao gồm: giác mạc, thủy dịch, thủy tinh thể và thể pha lê

* Giác mạc:

Chiếm 1/5 phần trước của vỏ ngoài nhãn cầu, trong suốt, có độ cong và hơi lồi ra phía trước như mặt kính đồng hồ Mặt trước giác mạc lồi, mặt sau lõm và mặt trước nhỏ hơn mặt sau

Mặt trước giác mạc được bao phủ bởi 5 đến 6 lớp tế bào biểu mô, có tác dụng kháng lại sự nhiễm trùng hơn những lớp sâu của giác mạc Mặt sau giác mạc cũng được bao phủ một lớp tế bào nội mô, có chức năng làm thoát lượng nước thừa từ giác mạc, nên khi bị tổn hại lớp này thì giác mạc sẽ bị phù và đục

Giác mạc không có mạch máu và bạch mạch, có cấu tạo gồm 5 lớp từ ngoài vào trong: Lớp biểu mô, màng Bowman, nhu mô, màng Descemet và nội mô

- Lớp biểu mô: chiếm khoảng 10% bề dày giác mạc, là biểu mô lát kép không hóa keratin tạo thành, có nhiệm vụ bảo vệ giác mạc chống nhiễm trùng

Trang 18

Nếu có vết loét thì các tế bào biểu mô lân cận sẽ di chuyển đến và phát triển nhanh chóng để lấp lại chỗ khuyết Biểu mô nhận oxy trực tiếp từ không khí để khử nước

và tham gia quá trình chuyển hóa năng lượng xảy ra trong nhu mô

- Màng Bowman: có các sợi collagen xếp lộn xộn đi vào nhu mô phía trước Lớp Bowman dính vào nhu mô bởi các sợi collagen

- Nhu mô: chiếm 90% bề dày giác mạc, gồm các lớp collagen nằm sát nhau Collagen chiếm 71% toàn bộ trọng lượng khô giác mạc Nhu mô khi bị tổn thương

* Thủy dịch:

Là chất lỏng trong suốt do thể mi tiết ra, có cấu tạo giống như dịch não tủy, chứa trong khoảng cách giữa mặt sau giác mạc và mặt trước thủy tinh thể, bị ngăn thành hai khoang bởi mống mắt, gọi là tiền phòng và hậu phòng

Tiền phòng được giới hạn phía trước bởi giác mạc và rìa giác mạc, giới hạn phía sau bởi mống mắt Chỗ thoát thủy dịch từ tiền phòng ra ngoài nhãn cầu qua góc mống mắt- giác mạc hay là góc tiền phòng

Hậu phòng được giới hạn phía trước là mặt sau mống mắt và phía sau bởi thủy tinh thể

Tiền phòng và hậu phòng thông thương nhau qua lỗ đồng tử Thủy dịch sau khi được tiết ra từ thể mi được dẫn lưu từ hậu phòng ra tiền phòng qua lỗ đồng tử

và thoát ra ngoài nhãn cầu qua góc tiền phòng trong hệ thống ống dẫn lưu nhỏ là ống Schlemm nằm trên củng mạc

Thủy dịch có nhiệm vụ nuôi dưỡng các tổ chức vi mạch của nhãn cầu như giác mạc, thủy tinh thể Và thủy dịch còn đóng vai trò quan trọng trong điều hòa nhãn áp do thể mi tiết ra

Trang 19

Cấu tạo thủy tinh thể gồm: lớp bao, lớp vỏ bên ngoài và hạt nhân bên trong Thú càng già, thủy tinh thể giảm tính đàn hồi, trở nên cứng hơn và khó thay đổi hình dạng

Thủy tinh thể không có mạch máu và dây thần kinh, nó được nuôi dưỡng bằng sự thẩm thấu của thủy dịch và nó có nhiệm vụ làm hội tụ ánh sáng trên võng mạc

* Thể pha lê:

Chiếm 4/5 thể tích nhãn cầu, không có mạch máu, là một chất dịch dạng keo giống lòng trắng trứng, và được bao bọc bởi một lớp màng Hyaloid, nằm phần sau nhãn cầu, tiếp giáp với mặt sau bao thủy tinh thể, dây chằng Zinn, thể mi và võng mạc

Thể pha lê nếu mất đi sẽ không tái tạo lại được

Thể pha lê có nhiệm vụ dẫn truyền ánh sáng sau khi hội tụ ở thủy tinh thể vào đến võng mạc Ngoài ra, nó còn làm nhiệm vụ dinh dưỡng của thủy tinh thể và võng mạc

Trang 20

2.1.4 Các bộ phận phụ thuộc nhãn cầu

* Tuyến lệ:

Mỗi mắt có chứa tuyến lệ chính phía trên mắt và hai tuyến lệ phụ ở mí mắt thứ ba, có nhiệm vụ tiết ra nước mắt, và nước mắt có chứa muối nên có tính sát khuẩn nhẹ

- Sự tiết nước mắt: Bề mặt của nhãn cầu được giữ ẩm và bóng láng nhờ nước mắt được tiết ra bởi tuyến lệ cùng với những ống tuyến tiết chất nhờn của những tổ chức tiết khác và những tế bào của kết mạc và mi mắt

- Sự hình thành lớp phim nước mắt trước giác mạc (từ tuyến lệ chính và tuyến lệ phụ) tạo nên lớp dịch giác mạc bao gồm 3 lớp: lớp mỡ bên trong, lớp nước mắt ở giữa và lớp nhầy ở ngoài để làm giảm bớt sự bốc hơi của lớp nước bên dưới

2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH

2.2.1 Kiểm tra bằng mắt thường

Việc kiểm tra được thực hiện trong một phòng đủ ánh sáng nhưng có thể được làm tối đi dễ dàng khi cần thiết Đối với những giống chó nhỏ thì chủ nuôi giữ trên bàn kiểm tra, cố định đầu và hướng về nguồn sáng giúp cho sự quan sát thuận lợi, đối với những giống chó có tầm vóc lớn thì có thể để chúng ngồi trên sàn nhà kiểm tra Sử dụng dụng cụ khám mắt để dễ dàng quan sát và có sự so sánh

Trang 21

ở cả hai mắt Quan sát từng bộ phận, từ ngoài vào trong: mí mắt, kết mạc, nhãn cầu, giác mạc, mống mắt, đồng tử

Sờ nắn quanh hốc mắt, mi trên - dưới sẽ giúp ước lượng được cảm giác ở vùng thể mi và nhận thức được các khối u, các ổ viêm bên trong và xung quanh hố mắt

Hình 2.3: Bộ khám ngũ quan 2.2.2 Kiểm tra giác mạc bằng thuốc thử Fluorescein

Sử dụng giấy thấm thuốc thử Fluorescein vô trùng thì thích hợp hơn thuốc nhỏ trong việc xác định vết loét hoặc vết trầy trên giác mạc Do lớp biểu mô tại đó không còn nên giác mạc sẽ được nhuộm xanh Ngoài ra, giấy thử Fluorescein này còn rất hữu ích trong việc chứng minh sự hiện diện của bệnh Keratoconjunctivitis sicca (viêm giác - kết mạc khô) bằng việc đổi từ màu hồng thành màu đỏ tươi

Trang 22

Dùng hai ngón tay trỏ ấn vào hai mi mắt trên vùng củng mạc, khi mắt đã đóng kín thì có thể cảm nhận được áp lực nội nhãn Nếu một mắt có nhãn áp cao hơn bình thường khi sờ nắn sẽ có cảm giác bên đó căng hơn

2.2.4 Kính soi đáy mắt

- Trực tiếp: giúp thu nhận hình ảnh rõ nét từ tận sâu trong mắt đã được phóng đại khoảng 14 lần Khoảng cách từ mắt người khám đến mắt thú là 2,5cm, đồng thời mắt người và thú phải ở cùng một phía khi kiểm tra Phương pháp này hơi khó thực hiện do sự cử động của thú và đòi hỏi kinh nghiệm của bác sĩ

- Gián tiếp: bằng cách đặt một thấu kính lõm ngay phía trước kính soi đáy mắt chuẩn và với khoảng cách 37cm ta sẽ thu được một hình ảnh đảo ngược và được phóng to gấp 4 lần Cách quan sát này sẽ tạo ra một khoảng cách xa hơn và ít nguy hiểm hơn Hình ảnh đáy mắt quan sát được sẽ nhỏ hơn nhưng rõ và sáng hơn Khi có sự mờ đục giác mạc, sự xơ cứng hay xuất huyết trong pha lê thể thì sẽ nhận được một phản xạ ở đáy mắt và quan sát thấy được bằng phương pháp gián tiếp trong khi đó rất khó nhận thấy nếu dùng kính soi trực tiếp Vùng võng mạc quan sát được sẽ rộng lớn nhất là ở phần trung tâm với gai thị, mạch bạch huyết và điểm vàng

Phương pháp trực tiếp thích hợp khi nghiên cứu những chi tiết cực nhỏ và phần trước của mắt, còn phương pháp gián tiếp sẽ cho hình ảnh sáng hơn, nổi rõ hơn của đáy mắt

2.3 CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN MẮT CHÓ VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Trang 23

và số lượng mạch máu trong mô Một trong hai nguyên nhân trên dẫn đến mắt có

mủ

Nguyên nhân nhiễm trùng thường là do vi khuẩn, nấm,…và tạo ra một lớp

mủ vàng dày đặc hoặc mủ xanh Khi nhắm mắt mí mắt bị dính lại với nhau do sự tích tụ của tế bào bạch cầu được phóng thích để chống lại sự nhiễm trùng Viêm kết mạc thường gây đau, là nguyên nhân làm cho thú cào hay cọ sát mắt vào ghế, thảm,…

* Tiên lượng:

Viêm kết mạc không đe dọa đến cuộc sống, tuy nhiên, trong trường hợp nhiễm trùng, vi sinh vật lan rộng và ảnh hưởng đến những cấu trúc khác của mắt làm cho thị lực bị suy yếu Thêm vào đó, sự nhiễm trùng do dị vật có thể là nguyên nhân gây loét giác mạc Viêm kết mạc có thể là một triệu chứng của nhiều bệnh nguy hiểm khác như bệnh Carre Một vài trường hợp viêm kết mạc bị nhiễm trùng có thể truyền lây qua những cá thể khác cùng bầy, tuy nhiên nếu viêm do bị kích ứng thì bệnh sẽ không lây lan và không ảnh hưởng đến những cá thể khác

* Điều trị :

Thuốc nhỏ mắt và thuốc mỡ thường được sử dụng trong việc điều trị Thuốc nhỏ mắt dễ hòa tan nên được cung cấp mỗi giờ, trong khi đó thuốc mỡ có tác dụng kéo dài hơn thường được sử dụng 2-3 lần /ngày

Nếu nguyên nhân do dị ứng thì nên sử dụng những loại thuốc có chứa chất kháng viêm, như hydrocortisone

Nếu nguyên nhân là nhiễm trùng thì sử dụng thuốc kháng khuẩn hoặc kháng nấm Trong một vài trường hợp có thể kết hợp thêm kháng sinh dạng uống để điều trị cục bộ

Tuy nhiên trường hợp viêm dẫn đến loét giác mạc thì không được sử dụng thuốc có chứa corticoid vì chất này cản trở sự lành vết thương và làm vết loét trở nên xấu hơn

Hầu hết bệnh viêm kết mạc đáp ứng tốt với thuốc nên sẽ bình phục hoàn toàn từ 1-2 tuần

Trang 24

2.3.2 Viêm giác - kết mạc khô (Ketatoconjunctivitis sicca)

Viêm giác - kết mạc khô hoặc bệnh khô mắt là những từ đồng nghĩa để chỉ một căn bệnh mắt do thiếu nước mắt Viêm giác- kết mạc khô là một bệnh đe dọa đến thị lực mà thường được chẩn đoán lầm là viêm kết mạc do vi khuẩn hoặc do dị ứng hoặc được cho là nguyên nhân của loét giác mạc

Viêm giác- kết mạc khô có thể cấp tính hoặc mãn tính, thoáng qua hoặc kéo dài, xảy ra ở một mắt hoặc cả hai mắt Thông thường viêm giác- kết mạc khô là một bệnh lý về mắt do viêm và thoái hóa mà đòi hỏi phải điều trị lâu dài

* Nguyên nhân:

Nguyên nhân của bệnh viêm giác- kết mạc khô gồm:

- Nhiễm virus: viêm giác- kết mạc khô do virus Carré có thể xảy ra đồng thời với các triệu chứng toàn thân khác của bệnh hoặc xảy ra nhiều tuần sau khi chó hết triệu chứng của bệnh Carré

- Bất thường bẩm sinh: giảm sản hay bất sản tuyến lệ Viêm giác- kết mạc khô do bẩm sinh thường xảy ra ở một bên mắt và hay gặp ở các giống chó như Pug Trung quốc, Bulldog Anh, chó Terrier,…

- Viêm do tổn thương: chấn thương, nhiễm trùng tai, tổn thương não có thể dẫn đến viêm giác - kết mạc khô xuất phát từ mô thần kinh

- Độc tính của thuốc: điều trị bằng atropin toàn thân hoặc cục bộ và các hình thức gây mê có thể dẫn đến viêm giác - kết mạc khô thoáng qua Atropin gây khô mắt có thể kéo dài đến 5 tuần (Hollingsworth et al., 1992),…

* Triệu chứng lâm sàng :

Triệu chứng của viêm giác - kết mạc khô phụ thuộc nhiều vào mức độ và thời gian của sự thiếu hụt nước mắt và đi kèm với hình dạng mi mắt Triệu chứng lâm sàng có thể cấp tính hoặc mãn tính, ở một bên hoặc cả hai bên, và khi ở cả hai bên thì tính không đối xứng có thể thấy rõ

Triệu chứng thường thấy nhất của viêm giác - kết mạc khô trên chó là:

- Có một lớp màng nhầy, dày bám chặt hoặc một màng nhầy mủ bao phủ bên ngoài giác mạc mắt, gấp vào bên trong kết mạc và các mô quanh mắt

Trang 25

- Co thắt cơ mi

- Giác mạc và kết mạc thiếu sự phân tiết nước mắt sẽ trở nên mờ đục, khô

và bất thường Kết mạc bị viêm có thể sung huyết, giác mạc có thể phù, loét

- Loét giác mạc với viêm giác - kết mạc khô thường gặp trong các trường hợp cấp tính hoặc giai đoạn đầu của bệnh và làm cho sự phân bố nước mắt không đầy đủ

- Với viêm giác - kết mạc khô mãn tính, giác mạc bình thường trong suốt chuyển thành mờ đục, dày lên, để lại sẹo, hóa xơ Những tình trạng này làm thay đổi chỉ số khúc xạ giác mạc và có thể gây mù mắt

* Liệu pháp điều trị :

Mục đích của điều trị viêm giác - kết mạc khô bao gồm phục hồi độ ẩm ướt cho mô mắt và điều trị các tình trạng kế phát như là viêm kết mạc do vi khuẩn, loét giác mạc và viêm giác mạc

Những thuốc kích thích nước mắt và các loại nước mắt nhân tạo là điểm chính để điều trị viêm giác- kết mạc khô, gồm dạng nước pha loãng như cyclosporine (Optimmune, Schering - Plough; Sandimmune Sandoz)

Viêm giác - kết mạc khô ở mức độ nặng thì sử dụng cyclosporine ở dạng thuốc mỡ (Optimmune, Schering - Plough) dùng điều trị mỗi ngày để kích thích sự tiết nước mắt ở mức bình thường

- Cyclosporine cũng cải thiện bệnh lý ở giác mạc, làm giảm tiết nước mắt

Sự phân bố mạch và sự nhiễm sắc tố có thể bị giảm chậm lại Khôi phục lại sự trong suốt của giác mạc và sự gia tăng tầm nhìn Cyclosporine dùng điều trị cục bộ cũng thành công ở chó bị viêm bề mặt giác mạc mãn tính

- Corticosteroid thỉnh thoảng được sử dụng một cách thận trọng để làm giảm viêm và sưng kết mạc nhưng nó có thể làm chậm sự tiết nước mắt hoặc ức chế sự phân bố mạch bề mặt giác mạc và tạo sẹo Corticosteroids không nên dùng nếu có vết loét trên giác mạc

Trang 26

- Những thuốc chống chỉ định cho thú bị viêm giác - kết mạc khô gồm: chất kháng cholin như atropin, các loại thuốc gây tê cục bộ để làm giảm sự khó chịu, sulfonamides và những thuốc khác làm giảm sự phân tiết nước mắt

Khi nhận dạng sớm và loại bỏ hoặc điều chỉnh nguyên nhân có thể phục hồi

sự tiết nước mắt bình thường Thường tiến triển của bệnh không nguy hiểm đến tính mạng mà nó chỉ giới hạn ở giác mạc và mô kết mạc Hầu hết thú bệnh viêm giác - kết mạc khô đòi hỏi phải có quá trình điều trị lâu dài để làm giảm bớt triệu chứng lâm sàng và để duy trì tầm nhìn

2.3.3 Viêm mí mắt

Là sự nhiễm trùng của rìa mí mắt Gây đau, đỏ và kết thành một lớp như vẩy cá hoặc có những vết loét trên rìa mi

* Triệu chứng:

Triệu chứng gồm có lớp mủ dày từ mắt, co thắt mi khi ra ngoài sáng, sưng

và xơ cứng mí mắt, viêm bên trong bề mặt mí mắt (viêm kết mạc), …

* Nguyên nhân:

- Do sự nhiễm khuẩn ở những nang lông mi

- Dị ứng từ thuốc, xà phòng hoặc thức ăn

- Do côn trùng hoặc bọ chét cắn

- Viêm da

- Rối loạn nội tiết có thể góp phần gây nên bệnh viêm mí mắt mãn tính

- Những bất thường bẩm sinh : lông quặm,…

* Điều trị:

- Vệ sinh mắt, mí mắt bằng gạc thấm dung dịch NaCl 5% ấm

- Nên cắt ngắn những phần lông xung quanh mắt

- Sử dụng kháng sinh từ 1-2 tuần

2.3.4 Lông quặm (Entropion)

Đây là chứng mi mắt cuộn vào bên trong làm lông mi đâm vào mắt Đa số trường hợp lông quặm trên chó là do di truyền, hay gặp ở một số giống chó như : Shar Pei, Chow Chow, Bulldog,…

Trang 28

Trong trường hợp nặng, giác mạc có thể bị loét

- Phương pháp phẫu thuật:

Mí mắt được tách ra và vùng lông mi bất thường sẽ được cắt bỏ

Cả 2 phương pháp trên cần phải gây mê Sau khi phẫu thuật có thể sử dụng kháng sinh nhỏ mắt để tránh nhiễm trùng

2.3.6 Thể da trong mắt chó (Demoids in the eye of dogs)

Trang 29

Là một dạng da hình thành bất thường ở bên trong giác mạc hoặc kết mạc Biểu bì giác mô bị ảnh hưởng được thay thế bằng biểu bì da có cả các bộ phận phụ thuộc của da bên dưới như: mô mỡ, nang lông, lông,…

Thể da trong mắt thường là bệnh tích bẩm sinh thấy ở các thú mới sinh, có thể ở một hoặc hai mắt

Biểu bì da nằm trên giác mạc là vật cản trở thị lực của thú

Lông cũng có thể là nguyên nhân gây kích ứng và làm loét giác mạc

Trang 30

Hình 2.5: Thể da trong mắt chó 2.3.7 Sa tuyến lệ (Cherry eye)

Khi tuyến của mí mắt thứ 3 lọt ra khỏi vị trí, nó nhô ra từ phía sau mí mắt như một khối thịt màu đỏ (mộng mắt) Tình trạng này thường xảy ra trên thú non ở một số giống chó như Cocker Spaniel, Lhasa Apso, Shihtzu, Poodle, Beagle, Bulldog,…

* Nguyên nhân:

Nguyên nhân chưa được xác định rõ, tuy nhiên có thể là do sự lỏng lẻo của

mô liên kết quanh tuyến Tuyến này sa ra ngoài, trở nên kích ứng, dẫn đến hiện tượng cương mạch, sưng lên và lộ ra ngoài

* Phương pháp điều trị:

Phương pháp thường được sử dụng nhất là phương pháp đốt bỏ tuyến này

Kỹ thuật như sau: dùng nhíp có mấu gắp mộng mắt lên, kẹp ở đáy mộng mắt bằng pince cầm máu, cắt mộng mắt ở phía trên, sau đó sử dụng đốt điện để cắt khối mộng này, mục đích đốt mộng là để co mạch

Ngoài ra phẫu thuật đưa tuyến lệ trở lại vị trí cũ cũng là phương pháp khắc phục tình trạng này hiệu quả Thủ thuật này gọi là “kỹ thuật túi”, một túi nhỏ được tạo ra gần vị trí cũ của tuyến lệ và tuyến này được đặt vào bên trong túi và túi được khâu đóng lại

Hậu phẫu tránh sự viêm nhiễm có thể kéo dài từ 1-2 tuần

Trang 31

2.3.8 Loét giác mạc

Loét giác mạc là bệnh tiềm tàng nguy hiểm xảy ra phổ biến trên chó Đây là một dạng tổn thương xảy ra trên bề mặt giác mạc Khi bề mặt của biểu mô giác mạc bị tổn hại thì bề mặt trơn láng của giác mạc trở nên gồ ghề và có sự xâm nhập của vi khuẩn gây ra nhiễm trùng Những tổ chức bị nhiễm trùng có thể lan ra tạo thành vết loét trên giác mạc gây đau và rát cho thú Trường hợp nặng có thể gây đục thủng hoàn toàn mắt nếu không được điều trị kịp thời

* Nguyên nhân :

Có rất nhiều nguyên nhân gây loét giác mạc như:

- Chấn thương do bị đánh, cắn lộn, bụi hay mảnh vỡ đâm vào mắt,…

- Do cấu tạo mi mắt khác thường: lông quặm,…

Tiên lượng tốt: Khi bị trầy, trên giác mạc xuất hiện màng sương mù mỏng

Có những mao mạch nhỏ di chuyển từ tròng trắng đến giác mạc và tìm những mô

bị hư hại Trong vòng vài ngày những mạch máu này mang những mô lành và chất lỏng đến vết loét, lấp đầy chỗ khuyết Tuy nhiên vết loét đã lành nhưng cũng để lại sẹo trên giác mạc, và nó ảnh hưởng đến sự giảm sút thị lực của mắt

Ngày đăng: 10/08/2018, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm