1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty thông qua KPI bán lẻ − nghiên cứu trường hợp của co opmart huế

80 298 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm được điều đó thì các nhà quản lí phải am hiểu thị trường, nắm bắt được thông tin kịp thời bên cạnh đó phải điều chỉnh lại cơ cấu quản lí, hình thức kinh doanh cho hợp lý và để hoạ

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

Giảng viên hướng dẫn:

Th.S Bùi Thị Thanh Nga

Huế, tháng 5 năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này đòi hỏi một sự nỗ lực rất lớn của bản thân và sự giúp đỡ từ nhiều phía Với tình cảm chân thành và sâu sắc nhất, cho tôi được phép bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô giáo Trường Đại Học Kinh Tế - Đại Học Huế đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và giúp đỡ tôi trong suốt 4 năm học đầy gian nan vất vả nhưng cũng đầy niềm vui Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Bùi Thị Thanh Nga, người đã dành rất nhiều thời gian quan tâm và tận tình chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các anh chị và nhân viên siêu thị Co.opmart Huế đã tạo mọi điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ cũng như cung cấp những tài liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi cũng xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi trong suốt 4 năm học dưới mái trường Kinh tế cũng như trong quá trình thực hiện Khóa luận tốt nghiệp

Do còn hạn chế về thời gian, kiến thức cũng như kinh nghiệm nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thành tốt hơn

Huế, tháng 5 năm 2017

Sinh viên Ngô Khánh Nhật

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH SÁCH CÁC BẢNG v

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ vi

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU vii

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu: 3

4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu: 4

5 Bố cục đề tài 5

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Hiệu quả kinh doanh và sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp 6

1.1.1 Khái niệm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 6

1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh 6

1.1.3 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp 9

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 11

1.2.1 Các nhân tố bên trong 11

1.2.2 Các yếu tố bên ngoài 12

1.3 Bán lẻ trong nền kinh tế quốc dân 18

1.3.1 Bán lẻ là gì 18

Trang 5

1.3.2 Vị trí của bán lẻ 18

1.3.3 Vai trò của bán lẻ trong nền kinh tế quốc dân 19

1.4 Tổng quan về các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động 21

1.4.1 Khái niệm 21

1.4.2 Phân biệt KPI và một số chỉ số đo lường hiệu suất 21

1.4.3 Đặc điểm của chỉ số KPI 22

1.4.4 Phân loại các chỉ số KPI 24

1.5 Bộ chỉ số kpi đánh giá hiệu qủa hoạt động bán lẻ 26

1.5.1 Khái niệm 26

1.5.2 Mục tiêu 26

1.5.3 Phân tích các nhóm chỉ số KPI bán lẻ 26

1.6 Cơ sở thực tiễn 30

1.6.1 Thị trường bán lẻ Việt Nam 30

1.6.2 Thị trường bán lẻ Thừa Thiên Huế 32

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY THÔNG QUA KPI BÁN LẺ−NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢPCỦA CO.OPMART HUẾ 33

2.1 Tổng quan về siêu thị Co.op mart Huế 33

2.1.1 Lịch sử hình thành 33

2.1.2 Chức năng 33

2.1.3 Nhiệm vụ 34

2.1.4 Phương châm hoạt động 34

2.1.5 Quyền hạn 34

2.1.6 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lí 35

2.1.7 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Coo.pMart Huế 38

2.1.8 Khách hàng 39

2.1.9 Đối thủ cạnh tranh 40

2.1.10 Các loại hình dịch vụ 41

2.2 Tình hình lao động của siêu thị Co.opmart Huế giai đoạn 2014-2016 42

2.3 Kết quả kinh doanh của siêu thị Co.opmart Huế qua 3 năm 2014-2016 44

Trang 6

2.3.1 Phân tích tình hình thực hiện doanh thu của siêu thị Co-opmart Huế qua 3 năm

2014-2016 46

2.3.2 Phân tích chi phí của siêu thị qua 3 năm 2014 – 2016 47

2.3.3 Phân tích tình hình lợi nhuận của siêu thị qua 3 năm 2014 – 2016 49

2.4 Tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn của siêu thị Co.opmart qua 3 năm 2014-2016 50

2.5 Đánh giá hiệu quả hoạt động của siêu thị Co.opmart Huế thông qua KPI bán lẻ 51

2.5.1 Chỉ số đánh giá hiệu quả giao dịch với khách hàng 51

2.5.2 Chỉ số đánh giá hiệu quả hàng hóa 55

2.5.3 Chỉ số đánh giá hiệu quả không gian 57

2.5.4 Chỉ số đánh giá hiệu quả nhân viên 60

CHƯƠNG 3 : ĐỊNH HƯỚNG & GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAOHOẠT ĐỘNG BÁN LẺ CỦA SIÊU THỊ CO.OPMART HUẾ 62

3.1 Định hướng công ty trong thời gian tới đối với hoạt động bán lẻ 62

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bán lẻ tại siêu thị Co.opmart Huế 63

3.2.1 Không gian bán hàng 63

3.2.2 Giá cả sản phẩm 63

3.2.3 Nhân viên bán hàng Error! Bookmark not defined. 3.2.4 Hàng tồn kho 65

3.2.5 Chất lượng dịch vụ bán hàng 66

PHẦN III KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 68

1 Kết luận: 68

2 Kiến nghị 69

2.1 Đối với tỉnh Thừa Thiên Huế 69

2.2 Đối với công ty TNHH MTV Co.opmart Huế 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 7

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1: Cơ cấu lao động theo giới tính và trình độ của Siêu thị Co.opmart Huế qua 3 năm 2014-2016 43Bảng 2: Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của siêu thị Co.opmart huế qua 3 năm 2014-2016 45Bảng 3: Tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn của siêu thị Co.opmart Huế qua 3 năm 2014-2016 50Bảng 4: Bảng thể hiện “Tỷ lệ chuyển đổi khách hàng” và “Số khách/mộtgiờ mở cửa” của siêu thị Co.opmart Huế trong 1 ngày 52Bảng 5: Bảng thể hiện chỉ số “Tỷ lệ trả hàng trên doanh số” và “Doanh số/một giao dịch” của siêu thị Co.opmart Huế qua 3 năm 2014−2016 54Bảng 6: Bảng thể hiện “Chỉ số doanh thu/tồn kho” và “Phần trăm chi phí tồn kho” của siêu thị Co.opmart Huế qua 3 năm 2014-2016 55Bảng 7: Bảng thể hiện chỉ số “Doanh số trên 1m2” và “Tồn kho trên 1m2” của siêu thị Co.opmart Huế qua 3 năm 2014-2016 58Bảng 8: Bảng thể hiện các chỉ số đánh giá hiệu quả nhân viên của siêu thị Co.opmart Huế qua 3 năm 2014-2016 60

Trang 8

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter 15

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức siêu thị Co.op Mart Huế 36

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

Trang 10

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng với tốc độ khá nhanh Nhờ

đó, thu nhập bình quân đầu người cũng ngày càng cao và thói quen mua sắm của người dân cũng dần thay đổi Các điểm bán lẻ truyền thống như chợ, cửa hàng tạp hóa dần thu hẹp phạm vi ảnh hưởng, song song đó là sự lên ngôi của hệ thống bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâm mua sắm Những yếu tố trên đã giúp Việt Nam nhiều năm liền nằm trong top những thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới, sánh ngang cùng Trung Quốc hay Brazil Năm 2007, Việt Nam chính thức là thành viên của WTO sau nhiều năm đàm phán Theo cam kết gia nhập thì kể từ đầu năm 2009, thị trường bán lẻ của nước ta mở cửa hoàn toàn cho các công ty nước ngoài, nghĩa là sẽ xuất hiện những con cá lớn, trong khi Việt Nam không có nhiều hệ thống siêu thị đủ mạnh và đủ kinh nghiệm đề cạnh tranh với đối thủ Thậm chí, nhiều ý kiến bi quan đã nghĩ đến viễn cảnh thị trường bán lẻ hiện đại của Việt Nam sẽ nằm trọn trong tay các đại gia nước ngoài

Song, Thông tin từ Tạp chí Bán lẻ Châu Á - tạp chí hàng đầu của ngành bán lẻ của khu vực và công ty nghiên cứu thị trường,một trong những Nhà Bán lẻ hàng đầu Việt Nam, thuộc Top 500 Nhà bán lẻ hàng đầu châu Á - Thái Bình Dương là Saigon Co.op với hệ thống siêu thị Co.opmart, một thương hiệu quen thuộc với nhiều người dân Việt Nam Siêu thị Co.opmart Huế là một trong các hệ thống siêu thị của Saigon Co.op, nó cũng đóng góp một phần trong việc Saigon Co.op đạt được danh hiệu nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam

Trên địa bàn thành phố Huế hiện nay, nhiều cửa hàng, cơ sở sản xuất kinh doanh bán lẻ có mặt tại thành phố ngày càng nhiều Cùng với sự phát triển đó là sự xuất hiện của một số các siêu thị như Siêu thị Co.opmart Huế, siêu thị Big C Huế và trong tương lai là siêu thị Vincom Huế Để hoạt động kinh doanh bán lẻ đạt hiệu quả như vậy thì doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh,

Trang 11

nhằm đánh giá đúng đắn mọi hoạt động kinh doanh trong trạng thái thực của chúng Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và lựa chọn đưa ra quyết định tối ưu phương án hoạt động kinh doanh bán lẻ Để làm được điều đó thì các nhà quản lí phải

am hiểu thị trường, nắm bắt được thông tin kịp thời bên cạnh đó phải điều chỉnh lại cơ cấu quản lí, hình thức kinh doanh cho hợp lý và để hoạt động có hiệu quả cao thì các doanh nghiệp phải phân tích, đánh giá toàn bộ quá trình hoạt động và kinh doanh của mình dựa trên những con số mang tính định lượng phản ánh rõ chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh bán lẻ Trên cở sở đó tìm ra những biện pháp để không ngừng

nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bán lẻ của mình

Với kiến thức tích lũy được trong thời gian học tập tại trường và thời gian thực tập tại siêu thị Co.opmart Huế, có điều kiện tiếp xúc với hoạt động kinh doanh thực tế của siêu thị, nhận thấy được tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh

doanh bán lẻ đối với mọi doanh nghiệp Đó là lý do chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả

hoạt động của công ty thông qua KPI bán lẻ − Nghiên cứu trường hợp của Co.opmart Huế” để nghiên cứu trong quá trình thực tập và làm khóa luận tốt nghiệp

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá hiệu quả hoạt động bán lẻ thông qua chỉ số KPI và qua đó đưa ra một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bán lẻ của siêu thị Co.opmart Huế

2.2 Mục tiêu cụ thể

Thông qua việc nghiên cứu về tình hình hoạt động bán lẻ và để nâng cao hiệu quả bán lẻ của siêu thị thì đề tài hướng đến mục tiêu cụ thể sau:

- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về hoạt động kinh doanh bán lẻ

- Phân tích các chỉ số KPI bán lẻ của siêu thị Co.opmart Huế

- Ðánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua chỉ số KPI bán lẻ

- Đề ra những giải pháp thích hợp nhằm khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả hoạt động bán lẻ của doanh nghiệp trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các chỉ số KPI gắn liền với các hoạt động bán lẻ của siêu thị Co.opmart Huế

➢ Phạm vi nội dung: Sử dụng KPI bán lẻ đánh giá hiệu quả hoạt động của công

ty tại Co.opmart Huế

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1.Phương pháp thu thập dữ liệu:

Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được lấy từ nhiều nguồn

khác nhau, bao gồm:

+ Những lý thuyết liên quan được tập hợp lựa chọn từ các tài liệu, sách báo lý thuyết về phân tích hoạt động kinh doanh

Trang 13

+ Các thông tin, số liệu như lịch sử hình thành và phát triển, tình hình hoạt động kinh doanh được lấy từ những người trong phòng kế toán của siêu thị thông qua quá trình thực tập tại siêu thị

+ Ngoài ra thông tin thu thập còn được chắt lọc từ một số trang web của siêu thị http://www.saigonco-op.com.vn, http://www.Co.opmart.com.vn/

Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:

Thu thập số liệu sơ cấp: Thông qua việc thường xuyên tiếp xúc với nhân viên, quan sát cách làm việc của họ tại siêu thị Liên hệ với các phòng ban để có được các ý

kiến, nhận định về tình hình hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp

4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu:

♦ Phương pháp thống kê mô tả: Trên cơ sở những số liệu đã được thu thập và các nguồn tài liệu đã được tổng hợp kết hợp với việc vận dụng các phương pháp phân tích thống kê để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh bán lẻ của siêu thị

♦ Phương pháp so sánh: Xác định mức độ tăng giảm và mối tương quan của các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động kinh doanh bán lẻ của siêu thị giai đoạn 2014- 2016 Phân tích số liệu theo phương pháp so sánh tuyệt đối và tương đối:

+ Phương pháp tuyệt đối: là phương pháp phân tích dựa vào kết quả so sánh của phép trừ giữa trị số của năm sau so với năm trước

Tăng(+) giảm(-) tuyệt đối = Thực hiện năm sau−Thực hiện năm trước

+ Phương pháp tương đối: là phương pháp phân tích dựa trên kết quả so sánh của phép chia giữa trị số của năm sau so với năm trước

So sánh tương đối = Thực hiện năm trước Thực hiện năm sau ×100%

♦ Phương pháp nghiên cứu, tham khảo tài liệu: Đọc, tham khảo, tìm hiểu các giáo trình, sách, báo và một số bài khóa luận tốt nghiệp từ các khóa trước để làm cơ sở

cho đề tài nghiên cứu

♦ Phương pháp phỏng vấn: Cố gắng tìm tòi, phỏng vấn các anh chị cán bộ công nhân viên làm việc của siêu thị về các vấn đề liên quan đến đề tài, các vấn đề liên quan đến công việc

Trang 14

♦ Phương pháp dùng KPI bán lẻ : Áp dụng các bộ chỉ số KPI bán lẻ để đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty

+ Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả giao dịch với khách hàng

+ Bộ chỉ số về hàng hóa

+ Bộ chỉ số hiệu quả không gian

+ Bộ chỉ số hiệu quả hoạt động nhân viên

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần Đặt vấn đề & phần Kết luận và Kiến nghị, đề tài bao gồm các nội dung sau đây:

➢ Chương 1: Cơ sở khoa học về vấn đề cần nghiên cứu

+ Những cơ sở lý luận về khái niệm, bản chất hiệu quả kinh doanh bán lẻ

+ Tổng quan về các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động công ty KPI đặc biệt là KPI bán lẻ

➢ Chương 2: Đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty thông qua KPI bán lẻ − Nghiên cứu trường hợp của Co.opmart Huế

+ Tổng quan về siêu thị Co.opmart Huế

+ Đặc điểm hoạt động kinh doanh của siêu thị Co.opmart Huế

+ Kết quả kinh doanh của siêu thị Co.opmart Huế

+ Đánh giá về hiệu quả hoạt động của siêu thị Co.opmart Huế thong qua KPI bán lẻ

➢ Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bán lẻ của siêu thị Co.opmart Huế

+ Định hướng của công ty về hoạt động bán lẻ trong thời gian tới

+ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bán lẻ

Trang 15

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Hiệu quả kinh doanh và sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu

tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các hoạt động dịch vụ trên thị trường nằm mục đích sinh lợi Như vậy, tiến hành bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng đều có nghĩa là tập hợp các phương tiện, con người đưa vào hoạt động để mang lại lợi nhuận cho chủ thể

Có hai điểm cơ bản để phân biệt hoạt động kinh doanh với các hoạt động xã hội khác không phải là kinh doanh, ngay cả với hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế: + Để tiến hành kinh doanh các chủ thể phải đầu tư về tài sản

+ Mục đích của các chủ thể khi tiến hành hoạt động này là lợi nhuận

Hoạt động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanh như công

ty, tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân Người ta gọi chung các thể chế kinh doanh này là doanh nghiệp

Doanh nghiệp được hiểu là những pháp nhân hay thể nhân thực hiện trên thực tế những hoạt động kinh doanh

Theo một khía cạnh khác có thể hiểu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, nó được phản ánh qua các chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp, qua báo cáo tài chính

1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường, có quan

hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động, vốn, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu Nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi việc

Trang 16

sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả Khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh các nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét để đưa ra các định nghĩa khác nhau:

“Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hệ số giữa kết quả kinh doanh và chi phí bỏ

ra để đạt được kết quả đó”- phản ánh được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí Tuy nhiên, quan niệm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí, chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ mối quan hệ này

“Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của CNXH” cho rằng quỹ tiêu dùng với tính cách chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh Quan niệm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân Lựa chọn quỹ tiêu dùng để phản ánh hiệu quả là chưa thấy đầy đủ vai trò của tích luỹ là nhằm phát triển sản xuất,

là để có quỹ tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai Không thể đưa quỹ tiêu dùng lên tối

đa mà lại không tuân theo một tỷ lệ thích hợp giữa quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng, phải kết hợp một cách tốt nhất lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài

Quan điểm thương mại hiệu quả: trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt động phải tính đến hiệu quả Ở đây phải phân biệt hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội Hiệu quả thể hiện quan hệ giữa kết quả và chi phí bỏ ra Trước hết, phải xác định hiệu quả kinh doanh thương mại Hiệu quả kinh doanh là thước đo để cân nhắc lựa chọn các giải pháp đầu tư, quyết định đầu tư phát triển hay ngừng kinh doanh Hiệu quả kinh doanh có phần định tính và định lượng Các chỉ tiêu định lượng như: lợi nhuận, mức doanh lợi, hiệu qủa sử dụng vốn kinh doanh Chỉ tiêu hiệu quả định tính như: khả năng cạnh tranh, niềm tin của khách hàng, vị thế của doanh nghiệp Không đạt được hiệu qủa kinh doanh thì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận không thực hiện được, không có hiệu quả kinh doanh thì doanh nghiệp không thể tồn tại, hoạt động thương mại sẽ bị ngưng trệ Bên cạnh đó phải tính đến hiệu quả kinh tế xã hội Giải quyết vấn

đề xã hội của thương mại trong cơ chế thị trường không giản đơn Ở đây, phải tính đến vấn đề môi sinh, môi trường, sự phát triển đồng đều giữa các vùng, các khu vực Chính

Trang 17

sách kinh tế phải gắn kiền với chính sách xã hội nhất là đối với vùng kinh tế chậm phát triển, vùng cao và vùng sâu

Suy đến cùng muốn có hiệu quả phải đảm bảo lợi ích vật chất cho các đối tượng tham gia hoạt động thương mại, lợi ích là chất kết dính các hoạt động theo mục đích chung Nguyên tắc các bên tham gia đều có lợi, ai vi phạm sẽ không thể tổ chức hoạt động kinh doanh thương mại có hiệu quả trước mắt và lâu dài

Tóm lại: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp thông qua việc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong một khoảng thời gian lao động nhất định”

Như vậy, có hai yếu tố để xác định hiệu quả kinh doanh:

Thứ nhất là các chi phí nguồn lực: các chi phí bao gồm chi phí về lao động, thiết

bị, nguyên vật liệu mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất kinh doanh tạo ra các kết quả tương ứng; các nguồn lực bao gồm lao động, đất đai, tài nguyên, vốn Thực chất nguồn lực là toàn bộ các chi phí hiện tại, chi phí tiềm năng, chi phí tương lai sẽ chi ra để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh

Thứ hai là kết quả về lợi ích kinh tế: nguồn lực và chi phí mà doanh nghiệp bỏ vào sản xuất kinh doanh có thể đem lại nhiều loại kết quả khác nhau Có kết quả phù hợp với mục tiêu kinh doanh, nhưng cũng có kết quả nằm ngoài mục tiêu kinh doanh, thậm chí đi ngược lại mục tiêu này vì vậy kết quả ở đây phải là kết quả hữu ích đối với doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Kết quả đó có thể là con số theo các chỉ tiêu cụ thể như sản lượng hiện vật, giá trị sử dụng, doanh thu, lợi nhuận hoặc là kết quả trừu tượng như làm sạch môi trường, nâng cao dân trí

Dựa vào hai yếu tố trên, hiệu quả kinh doanh được xác định là đại lượng so sánh giữa kết quả với chi phí và nguồn lực hay ngược lại Khác với chỉ tiêu đầu vào (chi phí, nguồn lực) và chỉ tiêu đầu ra (kết quả, lợi ích), chỉ tiêu hiệu quả là một tỷ số so sánh để phản ánh chất lượng về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tiêu chuẩn chất lượng của chỉ tiêu này chính là tối đa hoá kết quả lợi ích hoặc tối thiểu hoá chi phí dựa trên các điều kiện về nguồn lực xác định

Trang 18

1.1.3 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các tiêu chí quan trọng để các nhà quản lý đánh giá quá trình thực hiện chức năng của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không chỉ cho biết việc sản xuất kinh doanh đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản lý phân tích, tìm ra các yếu tố tác động để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả sản xuất kinh doanh và tiết kiệm chi phí nhằm nâng cao hiệu quả Với tư cách là một tiêu chí đánh giá và phân tích kinh

tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở góc độ tổng hợp, đánh giá chung tình hình sử dụng các nguồn lực trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào của toàn bộ doanh nghiệp hay từng bộ phận của doanh nghiệp Ngoài ra, hiệu quả kinh doanh còn là biểu hiện của việc lựa chọn những phương án kinh doanh để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trong khi nguồn lực có hạn hay tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định

Do sự chi phối của “quy luật khan hiếm” buộc các doanh nghiệp nói riêng và các nhà quản lý nền kinh tế xã hội nói chung phải cân nhắc việc quản lý, sử dụng các nguồn lực sản xuất hạn chế của xã hội như thế nào để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người.Điều này buộc các doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất và đây cũng chính là một tất yếu để nâng cao hiệu quả kinh doanh Nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện thiết yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển

Mục tiêu sau cùng, bao quát và dài hạn của mọi doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là tối đa hoá lợi nhuận, đây cũng là mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp Vì vậy, không chỉ tạo ra và duy trì khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển là đủ mà các doanh nghiệp còn mong muốn để có lợi nhuận nhiều nhất và ngày càng cao trong điều kiện có thể Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp cũng

sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh

Nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề đặt ra thường xuyên cho mỗi doanh nghiệp khi kế hoạch hoạt động kinh doanh và khả năng về nguồn lực có những thay đổi Mỗi doanh nghiệp là một cơ thể sống, trong suốt chu kỳ sống của mình, bắt đầu từ thời điểm ra đời cho đến khi phát triển, trưởng thành, doanh nghiệp luôn nằm trong sự

Trang 19

vận động, tạo nên bởi những thay đổi từ những yếu tố cấu thành nội lực bản thân doanh nghiệp và những thay đổi của môi trường bên ngoài đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng Vì vậy, đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, nội dung hoạt động kinh doanh được xác lập ban đầu không thể tồn tại bất di bất dịch trong suốt chu kỳ đời sống của doanh nghiệp đó, mà nó luôn được thay đổi Sự thay đổi nội dung hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp như thế nào là tuỳ thuộc tác động ảnh hưởng của các yếu tố bên trong thuộc bản thân doanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài thuộc môi trường kinh doanh

Trong suốt quá trình hoạt động, các doanh nghiệp luôn luôn phải đối diện với môi trường kinh doanh biến động không ngừng, diễn biến phức tạp và đầy rủi ro bất trắc Do đó, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới tổ chức bộ máy quản lý, cải tiến các nghiệp vụ kinh doanh, tổ chức tốt mọi nguồn lực trong doanh nghiệp như vật tư, tiền vốn, lao động tận dụng mọi cơ hội kinh doanh

để thực hiện các nghiệp vụ một cách có hiệu quả nhất Có thể nói rằng, đối với các doanh nghiệp việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh là đòi hỏi khách quan không chỉ do

sự thay đổi các yếu tố bên trong thuộc bản thân doanh nghiệp mà còn do những biến động của môi trường bên ngoài đặt ra Mỗi doanh nghiệp vừa là một hệ thống khép kín, trong đó các bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa là một hệ thống mở, chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và có tác động ngược trở lại với môi trường bên ngoài Cơ cấu bộ máy tổ chức của doanh nghiệp và hệ thống phương pháp quản lý của nó phụ thuộc nhiều vào yếu tố thuộc môi trường bên ngoài như nguồn cung ứng hàng hoá, tình hình cung cầu hàng hoá trên thị trường, trình độ phát triển kỹ thuật và công nghệ, tình hình cạnh tranh trên thị trường Những ràng buộc của môi trường bên ngoài khiến cho tổ chức kinh doanh không thể duy trì mô hình truyền thống một cách

ổn định vững chắc với những thể chế thủ tục quy định chi tiết rõ ràng

Tốc độ biến đổi nhanh của môi trường và những xu hướng bất định của nó buộc người quản lý doanh nghiệp phải có khả năng quyết định nhanh chóng kịp thời Nếu người quản lý không có khả năng ra quyết định hoặc ra quyết định chậm thì tổ chức kinh doanh đó khó có khả năng thích nghi được với những điều kiện mới, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh

Trang 20

Để đáp ứng những đòi hỏi của thị trường các doanh nghiệp phải nâng cao trình

độ, đổi mới hoạt động kinh doanh, đổi mới tổ chức, bộ máy quản lý, cải tiến nghiệp vụ kinh doanh, quản lý và sử dụng tốt mọi nguồn lực trong doanh nghiệp Từ đó cho thấy yêu cầu đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề luôn đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp Thông qua đó đạt được mục tiêu của doanh nghiệp và đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.1 Các nhân tố bên trong

- Lực lượng lao động: Đây là một nguồn lực, một yếu tố đầu vào quan trọng bậc nhất và có tính chất quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngày nay, kỹ thuật và công nghệ đã thay đổi phương thức lao động của con người trên nhiều lĩnh vực Kỹ thuật công nghệ càng phát triển đòi hỏi đội ngũ lao động càng phải

có trình độ chuyên môn cao Nguồn nhân lực của doanh nghiệp phải đảm bảo đủ năng lực về thể chất và tinh thần đáp ứng được yêu cầu của công việc

- Quy mô doanh nghiệp: Quy mô hoạt động của doanh nghiệp có ảnh hưởng quyết định đến lợi nhuận của doanh nghiệp Việc mở rộng hay thu hẹp quy mô sẽ tác động trực tiếp tới chi phí đầu vào và doanh thu đầu ra của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh Xác định quy mô tối ưu của doanh nghiệp cũng là xác định mức lợi nhuận tối ưu theo từng thời kỳ

- Cơ cấu sản xuất kinh doanh: Mỗi doanh nghiệp có một lợi thế nhất định trong việc sản xuất kinh doanh một số loại hàng hoá, lợi thế này được xác định trên cơ sở tiềm lực của doanh nghiệp, môi trường kinh tế xã hội và những mối liên hệ giữa doanh nghiệp với môi trường mà doanh nghiệp hoạt động Doanh nghiệp xây dựng được danh mục hàng hoá với tỷ trọng hợp lý của các mặt hàng sẽ phát huy được tối đa các nguồn lực của mình, đem lại doanh thu cao nhất từ đó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh

- Trang thiết bị, công nghệ: Việc lựa chọn sử dụng trang thiết bị, công nghệ sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả kinh doanh hoặc ngược lại Trang thiết bị, công nghệ càng hiện đại thì càng cho năng suất cao, tuy nhiên chi phí đầu tư ban đầu lớn Trang thiết

bị, công nghệ kém hiện đại cho năng suất thấp, sản phẩm kém chất lượng nhưng chi

Trang 21

phí đầu tư thấp Vì vậy, doanh nghiệp cần chú ý lựa chọn trang thiết bị công nghệ phù hợp với khả năng về tài chính cũng như chất lượng lao động của mình nhằm sản xuất

ra sảnphẩm có chất lượng cao, giá thành hạ dẫn tới tối đa hoá lợi nhuận

- Nguồn vốn hoạt động: Đây là nhân tố có tác động trực tiếp đến quy mô hoạt động, tính an toàn và chi phí hoạt động của doanh nghiệp Việc lựa chọn cơ cấu nguồn vốn hợp lý, sử dụng nguồn vốn có chi phí thấp, dễ tiếp cận, tính an toàn cao là một yêu cầu cấp thiết để tăng tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Chiến lược Marketing: Một chiến lược marketing bài bản, đầy đủ và khoa học bao gồm một chuỗi các công việc cần phải thực hiện có mối liên hệ chặt chẽ với nhau như: Hoạch định chiến lược tiếp thị, phân khúc thị trường, lựa chọn mục tiêu, định vị thị trường mục tiệu Từ đó đưa ra các chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối, chiến lược chiêu thị Chiến lược marketing phù hợp sẽ giúp cho việc thực hiện các công đoạn này đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất, dẫn tới tăng hiệu quả kinh doanh

- Quản trị doanh nghiệp: Hoạt động quản lý bao gồm các khâu cơ bản sau: định hướng chiến lược cơ bản phát triển doanh nghiệp trong khoảng thời gian nhất định, tuân chỉ mục tiêu đề ra, xây dựng kế hoạch phương án kinh doanh, tổ chức hoạt động kinh doanh, đánh giá kiểm tra các hoạt động kinh doanh Các khâu của quá trình này làm tốt sẽ tăng năng suất lao động, giảm chi phí kinh doanh từ đó làm tăng hiệu quả kinh doanh

1.2.2 Các yếu tố bên ngoài

• Các yếu tố thể chế – luật pháp

Các yếu tố thuộc môi trường chính trị – pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự ổn định chính trị được xác định là một trong những tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự thay đổi của môi trường chính trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sự phát triển nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại Hệ thống pháp luật hoàn thiện, không thiên vị là một trong những tiền đề ngoài kinh tế của kinh doanh Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh

Trang 22

hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường này nó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vì môi trường pháp luật ảnh hưởng đến mặt hàng sản xuất, ngành nghề, phương thức kinh doanh… của doanh nghiệp Tóm lại môi trường chính trị – luật pháp

có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách tác động đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua hệ thống công cụ luật pháp,

cộng cụ vĩ mô…

• Các yếu tố kinh tế

Các doanh nghiệp cần chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn, dài hạn và

sự can thiệp của chính phủ tới nền kinh tế Thông thường các doanh nghiệp sẽ dựa trên yếu tố kinh tế để quyết định đầu tư vào các ngành, các khu vực

+ Tình trạng của nền kinh tế: bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, trong mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình

+ Các yếu tố tác động đến nền kinh tế: lãi suất, lạm phát…

+ Các chính sách kinh tế của chính phủ: luật tiền lương cơ bản, các chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành: giảm thuế, trợ cấp…

+ Triển vọng kinh tế trong tương lai: Tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng GDP, tỉ suất GDP trên vốn đầu tư…

• Các yếu tố văn hóa – xã hội

Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó Những giá trị văn hóa là những giá trị làm lên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển Chính vì thế các yếu tố văn hóa thông thường được bảo vệ hết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt là các văn hóa tinh thần Tuy vậy chúng ta cũng không thể phủ nhận những giao thoa văn hóa của các nền văn hóa khác vào các quốc gia Sự giao thoa này sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và tạo ra triển vọng phát triển với các ngành Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng

Trang 23

thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập… khác nhau:

+ Tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống;

+ Thu nhập trung bình, phân phối thu nhập;

+ Lối sống, học thức,các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống;

+ Điều kiện sống;

Đây là một nhân tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Nó quyết định mức độ chất lượng, số lượng, chủng loại, gam hàng… Doanh nghiệp cần phải nắm bắt và nghiên cứu làm sao phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng, mức thu nhập bình quân của tầng lớp dân cư Những yếu tố này tác động một cách gián tiếp lên quá trình sản xuất cũng như công tác marketing và cuối cùng là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

• Yếu tố công nghệ

Đối với doanh nghiệp các yếu tố công nghệ như bản quyền công nghệ, đổi mới công nghệ, khuynh hướng tự động hoá, điện tử hoá, máy tính hoá…đã làm cho chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn, sản phẩm mới ra đời có tính năng tác dụng tốt hơn nhưng chi phí sản xuất lại thấp hơn Bởi vậy các doanh nghiệp phải quan tâm theo sát những thông tin về kỷ thuật công nghệ, ngày nay công nghệ mới từ những phát minh,

ở phòng thí nghiệm đều đưa ra sản phẩm đại trà, đưa sản phẩm ra thị trường tốn rất ít thời gian, là cơ hội cho những doanh nghiệp ở thời kỳ khởi sự kinh doanh, họ có thể nắm bắt ngay kỷ thuật mới nhất để gặt hái những thành công lớn, không thể thua kém những doanh nghiệp đã có một bề dày đáng kể

– Điều quan trọng là khi hội nhập, các rào cản về thương mại sẽ dần dần được gỡ

bỏ, các doanh nghiệp có cơ hội buôn bán với các đối tác ở cách xa khu vực địa lý,

Trang 24

khách hàng của các doanh nghiệp lúc này không chỉ là thị trường nội địa nơi doanh nghiệp đang kinh doanh mà còn các khách hàng đến từ khắp nơi, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

• Môi trường ngành

Các yếu tố môi trường cạnh tranh liên quan trực tiếp tới ngành nghề và thị trường kinh doanh của doanh nghiệp (hay còn gọi là môi trường ngành) tác động trực tiếp đến hoạt động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Sức ép của các yếu tố này lên doanh nghiệp càng mạnh thì khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp cùng ngành cũng

bị hạn chế

Đe dọa từ những

người nhập ngành

Sức Sức mạnh thương Sức mạnh trả giá lượng của nhà của người mua

cung cấp

Mối đe dọa từ

sản phẩm thay thế

Sơ đồ 1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter

(Nguồn: Michael E.Porter 1996)

Theo Porter, các điều kiện cạnh tranh trong một ngành phụ thuộc vào nhiều yếu

tố khác nhau Trong số các yếu tố này, ngoài các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong nội bộ ngành, còn các nhân tố khác như khách hàng, hệ thống cung cấp, các sản phẩm thay thế hay các đối thủ cạnh tranh tiềm năng Các nhà quản trị chiến lược mong muốn phát triển lợi thế nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình có thể sử dụng công cụ này để phân tích các đặc tính và phạm vi của ngành, ở đó hoạt động kinh doanh của mình đang được diễn ra hoặc sẽ nhắm tới

• Cạnh tranh trong nội bộ ngành

Các đối thủ tiềm ẩn

Những người

cung cấp

Những ngườimua

Những đối thủ cạnh tranh trong ngành

Mật độ của nhà cạnh tranh

Sản phẩm thay thế

Trang 25

Khi một doanh nghiệp cạnh tranh và hành động không khéo léo để các doanh nghiệp khác nắm bắt được cơ chế cạnh tranh của mình thì mức độ cạnh tranh ngày càng trở lên gay gắt Các doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh hoặc là bắt chước cách thức khai thác lợi thế cạnh tranh hoặc sẽ đi tìm các lợi thế khác, và như vậy các doanh nghiệp không ngừng tìm kiếm các phương thức cạnh tranh mới

Cường độ cạnh tranh thông thường thể hiện dưới các cấp độ như: rất khốc liệt, cạnh tranh cường độ cao, cạnh tranh ở mức độ vừa phải, cạnh tranh yếu Các cấp độ cạnh tranh này phụ thuộc vào khả năng phản ứng của các doanh nghiệp trong việc xây dựng và khai thác lợi thế cạnh tranh Để theo đuổi các lợi thế vượt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh, một doanh nghiệp có thể lựa chọn một hay một số phương thức tranh sau: – Thay đổi giá: doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm giá để đạt lợi thế cạnh tranh tạm thời

– Tăng cường khác biệt hóa sản phẩm: doanh nghiệp thường cạnh tranh bằng cách cải tiến tính năng của sản phẩm, ứng dụng các tiến bộ mới trong quy trình sản xuất hoặc đối với chính sản phẩm

– Sử dụng một cách sáng tạo các kênh phân phối: doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lược gia nhập theo chiều dọc bằng cách can thiệp sâu vào hệ thống phân phối hoặc

sử dụng các kênh phân phối mới; sử dụng kênh phân phối của các sản phẩm có liên quan hoặc kênh phân phối các sản phẩm khác có đối tượng khách hàng tương đồng – Khai thác các mối quan hệ với các nhà cung cấp: doanh nghiệp sử dụng uy tín, quyền lực đàm phán hay mối quan hệ với hệ thống cung cấp để thực hiện các yêu cầu mới tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc giảm chi phí đầu vào

• Nguy cơ sản phẩm thay thế

Trong mô hình của Porter, các sản phẩm thay thế muốn nói đến các sản phẩm từ các ngành khác Đối với các nhà kinh tế học, nguy cơ của sự thay thế xuất hiện khi nhu cầu về một sản phẩm bị tác động bởi những thay đổi về giá của sản phẩm thay thế

Độ co giãn giá của một sản phẩm bị tác động bởi sản phẩm thay thế; sự thay thế càng đơn giản thì nhu cầu càng trở lên co giãn vì khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn Sản phẩm thay thế phụ thuộc vào khả năng tăng giá của doanh nghiệp trong một ngành Sự

Trang 26

cạnh tranh gây ra bởi nguy cơ thay thế là do các sản phẩm thuộc các ngành khác Trong khi nguy cơ của sản phẩm thay thế thường tác động vào ngành kinh doanh thông qua cạnh tranh giá cả, tuy nhiên có thể có nguy cơ thay thế từ các nguồn khác, khi áp lực từ các sản phẩm thay thế cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bị tác động xấu và ngược lại

• Quyền lực của khách hàng

Là khả năng tác động của khách hàng trong một ngành sản xuất Thông thường khi khách hàng có lợi thế trong đàm phán hay được gọi là khách hàng có quyền lực lớn, quan hệ giữa nhà cung cấp và khách hàng trong một ngành sản xuất gần với trạng thái thị trường là các nhà kinh tế học gọi là độc quyền mua – đó là trường hợp mà trên thị trường có rất nhiều người bán và chỉ có một hay một số rất ít người mua

Trong điều kiện thị trường như vậy thì người mua thường có vai trò quyết định trong việc xác định giá cả Trên thực tế thì trạng thái thị trường độc quyền mua như vậy ít khi xảy ra, nhưng thường có một sự không đối xứng giữa một ngành sản xuất và thị trường người mua

• Quyền lực nhà cung cấp

Ngành sản xuất đỏi hỏi phải có nguyên nhiên vật liệu, lao động và các yếu tố đầu vào khác Các yêu cầu này dẫn đến các quan hệ giữa người mua – nhà cung cấp giữa ngành sản xuất (với tư cách là tập hợp các nhà sản xuất trong một ngành) và người bán (là những đơn vị cung cấp các yếu tố đầu vào) Nhà cung cấp, nếu có lợi thế về quyền lực trong đàm phán có thể có những tác động quan trọng vào ngành sản xuất, như việc

ép giá nguyên, nhiên vật liệu

• Rào cản gia nhập, rút lui

Không phải chỉ có những doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành cạnh tranh với nhau, có một khả năng là các doanh nghiệp khác có khả năng tham gia hoạt động vào ngành sẽ có tác động đến mức độ cạnh tranh trong ngành, đồng thời tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đó Về lý thuyết, bất cứ doanh nghiệp nào cũng đều có cơ hội và có khả năng gia nhập hay rút lui khỏi một ngành kinh doanh, và nếu sự gia nhập hay rút lui là tự do thì lợi nhuận thường chỉ đạt ở mức rất thấp Tuy nhiên trong thực tiễn, các ngành kinh doanh có những đặc điểm mang tính đặc trưng

Trang 27

có khả năng bảo vệ mức lợi nhuận thỏa đáng cho các doanh nghiệp trong ngành do có thể ngăn cản hay hạn chế sự cạnh tranh từ việc gia nhập mới vào thị trường

1.3 Bán lẻ trong nền kinh tế quốc dân

1.3.1 Bán lẻ là gì

Trong cuốn sách “Quản trị Marketing” Philip Kotler (1967) đã định nghĩa bán lẻ như sau:

Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch

vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh

Mọi tổ chức làm công việc bán hàng này, cho dù là người sản xuất, người bán sỉ hay người bán lẻ, đều là làm công việc bán lẻ, bất kể là hàng hóa hay dịch vụ đó được bán như thế nào (trực tiếp, qua bưu điện, qua điện thoại hay máy tự động bán hàng) hay chúng được bán ở đâu ( tại cửa hàng, ngoài phố hoặc tại nhà người tiêu dùng)

Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa: Bán lẻ bao gồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan

Theo cách hiểu nào đi chăng nữa thì nói chung bán lẻ là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất (nhà nhập khẩu), hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hay gia đình

1.3.2 Vị trí của bán lẻ

Khi hàng hóa được sản xuất ra, sẽ được đưa đến tay người tiêu dùng thông qua các kênh phân phối Dù sử dụng kênh phân phối nào đi chăng nữa thì bán lẻ cũng luôn nằm ở vị trí cuối cùng của kênh phân phối đó Nói cách khác, người bán lẻ là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng của khách hàng

Như vậy, người bán lẻ sẽ trực tiếp nhận hàng hóa từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, hoặc nhà bán sỉ rồi chuyển tới người tiêu dùng Nhà bán lẻ là mắt xích cuối cùng trong chuỗi giá trị Vai trò của nhà bán lẻ là cực kỳ quan trọng bởi vì chính ngay tại điểm bán lẻ người tiêu dùng có cơ hội chọn mua sản phẩm và thương hiệu mà mình ưa chuộng Người bán lẻ là người am hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời

Trang 28

người bán lẻ cũng chính là người nắm bắt được sát thực nhất những thay đổi trong xu hướng tiêu dùng của khách hàng

1.3.3 Vai trò của bán lẻ trong nền kinh tế quốc dân

Nếu như sản xuất là gốc rễ, cung cấp hàng hóa vật phẩm cho nền kinh tế thì hệ thống phân phối chính là huyết mạch của nền kinh tế ấy Phân phối bán lẻ đứng vị trí cuối cùng trong hệ thống nên nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa với cơ cấu kinh tế chuyển dần từ công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ sang dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp

Thứ nhất, bán lẻ cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Khi phát sinh nhu cầu thì người ta mới có mong muốn về hàng hóa nhưng không phải lúc nào người tiêu dùng có thể đến mua hàng hóa trực tiếp từ các nhà sản xuất, nhà bán buôn được Nhà bán lẻ mới thực sự có vai trò nhu cầu và mong muốn đó của người tiêu dùng, cung cấp hàng hóa cho họ đúng thời gian, đúng địa điểm và ở mức giá họ có thể trả Đây không phải công việc dễ dàng, đặc biệt trong điều kiện hàng hóa

và dịch vụ sản xuất ngày càng đa dạng và nhu cầu của khách hàng luôn biến đổi Nhà bán lẻ phải luôn luôn thu thập những thông tin cần thiết về nhu cầu về thị hiếu của khách hàng… để rồi từ đó làm thỏa mãn khách hàng bằng những sản phẩm và dịch vụ của mình Như thế bản thân hoạt động phân phối bán lẻ hàng hóa cũng tạo thêm lợi ích cho người tiêu dùng thông qua việc tạo ra sự đa dạng về hàng hóa cung ứng, tạo thuận tiện về địa điểm mua, bán, thuận tiện về các dịch vụ bảo hành và cung cấp thông tin Khi có nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực phân phối hàng hóa thì chi phí trong khâu phân phối được chuyển vào giá bán cho người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa sẽ góp phần làm giảm chi phí phân phối và việc giảm giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng

Thứ hai, nhà bán lẻ có vai trò thu thập thông tin thị trường, phản ánh trở lại nhà sản xuất

Quá trình chuyển dịch hàng hóa tới tay người tiêu dùng thông qua dịch vụ phân phối bán lẻ luôn gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường cả về sản phẩm, thời gian

và không gian nên có thể chuyển tải những thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường

Trang 29

cho những người sản xuất và người cung ứng hàng hóa để điều chỉnh theo những điều kiện của thị trường, vì thế tạo lập những cầu nối để dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, thúc đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đó mà tăng cường thương mại hóa và phát triển thị trường cho những sản phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả

và sức cạnh tranh cho nền kinh tế đất nước

Thứ ba, bán lẻ thúc đẩy sản xuất phát triển

Khi hàng hóa được sản xuất ra thì việc tiếp theo là chúng cần được tiêu thụ Và ngược lại thì khi hàng hóa được tiêu thụ các doanh nghiệp mới có thể tiếp tục sản xuất Các nhà bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích tiêu thụ và truyền bá những thông tin về hàng hóa về nhà sản xuất cũng là do họ tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng và hiểu được nhu cầu của người tiêu dùng Các nhà bán lẻ sẽ có thể tiếp tục những biện pháp kích thích tiêu thụ của nhà sản xuất, hoặc có thể có phương pháp kích thích tiêu thụ của riêng mình Các nhà bán lẻ có thể nhận hàng hóa

đã hoàn thiện từ nhà sản xuất hoặc nhà bán buôn, nhưng với nhiều mặt hàng nhà bán lẻ cũng đảm nhiệm vai trò phân loại, sắp xếp, sơ chế, đóng gói…để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng trong điều kiện tốt nhất và dưới hình thức phù hợp nhất từ đó sẽ thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm Hơn nữa, nhà bán lẻ còn có chức năng thiết lập mối liên hệ, tạo dựng và duy trì mối liên hệ với người mua tiềm ẩn Các doanh nghiệp

có thể lôi kéo thêm được khách hàng cũng một phần không nhỏ là dựa vào nhà bán lẻ Sản xuất là cái gốc của phân phối bán lẻ và bán lẻ tự nó có thể kích thích sản xuất mở rộng và phát triển Một doanh nghiệp thành công không chỉ làm tốt nhiệm vụ sản xuất

mà còn phải nắm vững được khâu phân phối bán lẻ hàng hóa của mình và ai nắm được khâu phân phối bán lẻ thì qua đó sẽ điều phối cả sản xuất

Thứ tư, dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa đóng vai trò trong việc tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp

Khi quyết định liên kết với các nhà bán buôn, bán lẻ, các nhà sản xuất đã có chiến lược kinh doanh của mình với các quyết định về sản phẩm như về giá bán, xúc tiến, quảng bá sản phẩm, họ đã chủ động xây dựng mối liên kết với các nhà bán buôn, bán lẻ trong hệ thống phân phối tạo nên sự phân công chuyên môn hóa và hợp tác hóa

Trang 30

trong dây chuyền tạo giá trị gia tăng, điều đó đã giúp các nhà sản xuất và các nhà bán buôn, bán lẻ tập trung được mọi nỗ lực vào những hoạt động mà mình có lợi thế, vì vậy đảm bảo được năng suất cao hơn với chi phí thấp hơn và nhờ vậy mà nâng cao hơn sức cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Nhờ tham gia vào các liên kết như vậy, mỗi doanh nghiệp đều được hưởng những lợi ích kinh tế nhờ hoạt động phối hợp, khi mà mối liên kết giữa nhà sản xuất và nhà bán buôn, bán lẻ ổn định nhà sản xuất sẽ tiếp cận tốt hơn và rẻ hơn thông tin về thị trường, bảo đảm nguồn cung ứng hoặc nhu cầu ổn định, nâng cao quyền thương lượng đáng kể, tạo hình ảnh, tăng cường khả năng khác biệt hóa sản phẩm và dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh nhờ vậy có được lợi thế cạnh tranh hơn so với những doanh nghiệp khác

Các nhà bán buôn, bán lẻ khi liên kết có hiệu quả với nhà sản xuất đã tạo lập được lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho lợi ích của mình trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài khi nước ta thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, vì họ phải mất thời gian và tiền của để tạo lập được mối liên kết này Mặt khác cùng với các cam kết

tự do hóa thương mại và đầu tư để hội nhập kinh tế quốc tế, nhà nước sẽ dỡ bỏ dần các rào cản thuế và phi thuế bảo hộ cho các ngành sản xuất trong nước, khi đó liên kết hiệu quả giữa các nhà bán buôn, bán lẻ và nhà sản xuất sẽ là các rào cản hiệu lực nhất

của doanh nghiệp Việt Nam để bảo vệ mình trước đối thủ cạnh tranh từ bên ngoài

1.4 Tổng quan về các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động

1.4.1 Khái niệm

KPI – Key Performance Indicators trong tiếng Anh được hiểu là các chỉ số đo lườnghiệu suất cốt yếu, hay chỉ số đo lường sự thành công (Key Success Indicators), hay còn được gọi bằng tên phổ biến là chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động, được xây dựng nhằm đánh giá được hiệu quả, sự tăng trưởng của các hoạt động trong doanh nghiệp so với mục tiêu đã đề ra Nó giúp doanh nghiệp định hình và theo dõi quá trình

hoạt động và tăng trưởng so với mục tiêu của doanh nghiệp

1.4.2 Phân biệt KPI và một số chỉ số đo lường hiệu suất

Một thực tế hiện nay là các doanh nghiệp đang sử dụng các chỉ số đo lường không chuẩn, trong đó nhiều chỉ số bị gọi không đúng cách là chỉ số đo lường hiệu quả cốt yếu - KPI Trên thực tế hiện nay, tồn tại ba loại chỉ số đo lường hiệu suất đó là:

Trang 31

• Chỉ số kết quả cốt yếu

• Chỉ số hiệu suất

• Chỉ số hiệu quả cốt yếu

Chỉ số kết quả cốt yếu là những chỉ số bao gồm các chỉ số như: lợi nhuận ròng trước thuế; lợi nhuận thu được từ số vốn đã sử dụng… Đặc điểm của những chỉ số này

là ở chỗ chúng là kết quả của nhiều hoạt động, cho thấy bạn có đang đi đúng hướng hay không Tuy nhiên, chúng không thể cho bạn biết bạn cần phảilàm gì để cải thiện những kết quả đã đạt được Và như vậy, các chỉ số này cũng cấp thông tin lí tưởng cho Hội đồng quản trị – tức là chúng không liên quan gì đến hoạt động quản trịdiễn ra hàng ngày Chúng thường được theo dõi theo tháng hay quý chứ không phải theo tuần hay ngày như chỉ số KPI

Giữa chỉ số kết quả cốt yếu và chỉ số hiệu quả cốt yếu chắc chắn tồn tại nhiều chỉ

số phản ánh hiệu suất - là các thước đo kết quả lao động dựa trên khối lượng công việc

đã làm được trong một khoảng thời gian nhất định Những chỉ số hiệu suất này được

đo lường trên tất cả các phương diện trong doanh nghiệp, không phân biệt những chỉ

số đó cho kết quả thế nào đóng vai trò quan trọng với doanh nghiệp hay không, đó chính là nguồn bổ sung và hình thành nên các các chỉ số KPI – chỉ số đo lường hiệu quả của những hoạt động quan trọng và nó được biểu thị cùng với các chỉ số này trên bảng điểm cân bằng của tổ chức, cũng như của phòng, ban, nhóm

Như vậy, các chỉ số hiệu quả cốt yếu KPI biểu thị một tập hợp các chỉ số đo lường có vai trò quan trọng, hướng vào các phương diện hoạt động của tổ chức – điều đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của tổ chức trong hiện tại cũng như trong tương lai

1.4.3 Đặc điểm của chỉ số KPI

KPI là những chỉ số nhằm đo lường hiệu quả hay sự thành công của các hoạt động trong tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu mà nhà quản trị đưa ra Mỗi một chức danh, phòng, ban, bộ phận sẽ có bản mô tả công việc hoặc kế hoạch làm việc hàng tháng Các nhà quản trị sẽ áp dụng các chỉ số đánh giá hiệu quả các hoạt động đó Mỗi chức danh, phòng, ban lại có những chỉ số KPI riêng, tuy nhiên, các chỉ số KPI đều mang những đặc điểm như sau:

Trang 32

• Đáp ứng được năm tiêu chuẩn của một mục tiêu – được chỉ rõ trong phương pháp quản trị mục tiêu MBO – SMART, đó là:

- S = Specific - Cụ thể, rõ ràng Các chỉ số đưa ra phải thật cụ thể, rõ ràng Các

chỉ số khi đưa ra phải giải thích được, chỉ số này nói lên điều gì? Tại sao lại lựa chọn chỉ số này? Chỉ số này được đo lường như thế nào?

- M = Measureable - Có thể đo đếm được Chỉ số KPI chỉ có giá trị khi được xác

định và đo lường một cách chính xác “Trở thành doanh nghiệp nổi tiếng nhất” không phải là chỉ số KPI do không có cách nào đo được sự nổi tiếng của doanh nghiệp hay so sánh nó với doanh nghiệp khác

- A = Achievable - Có thể đạt được Có rất nhiều các chỉ số KPI đo lường được

nhưng lại không phải là chìa khóa giúp các doanh nghiệp thành công Khi chọn lựa các KPI nên lựa chọn những chỉ số thực sự cần thiết, giúp doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu Chỉ số này sẽ theo sát mục tiêu – là những mục tiêu mà doanh nghiệp nhận thấy họ có nhiều yếu tố nhằm đạt được mục tiêu một cách thực tế Vậy các KPI đưa ra cũng phải là những chỉ số thực tế có thể đạt được

- R = Realistic - Thực tế Các chỉ số đưa ra cũng cần cân nhắc và theo sát mục

tiêu và thực tế Không nên đưa ra những chỉ số nằm ngoài khả năng đo lường thực tế, hoặc những KPI không đúng với thực tế công việc

- T = Timed - Có thời hạn Các chỉ số này được áp dụng trong thời gian bao lâu,

khi nào?

• Là các chỉ số phi tài chính

KPI không được biểu thị bằng đơn vị tiền tệ như đồng, đôla… Nó có thể là số nhân viên tuyển dụng thành công trong một đợt tuyển dụng hay có bao nhiêu cuộc gặp

gỡ hàng ngày của nhân viên bán hàng với khách hàng…

• Các chỉ số phải được theo dõi thường xuyên

Không giống như các chỉ số đo lường khác, KPI là chỉ số thường xuyên được theo dõi và đánh giá, tùy theo thực trạng doanh nghiệp mà việc đánh giá được tiến hành theo tháng, quý hay năm

Trang 33

• Chịu tác động bởi đội ngũ quản trị cấp cao

Việc theo dõi thường xuyên sự biến động, thay đổi của các KPI luôn thu hút đội ngũ quản trị bởi đây là cách làm tương đối đơn giản, làm căn cứ để cấp quản trị đưa ra những quyết định của mình

KPI có thể được gắn với từng nhân viên, để từ đó đo lường và đánh giá được nhân viên Vì vậy chỉ có hiểu rõ KPI và có sự điều chỉnh hoạt động làm việc của bản thân nhằm hoàn thành tốt mục đích từ chính phía cá nhân từng nhân viên

• Có tác động đáng kể và tích cực tới các chỉ tiêu được đặt ra trong doanh nghiệp

Việc theo dõi KPI sẽ cho doanh nghiệp biết họ phải làm gì, thay đổi như thế nào Cũng từ đó, sự cải thiện KPI sẽ có tác động tích cực đến các chỉ số khác

1.4.4 Phân loại các chỉ số KPI

Có rất nhiều các chỉ số KPI đã và đang được sử dụng và phát triển trong các doanh nghiệp, tổ chức Tùy theo hiện trạng của tổ chức mà các KPI được hình thành,

đa dạng, phong phú và phục vụ mục đích của tổ chức, doanh nghiệp Số lượng các KPI

sẽ còn được gia tăng nhiều hơn nữa cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội Vì vậy, khó mà có thể nói hiện nay có bao nhiêu chỉ số KPI Tuy nhiên, nhìn chung, có thể phân chia KPI thành theo ba nhóm lớn như sau

1.4.4.1 Nhóm các chỉ số KPI dùng trong các ngành kinh tế lớn

Trong các ngành kinh tế lớn, để đo lường sự thành công và hiệu quả, các nhà quản trị thường xây dựng những chỉ số nhất định, thống nhất để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau Đây là những chỉ số đã được nghiên cứu và thống nhất trong toàn ngành, dễ dàng trong quá trình theo dõi, đánh giá, chỉ cần qua một vài chỉ số đo lường hoạt động có thể biết các đối thủ cạnh tranh của mình trong ngành đang hoạt động, phát triển ra sao Ví dụ như trong ngành tài chính,ngân hàng, ta có thể dùng các chỉ số như: số lượng máy ATM trên toàn quốc khi đánh giá về so sánh dịch vụ ATM giữa các ngân hàng; hay tỷ lệ lãi suất cho vay được ngân hàng áp dụng … Trên thế giới hiện nay đã có khoảng gần hai mươi ngành kinh tế có áp dụng các chỉ số KPI để

đo lường hiệu quả hoạt động, như:

• Ngành hàng không, vận tải (gồm 84 chỉ số)

Trang 34

• Ngành ngân hàng, bảo hiểm (gồm 57 chỉ số)

• Ngành nghiên cứu, giáo dục (gồm 71 chỉ số)

• Ngành giải trí (gồm 22 chỉ số)

• Ngành nông nghiệp (gồm 45 chỉ số)

• Ngành sản xuất hàng hóa (gồm 12 chỉ số)…

1.4.4.2 Nhóm các chỉ số KPI đánh giá quá trình hoạt động của tổ chức

Mỗi tổ chức để xây dựng, hoạt động và phát triển luôn cần có một bộ máy tổ chức với các hoạt động được diễn ra liên tục và không ngừng thay đổi cùng với việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Hiện nay, trên thế giới phần lớn các hoạt động của tổ chức đều đã có những bộ chỉ số KPI để đo lường, đánh giá Trong đó, có không

ít những chỉ số đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, chẳng hạn như những chỉ số liên quan đến khách hàng như: tỉ lệ khách hàng quay lại với cửa hàng, hay tỉ lệ khách mua hàng lần thứ ba trở lên… đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất, kinh doanh của các tổ chức kinh tế Các hoạt động chủ yếu đã được áp dụng KPI hiện nay gồm có: hoạt động bán hàng và chăm sóc khách hàng, hoạt động marketing, hoạt động tài chính, vận tải giao nhận, hoạt động liên quan đến pháp lý… Các chỉ số KPI ứng với các hoạt động này sẽ được gói gọn và phân chia thành bốn nhóm chỉ số KPI như sau:

• Nhóm chỉ số KPI tài chính

• Nhóm chỉ số KPI hoạt động

• Nhóm chỉ số KPI khách hàng

• Nhóm chỉ số KPI nguồn nhân lực

Nhìn chung, các chỉ số KPI đánh giá quá trình hoạt động của tổ chức hiện nay được chú trọng hơn cả, bởi nó phản ánh đúng thực trạng hoạt động của tổ chức, và chỉ

ra cho họ thấy họ phải làm gì để phát triển, để cải thiện tình hình, nhằm đạt được mục tiêu từ các nhân viên đến bộ phận và toàn thể doanh nghiệp Bên cạnh đó, KPI là chỉ

số được thường xuyên theo dõi, sẽ giúp tổ chức nhanh chóng, kịp thời, sửa chữa thay đổi những yếu kém và cải thiện tổ chức theo hướng tích cực

Trang 35

1.4.4.3 Nhóm các KPI được xây dựng theo các khung chương trình

Mỗi ngành hoạt động bao gồm nhiều quá trình, nhiều hạng mục công việc chính trong ngành đó Mỗi quá trình ấy, hạng mục công việc ấy sẽ đều được đánh giá bằng các chỉ số KPI nhất định Chúng tập hợp lại với nhau thành những khung chương trình đánh giá mang tính chuẩn mực tương đối, phục vụ cho các mục đích quản lý khác nhau của nhà quản trị Ví dụ: Trong ngành công nghệ thông tin, có thể sử dụng các bộ khung như: Cobit ( gồm Cobit Acquire & Implement, Cobit Delivery & Support, Cobit Monitor & Evaluate, và Cobit Plan & Organise) hay bộ APM, ASL, BiSL, ITIL, VRM…

1.5 Bộ chỉ số kpi đánh giá hiệu qủa hoạt động bán lẻ

1.5.1 Khái niệm

Từ các nghiên cứu về “KPI bán lẻ − Retail Key Performance Indicator”, ta có

thể hiểu KPI bán lẻ đánh giá hiệu quả hoạt động bán lẻ hay chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động bán lẻ là những chỉ số được xây dựng nhằm đánh giá được hiệu quả, sự phát triển của các hoạt động thuộc chức năng kinh doanh bán lẻ của doanh nghiệp so với mục tiêu đã đề ra Không phải tất cả các nhà bán lẻ áp dụng cùng một loại KPI để đáp ứng các mục tiêu của tổ chức, nhưng có một số KPI trong một tổ chức đã trở thành bắt buộc đối với một nhà bán lẻ

• Chỉ số đánh giá hiệu quả giao dịch với khách hàng

• Chỉ số đánh giá hiệu quả hàng hóa

• Chỉ số đánh giá hiệu quả không gian

Trang 36

• Chỉ số đánh giá hiệu quả nhân viên

1.5.3.1 Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả giao dịch với khách hàng

Đây là bộ chỉ số quan trọng nhất vì nó đo lường khả năng “ biến người tiêu dùng thành khách hàng của cửa hàng” Thông qua chỉ số tỷ lệ chuyển đổi khách hàng, người quản lý sẽ biết được số lượng khách hàng vào cửa hàng nhưng không mua hàng Con

số này phản ánh hiệu quả hoạt động quản lý cửa hàng rất rõ Thông thường, người quản lý chỉ biết doanh số giảm tức là số đơn hàng giảm đi hoặc doanh số trên một đơn hàng giảm đi Nhưng vấn đề ở chỗ tại sao số đơn hàng giảm đi, tại sao doanh số trên một đơn hàng giảm đi thì người quản lý không bao giờ biết được nếu không sử dụng chỉ số trên

Thông qua chỉ số chuyển đổi khách hàng, chủ doanh nghiệp hoàn toàn phân tích được hiệu quả phục vụ của cửa hàng Rõ ràng, một cửa hàng có 100 khách hàng vào một ngày mà chỉ có 30 người mua tức là chỉ số chuyển đổi chỉ có 30% sẽ không có hiệu quả bằng một cửa hàng có 50 khách vào nhưng có 25 khách mua, tỉ lệ chuyển đổi

là 50% Các cửa hàng hoạt động hiệu quả thường là các cửa hàng có chỉ số chuyển đổi khách hàng cao, chứ không phải cửa hàng có đông khách hàng vào Lý do đơn giản là cửa hàng có đông khách vào, đồng nghĩa với việc vị trí phải là “đắc địa” tức là chi phí thuê cửa hàng sẽ rất cao

Bộ chỉ số này được xác định dựa trên bốn tiêu chí cụ thể sau:

➢ Tỷ lệ chuyển đổi khách hàng:

Sổ khách hàng vào mua hàng

x 100 Khách hàng vào cửa hàng

Chỉ số này phản ánh khả năng cửa hàng biến khách hàng tiềm năng thành người mua hàng

➢ Tỷ lệ hàng trả lại trên doanh số:

Tổng hàng được phép trả lại

x 100 Doanh số bán

Chỉ số này phản ánh mức độ hài lòng của khách hàng qua giá trị hàng hóa trả lại

và được cho phép trên tổng doanh số bán

Trang 37

➢ Doanh số / một giao dịch:

Doanh số

Số lượng giao dịch Chỉ số phản ánh giá trị / một giao dịch trong cửa hàng

➢ Số khách / một giờ mở cửa hàng:

Tổng số khách hàng vào cửa hàng

Số giờ giao dịch Chỉ số cho biết tổng số khách hàng vào cửa hàng trong giờ, ngày, tuần, tháng

1.5.3.2 Bộ chỉ số về hàng hóa

Đối với các cửa hàng trưởng, chỉ số này rất dễ tính toán, vì số liệu rất dễ lấy từ máy tính hoặc hệ thống sổ sách của cửa hàng Chỉ số này giúp cửa hàng trưởng hay các nhà quản lý điều hành hiệu quả việc nhập hàng, đổi hàng, trả hàng Các chủ doanh nghiệp bán lẻ và các cửa hàng trưởng cũng biết rằng: hàng tồn kho là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của cửa hàng, hàng tồn kho đóng góp lớn vào chi phí cố định và chi phí biến đổi cửa hàng Muốn cải thiện lợi nhuận cửa hàng, các chủ doanh nghiệp và cửa hàng trưởng phải tăng số vòng quay hàng tồn kho Việc này sẽ được thực hiện qua bốn chỉ số cụ thể sau:

➢ Giá bán trung bình= Tổng giá trị bán ra

Tổng số lượng bán ra Chỉ số này cho biết giá bán trung bình trên mỗi đơn vị hàng hóa là bao nhiêu

➢ Giá tồn kho trung bình= Tổng giá trị hàng hóa trong kho

Tổng số lượng hàng hóa trong kho Chỉ số này cho biết giá bán trung bình trên mỗi đơn vị hàng hóa là bao nhiêu

➢ Chỉ số doanh thu/tồn kho = Doanh số

Giá trị trung bình tồn kho Chỉ số này cho biết một đồng hàng tồn kho sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu

➢ Phần trăm chi phí tồn kho = Chi phí tồn kho x 100

Doanh số Chỉ số này cho biết chi phí tồn kho chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong doanh thu bán hàng Bốn chỉ số này là kim chỉ nam cho các nhà quản lý điều hành hàng hóa hàng

ngày Chỉ cần nhìn vào hai chỉ số giá bán trung bình và giá tồn kho trung bình sẽ thấy

Trang 38

ngay mức độ hợp lý của hàng tồn kho Ví dụ cho một cửa hàng kinh doanh ngành điện thoại, máy tính, sau khi tính hai số liệu, nhận thấy chỉ số giá bán trung bình là 2,7 triệu/đơn vị bán ra Tuy nhiên, chỉ số tồn kho trung bình lại là 5,6 triệu/đơn vị Điều này có nghĩa là những sản phẩm bán ra của cửa hàng chỉ là điện thoại giá rẻ hoặc linh kiện Trong khi tồn kho lại chủ yếu là điện thoại đắt tiền và laptop Như vậy, có thể thấy ngay hiệu suất làm việc và vai trò của cửa hàng trưởng Bằng việc ra soát hai chỉ

số này trên toàn bộ hệ thống cửa hàng, doanh nghiệp bán lẻ đã có sự điều chỉnh phù hợp về hàng hóa tại từng cửa hàng

1.5.3.3 Bộ chỉ số hiệu quả không gian

Tại sao chỉ số này quan trọng, vì tất cả các doanh nghiệp đều phải thuê mặt bằng

để kinh doanh bán lẻ, mà chi phí thuê mặt bằng thường tính theo m2 Vì vậy mỗi mét vuông đều chịu một số tiền nhất định, do đó cũng phải tạo ra một doanh số nhất định Đồng thời, từ doanh số các chủ doanh nghiệp có thể tính ra lãi gộp/m2 Đây là cơ sở tốt nhất để quyết định có tiếp tục thuê địa điểm đó để kinh doanh nữa hay không Và nếu thuê thì thuê diện tích bao nhiêu để đảm bảo cửa hàng hoạt động hiệu quả

Có ba chỉ số mà các doanh nghiệp bán lẻ có thể tính toán và dựa vào đó đưa ra quyết định:

- Doanh số trên 1m2 = Doanh số / Diện tích sàn

Chỉ số này cho biết doanh thu bán hàng trên một mét vuông

- Tồn kho trên 1m2 = Tồn kho / Diện tích sàn

Chỉ số này cho biết một mét vuông tồn kho của siêu thị tương ứng với giá trị hàng tồn kho là bao nhiêu

- Tỷ lệ không gian bán hàng = (Diện tích dành cho bán hàng / Tổng diện tích) x 100

Chỉ số này cho biết diện tích dành cho việc bán hàng chiếm bao nhiêu trong tổng diện tích của siêu thị

1.5.3.4 Hiệu quả hoạt động nhân viên:

Chỉ số này giúp chủ doanh nghiệp và cửa hàng trưởng quyết định tuyển thêm hay giảm số lượng nhân viên

- Doanh số của một nhân viên = Doanh số / Tổng số nhân viên

Chỉ số này cho biết doanh thu trung bình mà một nhân viên tạo ra được

Trang 39

- Chỉ số chi phí nhân sự = (Tổng chi phí nhân sự / Doanh số) x 100

Chỉ số này phản ánh chi phí dành cho việc trả lương nhân viên chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng doanh thu

- Lãi gộp trên một nhân viên = Tổng lãi gộp / Tổng số nhân viên

Chỉ số này cho biết trung bình một nhân viên sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lãi gộp

1.6 Cơ sở thực tiễn

1.6.1 Thị trường bán lẻ Việt Nam

Nhìn lại sự phát triển của thị trường bán lẻ thời gian qua, các kênh bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại đang có nhiều tiềm năng phát triển hơn và sẽ đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển của ngành công nghiệp này trong tương lai.Hiện nay hệ thống phân phối tổng hợp hàng tiêu dùng bao gồm gần 9.000 chợ trên toàn quốc Còn

hệ thống bán lẻ hiện đại có khoảng 70 trung tâm thương mại - trung tâm mua sắm, hơn

400 các loại siêu thị và hàng trăm cửa hàng tiện lợi khác Các cửa hàng bán lẻ hiện đại của các doanh nghiệp trong nước như Hapro Mart, Saigon Co.op, Fivimart, Citimart, G7 Mart… ngày càng xuất hiện nhiều, chủ yếu tập trung tại Hà Nội và TPHCM, chiếm thị phần của hệ thống bán lẻ hiện đại khoảng 20 - 30% Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài có quy mô lớn đang hoạt động tại Việt Nam là Big C (Pháp), Parkson (Malaysia), Lotte Mart (Hàn Quốc), Louis Vuiton, Metro Cash&Carry (Đức),…Thị trường bán lẻ Việt Nam đang tăng trưởng tốt trong phạm vi ba quý đầu năm 2016 Theo số liệu nghiên cứu từ Cushman & Wakefield, doanh số bán lẻ hiện tăng gần 10%

so với cùng kỳ năm ngoái Theo dự đoán thì sự tăng trưởng này sẽ còn duy trì cho đến năm 2030

Xét về tăng trưởng theo năm, Việt Nam xếp hạng thứ hai trong khu vực, chỉ sau Indonesia Tín hiệu tích cực trong phát triển kinh tế vĩ mô, nhu cầu tiêu dùng tăng giúpcủng cố lòng tin của các doanh nghiệp bán lẻ vào thị trường Năm nay, một số nhà cung cấp mới đã gia nhập thị trường như Sài Gòn Center tại Tp.HCM và MIPEC tại

Hà Nội Cả hai thành phố này đang thực sự hoạt động tốt với tỷ lệ lấp đầy đạt 90% Điều này thể hiện sự ổn định thị trường và là tín hiệu tốt cho các nhà phát triển cũng như các đơn vị thuê địa điểm bán lẻ

Trang 40

Càng nhiều doanh nghiệp bán lẻ thâm nhập thị trường Việt Nam sẽ khiến thị trường cạnh tranh khốc liệt hơn Điều này tổng thể có lợi với người tiêu dùng Sự cạnh tranh giữa các nhóm sẽ góp phần đẩy giá thuê lên cao Hiện giá thuê ở những khu vực trung tâm kinh doanh đã tăng hơn 30% Đây cũng là tin vui đối với các nhà phát triển bất động sản Việc cạnh tranh tuy mang lại lợi ích trực tiếp cho người tiêu dùng

và các nhà phát triển nhưng cũng gây ra khó khăn không nhỏ cho các nhà bán lẻ mới gia nhập thị trường Việc tìm kiếm mặt bằng thuê tại khu trung tâm sẽ khó khăn hơn

và chi phí thuê dự kiến sẽ cao hơn.Có nhiều điểm tích cực xoay quanh cuộc cạnh tranh trên thị trường bán lẻ Ví dụ như trung tâm mua sắm Vincom, đây là đơn vị có tầm ảnh hưởng rất tích cực bởi vì đã mang đến cho người tiêu dùng những mặt hàng thực phẩm tốt, được lựa chọn kỹ càng với cơ sở hiện đại Sẽ có nhiều cạnh tranh hơn nữa giữa các nhóm siêu thị do càng ngày càng có nhiều đơn vị gia nhập thị trường Hơn thế nữa, các

cơ sở địa phương dần bắt đầu việc mở rộng dịch vụ và chất lượng Có thể sẽ có sự cạnh tranh về giá bán giữa các siêu thị, điều này dẫn đến những tác động vào giá thuê mặt bằng của các siêu thị hiện nay Những đơn vị lớn có thể dễ dàng điều chỉnh giá thuê, ít nhiều gây khó khăn cho các doanh nghiệp mới muốn chen chân vào Tuy nhiên điều này cũng không đáng ngại vì về mặt lý thuyết, càng nhiều đơn vị gia nhập thị trường thì tình trạng lợi nhuận biên sẽ bắt đầu giảm xuống, giá thuê sẽ giảm

Việc mua bán và sáp nhập sẽ trở thành xu hướng trong các năm tiếp theo Thị trường Việt Nam đang cần sự đầu tư chuyên môn từ các doanh nghiệp nước ngoài Khối ngoại vốn có nhiều kinh nghiệm trong việc mang đến những sản phẩm bán lẻ chất lượng cũng như đưa các nhà bán lẻ chất lượng vào thị trường Việt Nam Hiện nay, khá nhiều các doanh nghiệp nước ngoài vẫn chưa tham gia thị trường bán lẻ tại Việt Nam Nguyên nhân chính là do giá thuê mặt bằng cao.Yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng thâm nhập vào thị trường của các trung tâm mua sắm lớn, nhà phát triển bất động sản hay các nhà vận hành Vì thế, phương án tốt nhất là thâm nhập thị trường thông qua việc mua bán và sáp nhập Thông qua việc liên doanh với 1 doanh nghiệp địa phương, doanh nghiệp ngoại sẽ tránh được những hạn chế về pháp lý, quỹ đất và biến động trong giá thuê

Ngày đăng: 09/08/2018, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w