Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, nhất là vào giai đoạn đầu của quá trìnhphát triển, vốn đầu tư là một nhân tố không thể thiếu đòi hỏi Phú Quốc cần phải cócác biện pháp huy động vố
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
NGÔ VĂN THIỆN
VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
XÃ HỘI ĐẢO PHÚ QUỐC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 62 34 02 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Tuyết Hoa
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Để có cơ sở vững chắc cho đề tài nghiên cứu, chương này sẽ trình bày một sốnội dung cơ bản có liên quan đến đề tài như tính cấp thiết, mục tiêu, phạm vi, quytrình và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu mang lại sau khi nghiêncứu là gì? Đồng thời thông qua các lược khảo nghiên cứu có liên quan đến đề tài sẽgiúp tác giả có định hướng chính xác hơn về hướng nghiên cứu của mình
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Phú Quốc là huyện đảo thuộc tỉnh Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam của tổquốc và là trung tâm của khu vực Đông Nam Á, có lợi thế quan trọng trong mối liênkết giao thông hàng hải, hàng không với các quốc gia trong khu vực và thế giới; cótiềm năng to lớn trong phát triển kinh tế nhất là lĩnh vực du lịch, có vị trí đặc biệtquan trọng về an ninh, quốc phòng Do sở hữu những tiềm năng đặc biệt, năm 2004,Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổngthể phát triển đảo Phú Quốc đến 2010, tầm nhìn đến 2020 Tháng 9/2005, Thủ tướngChính phủ có Quyết định 1197/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh Quyhoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội đảo Phú Quốc đến năm
2020 đã xác định mục tiêu xây dựng Phú Quốc trở thành đặc khu kinh tế -hành chínhvào năm 2020 với vai trò là trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí cao cấpquốc gia và quốc tế; trung tâm tài chính tầm cỡ khu vực; là đầu mối quan trọng vềgiao thông vận tải nội vùng và hàng không quốc tế; là trung tâm nghiên cứu khoa họccông nghệ chuyên ngành; bảo tồn đa dạng sinh học rừng và biển của quốc gia và khuvực; có vị trí đặc biệt về an ninh và quốc phòng
Để thực hiện được đề án như trong quy hoạch đòi hỏi Phú Quốc cần phải pháttriển một cách đồng bộ cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống cảng biển, sânbay, nhà hàng, khách sạn đủ tầm cở và một đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao đểđảm bảo cho nhu cầu phát triển Tuy nhiên sau gần mười bốn năm triển khai đề án,mặc dù sân bay quốc tế đã sớm hoàn thành đưa vào sử dụng, nhiều
Trang 3khu nghỉ dưỡng cao cấp tầm quốc tế đã được thực hiện nhưng còn nhiều hạng mục cơ
sở hạ tầng vẫn chưa triển khai hoặc có triển khai nhưng còn chậm chưa đáp ứng đượccho nhu cầu phát triển Một số dự án điển hình như tuyến đường quanh đảo vẫn chưađược hoàn thiện, hệ thống cảng biển chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách cũngnhư là trung tâm trung chuyển hàng hóa của khu vực và quốc tế, nhiều dự án đầu tưcủa các doanh nghiệp còn dở dang và chậm hoàn thiện làm ảnh hưởng chung đến mỹquan và kế hoạch phát triển KTXH của Đảo Tất cả những tình trạng trên đều xuấtphát từ nguyên nhân thiếu vốn cho đầu tư phát triển
Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, nhất là vào giai đoạn đầu của quá trìnhphát triển, vốn đầu tư là một nhân tố không thể thiếu đòi hỏi Phú Quốc cần phải cócác biện pháp huy động vốn một cách hiệu quả từ nhiều nguồn khác nhau, cả vốnngân sách nhà nước, vốn trong và ngoài nước, khơi dậy nguồn lực to lớn trong dân vàcác doanh nghiệp từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau Để thực hiện được điều đóđòi hỏi Phú Quốc cần phải có một giải pháp hoàn chỉnh ngay từ ban đầu để huy độngvốn đầu tư, có như vậy mới tạo ra được một tầm nhìn trong dài hạn giải quyết vấn đề
về vốn đáp ứng cho nhu cầu phát triển Về các công trình nghiên cứu mang tính khoahọc về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương thì từ trước đến naycũng có một số đề tài nghiên cứu như huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xãhội tỉnh Trà Vinh, Tây Nguyên, Vùng núi Phía Bắc…Tuy nhiên nghiên cứu về vốnđầu tư cho phát triển kinh tế xã hội tại địa phương có định hướng phát triển trở thànhđặc khu như Phú Quốc thì chưa được đề cập Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi đã chọn đề
tài: “Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội đảo Phú Quốc” để thực hiện luận án tiến sỹ của mình nhằm tìm ra giải pháp thiết thực tăng cường vốn đầu tư đáp ứng cho
phát triển KTXH của Phú Quốc thời gian tới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường vốn đầu tư đáp ứng cho phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc thời gian tới
Trang 41.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng vốn đầu tư cho phát triển KTXH thời gian qua tại Phú Quốc như thế nào?
- Tác động của vốn đầu tư đối với phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc ra sao?
- Những yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư vào Phú Quốc là gì?
- Chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của những yếu tố này đến thu hút vốn đầu tư tại đảo Phú Quốc như thế nào?
- Giải pháp gì để tăng cường vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốctrong thời gian tới, bao gồm tăng cường huy động và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quảcho phát triển KTXH?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của đề tài là vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc trên cả hai mặt huy động và sử dụng vốn
- Phạm vi nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu, đề tài tập trung nghiên cứu thựctrạng tình hình vốn đầu tư cho phát triển KTXH của đảo Phú Quốc giai đoạn 2011-
2016 trên cả 2 mặt huy động và sử dụng vốn; đánh giá tác động của vốn đầu tư đốivới tình hình phát triển KTXH cùng khoảng thời gian trên; nhận diện các yếu tố ảnhhưởng đến tình hình thu hút vốn đầu tư, từ đó đề ra giải pháp nhằm tăng cường vốnđầu tư đáp ứng cho nhu cầu phát triển KTXH đảo Phú Quốc thời gian tới Về địa
Trang 5giới hành chính đảo Phú Quốc thuộc huyện Phú Quốc tỉnh Kiên Giang được quy hoạch theo Quyết định 178/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu
+ Thu thập số liệu thứ cấp
Các thông tin, số liệu được thu thập từ các báo cáo khoa học, báo chí, net, hội nghị, báo cáo của Phòng Thống kê huyện Phú Quốc, Cục Thống kê tỉnh KiênGiang, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kiên Giang, Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang, BanQuản lý phát triển đảo Phú Quốc Các thông tin này được tổng hợp và phân tích chophù hợp với mục tiêu nghiên cứu
inter-+ Thu thập số liệu sơ cấp
Đề tài dựa vào các phiếu điều tra từ 230 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn,
sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích số liệu Thời gian khảo sát được tiến hành
từ 01/10/2016 đến 31/12/2016
- Phương pháp nghiên cứu
+ Sử dụng phương pháp tổng hợp nhằm khái quát chung về vốn đầu tư, kinhnghiệm huy động và sử dụng vốn đầu tư tại các vùng, miền tại Việt Nam và một sốquốc gia
+ Phương pháp phân tích được sử dụng để đánh giá thực trạng vốn đầu tư chophát triển KTXH đảo Phú Quốc giai đoạn 2011 – 2016 ở tất cả các mặt như: thànhtựu, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế về vốn đầu tư tại Phú Quốc, từ đó đề ragiải pháp tăng cường vốn đầu tư hiệu quả
+ Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu những kết quả đã đạt đượcvới thời gian trước đó hoặc với các địa phương khác làm cơ sở cho việc đánh giá
+ Phương pháp kế thừa được sử dụng để hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu
có liên quan đến luận án Kế thừa các kết quả điều tra, khảo sát, quan tâm nghiên cứumột số yếu tố đặc thù (vị trí địa lý, điều kiện KTXH,) tác động đến quá trình huyđộng và sử dụng vốn đầu tư cho phát triển KTXH của Phú Quốc
Trang 6+ Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến của các nhà khoa học, lãnh đạo các đơn
vị, cán bộ quản lý doanh nghiệp về một số nội dung liên quan
+ Phương pháp điều tra: là khảo sát các doanh nghiệp trên địa bàn dựa trênbảng câu hỏi được thiết kế trước về sự hài lòng của nhà đầu tư đối với môi trườngđầu tư tại Phú Quốc Các doanh nghiệp được điều tra bao gồm các doanh nghiệpthuộc các ngành nghề đang hoạt động, kể cả các tổ chức tín dụng Các thông tin điềutra được là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình nghiên cứu và
là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn
+ Phương pháp định lượng: sử dụng mô hình phân tích khám phá (EFA) kếthợp với hồi quy đa biến được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0 để định lượng các yếu
tố ảnh hưởng từ đó đưa ra một số đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu
tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc
1.6 Tổng quan về các nghiên cứu trước đó đã công bố
1.6.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Robert Solow (1956) lấy hàm sản xuất Cobb-Douglas làm cơ sở để lập ra môhình tăng trưởng kinh tế trong điều kiện tiến bộ khoa học, kỹ thuật và đưa ra các tínhtoán mức độ đóng góp của từng nhân tố lao động, vốn, công nghệ (thông qua tổngnăng suất các nhân tố - TFP) vào tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu chỉ ra rằng vốn cóvai trò quan trọng, là yếu tố trực tiếp tác động đến phát triển KTXH của quốc gia hayđịa phương Trên cơ sở mô hình Solow, từ năm 1956 đến nay, có nhiều nhà khoa học
kế thừa nghiên cứu, đánh giá hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển
Michael Regan (2016), nghiên cứu về vai trò của thị trường vốn đối với pháttriển kinh tế trong khu vực châu Á Thái Bình Dương Bằng phương pháp tổng hợpthống kê, so sánh tình hình thu hút vốn đầu tư các nước thuộc khu vực giai đoạn 2007-2014, đồng thời đánh giá tình hình tăng trưởng kinh tế các nước trong cùng khoảngthời gian trên, theo tác giả thị trường vốn có vai trò hết sức quan trọng trong việc thuhút vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế các nước trong khu vực châu Á Thái
Trang 7Bình Dương Thông qua thị trường này có thể huy động vốn trên diện rộng từ bộphận tư nhân, các tổ chức tài chính trung gian và thị trường trái phiếu Muốn làmđược điều này thì việc phát triển thị trường vốn và tăng cường thu hút đầu tư nướcngoài có vị trí hết sức quan trọng gắn liền với việc phát triển kinh tế.
Lin Xiong (2010) nghiên cứu về mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư và pháttriển tài chính ở Trung Quốc đã dùng hệ số Icor để đánh giá hiệu quả của việc sửdụng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế của Trung Quốc bằng việc phân tích hệ số Icorqua các thời kỳ từ 1986 – 2005 cho 3 lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụđồng thời phân tích cụ thể từng vùng cho từng địa phương Để đánh giá tác động củacác nhân tố đến hiệu quả vốn đầu tư, tác giả dùng mô hình hồi quy đa biến để phântích, theo tác giả hiệu quả đầu tư chung chịu ảnh hưởng từ hiệu quả của các ngànhnông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và tùy theo địa điểm đầu tư Vì vậy, nhà đầu tưcần phải nghiên cứu kỹ những nhân tố này trước khi đầu tư
Dunning (1977), một doanh nghiệp chỉ thực hiện đầu tư trực tiếp ra nướcngoài (FDI) khi hội đủ 03 điều kiện: (1) Doanh nghiệp phải sở hữu một số lợi thế sovới doanh nghiệp khác như: quy mô, công nghệ, mạng lưới tiếp thị, khả năng tiếp cậnnguồn vốn có lãi suất thấp hay các tài sản vô hình đặc thù của doanh nghiệp; (2) Nội
vi hóa: việc sử dụng những lợi thế đó trong nội bộ doanh nghiệp có lợi hơn là bán haycho các doanh nghiệp khác thuê; và (3) Sản xuất tại nước tiếp nhận đầu tư có chi phíthấp hơn là sản xuất tại nước mẹ rồi xuất khẩu Lợi thế địa điểm có thể có được nhờcác nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, rào cản thương mại, chính sách khuyếnkhích đầu tư và cả những tác động ngoại vi mà địa điểm có thể tạo ra cho doanhnghiệp khi hoạt động tại đó
Kinda (2010), nghiên cứu về tăng cường dòng vốn đầu tư tư nhân vào các nướcđang phát triển Theo tác giả đầu tư tư nhân gồm có 3 nguồn chính là đầu tư tư nhântrong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp Tác giả đã dùng phươngpháp phân tích hồi quy đa biến để xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến dòng vốn tưnhân đầu tư ở 58 quốc gia đang phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy
Trang 8các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút dòng vốn đầu tư tư nhân vào các nước đang pháttriển gồm: cơ sở hạ tầng, chính sách đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi quốcgia, tỷ lệ lạm phát, độ mở của thị trường, giáo dục, tài nguyên thiên nhiên và sự ổnđịnh của nền kinh tế Vì vậy, để tăng cường thu hút các dòng vốn trên thì các nướcphải quan tâm cải thiện các yếu tố có ảnh hưởng như đã phân tích.
Vidya Bhushan Rawat, Mamidi Bharath Bhushan, Sujatha Surepally (2011),cho rằng Ấn độ đã có nhiều thành công trong việc nâng số lượng các SEZ và gópphần vào tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ từ khoảng năm 2000 đến nay Một số chínhsách Ấn Độ đã áp dụng như có nhiều ưu đãi về thuế như miễn thuế nhập khẩu đối vớicác mặt hàng cần thiết cho đầu tư, cần thiết cho nhu cầu phát triển của SEZ; giảm100% thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu trong 5 nămđầu, 50% cho 5 năm tiếp theo và giảm tiếp 50% trong 5 năm cuối; miễn thuế đối vớilĩnh vực công nghệ cao; liên kết với các khu vực lân cận để cung ứng nguồn nhân lựcphục vụ cho nhu cầu; thông tin nhanh chóng các chính sách của Chính phủ đến cácdoanh nghiệp có nhu cầu; đơn giản hóa thủ tục hành chính, tất cả các thủ tục đều qua
bộ phận một cửa đó là văn phòng thương mại Để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài,Chính phủ Ấn Độ đã đầu tư cơ sở hạ tầng để hỗ trợ cho việc vận hành các đặc khukinh tế, nhiều đặc khu kinh tế có sân bay, hải cảng và ga tàu riêng
Tuy nhiên việc phát triển các SEZ ở Ấn độ cũng gặp không ít những hạn chếnhất định như Chính phủ Ấn Độ đã dành các ưu đãi cho các đối tượng nằm ngoài đặckhu kinh tế và rút bớt ưu đãi cho các đặc khu kinh tế khi ký các thỏa thuận mậu dịch
tự do (FTA); việc thực hiện các chính sách thương mại nước ngoài vào năm 2009 màthông qua đó trao một loạt các biện pháp khuyến khích xuất khẩu cho các nhà đầu tưngoài khu vực đặc khu kinh tế chính là nguyên nhân khiến các đặc khu kinh tế khôngcòn là đích đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư
1.6.2 Các nghiên cứu trong nước
Nguyễn Văn Hùng (2009), nghiên cứu về tăng cường huy động vốn đầu tư chophát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên Qua phân tích thực trạng huy động vốnđầu tư vùng Tây Nguyên và tác động của vốn đầu tư đối với các chỉ tiêu kinh tế
Trang 9xã hội như tốc độ tăng GDP, thu nhập bình quân đầu người, thu ngân sách nhà nước,tình hình xuất nhập khẩu, xóa đói giảm nghèo…từ đó rút ra một số thành tựu và hạnchế và nguyên nhân về huy động vốn đầu tư cho phát triển KTXH Theo tác giảmuốn tăng cường huy động vốn đầu tư cho vùng Tây Nguyên cần có một số giải phápnhư cải thiện môi trường đầu tư, chính sách thu hút đầu tư và nâng cao chất lượngnguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế của vùng.
Nguyễn Văn Bình (2017), nghiên cứu về tăng cường nguồn vốn đầu tư pháttriển kinh tế biển, đảo Việt Nam Qua phân tích thực trạng tình hình quản lý hoạtđộng đầu tư, các chính sách có liên quan đến hoạt động đầu tư biển, đảo Việt Nam, từ
đó đề ra các giải pháp tăng cường vốn đầu tư hiệu quả Các chính sách được tác giảgợi ý gồm: tăng cường nguồn vốn đầu tư từ ngân sách trung ương, tăng cường vốn từ
tư nhân, tăng cường vốn đầu tư từ nước ngoài, tăng cường sự hỗ trợ từ các TCTD vàcuối cùng là phải nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng vốn đầu tư
Nguyễn Văn Dũng (2014), nghiên cứu về huy động vốn đầu tư cho phát triểnkinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Việt Nam Để đạt được mục tiêunghiên cứu tác giả đã dùng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để phântích tình hình huy động vốn đầu tư qua các năm để đánh giá tác động của việc huyđộng vốn đầu tư đến phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số miền núi ở ViệtNam Theo tác giả muốn tăng cường huy động vốn đầu tư cho phát triển KTXH vùngdân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam cần phải có chính sách thu hút đầu tư và môitrường đầu tư phải hấp dẫn, ngoài ra các cấp chính quyền địa phương cần phải đổimới tư duy trong việc quản lý và điều hành kinh tế
Nguyễn Hồng Hà (2015), nghiên cứu về các giải pháp tăng cường huy độngvốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội tỉnh Trà Vinh Tác giả đã dùng phương pháptổng hợp, so sánh để phân tích tình hình huy động vốn đầu tư của Trà Vinh giai đoạn2007-2013, đồng thời sử dụng mô hình phân tích khám phá kết hợp với hồi quy đabiến để xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư Dựa vào các kếtquả nghiên cứu đã đạt được theo tác giả muốn tăng cường huy động vốn đầu tư vàotỉnh Trà Vinh thì cần phải có các giải pháp như hoàn thiện cơ sở hạ tầng,
Trang 10có chính sách thuê đất thích hợp, cải thiện chính sách thuế, tăng cường xúc tiếnthương mại địa phương, nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nghề, bảo vệ môi trường
và thực hiện tốt việc liên kết vùng
Bùi Mạnh Cường (2012), nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tưcông tại Việt Nam đã hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển nguồnngân sách nhà nước về mặt xã hội là: nâng cao mức sống người dân, tạo việc làm,giảm đói nghèo, bình ổn giá cả kiềm chế lạm phát, tăng năng suất lao động, phát triển
sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội Về mặt môi trường: hạn chế mức độ giatăng ô nhiễm môi trường, cải thiện chất lượng môi trường và đảm bảo cân bằng môitrường sinh thái Về phát triển bền vững: đóng góp vào phát triển bền vững hệ thốngkinh tế, đảm bảo duy trì sự tăng trưởng đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhànước và mức độ nợ công, quản lý bền vững tài nguyên, bền vững đa dạng sinh học,đóng góp vào khoa học công nghệ
Mai Văn Nam (2008), nghiên cứu việc đánh giá hiệu quả đầu tư phát triểnThành Phố Cần Thơ Khi đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển ở Thành Phố Cần Thơtác giả đã sử dụng mô hình Slow bằng cách đánh giá mức độ đóng góp của vốn và laođộng vào tăng trưởng của thành phố, đồng thời đánh giá hiệu quả đầu tư thông quachỉ số ICOR Ngoài ra để đánh giá hiệu quả đầu tư về mặt xã hội tác giả sử dụng chỉtiêu GDP bình quân đầu người để đánh giá mức sống của người dân
Lê Vinh Danh (2004), nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sáchnhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh có mục tiêu nghiên cứu là phân tích hiện trạng
sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn1993-2002; đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nướctại thành phố Hồ Chí Minh; đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốnđầu tư từ ngân sách nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh; từ những thông tin trongquá trình phân tích, xây dựng một chương trình phần mềm giúp các nhà quản lý dự
án, Sở Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan chức năng có liên quan của thành phố có
Trang 11thể thẩm định sơ bộ mức độ hiệu quả quản lý dự án đầu tư bằng ngân sách hiệu quảđến đâu trong mỗi giai đoạn quản lý.
Phan Thanh Mão (2003), nghiên cứu giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệuquả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An cóđối tượng nghiên cứu là vấn đề chi ngân sách và hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản từnguồn vốn ngân sách nhà nước Công trình này tập trung vào khía cạnh tài chính củađầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, giải pháp trọng tâm là hoàn thiệnchính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ tín dụng đầu tư phát triển các vấn đề vềquản lý đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước không được đề cập một cách cụ thể
Nguyễn Đầu (2005), nghiên cứu tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tưphát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp có đối tượng nghiêncứu là quá trình huy động, sử dụng có hiệu quả vốn tài chính là nguồn vốn đầu tư chủyếu và quan trọng nhất cho đầu tư phát triển kinh tế Nguồn vốn này còn trực tiếp tạonăng lực cho việc giải quyết vấn đề xã hội: giáo dục, y tế, việc làm, xoá đói giảmnghèo ), trong một số trường hợp cần thiết, luận án đề cập đến khía cạnh của sự pháttriển kinh tế - xã hội nhưng không đi sâu vào lĩnh vực xã hội khác
Nguyễn Thị Giang (2010), nghiên cứu tình hình huy động và sử dụng vốn đầu
tư để phát triển kinh tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã tập trung nghiên cứulàm rõ một số vấn đề lý luận về huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế ởĐồng bằng sông Cửu Long Luận án đã đánh giá về huy động và sử dụng vốn đầu tư
để phát triển kinh tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm qua Trong
đó luận án phân tích tác động của huy động và sử dụng vốn đầu tư đến phát triển kinh
tế - xã hội khu vực đồng bằng sông Cửu Long Trên cơ sở đánh giá thực trạng huyđộng và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội, tác giả chỉ ra những thành công
và hạn chế trong huy động và sử dụng vốn để phát triển kinh tế khu vực Đồng bằngsông Cửu Long Từ đó đề xuất các định hướng và các giải pháp
Trang 12tiếp tục hoàn thiện huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển một cách hiệu quả trênđịa bàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Đinh Văn Phương (1999), nghiên cứu tình hình thu thút và sử dụng vốn đầu tưphát triển kinh tế khu vực miền núi phía Bắc đã làm rõ những nội dung cơ bản về vốnđầu tư - vấn đề huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế, đặc biệt làm rõ vốnđầu tư tăng cường và đầu tư phát triển, mối quan hệ giữa huy động và sử dụng vốnđầu tư để phát triển kinh tế; đề xuất các giải pháp hoàn thiện huy động và sử dụngvốn đầu tư có hiệu quả để phát triển kinh tế, trong đó có việc mở rộng mọi hình thứcliên doanh, liên kết để huy động vốn đầu tư, chính sách thu hút và sử dụng vốn đầu tư
để phát triển Đây là một nội dung trong quá trình quản lý vốn đầu tư phát triển Dovậy, có thể tham khảo khi nghiên cứu quản lý vốn đầu tư phát triển Tuy nhiên, côngtrình này chỉ tập trung vào một khía cạnh của cơ chế quản lý vốn đầu tư phát triển
1.6.3 Khoảng trống nghiên cứu và điểm mới của luận án
- Khoảng trống của nghiên cứu: Nhìn chung các công trình nghiên cứu chủ yếu
tập trung vào đánh giá thực trạng tình hình huy động vốn đầu tư, đánh giá tác độngcủa vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, địa phương, khu kinh tế;ngoài ra việc xác định các yếu tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư cũng đượcnhiều tác giả đề cập…Tuy nhiên, việc nghiên cứu tình hình vốn đầu tư cho địaphương đặc thù sắp trở thành đặc khu hành chính – kinh tế đầu tiên ở Việt Nam vàonăm 2020 như Phú Quốc vẫn còn chưa được ngiên cứu làm rõ
- Điểm mới của nghiên cứu: Qua lược khảo các tài liệu nghiên cứu về vốn đầu
tư cho phát triển KTXH, luận án đã thể hiện được các điểm mới sau:
+ Thứ nhất, hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây về vốn đầu tư cho
phát triển KTXH chủ yếu tập trung vào nghiên cứu định tính, rất ít tác giả sử dụng
mô hình phân tích định lượng Đề tài đi sâu nghiên cứu về vốn đầu tư cho phát triểnKTXH đảo Phú Quốc là sự kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng
Trang 13với hệ thống thang đo đặc thù riêng cho điều kiện của đảo Phú Quốc, mặc dù có sự kếthừa từ một số công trình nghiên cứu trước đó.
+ Thứ hai, với nguồn tư liệu phong phú, tin cậy, luận án đã minh chứng, góp
phần làm sáng tỏ thêm thực trạng về huy động vốn đầu tư, sử dụng vốn đầu tư, tácđộng của vốn đầu tư đối với phát triển KTXH huyện đảo Phú Quốc những năm 2011-2016
+ Thứ ba, trên cơ sở thực trạng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội huyện
đảo Phú Quốc qua nguồn số liệu thứ cấp, kết hợp với kết quả điều tra khảo sát 230doanh nghiệp trên địa bàn Phú Quốc, lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến thu hútvốn đầu tư vào Phú Quốc, luận án đã rút ra được những kết luận khách quan về kếtquả đạt được, đặc biệt là phát hiện được nhiều hạn chế và nguyên nhân của nhữnghạn chế về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội
+ Thứ tư, tác giả đã đề xuất được một hệ thống các giải pháp và kiến nghị
nhằm tăng cường vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới Cácgiải pháp đưa ra là có cơ sở khoa học, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn và mang tínhkhả thi
1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn cơ sở lý
thuyết về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội
- Về mặt thực tiễn: Giúp chính quyền địa phương có cơ sở để tăng cường vốn
đầu tư hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu vốn cho phát triển KTXH của địa phương vốn
có nhiều tiềm năng nhưng thiếu vốn cho đầu tư phát triển Ngoài ra, luận án cũng làmột tài liệu đáng tin cậy cho các nhà đầu tư tham khảo trước khi quyết định đầu tưvào Phú Quốc
1.8 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu
Chương này giới thiệu về sự cần thiết cũng như mục tiêu nghiên cứu, phạm vi,đối tượng, quy trình, ý nghĩa của nghiên cứu Để tìm ra khoảng trống của
Trang 14nghiên cứu, lược khảo tài liệu về các công trình nghiên cứu có liên quan cũng được
đề cập trong chương này
Chương 2: Cơ sở lý luận về vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội
Chương này trình bày những lý thuyết cần thiết liên quan đến vốn đầu tư chophát triển kinh tế xã hội, bao gồm các khái niệm về đầu tư, vốn đầu tư, khu kinh tếđặc biệt và tác động của vốn đầu tư đối với phát triển KTXH
Chương 3: Thực trạng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội đảo Phú
Quốc
Nội dung chương này chủ yếu đi sâu phân tích thực trạng tình hình vốn đầu tưcho phát triển KTXH của Phú Quốc trên 2 mặt: huy động và sử dụng vốn, đồng thờiqua đó rút ra được những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế vềthực trạng vốn đầu tư cho phát triển KTXH làm cơ sở đưa ra giải pháp tăng cườngvốn đầu tư để phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc
Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư tại đảo Phú
Quốc
Trên cơ sở sử dụng phương pháp định lượng, chương này đi sâu phân tích cácyếu tố có ảnh hưởng đến tình hình thu hút vốn đầu tư vào Phú Quốc để có cơ sở đưa
ra giải pháp về thu hút vốn đầu tư hiệu quả
Chương 5: Kết luận và giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho phát triển KTXH
tại đảo Phú Quốc
Chương này thể hiện các kết luận chính mà nghiên cứu đã đạt được, từ đó đưa
ra các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường vốn đầu tư đáp ứng cho phát triểnKTXH tại đảo Phú Quốc thời gian tới
1.9 Quy trình nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu về tăng cường vốn đầu tư cho phát triển kinh
tế xã hội đảo Phú Quốc, tác giả tiến hành lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu cóliên quan đến đề tài nghiên cứu Từ khung lý thuyết và các công trình nghiên cứutrước đó, tác giả đã đưa ra được phương pháp nghiên cứu phù hợp, sau đó tiến hànhphân tích thực trạng, đánh giá tác động của vốn đầu tư đối với phát
Trang 15triển KTXH, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư vào đảo PhúQuốc, từ đó rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân để làm cơ sở cho việc
đề ra giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho phát triển KTXH tại Phú Quốc
Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu
Vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc
Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết cơ bản về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính kếthợp với định lượng (mô hình EFA và
hồi quy đa biến)
Thực trạng, thành công, hạn chế, nguyên nhân và tác độngcủa các yếu tố đến phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc
Giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho phát triển
KTXH đảo Phú Quốc
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
Việc đưa ra các lý thuyết cơ bản phục vụ cho nghiên cứu là điều cần thiết, vìvậy, chương này tác giả chỉ tập trung trình bày các lý thuyết cơ bản có liên quan đếnlĩnh vực nghiên cứu như đầu tư, vốn đầu tư phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội, khukinh tế đặc biệt và tác động của nó đến phát triển KTXH Ngoài ra, để có nhiều kinhnghiệm hơn về tăng cường huy động vốn đầu tư vào Phú Quốc, một số kinh nghiệm ởmột số quốc gia, địa phương cũng được tác giả đề cập trong chương này
2.1 Đầu tư và đầu tư phát triển
2.1.1 Đầu tư
Từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế học đã đưa ra các kháiniệm khác nhau về đầu tư
Paul A Samuelson (2002) quan niệm “đầu tư là sự bổ sung vào tư liệu sản xuất,
ví dụ hàng hóa vốn Hàng hóa vốn gồm các trang thiết bị, nhà xưởng, hay hàng hóavật tư lưu kho…“đầu tư” khi họ mua một miếng đất, hay chứng khoán cũ, hay một tàisản nào đó Trong kinh tế học, việc mua sắm này chỉ là các khoản chuyển giao tàichính hay thay đổi cơ cấu tài sản, vì cái mà người này mua chỉ là cái mà ai đó bán.Đầu tư chỉ thực sự xuất hiện khi tạo ra vốn thực tế” Định nghĩa này nhấn mạnh ýnghĩa kinh tế của đầu tư ở tầm vĩ mô
Trung tâm từ điển Việt Nam (1995), định nghĩa đầu tư là hành động “bỏ vốnvào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp nhưcấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị mới,hoặc thực hiện sự hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triểnphúc lợi công cộng” Định nghĩa này nhấn mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình tháibiểu hiện và động lực của đầu tư
Trần Ngọc Thơ (2005), khi nghiên cứu về lĩnh vực tài chính doanh nghiệp theotác giả: “Đầu tư là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đổi lấy khả năng
Trang 17giá trị không chắc chắn trong tương lai” Khái niệm này xem xét đầu tư trên góc độrủi ro và thời gian Một doanh nghiệp đầu tư hàng trăm ngàn đô la xây dựng nhàxưởng mới Một luật sư đầu tư hàng chục ngàn đô la xây dựng phòng tư vấn Mộtgiáo sư đại học đầu tư hàng chục ngàn đô la mua cổ phần công ty IBM…Những hành
vi trên đều liên quan đến sự hy sinh hiện tại để đổi lấy triển vọng tương lai tốt đẹp.Với ý nghĩa rộng nhất đó, chúng ta có thể cho rằng tất cả hành vi trên là đầu tư.Theo Luật đầu tư của Việt Nam (2005), đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằngcác loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt độngđầu tư Khái niệm này còn chung chung, chưa cho thấy kết quả đầu tư mang lại lợiích kinh tế như thế nào nhằm thu hút đầu tư
Đa số các nhà kinh tế học cho rằng, nội dung cơ bản của khái niệm đầu tư baohàm các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, đầu tư là hành động mang tính tích lũy Để có vốn đầu tư, nhà đầu tư
phải hy sinh một phần tiêu dùng hiện tại, do đó họ luôn so sánh lợi ích giữa đầu tư vàtiêu dùng hiện tại khi quyết định đầu tư Lợi ích từ đầu tư (lãi suất, lợi nhuận, tăng giácủa tài sản hình thành từ vốn đầu tư…) lớn hơn ích lợi của tiêu dùng hiện tại sẽkhuyến khích họ đầu tư, còn ngược lại, tiêu dùng hiện tại sẽ được ưu tiên hơn
Thứ hai, mục đích của đầu tư luôn là giá trị lớn hơn trong tương lai Bất cứ
khoản đầu tư nào cũng chỉ được bỏ ra khi nhà đầu tư kỳ vọng sẽ thu hồi đủ vốn và cólãi trong tương lai
Thứ ba, quyết định đầu tư phụ thuộc vào tính toán của nhà đầu tư Nhưng xét
trên tổng thể, việc bảo toàn vốn và tạo lãi cho nhà đầu tư phụ thuộc rất lớn vào tìnhtrạng chung của nền kinh tế quốc gia và thị trường thế giới Trong nền kinh tế thịtrường, khi cơ chế tự phát còn quyết định trạng thái chung của nền kinh tế, tính bất ổncủa các chu kỳ kinh tế dẫn đến rủi ro đầu tư Càng bất ổn, càng rủi ro, rủi ro quá cao
sẽ cản trở đầu tư
Tóm lại, đầu tư là tiết kiệm tiêu dùng hiện tại để đưa một phần của cải xã hội đã
tích lũy được vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra nhiều của cải hơn trongtương lai Đầu tư là chìa khóa của tăng trưởng kinh tế, đặc biệt tạo ra việc
Trang 18làm Lý thuyết đã chứng minh rằng tăng đầu tư sẽ bù đắp những thiếu hụt của “cầutiêu dùng”, từ đó tăng việc làm, tăng thu nhập, tăng hiệu quả biên của vốn đầu tư vàkích thích tái sản xuất mở rộng.
Căn cứ vào lý thuyết nêu trên, đầu tư luôn kỳ vọng giá trị lớn hơn trong tươnglai Do vậy, nhà đầu tư luôn phải tính toán được giá trị kỳ vọng đó, tất nhiên cũngphải chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định Nhà nước, nhất là tại một địa phươngphải đảm bảo những điều kiện để nhà đầu tư tư nhân đạt được giá trị kỳ vọng mới cóthể thu hút được vốn đầu tư vào địa phương mình, ngành mình
2.1.2 Đầu tư phát triển
Đỗ Phú Trần Tình (2009), cho rằng đầu tư phát triển là đầu tư tài sản vật chất vàsức lao động trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăngthêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăngtiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếutạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội Đó chính là việc bỏtiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị vàlắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phíthường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăngthêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềmlực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước
Xét về bản chất đầu tư phát triển có một số đặc điểm sau:
- Thứ nhất, hoạt động đầu tư phát triển cần một lượng vốn lớn và thời gian
kéo dài trong suốt quá trình đầu tư
- Thứ hai, thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành
quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm (thường từ 2 năm trở lênthậm chí 50 năm, nhưng cũng không quá 70 năm) với nhiều biến động xảy ra
- Thứ ba, thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các công
cuộc đầu tư đòi hỏi nhiều năm, do đó không tránh khỏi những biến động tích cực vàtiêu cực các biến động về KTXH
Trang 19- Thứ tư, thành quả do đầu tư phát triển mang lại biểu hiện trên hai mặt: lợi ích
tài chính và lợi ích kinh tế xã hội Lợi ích kinh tế xã hội được gọi tắt là lợi ích kinh tế,lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhà đầu tư, còn lợi ích kinh tếảnh hưởng đến xã hội, cộng đồng
- Thứ năm, các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ
hoạt động ngay tại nơi mà nó tạo dựng nên Do đó, các điều kiện địa lý, địa hình cũngảnh hưởng đến quá trình đầu tư cũng như hoạt động sau này
2.2 Vốn đầu tư
2.2.1 Khái niệm
Vũ Thị Ngọc Phùng (2005), định nghĩa vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu đểlàm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định Tương ứng với sựphân biệt chức năng của hai loại tài sản: sản xuất và phi sản xuất, vốn đầu tư cũngđược chia thành hai loại: vốn đầu tư sản xuất và phi sản xuất
Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăngmức vốn sản xuất Vốn đầu tư sản xuất được chia thành vốn đầu tư vào tài sản cốđịnh và vốn đầu tư vào tài sản lưu động Đến lượt mình, vốn đầu tư vào tài sản cốđịnh lại chia thành vốn đầu tư cơ bản và đầu tư sửa chữa lớn Vốn đầu tư cơ bản làmtăng khối lượng thực thể của tài sản cố định, bảo đảm bù đắp số tài sản cố định bị haomòn và tăng thêm phần xây lắp dở dang Còn vốn sửa chữa lớn không làm tăng khốilượng thực thể của tài sản Vốn đầu tư phi sản xuất là toàn bộ các khoản chi phíkhông tham gia vào quá trình sản xuất vì vậy không duy trì hoặc tăng vốn sản xuất
2.2.2 Nguồn vốn đầu tư
2.2.2.1 Nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước
Nguồn vốn khu vực nhà nước bao gồm vốn NSNN, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của DNNN
Nguồn vốn NSNN: là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triểnKT-XH của mỗi quốc gia và địa phương Nguồn vốn này thường được sử dụng chocác dự án kết cấu hạ tầng KT-XH, an ninh quốc phòng, hỗ trợ các dự án của DN đầu
Trang 20tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các
dự án quy hoạch tổng thể KT-XH vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nôngthôn
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: Cùng với quá trình đổimới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng
kể trong chiến lược phát triển KT-XH
Thông qua nguồn tín dụng đầu tư, nhà nước thực hiện việc khuyến khích pháttriển ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược chung Việc phân bổ và sửdụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn,giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo Và trên hết, nguồn vốn tín dụngđầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng CNH, HĐH
Nguồn vốn đầu tư của DNNN: từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lạitại DNNN và chủ yếu là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đạihóa dây chuyền công nghệ của DN
2.2.2.2 Nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng
Các TCTD có thể dùng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế và dân cư haynguồn vốn nhận ủy thác để tài trợ trực tiếp các dự án đầu tư có hiệu quả, thường là tàitrợ trung dài hạn Các TCTD còn có thể dùng một phần vốn chủ sở hữu của mình đểtài trợ gián tiếp các dự án đầu tư thông qua việc mua các chứng khoán – có haykhông có tham gia quản lý Ở Việt Nam, trước mắt, nguồn này chưa dồi dào khi mức
tự tích lũy từ nền kinh tế còn thấp Nguồn vốn này thường dành cho những dự án đầu
tư, phục vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, nguồn vốn này chưa chú trọng đầu tư vào cơ
sở hạ tầng nơi lợi ích xã hội giữ vai trò trọng tâm
Nguồn vốn từ các doanh nghiệp
Trang 21Tiết kiệm của các doanh nghiệp được xác định trên cơ sở doanh thu và cáckhoản chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh thu của doanh nghiệp (TR) là các khoản thu nhập do tiêu thụ hàng hóahoặc các dịch vụ sau khi đã trừ đi các chi phí trung gian trong quá trình sản xuất.Tổng chi phí (TC) thường bao gồm các khoản: trả tiền công, trả tiền thuê đất đai, trảlãi suất tiền vay và thuế kinh doanh
Khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí được gọi là lợi nhuận(Pr) trước thuế
Pr(trước thuế) = TR – TCLợi nhuận trước thuế sau khi đóng thuế lợi tức (Tde) sẽ còn lại lợi nhuận sauthuế
Pr(sau thuế) = Pr(trước thuế) - TdeĐối với các công ty cổ phần thì lợi nhuận sau thuế còn phải chia cho các cổđông, do đó còn xuất hiện thêm khái niệm lợi nhuận để lại công ty (hay còn gọi là lợinhuận không chia) Lợi nhuận để lại cùng với quỹ khấu hao trở thành nguồn vốn tiếtkiệm của doanh nghiệp có thể huy động vào đầu tư
Nguồn vốn tiết kiệm của dân cư
Tiết kiệm của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình Thunhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập có thể sử dụng (DI) và các khoản thu nhậpkhác Chúng ta đã biết cách xác định thu nhập có thể sử dụng từ thu nhập quốc dânsản xuất (NI)
DI= NI – Td + SdTrong đó: Td là thuế thu nhập (bao gồm cả thuế thu nhập của công ty - Tde vàthuế thu nhập của dân cư -Tdh , Sd là các khoản trợ cấp của chính phủ)
Td = Tde+ TdhCác khoản thu nhập khác có thể từ rất nhiều nguồn như được viện trợ, thừa kế,bán tài sản, trúng vé xổ số, thậm chí là các khoản đi vay
Chi tiêu của hộ gia đình bao gồm: các khoản chi mua hàng hóa và dịch vụ Chimua hàng hóa đó là chi về lương thực, thực phẩm, quần áo, phương tiện đi lại và
Trang 22các hàng hóa tiêu dùng lâu bền khác; chi cho hoạt động dịch vụ là chi cho du lịch, chicho các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, chi trả lãi suất các khoản tiền vay
Khác với chi tiêu của chính phủ, tất cả các khoản chi tiêu của hộ gia đình đềuđược coi là yếu tố cấu thành GDP Mối quan hệ giữa các khoản thu nhập và chi tiêucủa hộ gia đình có thể được mô tả qua hàm chi tiêu
Hàm chi tiêu C có dạng: C =a +b.DI
Trong đó: a là các khoản chi tiêu cố định, b là xu hướng tiêu dùng cận biên(MPC) phản ánh độ dốc của hàm chi tiêu
b = C = MPC DI
Tại D1, mức thu nhập có thể sử dụng nhỏ hơn mức chi tiêu (DI<C) Tại đó,để có
đủ tiền chi tiêu dân cư phải sử dụng các khoản thu nhập khác a1
Tại D0, mức thu nhập bằng mức chi tiêu (DI=C) Tại đó, thu nhập của dân cư đủ
để trang trải các khoản chi phí và không có tiết kiệm
Tại D2, mức thu nhập có thể sử dụng lớn hơn mức chi tiêu (DI>C) Tại đây dân
cư mới có tiết kiệm S2
Hình 2.1 Hàm chi tiêu của các hộ gia đình C
C = a + b.DI
Qua Hình 2.1 có thể thấy rằng, khi thu nhập gia tăng, tỷ lệ tiết kiệm sẽ tăng dần,
có nghĩa là trong một nước những gia đình có thu nhập cao hơn sẽ có tỷ lệ tiết
Trang 23kiệm lớn hơn Và tất nhiên, những nước giàu có sẽ có tỷ lệ tiết kiệm để đầu tư caohơn so với các nước có mức thu nhập thấp nhất.
2.2.2.3 Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài
Đó chính là các khoản đầu tư nước ngoài hay còn gọi là đầu tư quốc tế Đầu tưnước ngoài là phương thức đầu tư vốn, tài sản từ nước ngoài để tiến hành sản xuất,kinh doanh hay dịch vụ với mục đích kiếm tìm lợi nhuận hoặc vì những mục tiêuchính trị, xã hội nhất định, có thể tóm tắt qua sơ đồ sau:
Về bản chất đầu tư nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thứccao hơn của xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hóa luôn bổsung và hỗ trợ cho nhau trong chiến lược xâm nhập, chiếm lĩnh thị trường của cáccông ty, tập đoàn lớn của nước ngoài hiện nay Nhiều trường hợp việc buôn bán hànghóa ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu tư.Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng pháttriển mạnh mẽ, hợp thành những dòng trào lưu có tính quy luật trong liên kết kinh tếtoàn cầu hiện nay Sự phát triển của đầu tư nước ngoài bắt nguồn từ một số nguyênnhân chủ yếu sau:
Sơ đồ 2.2 Các kênh chính của nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư quốc tế
Trang 24- Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hóathương mại và đầu tư quốc tế.
- Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ và những tiến
bộ vượt bậc trong lĩnh vực thông tin, truyền thông đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổimới cơ cấu kinh tế của các nước, tạo nên sự chuyển dịch vốn giữa các quốc gia
- Sự thay đổi các yếu tố sản xuất, kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo nên
“lực đẩy” đối với đầu tư quốc tế
- Nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển
là rất lớn, tạo “sức hút” mạnh mẽ với nguồn đầu tư nước ngoài
Như vậy, vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính là đầu tư tư nhân (trong đó,chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài- FDI) và đầu tư của chính phủ và các tổ chứcquốc tế
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài đề đầu tư chosản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận Đây là một nguồn vốnlớn, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển
Trong lịch sử thế giới FDI đã tồn tại từ lâu, ngay từ thời tiền tư bản Các công
ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đồ Nha…là những công ty đi đầu trong lĩnhvực đầu tư FDI dưới hình thức đầu tư vốn vào các nước châu Á để khai thác đồn điềnnhằm cung cấp nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp của chính quốc Cùngvới các ngành khai thác đồn điền là các ngành khai thác khoáng sản, tài nguyên tronglòng đất đưa về chính quốc
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, FDI đã có sự thay đổi rõ rệt với sự đầu tư
ồ ạt của các nhà đầu tư Mỹ vào châu Âu theo kế hoạch Marshall để vực dậy phần lụcđịa bị chiến tranh tàn phá này Sau đó là sự đầu tư giữa các nước châu Âu, thực hiện
sự liên minh tư bản, tăng cường khả năng kinh tế, chống độc quyền của các nhà đầu
tư Mỹ Từ đó, việc đầu tư trực tiếp nước ngoài trở nên thường xuyên hơn và được sửdụng phối hợp với các hình thức xuất khẩu tư bản khác trở thành vũ khí
Trang 25lợi hại của các nước tư bản phương Tây trong việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới,nhất là với các nước đang phát triển.
Ngày nay, FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế hóa sảnxuất và lưu thông Không có một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù phát triển theo conđường tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa lại không cần đến nguồn vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài và tất cả đều coi đó là nguồn lực quốc tế quan trọng cần khaithác để từng bước hòa nhập vào cộng đồng quốc tế Ngay cả những quốc gia có tiềmlực kinh tế mạnh như Mỹ, Nhật dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học côngnghệ hiện nay cũng không thể tự mình giải quyết được những vấn đề kinh tế, xã hội
đã, đang và sẽ tiếp tục đặt ra Chỉ có con đường hợp tác, trong đó có FDI là loại hìnhđầu tư, hợp tác có hiệu quả
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song những hình thức chủ yếu là hợpđồng hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi
là bên hợp doanh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗibên để tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà không thànhlập một pháp nhân
- Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bênnước ngoài hợp tác với nước tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùnghưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỉ lệ vốn góp Doanh nghiệp liên doanh đượcthành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theopháp luật của nước tiếp nhận đầu tư
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhàđầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thànhlập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuấtkinh doanh
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FPI)
Trang 26Là các khoản vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài có thể là thể nhânhoặc pháp nhân thực hiện qua định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư, công
ty đầu tư các quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm,…đầu tư trực tiếp vào cổ phần, các công
ty niêm yết vào thị trường chứng khoán Khi thực hiện đầu tư gián tiếp, các nhà đầu
tư nước ngoài không quan tâm đến quá trình sản xuất kinh doanh mà thực tế chỉ quantâm đến lợi tức hoặc sự an toàn của những chứng khoán mà họ đầu tư FPI được thựchiện dưới hai hình thức là các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu hoặc các công cụtài chính khác do các công ty hoặc các thể chế tài chính của các nước đang phát triểnphát hành trên thị trường nội địa hay các nhà đầu tư nước ngoài mua trái phiếu hoặccác công cụ nợ khác do chính phủ hoặc các công ty ở các nước đang phát triển pháthành trên thị trường nội địa hoặc thị trường vốn quốc tế
Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA)
Nguồn vốn ODA là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức (chính quyềnnhà nước hay địa phương) của một nước hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ cho cácnước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của cácnước này
ODA ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II, cùng với kế hoạch Marshall đểgiúp các nước châu Âu phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá Đểtiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước châu Âu thành lập Tổ chức hợptác và phát triển kinh tế (OECD) Ngày nay, Tổ chức này không chỉ có thành viên làcác nước châu Âu mà còn có Mỹ, ÚC, Nhật Bản, Hàn Quốc …Trong khuôn khổ hợptác, các nước OECD lập ra những Ủy ban chuyên môn, trong đó có Ủy ban viện trợphát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển ODA được thực hiện trên cơ
sở song phương hoăc đa phương
Nguồn vốn các tổ chức phi chính phủ (NGO)
Hiện nay trên thế giới có hàng trăm tổ chức phi chính phủ hoạt động theo cácmục đích, tôn chỉ khác nhau (từ thiện, nhân đạo, y tế, tôn giáo ) Nguồn vốn củacác tổ chức phi chính phủ thường nhỏ, chủ yếu dựa vào nguồn quyên góp hoặc sự tàitrợ của các chính phủ Viện trợ NGO có những đặc điểm sau:
Trang 27- Phương thức viện trợ đa dạng, có thể là vật tư, thiết bị hoặc lương thực, thực phẩm, thuốc men, tiền mặt, quần áo,…
- Quy mô viện trợ nhỏ nhưng thủ tục đơn giản, thực hiện nhanh, đáp ứng kịp thời những yêu cầu khẩn cấp (khắc phục thiên tai, dịch bệnh, .)
- Khả năng cung cấp viện trợ và thực hiện viện trợ thất thường và nhất thời
- Ngoài mục đích nhân đạo, trong một số trường hợp còn mang màu sắc tôn giáo, chính trị khác nhau nên khó quản lý
Viện trợ NGO thường là viện trợ không hoàn lại, trước đây loại viện trợ này chủyếu là vật chất, đáp ứng những nhu cầu nhân đạo như: cung cấp thuốc men cho cáctrung tâm y tế, chỗ ở và lương thực cho các nạn nhân thiên tai Hiện nay, loại viện trợnày lại được thực hiện nhiều hơn bằng các chương trình phát triển dài hạn, có sự hỗtrợ của các chuyên gia thường trú như: huấn luyện những người làm công tác bảo vệsức khỏe, thiết lập các dự án tín dụng, cung cấp nước sạch ở nông thôn, cung cấpdinh dưỡng và sức khỏe ban đầu
Nguồn vốn tín dụng quốc tế
Tín dụng quốc tế là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay sau một thời gianphải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho nước cho vay Các nước cho vay vốn thu lợi nhuậnthông qua lãi suất tiền vay Nguồn vốn tín dụng quốc tế có một số đặc điểm sau:
- Đối tượng vay vốn thường là các doanh nghiệp Độ rủi ro cao đối với các chủđầu tư khi các doanh nghiệp vay vốn hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ, phásản
- Vốn vay dưới dạng tiền tệ, các doanh nghiệp vay vốn có toàn quyền sử dụng
- Chủ đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận thông qua lãi suất cố định theo khế ướcvay, độc lập với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vay, có quyền sử dụng nhữngtài sản đã thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan bảo lãnh thanh toán khoản vay trong trườnghợp bên vay không có khả năng thanh toán Các tổ chức tín dụng cung cấp vốn tuykhông tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, nhưng trước khi nguồn vốn đượcgiải ngân thì họ đều nghiên cứu tính khả thi của dự án đầu tư, có yêu cầu về bảo lãnhthế chấp các khoản vay để giảm rủi ro
Trang 28Khi sử dụng nguồn vốn tín dụng quốc tế, các nước tiếp nhận vốn không phảichịu bất cứ một ràng buộc nào về chính trị, xã hội, có toàn quyền sử dụng vốn Tuynhiên, do đây là nguồn vốn cho vay với lãi suất thương mại nên nếu các bước tiếpnhận không sử dụng hiệu quả nguồn vốn này thì có nguy cơ dẫn đến tình trạng mấtkhả năng chi trả, dẫn đến nguy cơ vỡ nợ.
2.2.3 Huy động vốn đầu tư
2.2.3.1 Khái niệm huy động vốn đầu tư
Lê Văn Khâm (2001), huy động vốn cho đầu tư là quá trình xác định, tìm kiếmcác nguồn tài chính cho hoạt động đầu tư Để tiến hành bất kỳ một hoạt động đầu tưnào cũng cần phải giải bài toán về vốn như: xác định lượng vốn cần thiết? lượng vốn
đó sẽ lấy từ nguồn nào? tiềm năng của mỗi nguồn ra sao? khả năng tham gia của mỗinguồn? và làm thế nào để khai thác được?
Việc huy động vốn đầu tư là điều kiện cần thiết cho hoạt động đầu tư, nếukhông có vốn thì dự án sẽ không triển khai được Đối với phát triển kinh tế xã hội nó
là yếu tố đầu vào cần thiết cùng với yếu tố lao động quyết định sự tăng trưởng củamột nền kinh tế
Như vậy, huy động vốn đầu tư ngoài việc hàng năm NSNN phải có kế hoạchphân bổ vốn cụ thể, thì còn phải có kế hoạch thu hút vốn đầu tư từ các nguồn khácnhư tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài là điều hết sức cần thiết cấu thành nguồn vốn huyđộng của một quốc gia hay địa phương
2.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ huy động vốn đầu tư
Lê Văn Khâm (2001), huy động vốn đầu tư phát triển KTXH được phản ánhthông qua các chỉ tiêu khối lượng vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư, cụ thể:
- Tổng mức huy động: là tổng số vốn đầu tư các nhà đầu tư đã thực hiện trong
kỳ theo dự án được quyết định cấp phép hay đăng ký đầu tư Ý nghĩa của chỉ tiêu nàynói lên quy mô đầu tư như thế nào, có tương xứng với quốc gia, địa phương haykhông?
Trang 29- Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện so với nhu cầu, kế hoạch: Chỉ tiêu này phản ánh kết
quả huy động vốn đầu tư đạt được so với nhu cầu, kế hoạch đề ra, chỉ tiêu này đượctính như sau:
ỷ ệ Đ ớ
=
Đ ựệ
- Tốc độ tăng trưởng VĐT: Tốc độ tăng trưởng VĐT được tính bằng cách lấy
chênh lệch giữa quy mô huy động vốn kỳ hiện tại so với quy mô huy động vốn kỳtrước chia cho quy mô huy động vốn kỳ trước, chỉ số này được tính như sau:
- Tỷ trọng vốn đầu tư thực hiện so với cả nước và các vùng khác: Chỉ tiêu này
thể hiện khả năng huy động vốn có được so với cả nước hoặc địa phương mình muốn
so sánh, làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ huy động vốn của địa phương
- Cơ cấu vốn đầu tư: chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng vốn đầu tư trong tổng số; cơ
cấu đầu tư theo ngành kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa vốn đầu tư cho nông lâm hải sản, công nghiệp – xây dựng và ngành dịch vụ trong tổng số; cơ cấu đầu tư theonguồn hình thành thể hiện mối quan hệ giữa vốn nhà nước và khu vực DN ngoài nhànước, dân cư trong tổng vốn huy động
Chỉ số này nói lên khả năng huy động vốn của từng ngành, nguồn vốn có tương xứng với khả năng phát triển hay không?
Trang 302.2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội
Đối với nguồn vốn thuộc khu vực nhà nước:
Phương Thị Hồng Hà (2006), nghiên cứu về NSNN cho rằng huy động vốn đầu tư NSNN vào một địa phương thường chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:
Quy hoạch phát triển KTXH của địa phương
Chi đầu tư từ NSNN là nguồn vốn trung và dài hạn, do đó muốn chi đầu tư từNSNN phải có kế hoạch và đăng ký với cơ quan quản lý vốn Muốn đăng ký vốn thìtrước tiên phải có quy hoạch phát triển KTXH được cơ quan có thẩm quyền phêduyệt NSNN không thể chi tràn lan mà không có kế hoạch Do đó, một địa phươngmuốn xin hỗ trợ ngân sách từ cấp trên hoặc giữ lại nguồn vốn từ địa phương để chicho đầu tư thì công tác quy hoạch KTXH là điều kiện đầu tiên được cơ quan có thẩmquyền phê duyệt Điều này không những đảm bảo được sự cân đối NSNN mà cònđảm bảo được tính hiệu quả khi đầu tư vào dự án
Nguồn thu của địa phương
Ngân sách nhà nước được tập trung bởi nguồn thu từ NSNN thông qua cáchoạt động thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác như hoạt động kinh tế của nhànước, viện trợ không hoàn lại, thu từ bán tài sản…, trong các nguồn thu trên thì thu từthuế là nguồn thu chủ yếu
Nguồn thu NSNN có tác động trực tiếp đến hình thành nguồn vốn đầu tư củađịa phương, nếu một địa phương có nguồn thu lớn và được cơ quan cấp trên xét duyệtcho để lại để tái đầu tư thì sẽ được bổ sung vào nguồn vốn đầu tư của địa phương đó
Hỗ trợ vốn từ ngân sách Trung ương
Ngoài kế hoạch phát triển KTXH của địa phương, một số nơi còn nằm trong
kế hoạch phát triển của Trung ương như các dự án phát triển vùng, dự án thuộcchương trình mục tiêu quốc gia, dự án thuộc an ninh quốc phòng…Các dự án này cónguồn vốn thuộc trung ương quản lý hoặc được phân bổ về địa phương Một địaphương có tiềm năng, nằm trong kế hoạch phát triển KTXH thuộc nguồn vốn này sẽ
Trang 31được thừa hưởng lợi ích từ những dự án đó góp phần phát triển KTXH của địaphương.
Ngoài nguồn vốn từ NSNN các nguồn vốn khác như vốn đầu tư từ các doanhnghiệp nhà nước, vốn vay phụ thuộc nhiều vào chính sách của mỗi quốc gia hay địaphương Ở Việt Nam hiện nay nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nhà nước có xuhướng ngày càng giảm do chính sách cổ phần hóa của Chính phủ Các nguồn vốn vaythường huy động nhiều từ nguồn ngân sách Trung ương, đối với các địa phươngnguồn vốn này thường rất hạn chế và khó tiếp cận
Đối với nguồn vốn không thuộc khu vực nhà nước
Nguồn vốn không thuộc khu vực nhà nước bao gồm vốn từ khu vực tư nhân,vốn đầu tư nước ngoài và các nguồn vốn khác Các nguồn vốn này được ảnh hưởngbởi các nhân tố sau:
Cơ sở hạ tầng
Kinda (2010), cho rằng cơ sở hạ tầng là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật
và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho hoạt động kinh tế, xã hội diễn ra trên đó, baogồm tổng thể các ngành, các loại hình hoạt động, các yếu tố, các phương tiện vật chất
kỹ thuật, các thiết bị và các công trình phục vụ quá trình sản xuất, dịch vụ và đờisống thích ứng với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội trên phạm vi quốc gia, địaphương, vùng lãnh thổ cũng như đối với các ngành, các khu vực, các lĩnh vực củanền kinh tế quốc dân
Cơ sở hạ tầng bao gồm các yếu tố mang tính vật chất kỹ thuật (phần cứng)như đường giao thông, cầu cống, mạng lưới điện, nước, thông tin liên lạc và cácdịch vụ mang tính chất phục vụ chung cho sản xuất và đời sống (phần mềm) như dịch
vụ bưu chính viễn thông, giao thông vận tải Cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng đến thu hútvốn đầu tư cho phát triển kinh tế của một quốc gia hay địa phương, cụ thể:
Thứ nhất, sự phát triển của giao thông vận tải góp phần làm giảm chi phí vận
chuyển, tạo thuận lợi cho lưu thông và buôn bán hàng hoá và nhờ đó nhiều công tykinh doanh tầm cỡ lớn xuất hiện và phát triển, có thêm khả năng mở rộng đầu tư vàxuất hiện cơ hội đầu tư mới thúc đẩy thu hút vốn đầu tư
Trang 32Thứ hai, năng lực cung cấp điện đáng tin cậy với giá cả hợp lý đảm bảo cho
nhà đầu tư yên tâm mở rộng sản xuất có hiệu quả
Thứ ba,bưu chính viễn thông phát triển, với cước hợp lý là công cụ kinh
doanh hữu ích cho nhà đầu tư
Thứ tư, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống xử lý chất thải hiện đại đảm bảo
cho nhà đầu tư phát triển kinh doanh
Thứ năm, hiệu suất cảng biển, cảng hàng không cũng quyết định giảm chi phí
vận tải và góp phần tăng thêm giao dịch thương mại cho nhà đầu tư Hiệu suất củacảng tác động trực tiếp tới nhà xuất nhập khẩu và gián tiếp tới hầu hết doanh nghiệp
Chính sách đầu tư
Theo Trung tâm từ điển Việt Nam (1995), “Chính sách là những chuẩn tắc cụthể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời giannhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướngcủa chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, vănhóa…”
Ở Việt Nam, thuật ngữ chính sách đầu tư còn mới mẻ, thông thường chúng taquen dùng cụm từ đồng nghĩa: Chính sách của nhà nước hoặc chính sách của Đảng
và Nhà nước, vì ở nước ta, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạoNhà nước, lãnh đạo xã hội Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc vạch ra đườnglối, chiến lược, các định hướng chính sách, đó chính là những căn cứ chỉ đạo để Nhànước ban hành các chính sách công, trong đó có chính sách thu hút đầu tư Do đóchính sách đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư cho địaphương
Môi trường sống
Nguyễn Đình Thọ và ctg (2005), cho rằng môi trường sống có tác động đến sựhài lòng của nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào địa phương Môi trường sống làtổng hòa các yếu tố làm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Môi trườngsống thể hiện qua các yếu tố như hệ thống y tế, giáo dục, môi trường có bị ô
Trang 33nhiễm, chi phí sinh hoạt có hợp lý và điều kiện an ninh có tốt hay không? Các nhân tốnày, ngày nay trở thành mục tiêu, động lực của sự phát triển và ảnh hưởng tích cựctới khả năng thu hút đầu tư khi những yếu tố cơ bản này được đáp ứng, vì một số nhàđầu tư khi quyết định đầu tư vào một địa phương thì thường có ý định gắn bó lâu dàivới địa phương đó nên những yếu tố về nâng cao chất lượng cuộc sống là cần thiết.
Tài nguyên thiên nhiên
Nguyễn Mạnh Toàn (2010), cho thấy sự dồi dào về nguyên vật liệu, sự ưu đãicủa tài nguyên thiên nhiên cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tư Trongtrường hợp của Malaysia, nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước này có sức hút FDImạnh mẽ nhất Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước này là nhắm đến cácnguồn tài nguyên dồi dào về dầu mỏ, khí đốt, cao su, gỗ Đặc biệt tại các quốc giaĐông Nam Á (ASEAN), khai thác tài nguyên thiên nhiên là mục tiêu quan trọng củanhiều MNEs trong các thập kỷ qua Thực tế cho thấy, trước khi có sự xuất hiện củaTrung Quốc trên lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, FDI chỉ tập trung vào một sốquốc gia có thị trường rộng lớn và nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào
Xúc tiến thương mại và marketing địa phương
Kinda (2010), xây dựng chiến lược tiếp thị địa phương là tìm cách phát huynhững nét riêng của địa phương nhằm hấp dẫn khách hàng muốn nhắm tới, vì thếphải dựa trên tiêu chí xem nhà đầu tư và khách hàng là trọng tâm Việc cạnh tranhgiữa các địa phương không chỉ qua chất lượng và giá sản phẩm, mà còn qua cơ chế
- chính sách, sự minh bạch của cơ chế - chính sách, sự tận tụy - chuyên nghiệp của bộmáy nhà nước, thái độ ứng xử văn minh lịch sự của người dân, uy tín của doanh nhân
và thương hiệu của doanh nghiệp Hoạt động tiếp thị địa phương phải dựa trên chiếnlược phát triển kinh tế, xã hội ở cấp quốc gia và cơ chế, chính sách cụ thể của từngđịa phương
Tăng cường xúc tiến thương mại địa phương là những hoạt động thúc đẩy, tìmkiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ bao gồm các hoạt động khuyếnmãi, quảng cáo, trưng bày, tổ chức sự kiện, giới thiệu hàng hóa dịch vụ, hội
Trang 34chợ triển lãm… nhằm thúc đẩy, tìm kiếm thêm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứngdịch vụ, hỗ trợ thương nhân kinh doanh hiệu quả hơn.
Nguồn nhân lực
Đinh Phi Hổ (2015), cho rằng khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới
ở địa phương nào đó, các nhà đầu tư cũng nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lựctrẻ và tương đối thừa thãi ở các địa phương này Thông thường nguồn lao động phổthông luôn được đáp ứng đầy đủ và có thể hài lòng yêu cầu của các công ty Tuy vậy,chỉ có thể tìm được các nhà quản lý giỏi, cũng như cán bộ kỹ thuật có trình độ vàkinh nghiệm ở các thành phố lớn Động cơ, thái độ làm việc của người lao động cũng
là yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa điểm để đầu tư
Yếu tố chi phí đầu vào
Trần Ngọc Thơ & Nguyễn Ngọc Định (2002), nghiên cứu cho thấy phần đôngcác MNEs đầu tư vào các nước là để khai thác các tiềm năng, lợi thế về chi phí.Trong đó, chi phí về lao động thường được xem là nhân tố quan trọng nhất khi
Trang 35ra quyết định đầu tư Nhiều nghiên cứu cho thấy, đối với các nước đang phát triển, lợithế chi phí lao động thấp là cơ hội để thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài trongcác thập kỷ qua Khi giá nhân công tăng lên, đầu tư nước ngoài có khuynh hướnggiảm Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư trực tiếp ở nước ngoài cho phép các công tytránh được hoặc giảm thiểu các chi phí vận chuyển và do vậy có thể nâng cao nănglực cạnh tranh, kiểm soát được trực tiếp các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệuvới giá rẻ, nhận được các ưu đãi về đầu tư và thuế, cũng như các chi phí sử dụng đất.Ngoài chi phí vận chuyển và các khía cạnh chi phí khác, cũng cần nhấn mạnh đếnđộng cơ đầu tư của các công ty xuyên quốc gia nhằm tránh ảnh hưởng của hàng ràoquan thuế và phi quan thuế, cũng như giúp giảm thiểu đáng kể chi phí xuất nhậpkhẩu.
2.2.4 Hiệu quả vốn đầu tư
2.2.4.1 Hệ số ICOR
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư người ta dùng hệ số ICOR, hệ số nàyphản ánh quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế (mô hình Harrod - Domar)
Hệ số này được tính dựa trên các giả định chủ yếu sau:
- Nền kinh tế luôn cân bằng ở dưới sản lượng tiềm năng Để có thể huy động được các nguồn lực dư thừa cần phải đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất
- Công nghệ không đổi, sự kết hợp giữa vốn và lao động được thực hiện theo một hệ số cố định
Hệ số ICOR được xác định theo công thức:
K ICOR =
Y
Trong đó: K mức thay đổi vốn đầu tư: ( K = Kt – Kt-1)
Y là mức thay đổi về sản lượng và Y = Yt – Yt-1, ở đây t chỉ nămnghiên cứu và t - 1 chỉ năm trước năm nghiên cứu
Ý nghĩa của hệ số ICOR là để tạo thêm được một đơn vị sản lượng trong mộtkhoảng thời gian nhất định thì cần tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư Hay nói
Trang 36cách khác, ICOR là “giá” phải trả thêm cho việc tạo thêm một đơn vị kết quả sảnlượng Hệ số ICOR càng lớn chứng tỏ chi phí cho kết quả tăng trưởng càng cao nóphụ thuộc vào mức độ khan hiếm nguồn dự trữ và tính chất của công nghệ sản xuất; ởcác nước phát triển hệ số ICOR thường cao hơn ở các nước đang phát triển và ở mỗinước thì hệ số ICOR luôn có xu hướng tăng lên tức là khi kinh tế càng phát triển thì
để tăng thêm một đơn vị kết quả sản lượng cần nhiều hơn về nguồn lực sản xuất
2.2.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả vốn đầu tư
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả vốn đầu tư Các nhân tố ảnh hưởngnày tác động đến cả hai thành phần của hiệu quả vốn đầu tư Lợi ích công dụng củacác đối tượng do kết quả của quá trình đầu tư tạo nên khi được đưa vào sử dụng vàvốn đầu tư chỉ ra nhằm tạo nên các kết quả ấy Do đó các nhân tố này tồn tại dọc theosuốt thời gian của quá trình đầu tư khi có chủ trương đầu tư ngay trong quá trình thựchiện đầu tư, xây dựng và đặc biệt là cả quá trình khai thác, sử dụng các đối tượng đầu
tư được hoàn thành Theo Bùi Mạnh Cường (2012), khi nghiên cứu về các nhân tốảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư có các yếu tố sau:
Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên thiênnhiên,… Điều kiện tự nhiên thuận lợi (mưa nắng thuận hòa, thời tiết ít khắc nghiệt,đường giao thông ít phải cải tạo, ) góp phần làm cho nhà đầu tư giảm chi phí đầuvào quá trình đầu tư, trong quá trình thực hiện dự án và đưa sản phẩm đầu tư vàophục vụ cuộc sống Điệu kiện tự nhiên thuận lợi làm tăng nhanh tốc độ thực hiện dự
án, tốc độ đưa sản phẩm đầu tư đến người tiêu dùng sản phẩm đầu tư, góp phần tạo rahiệu quả đầu tư tốt
Các nhân tố về chính sách kinh tế
Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sửdụng vốn đầu tư Các chính sách này gồm chính sách định hướng phát triển kinh tếnhư: Chính sách công nghiệp, chính sách thương mại, chính sách đầu tư và cácchính sách làm công cụ điều tiết vĩ mô hoặc vi mô như: Chính sách tài khoá (công
Trang 37cụ chủ yếu là chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ), chính sách tiền tệ (công cụ
là chính sách lãi suất và mức cung ứng tiền), chính sách tỷ giá hối đoái, chính sáchkhấu hao,
Các chính sách kinh tế tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tạo điềukiện cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, vốn đầu tưđược sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vựcđầu tư, góp phần tạo ra một cơ cấu đầu tư nhất định, là cơ sở để hình thành một cơcấu hợp lý hay không cũng như tác động làm giảm hoặc tăng thất thoát vốn đầu tư,theo đó mà vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả hoặc kém hiệu quả
Trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, các chínhsách kinh tế tác động làm cho các đối tượng này phát huy tác dụng tích cực hay tiêucực Đó là điều kiện làm cho vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp
Khi đã lựa chọn mô hình chiến lược công nghiệp hoá đúng, nếu các chính sáchkinh tế được xác định phù hợp có hệ thống, đồng bộ và nhất quán thì sự nghiệp côngnghiệp hoá sẽ thắng lợi, vốn đầu tư sẽ mang lại hiệu quả sử dụng cao Nếu các chínhsách kinh tế phù hợp với mô hình chiến lược công nghiệp hoá, tạo điều kiện cho sựthành công của công nghiệp hoá, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả
Các nhân tố chính trị, văn hoá, xã hội, lịch sử, tập quán
Xã hội ổn định về chính trị, an toàn, an ninh sẽ làm cho các chính sách về đầu
tư được ổn định Ổn định về chính trị sẽ giúp các nhà đầu tư tin tưởng hơn vào chínhsách nhà nước từ đó sẽ mạnh dạng bỏ vốn và triển khai đầu tư một cách nhanh chóng
Những yếu tố như văn hoá, lịch sử, tập quán ít nhiều cũng tác động kể cả trựctiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư và hiệu quả ĐTPT Nếu người dân tại địaphương hiểu và đồng thuận với chính sách đầu tư của nhà nhà nước sẽ nhiệt tình ủng
hộ các nhà đầu tư thực hiện dự án, ngược lại nó là rào cản cho việc thực hiện việctriển khai các dự án này Ngoài ra tập quán, thói quen tiêu dùng của người dân
Trang 38địa phương cũng là một trong những nhân tố mang lại thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của dự án sau đầu tư.
Các nhân tố về năng lực của chủ đầu tư
Một nhà đầu tư có năng lực tốt sẽ có đủ khả năng tài chính để thực hiện triểnkhai dự án đúng tiến độ theo yêu cầu Ngoài ra họ có thể tiến hành tổ chức khai thác,
sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành một cách hiệu quả Tổ chức khai thác cácđối tượng đầu tư hoàn thành sẽ mang lại một khối lượng cung ứng hàng hoá, dịch vụnhất định, góp phần tăng hiệu quả vốn đầu tư cho nền kinh tế
2.3 Phát triển kinh tế xã hội và vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội
2.3.1 Phát triển kinh tế xã hội
Phan Thúc Huân (2006) định nghĩa phát triển kinh tế xã hội là một quá trìnhtăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời gian nhất định
Phát triển kinh tế xã hội bao hàm các sự tăng trưởng kinh tế tức là tăng về quy
mô sản lượng, sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế và sự tiến bộ về xã hội Khái niệm pháttriển kinh tế xã hội bao hàm các vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất, mức độ gia tăng sản lượng quốc gia và sự tăng trưởng mức sản
xuất, mức sống của quốc gia trong một thời gian nhất định
- Thứ hai, mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia Trong đó quan trọng
nhất là tỷ lệ ngành dịch vụ, công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân Mức độ tỷ lệngành dịch vụ, công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân càng cao thể hiện mứcphát triển càng cao
- Thứ ba, sự tiến bộ về cơ cấu xã hội, đời sống xã hội, mức độ gia tăng thu
nhập thực tế của người dân, mức độ công bằng xã hội của một quốc gia
2.3.2 Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội
Vốn đầu tư có vai trò rất lớn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội, cónhiều tài liệu đã đề cập đến lý thuyết này Theo Vũ Thị Ngọc Phùng (2005), vốn đầu
tư có một số vai trò sau đối với phát triển kinh tế xã hội của một địa phương:
- Thứ nhất, vốn đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 39Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăngtrưởng Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố rấtquan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, là nhân tố tổng hợp, tác động đến việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nâng cao sức cạnh tranh của nềnkinh tế… do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Để lượng hóa mối quan hệ của vốn đầu tư với tăng trưởng của nền kinh tế, hainhà kinh tế học Roy Harrod của Anh và Evsey Domar của Mỹ đã đưa ra mô hình thểhiện mối liên hệ giữa đầu tư và tăng trưởng Mô hình này được gọi là “Mô hìnhHarrod – Domar” và được sử dụng rộng rãi
g = S/k
Trong đó: g là tốc độ tăng trưởng kinh tế; S: tỷ lệ tiết kiệm/GDP; k được gọi là
hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio)
Mô hình Harrod – Domar cho thấy mối quan hệ giữa vốn đầu tư và hiệu quả sửdụng vốn đầu tư với tăng trưởng kinh tế Như vậy, về mặt lý thuyết để có tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao thì phải tăng mức đầu tư so với GDP và giảm hệ số ICOR xuốnghoặc hạn chế không tăng Tuy nhiên theo công thức trên, tỷ lệ tăng trưởng kinh tếhằng năm được xác định bằng tỷ lệ giữa mức đầu tư so với GDP và ICOR nhưng đâykhông phải là hai biến độc lập, nó có quan hệ với nhau trong mối quan hệ của hệthống kinh tế
- Thứ hai, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh
Tăng trưởng GDP và phát triển kinh tế ngày nay theo yêu cầu của kinh tế thịtrường phải không ngừng nâng cao trình độ công nghệ sản xuất làm nền tảng để nângcao sức cạnh tranh của các ngành nghề, các địa phương và toàn nền kinh tế
Để nâng cao sức cạnh tranh, ngoài nỗ lực chủ quan, các chủ thể cần có phươngtiện, công nghệ ngày càng hiện đại kèm chất lượng của nguồn nhân lực Những yếu
tố đó chỉ có thể mua được khi có vốn đầu tư, cho nên vốn đầu tư là một điều kiệnquan trọng để ứng dụng công nghệ hiện đại và nâng cao sức cạnh tranh của từng sảnphẩm, ngành hàng, toàn nền kinh tế Tác động đó được thể hiện qua
Trang 40khác biệt thực tế giữa quốc gia phát triển và đang phát triển Tại các nước phát triểnnhờ nguồn vốn đầu tư dồi dào, trình độ khoa học công nghệ và sức cạnh tranh củanền kinh tế thường cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển.
Trên thực tế, công nghệ và vốn đầu tư thường gắn chặt với nhau, đặc biệttrong phương thức đầu tư trực tiếp Các dự án đầu tư trực tiếp luôn được thực hiệndựa trên những công nghệ hiện có nhất định, vì vậy thu hút được nguồn vốn đầu tư sẽ
sử dụng được những trình độ công nghệ nhất định Điều này được thể hiện rõ nét hơn
cả thông qua sự hình thành và phát triển của các đơn vị kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài Dưới nhiều hình thức khác nhau, khu vực kinh tế này là nơi trực tiếp vừa thuhút và sử dụng vốn, vừa thực hiện chuyển giao công nghệ từ nước ngoài
Trình độ công nghệ phản ánh năng lực cạnh tranh, phản ánh năng lực ứng xửvới môi trường tự nhiên,…cho nên trong nhiều trường hợp quốc gia/địa phươngkhông phải thu hút vốn đầu tư càng nhiều càng tốt mà cần phải chọn lọc những dự ánđầu tư có trình độ công nghệ thích hợp
- Thứ ba, tăng cường khai thác những lợi thế tuyệt đối và tương đối để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
Sự bổ sung vốn đầu tư cho nền kinh tế tạo điều kiện khai thác tiềm năng củađất nước, từng bước hình thành những lợi thế mới trong phân công lao động quốc tế.Việc phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực giúp xác định rõ hơn các ngành chủ lực,
từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại với sự giảm dần về tỷ trọng củanông nghiệp, sự gia tăng của công nghiệp, dịch vụ trong GDP và lực lượng lao động.Việt Nam có lợi thế tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp nhưng thiếu đầu tư nênnăng suất thấp, chất lượng kém Vì vậy, vốn đầu tư giúp khai thác thế mạnh này (đầu
tư cho nông nghiệp và công nghiệp chế biến); có lợi thế về tài nguyên thiên nhiênnhưng thiếu nguồn vốn để khai thác; có lợi thế về vị trí địa lý nhưng thiếu nguồn vốnđầu tư phát triển giao thông vận tải; có lợi thế về lực lượng lao động dồi dào nhưngthiếu nguồn vốn đầu tư cho đào tạo chất lượng cao
- Thứ tư, giúp giải quyết các vấn đề xã hội