MỞ ĐẦU Triết học Hy Lạp ngay từ khi mới ra đời đã quan tâm đến những vấn đề bản thể luận về thế giới. Câu hỏi “thế giới bắt đầu từ đâu và quay về đâu?” trở thành điểm xuất phát cho các cuộc tranh luận, nhưng ngay vì hướng đến thần linh như trước đây đã nỗ lực truy tìm “nguyên nhân cuối cùng”, bản nguyên của vạn vật ngay trong long vạn vật. Bản nguyên không chỉ đơn giản là một thứ vật chất như cách hiểu của vật lý học hay hóa học hiện đại, mà là một cái gì đó làm cơ sở cho sự xuất hiện giới tự nhiên và sự sống. Một khuynh hướng nghiên cứu mới, nghiêm túc đã mở ra dung lý trí xét đoán mọi thứ. Khuynh hướng ấy xuất phát từ xứ Ionie, nơi khai sinh ra nhiều trường phái triết học tiêu biểu của Hy Lạp cổ đại. Bản thể luận với tư cách bộ phận quan trọng nhất của siêu hình học có nhiệm vụ phải luận chứng cho sự tồn tại của mẫu lý tưởng ấy về mặt lôgíc. Do vậy, nội dung, cách thức tiếp cận bản thể luận là phải chỉ ra được các nguyên tắc của tồn tại văn hoá, trong đó bộ phận hạt nhân là phải chỉ ra được cấu trúc tồn tại người với tư cách một thực thể văn hoá. Theo chúng tôi, cách tiếp cận bản thể luận không phải là cách tiếp cận mới, nhưng là một trong nhiều cách tiếp cận có tính gợi mở cao, cho phép chúng ta có “cách nhìn” khác và tỏ ra hữu dụng trong việc nghiên cứu lịch sử triết học.
Trang 1MỞ ĐẦU
Triết học Hy Lạp ngay từ khi mới ra đời đã quan tâm đến những vấn đềbản thể luận về thế giới Câu hỏi “thế giới bắt đầu từ đâu và quay về đâu?” trởthành điểm xuất phát cho các cuộc tranh luận, nhưng ngay vì hướng đến thầnlinh như trước đây đã nỗ lực truy tìm “nguyên nhân cuối cùng”, bản nguyêncủa vạn vật ngay trong long vạn vật Bản nguyên không chỉ đơn giản là mộtthứ vật chất như cách hiểu của vật lý học hay hóa học hiện đại, mà là một cái
gì đó làm cơ sở cho sự xuất hiện giới tự nhiên và sự sống Một khuynh hướngnghiên cứu mới, nghiêm túc đã mở ra - dung lý trí xét đoán mọi thứ Khuynhhướng ấy xuất phát từ xứ Ionie, nơi khai sinh ra nhiều trường phái triết họctiêu biểu của Hy Lạp cổ đại Bản thể luận với tư cách bộ phận quan trọng nhấtcủa siêu hình học có nhiệm vụ phải luận chứng cho sự tồn tại của mẫu lý
tưởng ấy về mặt lôgíc Do vậy, nội dung, cách thức tiếp cận bản thể luận là phải chỉ ra được các nguyên tắc của tồn tại văn hoá, trong đó bộ phận hạt nhân là phải chỉ ra được cấu trúc tồn tại người với tư cách một thực thể văn hoá Theo chúng tôi, cách tiếp cận bản thể luận không phải là cách tiếp cận
mới, nhưng là một trong nhiều cách tiếp cận có tính gợi mở cao, cho phépchúng ta có “cách nhìn” khác và tỏ ra hữu dụng trong việc nghiên cứu lịch sửtriết học
Trang 2NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢN THỂ LUẬN VÀ
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1 Khái niệm bản thể luận
Thuật ngữ bản thể luận có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nó là sự kết hợp
giữa hai từ on (ỹv) - “cái thực tồn”, cái đang tồn tại và logos (ởỹóùũ) - lời lẽ, học thuyết, tạo thành “học thuyết về tồn tại”.
Chúng ta cần phân biệt hai bộ phận của siêu hình học để có thể thấy rõhơn được vị trí, đối tượng và cách tiếp cận của bản thể luận và qua đó, cũngthấy được vai trò hết sức quan trọng của bản thể luận với tư cách bộ phậncăn bản nhất của siêu hình học Siêu hình học được phân thành siêu hình học
chung (metaphysica generalis), hay còn gọi là siêu hình học đại cương và siêu hình học chuyên ngành (metaphysica specialis) Siêu hình học đại
cương có đối tượng nghiên cứu là những cơ sở sâu xa, những quy tắc, cấutrúc cơ bản của tồn tại, như Arixtốt nói, nó nghiên cứu “cái thực tồn như làcái thực tồn” hay “cái gì là tồn tại của cái thực tồn”; còn siêu hình học
chuyên ngành có đối tượng nghiên cứu là Thượng đế (Thần học tự nhiên), linh hồn (Tâm lý học tự nhiên) và thế giới (Vũ trụ học) Như vậy, bản thể
luận chính là bộ phận siêu hình học chung (đại cương) của siêu hình học.Nói chung, theo nghĩa cổ điển thì bản thể luận có nhiệm vụ lý giải cấu trúc
cơ bản của tồn tại và do vậy, bản thể luận (siêu hình học đại cương) mangtính trừu tượng cao nhất Các câu hỏi, như: Con người là gì? Có Thượng đếkhông? hay: Thế giới có điểm khởi đầu không? là lĩnh vực thuộc về siêuhình học chuyên ngành chứ không phải là của bản thể luận Chính vì đặctrưng trừu tượng nhất của nó mà học giả Uwe Meixner đã coi bản thể luậnchỉ có “tính chất mô tả thuần tuý”(3) Theo ông, bản thể luận có nhiệm vụ mô
Trang 3tả cấu trúc nền tảng của “tất cả những cái hiện thực và những cái không hiệnthực”, tức là của tất cả những cái thực tồn
Từ thời Cổ đại, các nhà triết học đã phân biệt tồn tại (Sein) với thực tồn (Seiendes, hiện hữu) Cái thực tồn là tổng thể những cái có thực và
không có thực, kể cả những cái đang ở dạng khả năng Nhưng, ở tổng thểnhững cái đa dạng ấy, có thể tìm thấy một điểm chung, một dấu hiệu “trungtính” thể hiện ở chỗ, thế giới nói chung là đang thực tồn Khái niệm “tồn tại”biểu thị điều đó Tại sao một vật nói chung lại thực tồn, sự thực tồn đó căn
cứ trên cái gì? Cái gì là nguyên nhân của nó? Tồn tại là cái tối hậu mà conngười có thể đặt câu hỏi về nó, song nó lại không thể xác định theo cáchthức thông thường
Khái niệm “tồn tại” lần đầu tiên được triết gia Hy Lạp - Pácmênít bàntới Ông cho rằng, bản chất của mọi sự vật trong thế giới là tồn tại, không thể
có cái không-tồn tại, bởi chúng ta không thể hình dung được cái không-tồn tại
là cái gì Tồn tại là cái chỉ có thể nhận thức được bằng lý tính Mọi tư duy baogiờ cũng là tư duy về tồn tại Tư duy, do vậy, đồng nhất với tồn tại
Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, thuật ngữ “siêu hình học” không phải
do Arixtốt đưa ra, mà do nhà triết học Andronikos Rhodos, trong quá trìnhphân định các tác phẩm của Arixtốt, đưa ra vào khoảng năm 70 sau CN., tức
là sau khi Arixtốt đã qua đời Nghĩa ban đầu của thuật ngữ “siêu hình học” lànghiên cứu “những cái sau vật lý”, tức là những nguyên nhân sâu xa (vô hình,siêu hình), cơ sở của hiện thực mà chúng ta không thể đạt được bằng kinhnghiệm, cảm tính, mà chỉ có thể đạt được nhờ vào lý tính, vào tư duy
Vậy, bản thể luận cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về cấu trúc cơbản của tất cả những cái thực tồn bằng cách nào? Nói chung, nó có thể thựchiện điều ấy bằng hai cách thức khác nhau Một mặt, chúng ta có thể xem xét
các kinh nghiệmcủa mình về những cái thực tồn và từ đó, tìm cách xác định những đặc trưng, tính chất cơ bản của chúng Đây là con đườngtrực tiếp tiếp
cận tới cấu trúc cơ bản của tất cả những cái thực tồn Nhưng trên thực tế, các
Trang 4nhà triết học thường ít chọn con đường này, mà họ sử dụng “con đường
vòng”, gián tiếp thông qua ngôn ngữ Chẳng hạn, Arixtốt đã đi theo hướng
này với học thuyết về phạm trù của ông Các phạm trù chính là nội dung của
tồn tại, được phân cấp thành “thực thể” (Substanz, hay “bản chất”) và “tuỳ thể” (Akzidenz, các dạng thức thể hiện “bản chất”, phụ thuộc vào “bản chất”).
Trong triết học phương Tây hiện đại, vấn đề bản thể luận văn hoá đã
được đặt ra Bản thể luận văn hoá quan tâm đến tính đặc thù của tồn tại người như một thực thể văn hóa và tìm cách xác định những cấu trúc cơ bản của nó Theo đó, triết học, ngay từ đầu, đã đóng vai trò hết sức quan trọng với
tư cách sự kết tinh tinh thần của văn hoá nhân văn thời đại Do vậy, khôngphải ngẫu nhiên mà triết học, theo nghĩa ban đầu của nó, là philosophia- “tìnhyêu sự thông thái” Bởi “sự thông thái” là hình mẫu lý tưởng của con người
Hy Lạp cổ đại Hình mẫu lý tưởng (nguyên mẫu) là khái niệm hay quan niệmchung nhất về cái có tính người nơi con người và mỗi một thời đại văn hoáđều được phản tư về mặt triết học để xây dựng một mẫu lý tưởng cho bảnthân mình
1.2 Những hiểu biết chung về triết học Hy Lạp cổ đại
1.2.1.Hoàn cảnh ra đời
Những tư tưởng triết học đầu tiên tại Hy Lạp cổ đại xuất hiện vào thời
kỳ diễn ra những diễn biến sâu sắc trong quan hệ xã hội, trước hết là sự tan rãchế độ thị tộc và sự thiết lập chế độ chiến hữu nô lệ, chế độ xã hội có giai cấpđầu tiên trong lịch sử loài người Đó là một quá trình lâu dài, phức tạp, vớinhững cuộc chiến tranh và xung đột triền miên
Lãnh thổ Hy Lạp xưa rộng lớn hơn so với hiện nay gấp nhiều lần, baogồm phần đất liền cùng vô số hòn đảo trên biển Egie, vùng duyên hải Balcan
và tiểu Á Từ cuộc di thực ồ ạt vào các thế kỷ VIII - VI TCN, người Hy Lạpchiếm thêm miền nam Ý, đảo Sicile, vùng ven biển Đen, lập nên Đại Hy Lạp.Những cuộc viễn chinh toàn thắng của Alexandre xứ Macedoine vào cuối thế
kỷ IV TCN đã đưa đến sự ra đời các cuốc gia Hy Lạp hóa trải rộng từ Sicile ở
Trang 5phía tây Ân Độ ở phía đông, từ biển Đen ở phía bắc đến khu vực tiếp giápsông Nil ở phía nam Tuy nhiên trung tâm của Hy Lạp cổ đại, trải qua baothăng trầm, vẫn là vung biển Egie, nơi nhà nước và nền văn hóa Hy Lạp đạttới sự phồn thịnh cao nhất của mình.
Vào thời đại Homère (thế kỷ XI- IX TCN), ở Hy Lạp, đã chớm bắt đầuquá trình tan rã của công xã thị tộc, được thú đẩy bởi sự phân công lao động,diễn ra trong nông nghiệp giữa trồng trọt và chăn nuôi Đồng tiền kim khíchưa xuất hiện, thương nghiệp và nghề thủ công chiếm tỷ trọng không đáng
kể trong đời sống Đọc Homère, người ta dễ dàng nhận thấy rằng, những nhânvật trong trường ca sử thi Iliade và Odyssei không phải là nhưng lực sĩ trênđồng ruộng, giỏi khẩn hoang, làm cỏ, cày xới, mà thiên về phô trương sựthiện chiến của mình “Chiến tranh” và “xung đột” là những từ ngữ thườngthấy trong các sang tác thần thoại, nghệ thuật thời kỳ này Đằng sau nhữngcâu chuyện về chiến tranh giữa các vị thần đã ẩn chứa các sự kiện lịch sử đầy
bi kịch Chiến tranh tạo ra và tôn vinh thủ lĩnh, thủ lĩnh khẳng định quyền lựccủa mình bằng cách dấn thân vào những cuộc phiêu lưu bằng máu
“Polis”, khái niệm chung để lối tổ chức nhà nước độc đáo của người
Hy Lạp xuất hiện từ rất sớm, nhưng vào thời Homere, nó chưa được hiểu nhưthị quốc, mà chỉ như một cụm dân cư, sống có tổ chức, được thành lũy kiên
cố xung quanh bao bọc(1) Chữ viết chưa ra đời, truyền thống công xã còn khámạnh với uy lực gần như tuyệt đối của các tộc trưởng Tuy nhiên, trong nội
bộ công xã đã bắt đầu diễn ra những xung đột từ việc hôn nhân đến việc phânchia tài sản giữa các thế hệ Cuối cùng là sự việc phân định quyền lực Biểuhiện đầu tiên của phân hóa xã hội là xuất hiện hai loại người có địa vị vàquyền lợi đối lập nhau - những người được chia nhiều đất (policler) và nhữngngười không có đất canh tác (acler)
1 Xem thêm Nguyễn Mạnh Tường: Aiskhylos (Eschyle) và bi kịch cổ đại Hy Lạp, NXB giáo dục, 1996, tr
25-28.
Trang 6Bước sang thế kỷ VIII TCN, kinh tế ở các thị quốc Hy Lạp tiếp tục pháttriển với nhịp độ nhanh Thủ công tách khỏi nghề nông nghiệp và tiến nhữngbước đáng kể Nghành đóng tàu được khuyến khích nhằm phục vụ chothương nghiệp và chiến tranh Sự hưng thịnh của kinh tế kích thích quá trìnhvượt biển tìm đất mới, xâm chiếm lãnh thổ các xứ láng giềng, bắt người làm
nô lệ Bên cạnh đó, công cuộc di thực cũng thúc đẩy khả năng giao lưu vănhóa, khoa học giữa Hy Lạp và các dân tộc khác
Tóm lại, sự tích lũy tư hữu, phát triển quan hệ hàng hóa, tiền tệ, sự tan
rã của nền kinh tế tự nhiên, sự phân hóa giàu nghèo, sự đối kháng giữa cáclực lượng xã hội, sự thôn tính đất đai, sử dụng lao động nô lệ… khiến cho chế
độ công xã thị tộc là chế độ lấy quan hệ huyết thống làm cơ sở, phải đi đếnchỗ suy vong, và bị thay thế bởi một thiết chế xã hội mới, phù hợp với nhữngquan hệ xã hội mới Nói cách khác, nhà nước đã ra đời như một tất yếu trêncon đường phát triển lịch sử của nhân loại Nhà nước chiếm hữu nô lệ phục
vụ cho thiểu số dân chúng đang ngày một giàu thêm, nhất là từ sau khi đồngtiền kim khí được phát hành vào thế kỷ VII TCN Bắt đầu từ đây những sungđột xã hội mang dấu ấn của những trận chiến giai cấp, lúc âm ỉ, lúc quyết liệtdiễn ra liên tục
Trang 7Chương 2 NỘI DUNG VẤN ĐỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
2.1 Trường phái Milet và phương án “nhất nguyên” trong chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại.
Milet là tên một thành phố vào loại phồn thịnh nhất của Hy Lạp, thuộc
xứ Ionie, miền Tiểu Á Nơi đây vào thời kỳ hình thành nhà nước Hy Lạp đãnổi lên một trường phái triết học xưa nhất, gắn liền với tên tuổi của Thalès,Anaximandre và Anaximène Các nhà triết học Milet là những nhà nhấtnguyên, vì họ xem một hành chất nào đó là bản nguyên của thế giới, cái vừamang tính vật thể, vừa mang tính trí tuệ, vừa thể hiện sức mạnh huyền bí,siêu phàm
Người sáng lập trường phái Milet là nhà toán học, nhà thiên văn, nhàtriết học đầu tiên của Hy Lạp cổ đại Thalès (khoảng 624 - 547 TCN) sáng táccủa Thalès chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa và khoa học phương đông (AiCập, Babylon… ) ông biết nhiều tác phẩm dưới dạng tản văn như “về bảnnguyên”, “về nhiệt trí”, “về tiết phân”, “chiêm tinh thuật đường biển”, nhưnghầu hết đã được thất lạc, chỉ còn những giai thoại
Với tính cách là nhà toán học, Thalès phát minh nhiều định lý cơ bảnliên quan đến hình học, số học Cái mới ở đây không hẳn là bản thân nhữngđịnh lý, vì người phương Đông đã biết đến từ lâu, mà là ý nghĩa của chúng;
Thalès dạy môn toán không bằng thực nghiệm, mà bắt đầu sử dụng những công thức trừu tượng, đặt cơ sở cho sự ra đời toán học lý thuyết.
Trong lĩnh vực thiên văn, Thalès có những khám phá độc đáo Nhờ tiênđoán chính xác nhật thực toàn phần tại xứ lonie, diễn ra vào ngày 28 - 5 - 585TCN Thalès đã kịp thời ngăn chặn cuộc chiến tranh giữa hai lân ban Lidis vàMèdès Ông có lẽ là đại biểu đầu tiên của thuyết địa tâm, vì lấy trái đất làm hệquy chiếu để xắp sếp trật tự Đại Thiên cầu thành ba dòng cách biệt; các vì
Trang 8tinh tú, cách Mặt trăng, Mặt trời, Mặt trời có kích thước lớn hơn hai mươi lần
so với Mặt trăng và thực hiện những chu kỳ hành động quanh các hành tinhbất động hết 365 ngày Những giả thuyết của ông về thủy triều thuyết phân hạchỉ tỏ ra ngây thơ xét từ quan điểm hiện đại song đối với người xưa là một sựngạc nhiên thú vị
Thalès thuộc về thế hệ các nhà triết học đầu tiên xem xét khởi nguyên
sự vật ở dạng hành chất, theo ông mọi cái đang tồn tại đều xuất phát từ mộtchất ẩm ướt ban đầu - nước Tất cả chỉ là biến thái của nước Trái đất như cáiđĩa dẹt trôi bồng bềnh trên nước được bao quanh bởi nước, các đại dương, vàchia thành năm vùng:
1 Vùng bắc nhìn thấy được;
2 Vùng hạ chí;
3 Vùng xuân phân;
4 Vùng đông chí;
5 Vùng cực nam, không nhìn thấy
Theo Aristote, Thalès đến với lý tưởng này có lẽ do ông thấy mọi đồ ăn đều ở dạng ẩm Nhiệt, cái mà nhờ đó các sinh thể mới tồn tại, cũng xuất hiện
từ vật chất ẩm Cái gì mà từ đó một cái gì khác xuất hiện là khởi nguyên của tất cả Cây cối không có nước thì úa tàn, con người không có nước thì chết, mặt trời và các vì sao cần sự bốc hơi nước làm thức ăn Nước là khởi nguyên của sự ẩm, còn sự ẩm thì hiện diện ở tất cả các mầm sống Do đó, nước bao trùm tất cả, chở che cho tất cả, đảm bảo sự sinh thành, biến hóa, làm cho muôn vật phì nhiêu Nước - bản chất đơn giản của sự vật, đồng thời là cội nguồn của sự sống.
Chính những quan sát trực tiếp và sự xét đoán bằng lý trí đã đưa Thalèsđến những nhận định có tính khái quát cao về nước Tính khái quát thể hiện ởchỗ, một là, lần đầu tiên nước được hiểu như cái tuyệt đối, cái phổ biến đơngiản, tức được nâng lên thành một khái niệm, hai là, Thalès chú trọng đếnkhởi nguyên vật chất, chứ không phải khởi nguyên tinh thần Có thể liên
Trang 9tưởng nước của Thalès với Hỗn mang (chaos) của Hésiode, nhưng ở Thalèsnước trước hết là sức mạnh vật lý.
Tuy nhiên, công bằng mà nói, Thalès chưa thể ngay lập tức chấm dứt
sự ràng buộc với thân thoại Đặc tính của nước được nâng lên cấp độ thầnlinh Thế giới chứa đầy thần linh Các thần là những lực lượng vận động trongthế giới, đồng thời cũng là những linh hồn - nguồn gốc vận động của thể xác.Nước và tất cả những gì phát sinh từ mước đều có linh hồn, thần tính
Để chứng minh thế giới có thần tính và sống động Thalès dẫn ra hai bằng chứng: thanh nam châm hút được sắt, hổ phách lung linh muôn sắc dưới ánh Mặt trời Khi người ta hỏi: tại sao ông biết điều đó, ông trả lời: vì
ta là bậc thông thái, cái ta biết, người khác không biết Xét cho cùng nước là khởi nguyên của vạn vật, nhưng thần là sinh lực tạo ra tất cả từ nước.
Những yếu tố vật hoạn luận (hylozoisme) và vật linh thuyết (animisme)
ở tư tưởng Thalès báo hiệu sự phân liệt của triết học Hy Lạp cổ đại Dẫu saochủ nghĩa duy
Vật tự phát Thalès về căn bản đưa tới sự kết thúc vai trò thống trị của thầnthoại Lý trí thay thế thần Zeus, giới tự nhiên dần dần cởi bỏ lớp vỏ siêu nhiên.Con người bắt đầu giải thích nguyên nhân của thế giới từ chính thế giới
Thalès đã tiến gần đến khái niệm bản nguyên, cố gắng trình bày dướihình thức ấu trĩ tính thực thể của nước (nước lưu chảy ở mọi vật, còn ở nómọi vật lưu chảy) Nhưng công lao to lớn trong việc giải thích toàn bộ thực tại
từ khái niệm “bản nguyên” (archè), thực thể, cơ sở tồn tại của sự vật, thuộc vềAnaximandre (khoảng 610 đến 546 TCN), học trò và người kế tục Thalès.Bản nguyên bấy giờ không còn là nước, mà là cái có ý nghĩa phổ quát hơn.Nếu các hành chất (đất, nước, lửa, khí) chuyển hoá vào nhau, thì điều này cónghĩa ở chúng có một cái gì đó chung làm nền Cái chung này không thể lànhững hành chất, mà là cái vô hạn, vô cùng, bất định, bất tử, cái mà nhờ đómọi vật sinh ra - thực thể apeiron Anaximandre giải thích các đặc tính củaapeiron như sau:
Trang 10- Apeiron vô hạn, vì nó là một bản nguyên, không thể bị tiêu hao, cạn kiệt;
- Apeiron vô cùng, để có thể làm cơ sở cho mọi sự chuyển hoá lẫnnhau của sự vật;
- Apeiron không xác định, để liên kết những cái xác định;
- Apeiron trường tồn, bất tử, để làm nên nguồn suối vô biên của sự sống.Tất cả những đặc tính ấy cùng quy về đặc tính chung nhất là vận động
Sự vận động của thực thể apeiron quyết định quá trình hình thành của vũ trụ
và con người Apeiron tự nó và từ nó sinh ra hết thảy Khi vận động theo soáy
ốc, apeiron tạo nên những cực đối kháng - ẩm và khô, lạnh và nóng Kết hợpcặp đôi những tính chất ấy sẽ dẫn đến hình thành đất (khô và lạnh), nước (ẩm
và lạnh), khí (ẩm và nóng), lửa (khô và nóng) Từ trung tâm, những kết cấuvật chất dần dần cô đọng lại, trước tiên là đất như cái nặng nhất được baoquanh bởi nước, khí và lửa Sau đó diễn ra những tác động lẫn nhau giữanước và lửa, khí và lửa Dưới tác động của lửa, một phần nước bốc hơi, cònđất thì tụ lại giữa đại dương Trái đất, đã hình thành như vậy Bầu trời phânchia ra ba vòng, do khí bao quanh Nó tương tự như ba vành của bánh xe rỗngbên trong, bơm đầy lửa Vành dưới nhiều lỗ hổng, chứa lửa, là các vì sao.Vành giữa một lỗ hổng là Mặt trăng Vành trên cùng một lỗ hổng là Mặt trời
Sự sống phát sinh ở chỗ ráp ranh giữa đại dương và đất liền tức bùnlầy, dưới tác động của ánh nắng mặt trời Những sinh thể đầu tiên sống ở đạidương; một số sau đó dời đại dương lên đất liền, cỏi bỏ lớp vảy, trở thànhđộng vật trên cạn Con người có thể chất yếu đuối, không có vỏ cứng bảo vệ,nên sinh ra và phát triển trong bụng một loài cá khổng lồ Đến lúc trưởngthành, cứng cáp, con người mới lên đất liền sinh sống
Bức tranh về thế giới và sự sống do Anaximandre xây dựng quả là ấutrĩ, nhưng đã đánh dấu bước tiến trong tư duy triết học Cái vĩ đại của tưtưởng có vẻ nghèo nàn, trừu tượng này thể hiện ở sự toan tính dũng cảm giảithích thế giới từ nguyên nhân tự thân, gạt bỏ yếu tố vật linh thuyết, vật hoạtluận, ở tư tưởng biện chứng về tính phổ biến của vận động, biến đổi, về sự
Trang 11thống nhất các mặt đối lập, những tuyên đoán về quá trình hình thành sự sống
từ thế giới vô cơ, con người từ loài vật
2.2 Trường phái, hay liên minh Pythagore
Pythagore (570 - 496 TCN) sinh tại Samos, thuộc xứ Ionie, vùng cận
Đông, sau di cư sang Crotone, miền Nam nước Ý Là nhà toán học, Pythagoređưa ra nhiều định lý có giá trị trong triết học, Pythagore là nhà duy tâm tôngiáo, xây dựng những tư tưởng huyền bí về ý nghĩa cuộc sống và bản nguyên
vũ trụ, mang đậm dấu ấn huyền học phương Đông Bản tính con người, theoông, có tính chất nhị nguyên - thể xác khả tử, linh hồn bất tử Ý nghĩa cao cảcủa cuộc đời là xuất hồn, thanh tẩy những cái nhơ bẩn, những điều ác tronglòng, hòa mình vào linh hồn vũ trụ, tránh kiếp luân hồi Triết lý, vì vậy, làhành trình của sự giải thoát Trong tư tưởng ở Pythagore những con số đóng
vai trò chủ đạo Cái gì đo được thì tồn tại, cái gì tồn tại thì đo được, vì thế
chính những con số định hình nên thế giới, diễn đạt sự vật, thậm chí là bảnchất và chuẩn mực của chúng Triết lý là nhận thức quy luật vận động của vũtrụ thông qua những con số Khi ta nói “linh hồn hòa điệu” thì đó chính làquan hệ hòa điệu của các con số Pythagore dung tương quan chẵn - lẻ, bộmười và bộ tứ để giải thích tính thống nhất và đa dạng của tự nhiên, xã hội,con người, trong đó số 1 là đơn vị cơ sở Sau số 1 (lẻ) là mặt đối lập của nó -
số 2 (chẵn) Các yếu tố của con số là chẵn và lẻ; lẻ là cái hữu hạn, chẵn là cái
vô hạn Số 1 là con số năng động nhất, “bản nguyên hoạt động”, chi phối tất
cả, nhưng con số kỳ diệu nhất là số 10 bao gồm 10 tương quan các mặt đốilập: giới hạn - vô hạn, chẵn - lẻ, đơn - đa, phải - trái, nam - nữ, động - tĩnh,thẳng - cong, sáng - tối, tốt - xấu, tứ giác - đa diện Đây chính là những phạmtrù đầu tiên của tư tưởng trong cố gắng lý giải mọi thực tại, nhưng theo Hegel,
đó là cố gắng vô vọng, không vượt qua khuôn khổ của sự liệt kê đơn giản,ngây thơ, ngẫu hứng và thiếu sâu sắc Cái đáng trận trọng là ở chỗ Pythagore
đã nâng cao con số lên trình độ của khái niệm, hiểu nó như tồn - tại - tự - thân
- trong - nó, cho - nó và cho - cái - khác