1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn tính thời vụ trong du lịch tại sầm sơn

108 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 342,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài giới thiệu chung vềhoạt động kinh doanh du lịch biển tại thị xã Sầm Sơn, về cơ sở vật chấtphục vụ du lịch, công tác tuyên truyền quảng bá dịch vụ, các sản phẩm vàcác tuyến du lịch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘIKHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH BIỂN TẠI KHU DU

_ _ LỊCH BIỂN THỊ XÃ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA

Tên sinh viên: Trịnh Thị Thu Hằng

Chuyên ngành đào tạo: Kinh tế nông nghiệp

Lớp: KT 51B

Niên khóa: 2006 - 2010

Giảng viên hướng dẫn: ThS Phạm Thanh Lan

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của đề tài đặt ra, trong luận văn

có sử dụng các thông tin, số liệu từ sách thông tin, số liệu tổng hợp từsách, tạp chí, các bản báo cáo của của Ủy ban nhân dân thị xã Sầm Sơn và

số liệu tra trực tiếp từ người dân địa phương và khách du lịch

Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu thông tin trên hoàn toàn đúng sựthật và được trích nguồn rõ ràng Các thông tin và số liệu được tổng hợpthông qua điều tra thực tế tại khu du lịch Sầm Sơn - tỉnh Thanh Hóa Luậnvăn không sử dụng các số liệu đã có từ các luận văn trước đó

Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm

2010 Sinh viên

Trịnh Thị Thu Hằng

Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng củabản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Chủ nhiệm Khoa,của các thầy cô trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn Trường Đại họcNông Nghiệp cùng sự động viên khích lệ của toàn thể gia đình và bạn bètrong suốt quá trình học tập qua

Có được kết quả ngày hôm nay, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tớiBan Chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế vàPhát triển nông thôn đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt 4 năm học

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

vừa qua Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Th.s PhạmThanh Lan - Bộ môn Kinh tế môi trường đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡtôi suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy Ban nhân dân Thị xã Sầm Sơn và cácphòng ban liên quan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thờigian thực tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, ngườithân - những người đã nuôi dưỡng và luôn ở bên tôi trong suốt quá trìnhhọc tập và rèn luyện

Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm

2010 Sinh viên

Trịnh Thị Thu Hằng

Trang 4

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Sầm Sơn đã từ lâu được biết đến như một địa danh có tiềm năng dulịch, nghỉ mát, tắm biển nổi tiếng trong và ngoài nước Song trên thực tế,nguồn thu từ du lịch biển của thị xã chưa thực sự xứng đáng với tiềm năngvốn có Trong đó tính thời vụ là một trong những nguyên nhân chính Tínhthời vụ là khó khăn không thể tránh khỏi trong việc khai thác tiềm năng dulịch biển Nó có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế của địa phương,của vùng và của quốc gia Sự dao động rất lớn về số lượng du khách giữahai mùa vụ đã gây tổn thất đến thu nhập về kinh tế và làm ảnh hưởng tớiđời sống xã hội của người dân địa phương

Đề tài “Tính thời vụ trong du lịch biển tại khu du lịch thị xã Sầm tỉnh Thanh Hóa” là cơ sở để đề ra những giải pháp nhằm hạn chế tính thời

Sơn-vụ trong du lịch biển phát huy được lợi thế về tự nhiên của thị xã Cũng qua

đó chúng ta sẽ biết được những tiềm năng thế mạnh, những tour du lịch,những sản phẩm du lịch và sự phối hợp trong công tác khai thác du lịchcủa thị xã với các khu du lịch khác trên địa bàn của tỉnh Thanh Hóa

Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan tài liệu để có cái nhìn tổng quát vàđầy đủ về tính thời vụ trong du lịch biển Tính thời vụ trong du lịch biểnchịu có sự ảnh hưởng của các nhân tố mang tính tự nhiên, kinh tế- xã hội,

kĩ thuật và một số nhân tố khác Tác động bất lợi của tính thời vụ đến cácthành phần của quá trình du lịch- đến dân cư sở tại, đến chính quyền địaphương và nhất là đến khách du lịch và nhà kinh doanh du lịch Trong cơ

sở lý luận cũng đề cập tới du khách trong du lịch biển và các loại hình kinhdoanh dịch vụ du lịch trong du lịch biển Về mặt thực tiễn, tìm hiểu nhữngbài học kinh nghiệm về giải pháp hạn chế tính thời vụ trong du lịch biển

Dựa trên đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứuchủ yếu là phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp và thu thập tài liệu thứ cấp

Trang 5

bằng phương pháp điều tra và phỏng vấn sâu Đề tài giới thiệu chung vềhoạt động kinh doanh du lịch biển tại thị xã Sầm Sơn, về cơ sở vật chấtphục vụ du lịch, công tác tuyên truyền quảng bá dịch vụ, các sản phẩm vàcác tuyến du lịch của khu du lịch Khu du lịch Sầm Sơn đã thu hút đượclượng lớn du khách hàng năm, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển dulịch của thị xã Sầm Sơn và của toàn tỉnh Thanh Hóa, tạo điều kiện thúc đấycho nền kinh tế của địa phương phát triển.

Tính thời vụ trong du lịch biển thể hiện ở sự biến động lượng dukhách giữa các tháng trong năm, giữa các ngày trong tuần Tính thời vụcòn thể hiện trong hoạt động dịch vụ du lịch, có nhiều cơ sở ngừng hoạtđộng vào mùa đông vì lý do không có khách Vào 4 tháng chính vụ lượng

du khách chiếm 80% trong khi đó 8 tháng trái mùa lượng khách chỉ chiếm20% Tháng cao điểm nhất là tháng 7 với lượng du khách chiếm tỉ lệ 29,0%còn các tháng ít khách nhất chỉ chiếm tỉ lệ 0,5% Vào mùa hè khách đếnSầm Sơn với mục đích chủ yếu là giải trí, nghỉ mát, tắm biển chiếm tỉ lệ83% Nhưng vào mùa đông các loại khách đến với mục đích kết hợp vớithăm thân, công vụ, nghỉ dưỡng chiếm tỉ lệ cao hơn trong đó loại kháchcông vụ chiếm tỉ lệ cao nhất 48,4 %

Tính thời vụ cũng gây tác động sâu sắc đến lao động và việc làmcủa người lao động trong thị xã và các vùng lân cận Doanh thu bình quâncủa các tháng chính vụ chênh lệch rõ rệt với doanh thu bình quân cáctháng trái vụ du lịch lên tới con số 94,75 tỷ đồng Tính thời vụ cũng gây tácđộng sâu sắc đến lao động và việc làm của người lao động trong thị xã vàcác vùng lân cận Dẫn đến hiện tượng người lao động thiếu việc làm và thunhập bấp bênh vào mùa đông Không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế, bêncạnh đó tính thời vụ cũng gây thiệt hại nặng nề cho thị xã do lãng phí tàinguyên thiên nhiên cũng như cơ sở hạ tầng du lịch

Trang 6

Từ thực trạng hoạt động của khu du lịch biển Sầm Sơn và với khảnăng cũng như định hướng phát triển của thị xã trong tương lai Quanghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của một số địa phương làm du lịchchúng tôi xin đưa ra những 5 giải pháp chính đó là: Đa dạng hóa sản phẩm

du lịch, khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch Sầm Sơn; Phát triển du lịchtheo hướng chuyên nghiệp; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng báxúc tiến phát triển du lịch.; Huy động và sử dụng các nguồn vốn để pháttriển kinh tế du lịch Sầm Sơn; Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về dulịch

Để hạn chế được tính thời vụ trong du lịch biển cần phải trải qua quátrình lâu dài Vì vậy, có sự liên kết phối hợp giữa cơ quan quản lý và ngườidân để thực hiện thì mới đạt được mục tiêu một cách thuận lợi và nhấtquán

Trang 7

Phần I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết

Khi nền kinh tế phát triển thì đời sống con người không ngừng nâng caokhông chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần Các hoạt động vui chơi, giảitrí, du lịch, lễ hội đáp ứng nhu cầu tinh thần đang ngày càng ngày càng được đápứng và mở rộng

Trong đó, hoạt động du lịch giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triểnkinh tế của mỗi quốc gia Phát triển du lịch góp phần nâng cao dân trí, sức khỏecộng đồng, bên cạnh đó làm tăng thu nhập làm giàu cho địa phương và tạo điềukiện cho các ngành kinh tế khác phát triển

Hiện nay, ngành kinh tế du lịch của nước ta đang trên đà phát triển ThanhHóa nằm trong chiến lược phát triển du lịch, lại là vùng du lịch trọng điểm của cảnước vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Thị xã Sầm Sơn cách Thành phốThanh Hóa 16 km về phía Đông Nam Sầm Sơn đã từ lâu được biết đến như một địadanh có tiềm năng du lịch, nghỉ mát, tắm biển nổi tiếng trong và ngoài nước Songtrên thực tế, nguồn thu từ du lịch biển của thị xã chưa thực sự xứng đáng với tiềmnăng vốn có Trong đó tính thời vụ là một trong những nguyên nhân chính Tínhthời vụ là khó khăn không thể tránh trong việc khai thác tiềm năng du lịch biển Nó

có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế của địa phương, của vùng và của quốcgia Sự dao động rất lớn về số lượng du khách giữa hai mùa vụ đã gây tổn thất đếnthu nhập về kinh tế và làm ảnh hưởng tới đời sống xã hội của người dân địaphương Vấn đề là làm thế nào khắc phục được tính thời vụ trong du lịch biểnkhông chỉ là vấn đề của chính quyền các cấp mà còn thu hút được sự quan tâmnghiên của các nhà kinh tế Vì vậy, nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch biển là cơ

sở để đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tính thời vụ trong du lịch biển phát huyđược lợi thế về tự nhiên của thị xã Cũng qua đó chúng ta sẽ biết được những tiềmnăng thế mạnh, những tour du lịch, những sản phẩm du lịch và sự phối hợp trongcông tác khai thác du lịch của thị xã với các khu du lịch khác trên địa bàn của tỉnh

Trang 8

Thanh Hóa Từ đó đề ra những giải pháp thúc đẩy hoạt động khai thác du lịch tạithị xã, góp phần thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế địa phương.

Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tính thời vụtrong du lịch biển tại khu du lịch thị xã Sầm Sơn- tỉnh Thanh Hóa ”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch biển thông qua hoạt động du lịch biển.Đối tượng nghiên cứu chính là cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch biển trên địa bàn vàkhách du lịch

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu 2 hoạt động du lịch chính là hoạtđộng kinh doanh lưu trú và ăn uống; ngoài ra còn một số hoạt động kinh doanhdịch vụ khác như chụp ảnh, bán đồ lưu niệm, xích lô, bán đồ hải sản

- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành tại thị xã Sầm Sơn- tỉnh ThanhHóa

- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu tình hình chung từ năm 20072009, tiến

hành nghiên cứu trong thời gian từ 12/01/2010 đến 05/05/2010

Trang 9

Phần II CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Những vấn đề cơ bản về du lịch

2.1.1 Khái niệm về du lịch

Hoạt động đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độnhanh, song cho đến nay khái niệm du lịch được hiểu khác nhau tại các quốc giakhác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau Đúng như Giáo sư, Tiến sĩ Berneker - mộtchuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới nhận định: “Đối với du lịch, có baonhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”

Trước thế kỉ XX, nhiều học giả cho rằng du lịch là một hiện tượng của xã hội,

đi du lịch chủ yếu là của những người giàu có Tuy nhiên, hiện nay du lịch đã trởthành ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia, đã và đang thu hút sự chú ýcủa nhiều ngành, nhiều nhà nghiên cứu Các định nghĩa du lịch được đưa rathường dựa trên khoảng cách đi du lịch, thời gian và mục đích chuyến đi

Tại hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở OTTAWA (Canada) tháng 6 năm

1991 đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau “Du lịch là hoạt động của con người

đi tới nơi một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình)trong khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích chuyến đikhông phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong lĩnh vực vùng tới thăm”.Định nghĩa du lịch này đã được Tổ chức du lịch thế giới và các nước Mỹ, Anh,Canada, Australia chấp nhận Trong pháp lệnh Du lịch Việt Nam, tại điều 10, thuậtngữ “Du lịch” được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cưtrú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan giải trí, nghỉdưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Để có cái nhìn đầy đủ về kinh tế và kinh doanh du lịch, một quan điểm khácdựa trên cơ sở lí luận và hoạt động thực tiễn của du lịch thế giới và Việt Nam trongnhững thập kỉ gần đây cho rằng “Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm hướng dẫn

du lịch, sản xuất trao đổi hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứngnhu cầu về viêc đi lại, lưu trú, ăn uống tham quan giải trí , tìm hiểu các nhu cầu

Trang 10

khác của khách Các hoạt động đó phải mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hộithiết thực cho đất nước làm lợi cho đất nước làm du lịch và bản thân doanhnghiệp”

2.1.2 Ý nghĩa kinh tế - xã hội của du lịch

Du lịch mang lại lợi ích về nhiều mặt cho một quốc gia hay một lãnh thổ dulịch, nó có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với cácnước đang phát triển

a Về kinh tế

Du lịch tác động rất lớn đến sự phát triển của các ngành kinh tế khác nhưnông nghiệp, công nghiệp thực phẩm thủ công mỹ nghệ, giao thông vận tải, bưuchính viễn thông, ngân hàng góp phần khôi phục phát triển các làng nghề thủcông truyền thống Ngoài ra du lịch còn là động lực phát triển các lĩnh vực như y tế,văn hóa, ngân hàng

Hoạt động du lịch quốc tế là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước thôngqua việc xuất khẩu tại chỗ một số mặt hàng tiêu dùng, thủ công mĩ nghệ, lươngthực thực phẩm

b Về xã hội

Du lịch phát triển không những tạo công ăn việc làm trực tiếp trong ngành dulịch mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động trong ngành kinh tếkhác

Trên thực tế phát triển du lịch thường gắn với nguồn tài nguyên thiên nhiêntập trung ở khu vực nông thôn Do vậy du lịch có thể được coi là động lực cải thiện

cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, các cơ sở y tế địa phương

Phát triển du lịch góp phần mở rộng giao lưu văn hóa giữa người dân bản địavới du khách trong và ngoài nước qua đó hiểu biết thêm về lịch sử, văn hóa đạođức lối sống, phong tục tập quán

Du lịch góp phần bảo tồn giao lưu văn hóa các di sản văn hóa dân tộc, bảo vệmôi trường Du lịch sinh thái là loại hình du lịch mang đặc trưng riêng không những

Trang 11

đa dạng hóa các sản phẩm du lịch mà còn mang tính giáo dục du khách, người dântrong địa bàn bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hóa Một ý nghĩa rất lớn

về mặt xã hội là du lịch luôn hướng tới sự tham gia của người dân địa phương vàcác thành phần kinh tế tham gia vào các hoạt động dịch vụ như vai trò hướng dẫnviên cho khách du lịch, kinh doanh nhà nghỉ, ăn uống lưu niệm bán cho du khách Tóm lại du lịch không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa sâu sắc

về mặt xã hội Lợi ích của du lịch không tách rời mà gắn kết, đan xen giữa kinh tếvới văn hóa và xã hội

2.2 Những vấn đề cơ bản về du lịch biển và tính thời vụ trong du lịch biển

2.2.1 Du lịch biển và tính thời vụ trong du lịch biển

Du lịch là ngành kinh doanh dịch vụ là chủ yếu (hoạt động kinh doanh ở đâychủ yếu là phục vụ chứ không phải sản xuất) Do tác động của nhiều nhân tố khácnhau mà hoạt động du lịch mang tính thời vụ Tính thời vụ đó đã gây những tácđộng nhất định đến hoạt động kinh doanh du lịch Nghiên cứu tính thời vụ du lịchluôn là một vấn đề trọng tâm của các nhà khoa học và các nhà kinh doanh thuộclĩnh vực này

Từ sau Đại chiến thế giới thứ II cho đến cuối những năm 60 của thế kỉ trước,việc nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch chủ yếu tập trung vào nguồn gốc, bảnchất, đặc điểm của và những nhân tố quyết định đến độ dài của thời vụ du lịch.Các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới nghiên cứu vấn đề này là Hunfiker,Planina, Falkovich Lẽ đương nhiên là do đối tượng nghiên cứu được xác định nhưvậy, thì các nhà khoa học và các nhà tổ chức nghiên cứu du lịch tự đặt cho mìnhnhiệm vụ làm giảm bớt các tác động có hại của một vài nhân tố và tăng cường các biện pháp hạn chế những dao động thời vụ trong hoạt động kinh doanh của cáctrung tâm du lịch Cũng vào thời gian đó một Ủy ban chuyên trách về vấn đề kinhdoanh khách sạn thời vụ của hiệp hội quốc tế các nhà kinh doanh khách sạn ra đời

và đi vào hoạt động Tại Pháp cũng có liên hiệp các quốc gia, các nhà kinh doanh

Trang 12

khách sạn thời vụ Tại hiệp hội quốc tế ở Roma (Ý) năm 1963 về các vấn đề thời vụ

về du lịch

Thời gian gần đây tuy vẫn quan tâm đến khía cạnh lý thuyết của vấn đề này, song các tổ chức quốc gia và các tổ chức quốc tế về du lịch tập trung nhiều hơn vềviệc biên soạn, thực nghiệm và ứng dụng những kế hoạch tổng hợp nhằm hạn chếcác tác động bất lợi trong du lịch biển

Trước hết ta hiểu thế nào về du lịch biển? Tại chương I điều 4 Luật du lịch ViệtNam tháng 6/2005 quy định: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đicủa con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầutham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.Vậy có thể suy rộng ra du lịch biển bằng cách cho các hoạt động đó diễn ra gắnliền với biển

Cho đến nay, nhiều tác giả có chung quan điểm về tính thời vụ du lịch như sau: Tính thời vụ du lịch là sự dao động lặp đi lặp lại đối với cung cầu của các dịch vụhàng hóa du lịch, xảy ra dưới tác động của các nhân tố nhất định là khoảng thờigian của một chu kì kinh doanh, mà tại đó có sự tập trung cao nhất của cung cầu

du lịch Đối với du lịch biển việc xác định thời vụ rõ ràng hơn, bởi sự dao động nàychỉ diễn ra một lần trong năm Như vậy, tính thời vụ trong du lịch biển thể hiện rõnét: mùa hè lượng khách du lịch rất lớn trong khi dòng du khách về mùa đông là cóthể không có Tuy nhiên thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không phải làyếu tố bất biến mà chúng biến đổi dưới tác động của nhiều nhân tố

2.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến tính thời vụ du lịch biển

Tính thời vụ trong du lịch tồn tại bởi tác động của tập hợp nhiều nhân tố đadạng Đó là các nhân tố tự nhiên, nhân tố kinh tế- xã hội, nhân tố tổ chức, kỹthuật, nhân tố tâm lý, vv

Một số nhân tố có ảnh hưởng chủ yếu đến cung, một số đến cầu, một sốkhác ảnh hưởng đến cả cung và cầu của thị trường du lịch biển Tính thời vụtrong du lịch biển đã gây ra rất nhiều khó khăn cho việc kinh doanh đạt hiệu

Trang 13

quả Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả trong kinh doanh du lịch cần nghiên cứu tỉ

mỉ những nhân tố quyết định tính thời vụ trong du lịch không chỉ ở phạm vi mộtđất nước mà cả ở những vùng riêng biệt với những điều kiện kinh doanh cụ thể

Vì vậy, nghiên cứu các nhân tố một cách khoa học và toàn diện sẽ cho phép các

cơ quan và các nhà quản lý du lịch định ra các chính sách phát triển ngành pháttriển vùng và xí nghiệp du lịch một cách đúng đắn nhằm giảm tác động bất lợicủa đa số các nhân tố và kết quả kéo dài được thời vụ du lịch

Sơ đồ 1: Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thời vụ trong du lịch biển

(Nguồn: Giáo trình kinh tế du lịch)

Trang 14

hậu là rất lớn Trong đó, các thành phần của khí hậu như cường độ ánh nắng, độ

ẩm, độ mạnh và hướng của gió, nhiệt độ cộng với một số đặc điểm khác của bờbiển như: độ sâu của bờ biển, kích thước của bãi tắm v.v quyết định mức độ tiệnnghi phù hợp với việc tắm và phơi nắng của khách, từ đó dẫn đến việc xác địnhgiới hạn của thời vụ du lịch Tuy nhiên giới hạn đó có thể mở rộng ra hoặc thu hẹplại tuỳ thuộc vào đòi hỏi của khách du lịch và tiêu chuẩn của họ khi sử dụng tàinguyên du lịch

Thí dụ : Đối với khách du lịch Bắc Âu, nhiệt độ nước biển từ 15-160C là phùhợp để tắm hoặc mùa du lịch có thể kéo dài hơn

Đối với các đối tượng khách du lịch khác thì nhiệt độ nước biển phải từ 20-250C (hoặc cao hơn) nên mùa du lịch bị co ngắn lại

Tóm lại, khí hậu có tính quyết định độ dài của thời vụ du lịch biển

b Nhân tố mang tính kinh tế - xã hội

Trong 4 nhóm nhân tố mang tính kinh tế xã hội có 4 nhân tố chính bao gồm:

- Nhân tố quyết định tới sự phân bổ quỹ thời gian nhàn rỗi của các nhóm dân cư. Sự phân bổ không đồng đều quỹ thời gian nhàn rỗi của các nhóm dân cưgây ảnh hưởng đến sự phân bổ không đồng đều của nhu cầu du lịch biển Mộttrong những điều kiện cần thiết quan trọng để con người có thể đi du lịch là phải cóthời gian rảnh rỗi Khi xét tác động của thời gian rảnh rỗi lên tính thời vụ trong kinhdoanh du lịch phải xét từ hai khía cạnh

+ Khía cạnh thứ nhất : Là thời gian nghỉ phép năm có thể tác động lên tính thời

vụ du lịch do độ dài của thời gian nghỉ phép và thời gian sử dụngphép trong năm Thực tế cho thấy, ở những quốc gia có thời gian nghỉ phép nămngắn thì người dân thưòng chỉ có thể đi du lịch một lần trong năm Khi đó họ có xuhướng chọn thời gian chính vụ để nghỉ với mong muốn tận hưởng được những cáitốt nhất cho những ngày nghỉ phép quý giá Do vậy, sự tập trung của cầu du lịchthường cao vào thời vụ du lịch chính Nếu số ngày nghỉ phép năm được kéo dài sẽcho phép con người có thể đi du lịch nhiều lần hơn trong năm Như vậy, sự gia tăng

Trang 15

thời gian nhàn rỗi góp phần làm giảm cường độ của thời vụ du lịch và tăng cường

độ tập trung nhu cầu vào thời vụ du lịch truyền thống

+ Khía cạnh thứ hai : Là thời gian nghỉ của các trường học Thời gian nghỉhọc trong năm tác động lên thời gian nhàn rỗi của học sinh và phụ huynh học sinh

và qua đó đóng vai trò giới hạn trong việc lựa chọn thời gian đi du lịch của các bậccha mẹ có con từ độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi Tác động nghỉ của các trường học cũngphải được nghiên cứu trên hai mặt: độ dài của thời gian nghỉ và sự phân bố củathời gian nghỉ trong năm Đối với các nơi phát triển du lịch biển tác động của nhân

tố thời gian nghỉ của các trường học lên tính thời vụ du lịch khá biểu hiện rõ nét Ởnước ta cao trào du lịch biển không nằm ngoài vòng xoáy đó, thường nằm vàotháng 7 khi đó học sinh, sinh viên vừa qua một kì thi căng thẳng

Khi nghiên cứu mức độ tác động của thời gian nghỉ của trường học gây nên sựtập trung nhu cầu du lịch vào thời vụ chính Trên thực tế thì mỗi nước khác nhauthì có cơ cấu dân cư theo độ tuổi và hoàn cảnh gia đình khác nhau Do vậy, việcnghiên cứu đòi hỏi phải rất cụ thể và rất tỉ mỉ, tốn nhiều công sức và khó tổng hợpthành xu hướng chung

- Phong tục tập quán: Qua điều tra xã hội học mới đây ở Hoa Kì và một sốnước Châu Âu cho thấy : phong tục, tập quán là những nhân tố tác động trực tiếplên, cầu du lịch và tạo nên sự tập trung của cầu du lịch vào những thời vụ nhấtđịnh

Thông thường, các phong tục, tập quán có tính chất lịch sử bền vững Cùngvới sự thay đổi của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội có thể sẽ tạo thêm nhiềuphong tục mới nhưng khó có thể thay đổi được các phong tục cũ Nhiều khi phongtục đã trở thành đã tạo thành thói quen cho con người như việc đi du lịch biển phải

đi vào mùa hè còn các mùa khác không có

- Điều kiện về tài nguyên du lịch: Chỉ có thể phát triển thể loại du lịch nào

sẽ gây ảnh hưởng đến tính thời vụ du lịch của điểm du lịch tương ứng Đây là nhân

tố tác động đến cung và cầu Như một điểm du lịch biển thì thời vụ du lịch tại đó sẽ

Trang 16

ngắn hơn tại một điểm du lịch khác có điều kiện phát triển du lịch văn hoá.

- Nhân tố mang tính tổ chức kĩ thuật

+ Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch - đây là nhân tố quyết định đến độdài của thời vụ thông qua khả năng cung cấp dịch vụ du lịch

+ Cơ cấu của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và cách tổ chức hoạt độnghay cơ sở du lịch ảnh hưởng lớn đến việc phân bố các nhu cầu có khả năng thanhtoán theo thời gian Ví dụ : Cơ sở lưu trú chính thì thường có thời gian kinh doanhdài hơn cơ sở lưu trú phụ Vào mùa đông, các cơ sở tạm trú chính vẫn có thể cókhách còn các cơ sở lưu trú phụ có thể không có hoặc ít Các khu du lịch biển pháttriển các loại hình du lịch đa dạng sẽ thu hút được khách trái vụ và như vậy có thểkéo dài thời vụ du lịch

c Các nhân tố khác

Nhân tố mang tính tâm lý (nhân tố về mốt và sự bắt chước) : Một số ngườimuốn đi nghỉ ở một vùng, một đất nước mà họ không hề biết đến các điều kiện cụthể về ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí Khi đó họ chọn thời gian đi nghỉ theokhách du lịch có kinh nghiệm hoặc các nhân vật nổi tiếng Ấn tượng tốt đẹp ở lần

du lịch trước mà họ sẽ quyết định đi du lịch lần nữa vào mùa du lịch năm sau đốivới khu du lịch đó

Các nhân tố đặc biệt : một số khách sạn phục vụ chính là đối tượng kháchcông vụ thì thời vụ của các khách sạn này phụ thuộc lớn vào thời gian họp, tổngkết của các cơ quan, doanh nghiệp

Thông thường các nhân tố trên vừa tác động riêng lẻ, vừa tác động đồng thời.Người ta thường thấy ảnh hưởng của một vài nhân tố cùng một lúc, ngoài ra tácđộng của từng nhân tố có thể giảm đi khi nhân tố khác tác động ngược lại Như tácđông của nhân tố khí hậu trong du lịch biển sẽ làm giảm nếu tạo ra cơ cấu của cơ

sở vật chất thích hợp, xây dựng nhiều khu vui chơi giải trí Điều đó chứng tỏ rằngnghiên cứu nhiều cường độ và hướng tác động của từng nhân tố là chưa đủ mà cầnxác lập mối quan hệ và ràng buộc qua lại giữa chúng Như vậy mới vạch ra được

Trang 17

mọi khả năng kéo dài mùa kinh doanh du lịch, sử dụng hợp lí hơn nguồn lao độngtrong cả năm nâng cao chất lượng phục vụ du lịch tăng nguồn thu nhập của dulịch.

2.2.3 Các tác động bất lợi của tính thời vụ trong du lịch biển

Tính thời vụ trong du lịch ảnh hưởng bất lợi đến tất cả các thành phần củaquá trình du lịch - đến dân cư sở tại, đến chính quyền địa phương và nhất là đếnkhách du lịch và nhà kinh doanh du lịch

a Các tác động bất lợi đến dân cư sở tại

Khi cầu du lịch tập trung quá lớn gây nên sự mất cân đối, mất ổn định đối vớicác phương tiện giao thông đại chúng, đối với mạng lưới phục vụ xã hội (giaothông công chính, điện, nước mạng lưới thương nghiệp v.v ), làm ảnh hưởng đếncuộc sống và sinh hoạt hàng ngày của nhân dân địa phương

Khi cầu du lịch giảm xuống và tới mức bằng không thì những người làm hợpđồng theo thời vụ sẽ không còn việc Ngoài ra, ngay cả những nhân viên cố địnhngoài thời vụ cũng có thu nhập thấp hơn

b Các tác động bất lợi đến chính quyền địa phương

Khi cầu du lịch tập trung quá lớn sẽ gây ra không ít những sự mất thăng bằngcho việc bảo vệ trật tự an ninh và an toàn xã hội Ở mức độ nhất định, tính thời vụgây ra những khó khăn cho việc quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch (ở cảcấp trung ương và cấp địa phương)

Khi cầu du lịch giảm xuống và tới mức bằng không thì những khoản thu nhập

từ thuế và lệ phí do du lịch đem lại cho du lịch cũng giảm

c Các tác động bất lợi đến khách du lịch

Khi cầu du lịch tập trung lớn làm hạn chế khả năng tìm chỗ nghỉ thích hợp vớithời gian tự chọn theo ý muốn Ngoài ra, vào mùa du lịch chính thường xảy ra tìnhtrạng tập trung nhiều khách du lịch trên phương tiện giao thông, trong các cơ sởlưu trú ở các nơi du lịch Điều đó làm giảm tiện nghi khi đi lại, lưu trú của khách Dovậy, dẫn đến việc giảm chất lượng phục vụ khách du lịch

Trang 18

d Các tác động bất lợi đến nhà kinh doanh du lịch

Tính thời vụ trong du lịch biển gây ra nhiều khó khăn trong việc tổ chức kinhdoanh cùa ngành du lịch, ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động từ chất lượng phục

vụ du lịch, tổ chức và sử dụng nhân lực, việc tổ chức các hoạt động cung ứng, cácngành kinh tế và dịch vụ liên quan; dịch vụ công cộng đến tài nguyên du lịch và cơ

sở vật chất kỹ thuật

Có thể thấy rằng tính thời vụ trong du lịch biển tác động bất lợi đến hoạt độngkinh doanh cả khi cầu du lịch tăng tới mức vượt quá khả năng cung cấp của các cơ

sở kinh doanh đến khi cả cầu du lịch giảm xuống tới mức bằng không

2.3 Du khách và loại du khách trong du lịch biển

Định nghĩa về khách du lịch xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỉ thứ XVIII tạiPháp Đến đầu thế kỉ XX một số nhà kinh tế học như Iozef Stander, OdgilVi, Moral đưa ra khái niệm về du khách Hầu hết các định nghĩa trên đều mang tính phiếndiện, chưa đầy đủ chủ yếu mang tính chất phản ánh sự phát triển của du lịchđương thời và xem xét không đầy đủ, hạn chế nội dung thực của khái niệm khách

Trang 19

biệt giữa khách tham quan trong ngày và khách du lịch là người nghỉ qua đêmhoặc có sử dụng một tối trọ);

- Thứ ba, đề cập đến những đối tượng được thống kê; là khách du lịch vànhững đối tượng không được thống kê là khách du lịch như dân di cư, khách quácảnh,

Trong pháp lệnh Du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999 có quy định nhưsau về khách du lịch: tại điểm 2, Điều 10, Chương I: “Khách du lịch là người đi dulịch hoặc kết hợp du lịch, trừ trường hợp đi học, hoặc hành nghề để nhận thu nhập

“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước

ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú

tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”

Du khách trong du lịch biển là những du khách với mục đích về với

thiên nhiên, tham gia các hoạt động du lịch như tắm biển, thể thao biển

Với thời gian thuận lợi nhất là vào mùa nóng, khi đó nhiệt độ nước biển và

không khí trên 200C Tất nhiên tùy vào thời gian rỗi cũng như sở thích của

du khách mà họ đến với biển bất cứ thời gian nào

2.3.2 Phân loại du khách trong du lịch biển

Du khách có rất nhiều cách phân loại, tùy vào mục đích mà ta có các

cách phân loại khác nhau Song nếu dựa vào động cơ du lịch hay mục đích

du lịch thì cơ bản có các loại khách du lịch như sơ đồ

Sơ đồ 2: Phân loại khách du lịch theo mục đích chuyến đi

Trang 20

Do tính mùa vụ trong du lịch biển nên ta có thể phân loại như sau:+ Khách vào mùa đông: khách vào mùa này trong du lịch biểnchủ yếu là du khách với mục đích kết hợp nghĩa là công việc chính của họ

là nghiên cứu, công tác, hội họp, tìm kiếm cơ hội làm ăn trên đường đihay tại nơi đến họ sắp xếp thời gian cho tham quan nghỉ ngơi của họ tạikhu du lịch biển Các loại du khách chủ yếu ở đây chính là du khách công

vụ hoặc các loại du khách với mục đích khác như nghiên cứu Khách vớimục đích giải trí rất ít - thường thì ở các nước phát triển, với các bãi biểnphù hợp, mục đích thể thao cũng khá phát triển như lướt sóng, các thúchơi mạo hiểm Còn đối với nước ta thì loại du khách này trong du lịchbiển hầu như không có Các thủy thủ, phi hành đoàn mùa đông hay mùa

hè đều là khách tham quan của các khu du lịch biển

+ Khách vào mùa hè thì phong phú và đa dạng hơn Đây là mùa

vụ chính của du lịch biển, nên lượng du khách về với biển rất đông trong

đó chủ yếu là khách giải trí, vui chơi

(Nguồn: Giáo trình kinh tế du lịch)

Trang 21

2.4 Các loại hình kinh doanh dịch vụ du lịch trong du lịch biển

2.4.1 Các loại hình du lịch thường có trong du lịch biển

Ngày nay đời sống con người ngày càng đi lên Không chỉ dừng lại ởcác nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại mà còn cả những nhu cầu vui chơi giải trí.Chính vì thế, các loại hình du lịch trong du lịch nói chung và trong du lịchbiển nói riêng ngày càng phong phú và đa dạng để đáp ứng nhu cầu củacon người Dựa vào tính chất đặc biệt trong du lịch biển - tính mùa vụ rõrệt và nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch mà có thể phân loại du lịchthành những loại hình sau:

- Du lịch chữa bệnh: Ở thể loại này khách đi du lịch do nhu cầu điều trịcác bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ Du lịch chữa bệnh trong dulịch biển là bằng khí hậu Kết hợp giữa không khí trong lành và vui chơigiải trí sẽ giúp cho tinh thần sảng khoái, thân thể khoẻ mạnh

- Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: Nhu cầu chính làm nảy sinh hình thức dulịch này là sự cần thiết phải nghỉ ngơi để phục hồi thể lực và tinh thần chocon người Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, làm cuộc sống thêm

đa dạng và giải thoát con người ra khỏi áp lực của cuộc sống hàng ngày

- Du lịch thể thao: du lịch thể thao chủ động khách du lịch có thể đitham gia trực tiếp vào hoạt động thể thao như bóng chuyền bãi biển, bóng

đá, lướt ván trên biển hoặc du lịch trên tàu, du lịch lặn biển

- Du lịch công vụ: Mục đích chính của loại hình du lịch này là nhằmthực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó Với mục đích này,khách tham dự các cuộc hội nghị, hội thảo, kỉ niệm các ngày lễ lớn, cáccuộc gặp gỡ, các cuộc triển lãm hàng hóa hội chợ và kết hợp cùng du lịchbiển

- Du lịch thăm thân, du lịch quê hương: loại du lịch này phần lớn nảysinh do nhu cầu của những xa quê hương, đi thăm bà con họ hàng, bạn bèthân quen, đi dự lễ cưới lễ tang

Trang 22

- Du lịch lễ tang: nảy sinh do nhu cầu đi qua lãnh thổ của một nướcnào đó, một vùng nào để đi đến nước khác.

2.4.2 Các lĩnh vực kinh doanh du lịch

Để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách

du lịch, đòi hỏi cần phải có các loại hình kinh doanh dịch vụ tương ứng

- Kinh doanh lữ hành: Khi nói đến hoạt động kinh doanh lữ hành,nói chung các chuyên gia về du lịch muốn đề cập đến hoạt động chínhnhư “làm nhiệm vụ giao dịch, kí kết các tổ chức kinh doanh du lịch trongnước, nước ngoài để xây dựng và thực hiện các chương trình du lịch đểbán cho khách du lịch” Tuy nhiên, trên thực tế, khi nói đến hoạt động kinhdoanh du lịch lữ hành thì song song tồn tại hai hoạt động phổ biến sau:kinh doanh lữ hành và kinh doanh đại lý lữ hành

- Kinh doanh khách sạn (Hospitality Business): Theo nguyên bảntiếng Anh “Hospitality Industry” có thể hiểu là “ngành khách sạn” Tuynhiên, vấn đề quan trọng hơn là hiểu đúng nội dung của lĩnh vực hoạtđộng kinh doanh du lịch mà chúng ta muốn đề cập Theo quy chế quản lý

lữ hành của tổng cục Du lịch Việt Nam ban hành ngày 29/04/1995 , thuậtngữ “kinh doanh khách sạn” được hiểu là “làm nhiệm vụ tổ chức đón tiếp,phục vụ việc khách lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, bán hàng cho khách

du lịch”

- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch (Transportation): Khi đềcập đến hoạt động kinh doanh du lịch nói riêng không thể không đề cậpđến hoạt động kinh doanh vận chuyển, Kinh doanh vận chuyển là hoạtđộng kinh doanh giúp cho khách du lịch chuyển từ nơi mình cư trú đếnđiểm du lịch cũng như dịch chuyển tại điểm du lịch

Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh này có nhiều phương tiện vậnchuyển khác nhau như ô tô, tàu hoả, tàu thuỷ, máy bay Thực tế cho thấy

ít có các doanh nghiệp du lịch (trừ một số tập đoàn trên thế giới) có thể

Trang 23

đảm nhiệm toàn bộ việc vận chuyển khách du lịch từ nơi cư trú của họ đếnđiểm du lịch Phần lớn trong các trường hợp, khách du lịch sử dụng dịch vụvận chuyển của các phương tiện giao thông đại chúng hoặc của các công

ty chuyên kinh doanh dịch vụ vận chuyển

- Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác (Other Tourism Business) Ngoài các hoạt động kinh doanh như đã nêu trên, trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch còn một số hoạt động kinh doanh bổ trợ như kinh doanh các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí, tuyên truyền, quảng cáo du lịch, tư vấnđầu tư du lịch vv

2.5 Một số bài học kinh nghiệm về giải pháp hạn chế tính thời

vụ trong du lịch biển

Tác động nhiều mặt của tính thời vụ trong du lịch biển đòi hỏi phải cóphương pháp thích hợp trong hoạt động nhằm hạn chế những tác độngbất lợi trên toàn ngành của các cơ sở trực thuộc Nhiều thành tựu của khoahọc và kinh nghiệm của nhiều nước phát triển du lịch cho thấy có các biệnpháp hạn chế tính thời vụ trong du lịch biển như sau:

• Làm tăng mức độ phù hợp tối ưu giữa cung và cầu, để làm được

điều này cần:

+ Tổ chức lao động hợp lý - các doanh nghiệp có quỹ lao động cơhữu và lao động theo hợp đồng theo thời vụ

+ Liên kết với các đơn vị kinh doanh, các vùng lân cận để hỗ trợ

về nguồn nhân lực khi quá tải

+ Tạo công ăn việc làm ngoài thời vụ du lịch cho cán bộ côngnhân viên, ngưòi lao động của địa phương, vùng

• Làm kéo dài mùa vụ du lịch:

+ Đạt được sự tương xứng giữa cường độ và độ dài thời vụ du lịchchính

+ Làm sống động hoạt động của khu du lịch nghỉ biển và nâng

Trang 24

cao sức hấp dẫn của chúng trước và sau mùa vụ du lịch chính.

+ Tận dụng tài nguyên chữa bệnh đã có và chuyển hoạt độngkinh doanh của một phần cơ sở vật chất kĩ thuật sang hoạt động quanhnăm

• Tạo điều kiện cho thời vụ thứ hai:

Một vấn đề quan trọng khác nhằm hạn chế ảnh hưởng bất lợi củathời vụ đối với từng khu du lịch là việc tạo điều kiện cho thời vụ thứ hai.Điều đó phải xác định được những loại hình du lịch mới có thể phát triển ởđây Việc đánh giá đòi hỏi phải dựa trên những tiêu chuẩn sau:

+ Tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch ngoài mùa vụ du lịch chính.+ Khả năng huy động tài nguyên du lịch chưa được khai thác.+ Nguồn khách triển vọng theo số lượng và cơ cấu

+ Chất lượng và cơ cấu của cơ sở vật chất kĩ thuật đã có (đánhgiá theo hướng có lợi của cơ sở đó trong việc thoả mãn nhu cầu cho nhómkhách du lịch khác)

+ Lượng vốn cần thiết để đầu tư thêm trang thiết bị để thoả mãnquanh năm nhu cầu của đa số khách du lịch

Qua nghiên cứu, để tạo ra du lịch thứ hai cho khu du lịch cần phải làm những việc sau:

+ Hoạt động của khu du lịch biển thêm phong phú thêm nhờ dulịch chữa bệnh (thể loại này có thu hút thêm khách du lịch ở lứa tuổi thứ

ba vào trước và sau ngoài mùa du lịch) Các chuyến du lịch tìm hiểu theotuyến, du lịch hội nghị và các chuyến du lịch của các nhóm với những nhucầu đặc biệt vào trước và sau và ngoài mùa du lịch

+ Các trung tâm thể thao mùa đông có thể thu hút khách du lịchquanh năm với các hoạt động thể thao khác như quần vợt, đánh golf

+ Các trung tâm du lịch công vụ có thể đa dạng hoá hoạt độngcủa mình bằng cách tạo ra những điều kiện thuận lợi vào mùa hè để thu

Trang 25

Như vậy, với việc nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch biển, các nhàkhoa học quốc tế và trong nước đã tìm ra những giải pháp hữu hiệu đểhạn chế phần những tác động bất lợi trong tính thời vụ du lịch biển Ápdụng các biện pháp này vào mỗi vùng, mỗi miền, mỗi quốc gia đều phảidựa vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của nơi đó để đạt hiệuquả cao nhất.

Trong thực tế nhiều bãi biển có điều kiện thuận lợi đã thu hút dukhách về quanh năm như bãi biển Nha Trang, còn như bãi biển Đồ Sơn(Hải Phòng) thì biện pháp của họ là phát triển du lịch sinh thái để hạn chếtính thời vụ trong du lịch biển

2.6 Tóm tắt một số nghiên cứu trước đây

1) Trần Thị Loan (2006) ‘Thực trạng hoạt động của một số loại hìnhdịch vụ du lịch tại khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, huyện Hoa Lư, tỉnhNinh Bình’, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường đại học Nông nghiệp I,

Hà Nội

Đề tài dựa trên điều kiện tài nguyên du lịch, khái quát tình hình hoạtđộng dịch vụ du lịch chủ yếu ở Tam Cốc là dịch vụ ăn uống lưu trú, ănuống, lưu trú, chèo thuyền và bán đồ lưu niệm Nghiên cứu những ảnhhưởng những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dịch vụ du lịch và nhữngkết quả hoạt động du lịch từ đó đưa ra những đánh giá Đồng thời dự báomột số chỉ tiêu du lịch, đưa ra những giải pháp khắc phục dựa trên địnhhướng phát triển du lịch tại Tam Cốc,

Trang 26

2) Vũ Đình Quế (2007) ‘Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triểnkinh tế du lịch ở thị xã Sầm Sơn’, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học QuốcGia Hà Nội

Luận văn nghiên cứu khái quát tình hình hoạt động du lịch thị xã SầmSơn từ năm 1991 đến năm 2007 Căn cứ vào đánh giá thực trạng kinh tế

du lịch Sấm Sơn những năm qua, chủ yếu xét về những tồn tại và nguyênnhân khách quan, chủ quan của những tồn tại trên Nhằm phát huy tiềmnăng và lợi thế, trên cơ sở năng lực phát triển Luận văn đề xuất hệ thốngcác giải pháp để phát triển kinh tế du lịch Sầm Sơn trong những năm tớinhằm đưa kinh tế du lịch thị xã Sầm Sơn ngày càng phát triển trong tiếntrình hội nhập

3) Mai Thị Ánh Tuyết (2009) ‘Giải pháp khắc phục những tác độngtiêu cực của thời vụ du lịch trên địa bàn tỉnh An Giang’, Tạp chí Du lịch ViệtNam, số 61, trang 12-19

Tỉnh An Giang là tỉnh có điều kiện tự nhiên và truyền thống văn hóalịch sử thuận lợi để phát triển du lịch nhưng hoạt động du lịch của tỉnhchưa được chú trọng và phát triển Trước tình hình đó, tác giả nghiên cứuthực trạng du lịch của An Giang từ năm 2005 đến năm 2009 thông quatổng lượng khách, thời gian lưu trú của khách và đánh giá của du khách về

ẩm thực, môi trường, thắng cảnh Đồng thời tác giả cũng đưa ra tác độngcủa thời vụ du lịch và nhận định về các yếu tố ảnh hưởng đến thời vụ dulịch của tỉnh An Giang Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra các giải phápgiảm những tác động tiêu cực của thời vụ du lịch ở địa bàn tỉnh An Giang

Trang 27

Phần III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điếm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

• Địa hình đồng bằng ven biển:

Khu vực phía Tây thị xã Sầm Sơn là sông Đơ từ Trường Lệ đến sông

Mã Đây là khu vực trước đây bị ngập mặn, sau khi đắp đập Trường Lệ đãngọt hóa dần; cấu thành địa hình ở đây là cát pha sét, bề dày lớp mặt từ1,2 m - 2,0 m Cốt tự nhiên khu vực từ 0,7 - 1,5m địa hình trũng thấpkhông bằng phẳng với tổng diện tích là 300 ha

Khu vực phía Đông Bắc Sầm Sơn (xã Quảng Cư) có khu vực hồ nướcngập mặn, địa hình tương tự như phía Tây diện tích khoảng 200 ha Hiện nay là hồ nuôi tôm cá của nhân dân; cốt trung bình từ 0,5 m - 2,0 m

Khu vực trung tâm thị xã Sầm Sơn chạy từ núi Trường Lệ đến bờ namsông Mã, địa hình bằng phẳng, cốt trung bình 2,5m - 4,5m Khu vực nàykhông bị ngập nước, thuận lợi cho việc xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, khuvực trung tâm hành chính và khu dân cư, diện tích 700 ha

Khu vực phía Đông đường Hồ Xuân Hương kéo dài đến xã Quảng Cư là dải cát mịn, thoải dốc dần ra biển phù hợp với yêu cầu của bãi tắm (2 - 5%) với diện tích khoảng 150 ha

* Địa hình đồi núi thấp:

Bao gồm toàn bộ dải núi Trường Lệ, nằm ở phía Nam thị xã Sầm Sơn,

Trang 28

độ dốc của núi thoải có thể xây dựng được các công trình nhà nghỉ, kháchsạn, khu resort và các công trình phục vụ vui chơi giải trí trên núi diện tíchkhoảng 300 ha.

Tổng lượng mưa trung bình năm khoảng 1.700 - 1.800 mm nhưngbiến động đều Năm ít lượng mưa chỉ đạt 1.000mm; năm nhiều có thể lêntới 3.000mm

Trong năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa ít nhất từ tháng 12 đếntháng 4 năm sau; tổng lượng chiếm 15% cả năm: mùa mưa nhiều từtháng 5 đến tháng 11, tháng 8 nhiều mưa nhất đạt tới 896 mm, trong 24giờ có thể đạt tới 700mm Nửa sau mùa lạnh thường có mưa phùn

Trang 29

* Gió bão:

Sầm Sơn là cửa ngõ đón gió từ biển Đông thổi vào, tốc độ gió khámạnh, gió chủ đạo vẫn là gió Đông Nam, tốc gió trung bình 1,8m/s

+ Gió Đông Nam xuất hiện vào tháng 4 và kết thúc vào

tháng 9 + Gió mùa Đông Bắc vào tháng 10 dến tháng 12

+ Gió bão ở Sầm Sơn khá mạnh có thể đạt tới 38 đến 40m/s (trên cấp 12) bão trực tiếp đổ bộ vào Sầm Sơn chủ yếu là tháng 6 đến hết tháng 9

d Đặc điểm thủy văn

Sầm Sơn trực tiếp chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn của hệ thốngSông Chu và Sông Mã (Sông Đơ nằm phía Tây thị xã ít ảnh hưởng đến thuỷvăn Sầm Sơn)

Sông Mã đổ ra biển hàng năm khoảng 17 tỷ m3 nước, riêng cửa Hới là

14 tỷ m3 nước Mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau chiếm khoảng22% tổng lượng nước cả năm

Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10 chiếm 78% tổng lượng nước cả năm

Lũ lụt lớn xảy ra vào tháng 8, tháng 9; trong trường hợp lũ lớn gặp gió bãohoặc gió mùa Đông Bắc mức nước ở cửa sông lên rất cao

Chế độ triều ở biển Sầm Sơn là chế độ triều không thuần nhất, chu kỳtriều trên dưới 24 giờ, ngoài ra cũng có bán nhật triều nhưng rất ít, thờigian triều lên ngắn (khoảng 9 giờ); thời gian triều xuống từ 14 đến 15 giờ.Nhìn chung triều Sầm Sơn yếu trung bình một ngày biên độ trung bình chỉkhoảng 150cm lớn nhất là 300 cm cách cửa Hới 40 km xem như triều đãtắt

Độ mặn: Độ mặn ở cửa sông không vượt quá 32o/oo đến 35o/oo trênsông Mã cách cửa Hới 29 km độ mặn của nước chỉ đạt 0,02o/oo (bằng nước

tự nhiên)

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

a về điều kiện kinh tế

Trang 30

Sầm Sơn là thị xã ven biển, có lợi thế về phát triển kinh tế du lịch vàhải sản, ngoài ra còn có các ngành kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp,giao thông vận tải, nhất là vận tải biển, nghề xây dựng và nông nghiệp Từ

1991 đến nay qua các kỳ Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XI, XII, XIII và XIV

đã xác định cơ cấu ngành kinh tế nói chung là: Du lịch dịch vụ - Nông lâmngư - Công nghiệp và xây dựng Trong đó du lịch và nghề cá là hai ngànhkinh tế trọng yếu của địa phương

(Nguồn: Phòng thống kê uỷ ban thị xã)Năm 2007, kinh tế tăng trưởng 16,0%, thu nhập bình quân đầu người là13,12 triệu đồng/năm Sang năm 2008 với tốc độ tăng trưởng kinh tế là28,7%, thu nhập bình quân đầu người đạt 16,8% Tính đến năm 2009, tốc

độ tăng trưởng kinh tế của thị xã là 24,2%, thu nhập bình quân tăng lên

Bảng 3.1: Cơ cấu ngành kinh tế qua các năm ở thị xã Sầm Sơn

TT

Chỉ tiêu

Giá trị( tỷ đ)

CC(%) Giá trị

( tỷ đ)

CC(%) Giá trị

( tỷ đ)

CC(%)

Trang 31

đạt 12,3 triệu đồng/năm.

Từ số liệu về tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầungười và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thị xã Sầm Sơn 3 năm gầnđây cho thấy:

+ Sầm Sơn là ngành kinh tế số 1 của thị xã có tốc độ tăng trưởngcao nhất Tạo ra nguồn thu ngân sách lớn cho tỉnh và là yếu tố quyết địnhđưa cuộc sống của người dân đi lên

+ Nghề cá, hiện thị xã có 1.245 tàu thuyền các loại tính đến năm

2009 với tổng công suất 3.600 CV Trong đó có gần 20% số tàu có khảnăng khai thác xa bờ Sản lượng hải sản đánh bắt năm 2009 đạt gần15.000 tấn

+ Nông nghiệp, do diện tích canh tác hẹp nên sản lượng thấp,hàng năm chỉ đạt trên dưới 2000 tấn Chăn nuôi chủ yếu là nuôi trồng đặcsản biển, sản lượng bình quân 180 tấn/năm

+ Công nghiệp, xây dựng và tiểu thủ công nghiêp phát triển ổnđịnh Chủ yếu sản xuất vật liệu xây dựng, mộc dân dụng, hàng lưu niệm

và hàng xuất khẩu như đồ thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, thêu ren nghệthuật

+ Giao thông vận tải, xây dựng đủ năng lực để vận chuyển tàuhàng hoá, vận chuyển hành khách, thị xã có những đội tàu đi đến khu cácnước Bắc Á và các nước trong khu vực Đông Nam Á Nghề xây dựng pháttriển đã vươn ra ngoài thị xã thi công nhiều công trình lớn có uy tín

b Về điều kiện xã hội

Sầm Sơn hiện có 61345 người, sinh sống ở 5 đơn vị hành chính (3phường 2 xã), 14000 hộ dân Trên cơ sở và điều kiện kinh tế phát triển, đờisống vật chất tinh thần của nhân dân thị xã không ngừng được cải thiện.Sầm Sơn đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2004,trình độ dân trí được nâng lên; 3/5 xã phường đạt tiêu chuẩn Quốc gia về y

Trang 32

tế dự phòng, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân cho sức khoẻ nhân dânđược bảo

đảm 20 năm qua không có dịch bệnh lớn xảy ra Đến nay, 49/49 thôn vàkhu phố, 43 đơn vị cơ quan đã đăng kí cơ quan đơn vị, làng văn hoá Trong

đó 29 thôn, khu phố, 25 cơ quan tỉnh) Hàng năm khoảng 70% số hộ đatgia đình văn hóa, trên 30% gia đình thể thao, trên 20% gia đình hiếu học

Có thể nói phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đã gặthái được thành công đáng khích lệ, nếp sống văn minh đô thị, văn hóa giaotiếp du lịch nhiều tiến bộ

Bảng 3.2: Bảng một số chỉ tiêu văn hoá - xã hội Sầm Sơn thời kì

2007 - 2009

Chương trình xoá đói giảm nghèo luôn được luôn được cấp uỷ đảng,chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm thực hiện có hiệu quả,đời sống các tầng lớp nhân dân được nâng lên Đến nay, thị xã có hơn 60%

TT Chỉ tiêu Đơn vị 2007 2008 2009

1 Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên % 1,1 1,0 1,0

2 Lao động được tạo việc làm mới người 800 900 1.200

3 Tỷ lệ lao động thiếu việc làm thường

4 Lao động được tạo việc làm mới % 34 35 37

5 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia % 11,0 10,99 10,0

6 Tỷ lệ gia đình văn hóa % 70,0 70,0 72,0

7 Tỷ lệ gia đình luyện tập thể thao % 40 45 46

8 Tổng số học sinh học sinh 12.786 12.129 12.449

9 Tỷ lệ phổ cập THCS % 82 84 86

10 Số trường chuẩn quốc gia trường 8 9 9

11 Số giường bệnh/ vạn dân giường 20 19,6 19,44

Trang 33

hộ giàu và khá, hộ nghèo chỉ còn 10%; thị xã không còn nhà tranh tre nứalá; trên 50% số hộ có nhà kiên cố và cao tầng; 100% số hộ dùng điện sángquốc gia; trên 90% số hộ dùng nước sạch; 95% số hộ có phương tiện nghenhìn, 60% số hộ có xe gắn máy; gần 11 máy điện thoại/ 100 dân (không kểđiện thoại di động) và khoảng trên 15% dân số sử dụng Internet, 12 bácsỹ/ 10.000 dân.

Bên cạnh các yếu tố về văn hoá, xã hội, kinh tế và đời sống, an ninhtrật tự an toàn xã hội luôn được đảm bảo giữ gìn; Đồn Công an Sầm Sơn,đồn Biên phòng 122 là các đơn Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời

kì đổi mới đã sát cánh cùng lực lượng quân sự thị xã làm nòng cốt trongxây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, an toàn Làm chủ, sẵn sàng chiếnđấu góp phần xây dựng thị xã yên bình, xây dựng môi trường du lịch lànhmạnh môi trường du lịch lành mạnh phát triển

c Điều kiện nhân văn

Sầm Sơn có nhiều di tích - danh lam thắng cảnh được phân bố đều ở 5

xã, phường đã được Bộ Văn hoá - Thông tin và Sở Văn hoá - Thông tinThanh Hoá công nhận Như Đền Độc Cước, Đền Cô Tiên, Đền Tô HiếnThành, Hòn Trống Mái

Hàng năm Sầm Sơn diễn ra các lễ hội có quy mô toàn thị xã Có 3 lễhội lớn đó là: Lễ hội cầu phúc được tổ chức vào ngày 16 tháng giêng âmlịch hàng năm; Lễ hội bánh chưng, bánh dày được tổ chức vào ngày 12tháng 5 âm lịch; Lễ hội cầu ngư diễn ra vào ngày 15 tháng 5 âm lịch hàngnăm cầu cho một năm đánh bắt nhiều tôm cá, ngư dân đi biển thuận lợi.Ngoài ra các đền cũng diễn ra các lễ hội với quy mô nhỏ: 5/1 âm lịch tạiđền Lộc Trung; 16/1 âm lịch tại đền Đề Lĩnh; 10/2 âm lịch tại đền Bà Triều;16/2 âm lịch tại đền Tô Hiến Thành; 26/2 âm lịch tại đền Hoàng Minh Tự;3/3 âm lịch tại đền Thanh Khê

Đây là nét văn hoá riêng của Sầm Sơn có ý nghĩa bản địa sâu sắc Nóthể hiện đời sống văn hoá tinh thần của người dân Sầm Sơn luôn hướng về

Trang 34

cội nguồn, gần gũi với thiên nhiên Đây là điều kiện nhân văn có tínhtruyền thống dân cao đang được thị xã bảo tồn và tuyên truyền quảng bá.

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chọn điểm

Chọn điểm nghiên cứu chủ yếu trên 3 phường Trường Sơn, Bắc Sơn.Trung Sơn Đây là địa bàn mà các nhà nghỉ, khách sạn và các hoạt độngdịch vụ du lịch phân bố chủ yếu

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

a Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Sử dụng các tài liệu đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí, cáctrang web về du lịch

- Sử dụng các tài liệu từ UBND thị xã, Phòng thống kê thị xã, PhòngThương mại du lịch thị xã và các tài liệu đã được công bố trong ngành dulịch thị xã

b Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp

Thông qua việc điều tra chọn mẫu chúng tôi tiến hành điều tra bằngphương pháp phỏng vấn thông qua phiếu điều tra

- Các cơ sở kinh doanh:

+ Đối với cơ sở kinh doanh lưu trú: tiến hành điều tra theo tiêu chí Nhà nước và tư nhân

+ Điều tra cơ sở kinh doanh ăn uống

+ Kinh doanh bán buôn nhỏ lẻ: phỏng vấn các hàng quán bán đồ lưu niệm, bán đồ hải sản, quần áo

+ Đối với khách du lịch: điều tra du khách ở độ tuổi thanh thiếu niên, trung niên và người cao tuổi

Trang 35

Ngoài ra còn tiến hành thu thập bằng hình thức câu hỏi phỏng vấn sâungười lao động và phỏng vấn cấp quản lý, lãnh đạo địa phương.

c Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả

Sau khi thu thập số liệu tiến hành xử lí số liệu biểu diễn dưới dạng đồthị và bảng biểu theo trình tự nội dung Sử dụng phần mềm Excel trên máy

vi tính Từ số liệu đó chúng tôi phản ảnh, miêu tả tính thời vụ ở địa bànnghiên cứu

Để phản ảnh rõ tính thời vụ trong du lịch biển, phương pháp này mô

tả bằng các biểu đồ mang tính phân phối thể hiện sự dao động về dukhách và doanh thu các tháng trong năm

- Phương pháp phân tích hệ thống: phương pháp này được sử dụngnhằm nghiên cứu mối quan hệ quan hệ tác động qua lại giữa các thànhphần như lượng du khách, doanh thu, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng

và tác động và của chính thành phần đó lên tính thời vụ trong du lịch biển

Bảng 3.3: Phân loại cơ sở điều tra

STT Hình thức kinh doanh Số đơn vị điều tra

1 Kinh doanh lưu trú 15

1a Kinh doanh lưu tru loại hình tư nhân 5

1b Kinh doanh lưu trú loai hình Nhà nước 10

2 Cơ sở kinh doanh ăn uống 15

3 Kinh doanh buôn bán nhỏ lẻ 10

Trang 36

d) Một số chỉ tiêu phân tích *

Điều kiện tài nguyên nhân văn

+ Tài nguyên nhân văn vật thể bao gồm: các di tích lịch sử văn hóa(được chứng nhận cấp quốc gia)

+ Tài nguyên nhân văn phi vật thể bao gồm: các sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử văn hóa như các lễ hội, sản phẩm thủ công truyền thống

* Nhóm chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh du lịch biển

- Số cơ sở lưu trú được phân loại theo loại hình kinh doanh

+ cơ sở lưu trú thuộc cơ quan trung ương, bộ,

ngành + cơ sở lưu trú thuộc doanh nghiệp tư

nhân + cơ sở lưu trú tư nhân + nhà ở kết hợp

kinh doanh

- Số cơ sở lưu trú phân loại theo chất lượng dịch vụ

+ cơ sở được xếp tiêu chuẩn sao + đạt tiêu

chuẩn tối thiểu + chưa đạt tiêu chuẩn tối thiểu

- Tổng lượt khách bao gồm khách nội địa và khách quốc tế

- Tổng ngày khách bao gồm khách nội địa và khách quốc tế

- Doanh thu từ hoạt động du lịch gồm:

+ dịch vụ ăn uống + dịch vụ lưu trú

+ dịch vụ khác : chụp ảnh, đồ lưu niệm, chơi giải trí

- Phân loại du khách

+ Theo lứa tuổi: Thanh thiếu niên; trung niên và người cao tuổi + Theo mục đích chuyến đi: giải trí; nghỉ dưỡng và công vụ thămthân

+ Theo đoàn: Cá nhân; gia đình và tập thể + Theo quốc tịch: Kháchnội địa và khách quốc tế

* Nhóm chỉ tiêu về tính thời vụ

- Chỉ tiêu thời gian

Trang 37

+ Thời gian chính vụ: bắt đầu từ 30/4 đến 31/ 8 + Thời gian trái vụ: các tháng còn lại

- Chỉ tiêu về biến động lượng du khách

+ Cơ cấu du khách theo các tháng = —Tong s0 ngợy

kkh ach— _ Tổng số lượt khách

+ Cơ cấu lượng du khách trong hai mùa du lịch

- Chỉ tiêu về biến động về loại du khách

+ Cơ cấu du khách theo độ tuổi giữa hai mùa du lịch

+ Cơ cấu du khách theo đoàn giữa hai mùa du lịch

+ Cơ cấu du khách theo mục đích giữa hai mùa du lịch

- Chỉ tiêu về biến động lao động và việc làm của người lao động

+ Nhu cầu về lao động bình quân của các đơn vị kinh doanh + Tiền lương lao động bình quân qua hai mùa du lịch

- Chỉ tiêu về biến động về doanh thu

+ Cơ cấu các loại hình dịch vụ hoạt động trong 4 tháng đầu năm2010

+ Công suất bình quân của khách sạn giữa hai mùa du lịch: ngày khai thác, công suất sử dụng phòng, giá phòng bình quân

+ Doanh thu của hoạt động kinh doanh buồng ngủ, ăn uống và doanh thu khác giữa 2 mùa du lịch

Trang 38

Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Giới thiệu chung về hoạt động kinh doanh du lịch biển tại Sầm Sơn.

Sầm Sơn là một khu du lịch nổi tiếng có nhiều núi non, biển cả, khíhậu thoáng mát trong lành Với 9 km chiều dài bờ biển thì 5 km đã lànhững bãi tắm lý tưởng đang được khai thác có hiệu quả, có sức chứa trên

30 ngàn người cùng tắm (chưa kể cả các bãi tắm mini rải rác ven núiTrường Lệ vv ) Nước biển trong xanh, không bị ôi nhiễm, độ mặn vừaphải, bãi cát mịn, thoai thoải là điều kiện hấp dẫn đối với du khách tắmbiển

Dãy núi Trường Lệ dài 3Km, mang trên mình những đồi thông, những

di tích: Đền Độc Cước, Đền Cô Tiên, Đền Tô Hiến Thành và Hòn Trống Máigắn liền với những truyền thuyết xa xưa, ấn tượng và gợi cảm đối với dukhách Đặc biệt là Lễ hội Bánh chưng, Bánh dày tổ chức vào dịp 12/5 âmlịch hàng năm thu hút đông đảo khách thập phương về dự lễ Những yếu

tố đó góp phần cho Sầm Sơn trở thành nơi giao lưu hội tụ của quần chúnglao động, du khách và bạn bè thập phương

Biển Sầm Sơn là nơi cung cấp nguồn hải sản phong phú như: Tôm,Cua, Mực, nhiều loại cá quý hiếm khác được chế biến theo phong cáchtruyền thống hấp dẫn, hợp khẩu vị, ngon miệng vừa ý khách

Sầm Sơn là niềm tự hào của du lịch Thanh Hoá và cũng là của ngành

du lịch Việt Nam, từ thời Pháp thuộc (có thể nói là từ 1904-1907) nơi đâyđược coi là khu du lịch nghỉ mát cho các quan chức người Pháp, dần dầntrở thành những bãi tắm lý tưởng cho khách du lịch thập phương Sau năm

1960 nhất là từ năm 1981 đến nay Sầm Sơn trở thành thị xã du lịch - nghỉmát nổi tiếng Sầm Sơn được thành lập theo quyết định 157/QĐ - HĐBT.Cách thành phố 16Km, diện tích tự nhiên là 17,86Km2 Có 3 phường và 2

Trang 39

Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

xã, dân số 2009 khoảng 62.000 người

Trang 40

Hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch ở Sầm Sơn chủ yếu là nhữnghoạt động kinh doanh lưu trú, ăn uống, bán đồ hải sản, đồ lưu niệm, chụpảnh và các hoạt động vui chơi giải trí như đi tham quan, vãn cảnh Trong những năm qua ngành du lịch Sầm Sơn có bước phát triểntương đối mạnh mẽ Du lịch đã chứng tỏ được vị trí,vai trò là một ngànhkinh tế quan trọng - mũi nhọn góp phần quyết định vào sự phát triển kinh

tế xã hội của thị xã Sầm Sơn Du lịch Sầm Sơn còn tạo ra việc làm chohàng ngàn lao động trực tiếp và lao động gián tiếp trong địa bàn và khuvực Ngoài ra du lịch Sầm Sơn phát triển còn thúc đẩy các ngành kinh tếkhác phát triển nhanh: Vận tải, bưu chính viễn thông, Ngân hàng, sảnxuất hàng hóa phục vụ du khách Có thể nói du lịch Sầm Sơn phát triển

đã thu hút được sự tham gia của các thành phần kinh tế và các thànhphần dân cư trong xã hội, tạo ra diện mạo mới cho du lịch Sầm Sơn -Thanh Hoá sôi động và rộng khắp trên địa bàn và khu vực phụ cận

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mang nội dung văn hóa sâu sắc vàmang tính xã hội hoá cao Quản lý nhà nước còn liên quan đến nhiềungành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực khác nhau như: Văn hoá, Giao thông, Tàinguyên môi trường, Nông nghiệp, Thương mại, Quốc phòng và An ninh vv

Du lịch Sầm Sơn phát triển tạo ra thương trường trao đổi hàng hoá và tiêuthụ sản phẩm thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển

Đối với thị xã Sầm Sơn ngành du lịch dịch vụ chiếm 70-72% trong cơcấu kinh tế thị xã, Đại hội Đảng bộ thị xã Sầm Sơn lần thứ XXI, XXII, XXIII

và XXIV đều khẳng định thế mạnh của Sầm Sơn là kinh tế biển với 2 ngànhkinh tế quan trọng đóng vai trò quan trọng trong đó du lịch là trọng tâm

Vì vậy đòi hỏi khách quan đối với du lịch Sầm Sơn là sự lãnh đạo toàn diện

và trực tiếp của Đảng bộ và chính quyền thị xã theo thực tế địa phươngphù hợp với pháp luật

Từ mùa hè năm 1989, với chủ trương “Sức khoẻ -Kinh tế - Bạn bè”

Ngày đăng: 09/08/2018, 21:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Vũ Đình Quế (2007). Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế du lịch ở thị xã Sầm Sơn, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế du lịch ở thị xã Sầm Sơn
Tác giả: Vũ Đình Quế
Năm: 2007
5. Nguyễn Thị Hoài (2004). Phân tích tiềm năng thực trạng phát triển kinh tế biển tại thị xã Cửa Lò, Luận văn tốt nghiệp, ĐH Sư phạm I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tiềm năng thực trạng phát triển kinh tế biển tại thị xã Cửa Lò
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài
Năm: 2004
6. Trần Thị Loan (2006). ‘Thực trạng hoạt động của một số loại hình dịch vụ du lịch tại khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình ’, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Thực trạng hoạt động của một số loại hình dịch vụ du lịch tại khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình ’
Tác giả: Trần Thị Loan
Năm: 2006
7. Phòng Thống kê thị xã Sầm Sơn (2010). Báo cáo kết quả hoạt động du lịch Sầm Sơn 20 năm (1989- 2009). Định hướng phát triển (2010- 2015), UBND thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động du lịch Sầm Sơn 20 năm (1989- 2009). Định hướng phát triển (2010- 2015)
Tác giả: Phòng Thống kê thị xã Sầm Sơn
Năm: 2010
8. UBND thị xã Sầm Sơn (2010). Một số chỉ tiêu kinh tế- xã hội thời kỳ (2005- 2010) của thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu kinh tế- xã hội thời kỳ (2005- 2010) của thị xã Sầm Sơn
Tác giả: UBND thị xã Sầm Sơn
Năm: 2010
9. Phòng Thương mại du lịch thị xã Sầm Sơn (2010). Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch năm 2009, Phương hướng nhiệm vụ năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch năm 2009, Phương hướng nhiệm vụ năm 2010
Tác giả: Phòng Thương mại du lịch thị xã Sầm Sơn
Năm: 2010
11. Trung Châu (2008). ‘Thời của đầu tư của du lịch miền Trung’, Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 26/05/2008. Nguồnhttp://www.landtoday.net/vn/nghiencuutt/11915/search/index.aspx, ngày truy cập 24/3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời của đầu tư của du lịch miền Trung
Tác giả: Trung Châu
Nhà XB: Thời báo kinh tế Sài Gòn
Năm: 2008
12. Nguyễn Văn Hòa (2008). ‘ Hè Sầm Sơn vẫy gọi’, Bản tin du lịch của Báo mới ngày 21/04/2008. Nguồn http://www.baomoi.com/Info/He-Sam-Son-vay-goi/137/4285139.epi, ngày truy cập 18/02/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hè Sầm Sơn vẫy gọi
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Nhà XB: Bản tin du lịch của Báo mới
Năm: 2008
13. Nguyễn Thị Hoài (2009). ‘Xây dựng điểm đến - Vấn đề cần quan tâm’, Bài viết về du lịch của Báo Thanh Hóa số 1021. Có thể truy cập dowload tại http://www.thanhhoatourism.com.vn/PrintPreview.aspx?ID=912 , ngày truy cập 18/02/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng điểm đến - Vấn đề cần quan tâm
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài
Nhà XB: Báo Thanh Hóa
Năm: 2009
1. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2006). Giáo trình kinh tế du lịch, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
2. Đinh Trung Kiên (2004). Một số vấn đề về du lịch Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
3. Phạm Trung Lương (2000). Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội Khác
10. Mai Thị Ánh Tuyết (2009) ‘ Giải pháp khắc phục những tác động tiêu cực của thời vụ du lịch trên địa bàn tỉnh An Giang’, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 61, trang 12-19 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w