1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

PHÂN TÍCH ƯU NHƯỢC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CỦA CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP.

21 914 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 152 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loại hình doanh nghiệp chính là cách thức, phương thức để doanh nghiệp tồn tại, vận hành và phát triển. Có thể coi loại hình doanh nghiệp chính là loại tàu thuyền mà một người ngư dân sử dụng để ra khơi, tùy vào mỗi loại tàu thuyền mà người ta có cách xử lý và hoạt động trên biển khác nhau, nhưng đều với mục đích chung là làm sao để bắt được cá một cách nhiều nhất. Muốn đầu tư thuận lợi và đúng hướng, các nhà đầu tư phải lựa chọn được loại hình doanh nghiệp phù hợp. Đó là công tác đầu tiên nhưng cũng là công tác rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp.

Trang 1

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamĐộc lập- Tự do- Hạnh phúc

CHỦ ĐỀ: PHÂN TÍCH ƯU NHƯỢC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CỦA

CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NÊN DOANH NGHIỆP 3

1.Khái niệm doanh nghiệp 3

2 Các yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp 4

CHƯƠNG II: CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP VÀ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP 9

I.Các loại hình doanh nghiệp cơ bản 9

II.Ưu nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp 9

1.Doanh nghiệp tư nhân 10

2.Công ty hợp danh 11

3.Công ty TNHH một thành viên 12

4.Công ty TNHH có hai thành viên trở lên 14

5 Công ty cổ phần 15

III KẾT LUẬN 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển Với thành công ra nhập tổ

chức Thương mại thế giới WTO năm 2007, các nhà đầu tư nước ngoài cũng như

trong nước đang tìm cho mình những hướng đầu tư vào Việt Nam Các thành công

và lợi ích to lớn mà “đấu trường” WTO mang lại cho ta như tiếp cận với thị trường

hàng hóa và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được

cắt giảm, ra nhập WTO ta còn nâng cao được vị thế của ta trên trường quốc tế từ

khi trở thành thành viên chính thức của WTO, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt

Nam luôn ở mức cao, bình quân 5 năm 2007 – 2011 đạt 7% / năm , tổng số vốn đầu

tư toàn xã hội gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001 – 2005, đạt 42,9% GDP,… Một

trong những cái được lớn nhất mà nền kinh tế Việt Nam gặt hái được từ quá trình

gia nhập WTO là nền kinh tế đã xuất hiện một lớp doanh nhân trẻ tài năng hơn,

năng động hơn, dám nghĩ dám làm và dám chịu trách nhiệm Trong một số ngành

sản xuất quan trọng như lúa gạo, đồ gỗ, may mặc… doanh nghiệp tư nhân đã phát

triển chiếm từ 80 – 90% thị phần và đây là nguồn lực quan trọng thúc đẩy nền kinh

tế ngày càng phát triển hơn Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc

ra nhập WTO cũng đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết , như nguồn

lực của ta đã yếu lại đang bị lãng phí , nhất là trong các lĩnh vực tài chính ngân hàng

, đầu tư công và doanh nghiệp nhà nước , hạ tầng thuộc mọi lĩnh vực đều kém phát

triển…

Các thách thức cũng như thuận lợi này đều đặt ra yêu cầu đổi mới và phát triển

của nền kinh tế Muốn vậy, ta cần xác định phương hướng phù hợp cho sự phát triển

ngắn hạn cũng như dài hạn của từng doanh nghiệp của nước ta bởi các doanh

nghiệp có thể coi là tế bào của nền kinh tế, việc tập trung đầu tư và phát triển cho

nền kinh tế thực chất là đầu tư và phát triển các doanh nghiệp trong cả nước Một

phương hướng phát triển tốt là phương hướng, kế hoạch phải đánh giá được các

thuận lợi, khó khăn, tổng hợp được các môi trường kinh doanh bên trong và bên

ngoài của doanh nghiệp, các nguồn lực có sẵn và các yêu cầu khác về đầu tư phát

triển, một bản kế hoạch phát triển với những phương án tối ưu nhất trong từng

trường hợp cụ thể có thể xảy ra,… và quan trọng hơn cả, một công tác mang tính

quyết định đến tất cả những hành động trên, ấy là nhà đầu tư, doanh nghiệp lựa

chọn loại hình doanh nghiệp nào để đầu tư và phát triển Trong nền kinh tế hàng

hóa nhiều thành phần, sự xuất hiện của nhiều hình thức kinh doanh là điều tất yếu

Pháp luật nước ta hiện nay đã ghi nhận nhiều hình thức tổ chức kinh doanh để

Trang 4

người kinh doanh có thể lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp với điều kiện và

khả năng kinh doanh của mình Các loại hình doanh nghiệp chính là cách thức,

phương thức để doanh nghiệp tồn tại, vận hành và phát triển Có thể coi loại hình

doanh nghiệp chính là loại tàu - thuyền mà một người ngư dân sử dụng để ra khơi,

tùy vào mỗi loại tàu thuyền mà người ta có cách xử lý và hoạt động trên biển khác

nhau, nhưng đều với mục đích chung là làm sao để bắt được cá một cách nhiều

nhất Muốn đầu tư thuận lợi và đúng hướng, các nhà đầu tư phải lựa chọn được loại

hình doanh nghiệp phù hợp Đó là công tác đầu tiên nhưng cũng là công tác rất quan

trọng trong việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp

Trang 5

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP VÀ CÁC YẾU

TỐ CẤU THÀNH NÊN DOANH NGHIỆP

1.Khái niệm doanh nghiệp

Doanh nghiệp được định nghĩa trên rất nhiều phương diện, do đó, có rất nhiều

khái niệm được đưa ra về doanh nghiệp Nhưng khái niệm rõ ràng và đặc trưng nhất

do luật Doanh nghiệp 2005 đưa ra, theo đó:” Doanh nghiêp là tổ chức kinh tế có tên

riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy

định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”, trong đó “

kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá

trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ”

Trên thực tế doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như cửa

hàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng…

Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau Mỗi loại hình doanh

nghiệp có những đặc trưng riêng và từ đó tạo nên những lợi thế hay hạn chế của

doanh nghiệp Về cơ bản, những sự khác biệt được tạo ra bởi các loại hình doanh

nghiệp khác nhau là : uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng của khách hàng

tạo nên, khả năng huy động vốn, rủi ro đầu tư, tính phức tạp của thủ tục và các chi

phí thành lập doanh nghiệp, tổ chức quản lý doanh nghiệp… Vì vậy, khi cá nhân

hay tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp thì việc lựa chọn cho mình một loại hình

doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu đầu tư cũng như nguồn lực hiện có là vấn đề rất

quan trọng của mỗi nhà đầu tư, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát

triển của doanh nghiệp, là phương hướng cũng như cách thức để hướng nhà đầu tư

đi đúng đường và đầu tư có hiệu quả tối ưu nhất Kinh doanh và hoạt động kinh

doanh là quá trình kéo theo, bởi vậy, tất cả những quyết định, những chiến lược

trước sẽ ảnh hưởng tới tất cả các quá trình phát triển của doanh nghiêp, tổ chức đó

Thông qua việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp, các cá nhân hay tổ chức đầu tư đã

lựa chọn cho mình một cách thức tồn tại và phát triển trong thương trường nó sẽ

quyết định cách thức tổ chức cơ cấu quản lý của công ty, doanh nghiệp đó ra sao,

cách thức vận hành, nguồn vốn đầu tư hay quyền hạn cũng như trách nhiệm của nhà

đầu tư và mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư ấy mỗi loại hình doanh nghiệp lại có

những cách thức vận hành, những đặc điểm khác nhau, vì vậy việc lựa chọn loại

hình doanh nghiệp cần được thực hiện cẩn thận, kĩ lưỡng và chính xác, phù hợp

Trang 6

2 Các yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp

Để trở thành một doanh nghiệp thì nhất thiết phải có đầy đủ các yếu tố sau :

a, Yếu tố tổ chức

Đây là một trong những yếu tố mang tính thiết yếu và quan trọng nhất của một

doanh nghiệp Khi nhắc đến yếu tố tổ chức là nhắc đến một tập hợp các bộ phận

chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lí như các bộ phận sản xuất,

bộ phận thương mại và bộ phận hành chính Mỗi một bộ phận đảm nhiệm tưng lĩnh

vực riêng của mình nhưng phải có sự phối hợp và thống nhất trong các hoạt động để

doanh nghiệp được vận hành và phát triển hoàn thiện nhất Các yếu tố nội tại của tổ

chức là các yếu tố môi trường có tác động một cách trực tiếp đến hoạt động và kết

quả hoạt động của tổ chức

Các yếu tố nội tại là những yếu tố bên trong tổ chức mà nhà quản trị có thể kiểm

soát, điều chỉnh được và chúng có ảnh hưởngtrực tiếp đến hoạt động và kết quả hoạt

động của tổ chức Các yếu tố nội tại của một tổ chức thường bao gồm các yếu tố

như sau:

Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực của một doanh nghiệp mạnh hay yếu thể hiện ở số

lượng và chất lượng nhân sự, vấn đề sắp xếp, bố trí, đào tạo-phát triển, các chính

sách động viên…

Nghiên cứu và phát triển (R/D): Thể hiện ở khả năng nghiên cứu và ứng dụng khoa

học kỹ thuật, sản phẩm mới, công nghệ mới, mức vốn đầu tư cho công tác nghiên

cứu và phát triển …

Sản xuất: Phản ảnh năng lực sản xuất, quy trình sản xuất, trình độ công nghệ áp

dụng vào sản xuất, tổ chức sản xuất, tỷ lệ phế phẩm …

Tài chính - kế toán: Phản ảnh tình hình tài chính doanh nghiệp qua các chỉ tiêu cơ

cấu vốn, tình hình công nợ…và tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp

Marketing: Phản ảnh việc nghiên cứu thị trường, khách hàng, sản phẩm – dịch vụ,

giá cả, hệ thống phân phối và chiêu thị…

Văn hoá tổ chức: Phản ảnh các giá trị, chuẩn mực, những niềm tin, huyền thoại,

nghi thức Trong một doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp quy mô lớn, là

tập hợp những cá nhân khác nhau về trình độ và chuyên môn, mức độ nhận thức và

quan hệ xã hội… tạo ra môi trường làm việc đa dạng và phức tạp cùng với sự cạnh

tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường buộc doanh nghiệp muốn tồn tại và phát

triển phải liên tục thay đổi và tìm tòi những thứ mới và sáng tạo Để doanh nghiệp

Trang 7

trở thành nơi tập trung và phát huy tối đa nguồn lực của con người cần phải xây

dựng một nền văn hóa doanh nghiệp vững mạnh [1]

+) Bộ phận sản xuất là bộ phận trực tiếp tạo ra sản phẩm cho một doanh nghiệp,

luôn được đảm bảo vận hành và hoạt động một cách đều đặn và liên tục Nếu như

bộ phận này ngưng hoạt động, đồng nghĩa với hoạt động doanh nghiệp sẽ bị đình trệ

vì không có sản phẩm nào được tạo ra để phân phối và cung cấp cho thị trường

Nhân tố tác động khách quan tới việc hình thành bộ phận sản xuất là cơ cấu sản

xuất Cơ cấu sản xuất là tập hợp tất cả những bộ phận sản xuất và phục vụ sản xuất

Đó chính là cơ sở vật chật kĩ thuật của một hệ thống sản xuất Cơ cấu sản xuất cũng

thể hiện hình thức tổ chức của quá trình sản xuất sản phẩm, hình thức phân công lao

động giữa các khâu, các bộ phận trong hệ thống, nó biểu hiện đăc điểm cụ thể của

sự kết hợp các yếu tố sản xuất trong quá trình tạo ra sản phẩm Cơ cấu sản xuất có

tiên tiến thì sản phẩm tạo ra mới chất lượng, chiếm nhiều ưu thế trên thị trường

cạnh tranh

Năng suất là yếu tố chính để đánh giá một bộ phận sản xuất có hoạt động tốt hay

không Trong bối cảnh cạnh tranh, các doanh nghiệp không chỉ chú trọng đến sản

lượng như trước đây mà còn đặt tính hiệu lực của sản phẩm và dịch vụ lên hàng

đầu Để nâng cao năng suất cần nhấn mạnh vào giảm lãng phí vào mọi hình thức

Các lãng phí chính là các nguồn lực tiềm năng Để nhận biết được các lãng phí đòi

hỏi phải xem tất cả các yếu tố trong một tổ chức Mọi hoạt động, nguyên vật liệu,

máy móc, không gian, thiết bị, nhân lực, không được sử dụng đến hoặc không tạo

ra giá trị gia tăng đều được coi là lãng phí.[2]

+) Bộ phận thương mại: Là bộ phận chính trong việc tìm kiếm, thúc đẩy việc mua

bán hàng hóa và cung ứng các dịch vụ thương mại

b, Yếu tố sản xuất

Yếu tố sản xuất gồm các nguồn nhân lực, vốn, vật tư, công nghệ và thông tin

+) Nguồn nhân lực:Nguồn nhân lực là tài sản quý báu nhất, quan trọng nhất trong

quá trình phát triển của các doanh nghiệp Nhưng khi nói nguồn nhân lực là tài sản

quý báu nhất, quan trọng nhất thì cần phải hiểu đó là những con người có tri thức,

sáng tạo, đầy nhiệt huyết, tận tâm, và có trách nhiệm cho việc đạt tới tầm nhìn, sứ

mạng của doanh nghiệp chứ không phải con người chung chung Chất lượng nguồn

nhân lực sẽ quyết định sự thành bại trong cạnh tranh Nguồn nhân lực của một

doanh nghiệp mạnh hay yếu thể hiện ở số lượng và chất lượng nhân viên Chất

lượng nhân viên thể hiện ở kiến thức, kĩ năng qua quá trình đạo tạo cũng như thái

độ và tác phong trong công việc Con người là nhân tố mang tính quyết định trong

yếu tố sản xuất Nếu nhân lực yếu kém, mọi hoạt động của doanh nghiệp không

được vận hành chơn chu, năng lực cạnh tranh thấp Một doanh nghiệp nên cần có

những chương trình đạo tạo, các chính sách phát triển hộ trợ, bồi dưỡng cho nhân

viên để nâng cao chất lượng Các công ty cần xây dựng chiến lược phát triển của

mình, tạo cơ sở để xác định đúng nhu cầu nhân lực, từ đó phát triển chiến lược đào

tạo và phát triển nhân lực đáp ứng nhu cầu chiến lược của công ty Ngoài ra, cần có

sứ bố trí và sắp xếp nhân sự phù hợp để bộ máy nhân sự hoạt động hiệu quả nhất

+) Vốn: Vốn trong thị trường kinh tế được hiểu là những giá trị ban đầu vào các

quá trình tiếp theo của doanh nghiệp Vốn là một yếu tố đầu vào thiết yếu và quan

Trang 8

trọng với bất kì một doanh nghiệp nào Vốn góp mặt vào từng khâu sản xuất của

một doanh nghiệp Có vốn các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh,

mua sắm các trang thiết bị hay triển khai các kế hoạch trong tương lai Vốn phải đại

diện cho một lượng tài sản nhất định hay được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu

hình và vô hình của một doanh nghiệp Ngoài ra, vốn cũng biểu hiện bằng các giá

trị hiện vật của một doanh nghiệp như máy móc, trang thiết bị vật tư dùng cho hoạt

động quản lí.Vốn phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định và sẽ không được đưa

ra đầu tư khi mà chủ của nó nghĩ về một sự đầu tư không lợi nhuận Vốn có giá trị

về mặt thời gian và đây chính là đặc tính vô cùng quan trọng khi bỏ vốn vào đầu tư

và tính hiệu quả khi sử dụng đồng vốn

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều có một phương thức

và hình thức kinh doanh khác nhau Nhưng mục tiêu của họ vẫn là tạo ra được lợi

nhuận cho mình Nhưng điều đó chỉ đạt được khi vốn của doanh nghiệp được quản

lý và sử dụng một cách hợp lệ Dựa vào nguồn gốc hình thành thì vốn được phân

thành các loại sau:

+)” Vốn chủ sở hữu: là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn liên

doanh, liên kết và thông qua đó doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Do

vậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ

+) Vốn pháp định: Vốn pháp định là số vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có

khi muốn hình thành doanh nghiệp và số vốn này được nhà nước quy định tuỳ thuộc

vào từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp Nhà Nước,

số vốn này được ngân sách nhà nước cấp

+) Vốn tự bổ sung: Thực chất loại vốn này là số lợi nhuận chưa phân phối (lợi

nhuận lưu trữ ) và các khoản trích hàng năm của doanh nghiệp như các quỹ xí

nghiệp ( Quỹ phúc lợi, quỹ đầu tư phát triển )

+) Vốn chủ sở hữu khác: Đây là loại vốn mà số lượng của nó luôn có sự thay đổi

bởi vì do đánh giá lại tài sản, do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do được ngân sách cấp

kinh phí, do các đơn vị thành viên nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng cơ bản

Vốn được phân ra và sử dụng tuỳ thuộc vào mục đích và loại hình doanh nghiệp

Đặc biệt, vốn phải vận động và sinh lời, đạt được mục tiêu trong kinh doanh Vì

vậy yêu cầu đặt ra với các doanh nghiệp họ cần phải có sự quản lí và sử dụng vốn

một cách hiệu quả nhằm bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo cho các doanh nghiệp

ngày càng phát triển và vững mạnh.[3]

Trang 9

+) Công nghệ thông tin: Hiện nay, công nghệ thông tin (CNTT) đang hiện diện

và đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong quá trình quản trị, điều hành các

hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Sự phát triển và ứng dụng

của Internet đã làm thay đổi mô hình và cách thức hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp, việc chuyển dần các giao dịch truyền thống sang giao dịch điện tử đã ảnh

hưởng đến vị trí, vai trò và cả nhu cầu của các bên hữu quan (khách hàng, nhà cung

cấp, nhà đầu tư…) của doanh nghiệp Các hoạt động đầu tư công nghệ thông tin

trong doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các mục tiêu của doanh nghiệp như hỗ trợ

các hoạt động tác nghiệp, hỗ trợ cho việc ra các quyết định quản lý, hỗ trợ việc xây

dựng các chiến lược nhằm đạt lợi thế cạnh tranh,…Có nhiều mô hình đầu tư công

nghệ thông tin trong doanh nghiệp, mỗi mô hình có cách tiếp cận khác nhau nhưng

đều có chung mục đích là giúp doanh nghiệp xác định được lộ trình đầu tư và mối

quan hệ giữa các thành phần trong bức tranh tổng thể về ứng dụng công nghệ thông

tin trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp cần phải chọn cho mình mô hình đầu tư

công nghệ thông tin cho phù hợp để phát huy hiệu quả các khoản đầu tư, phục vụ

cho mục tiêu kinh doanh và phù hợp với năng lực khai thác công nghệ của doanh

nghiệp Việc áp dụng các công nghệ mới và tân tiến nhất trong khâu sản xuất không

chỉ mang lại chất lượng sản phẩm tốt nhất mà còn thúc đẩy doanh nghiệp phát triển

c, Yếu tố trao đổi

Yếu tố trao đổi bao gồm tất cả những dịch vụ thương mại – mua các yếu tố đầu

vào, bán sao cho có lợi các sản phẩm đầu ra Dịch vụ - thương mại chính là cầu nối

giữa các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ

sản phẩm Thương mại và dịch vụ tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát

triển Thông qua hoạt động dịch vụ - thương mại trên thị trường, các chủ thể kinh

doanh mua bán được sản phẩm, góp phần tạo ra quá trình tái sản xuất được tiến

hành liên tục và như vậy các dịch vụ sẽ lưu thông, các dịch vụ được thông suốt Có

thể nói, nếu không có dịch vụ - thương mại thì sản xuất hàng hóa khó có thể phát

triển được

d, Yếu tố phân phối

Phân phối được hiểu một cách đầy đủ là những quyết định đưa hàng hoá vào

các kênh phân phối để tiếp cận và khai thác hợp lý nhất nhu cầu của thị trường Từ

đó thực hiện việc đưa hàng hoá từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng nhằm

đạt được lơị nhuận tối đa Yếu tố này phản ánh hiệu quả trực tiếp các hoạt động của

bộ phận bán hàng, mà công việc chủ yếu của họ là cung cấp sản phẩm cho khách

hàng muốn mua đúng thời hạn và số lượng yêu cầu Phân phối hàng hóa không phải

Trang 10

chỉ có định ra được phương hướng, mục tiêu và tiền đề của lưu thông mà còn bao

gồm cả nội dung thay đổi không gian, thời gian, mặt hàng, số lượng hàng hoá và hệ

thống các phương thức để đưa hàng hoá từ nơi người sản xuất tới người tiêu dùng

cuối cùng Việc xây dựng chính sách phâm phối tốt sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp

Tiêu thụ sản phẩm theo đúng kế hoạch và cá hợp đồng ký kết Bảo đảm uy tín của

doanh nghiệp, sự tin tưởng của khách hàng và sự gắn bó lâu dài với người tiêu

dùng Bảo đảm việc thu hút ngày càng nhiều khách hàng cho doanh nghiệp thông

qua công tác giao dịch phương thức phân phối, thủ tục giao nhận, thanh toán… đối

với khách hàng.[4]

Ngày đăng: 09/08/2018, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w