1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

199 257 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, muốn phòng ngừa hiệu quả đối với tội này thì cần phải làm sáng tỏ những nguyên nhân và điều kiện làm nảy sinh tình hình tội LĐCĐTS, tìm hiểu những nguyên nhân điều kiện bị quyết

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ LAN HƯƠNG

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN

1.TS NGUYỄN VĂN HIỂN

2 PGS TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận n là trung thực Những kết luận khoa học của luận n ch a từng

đ ợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

BÙI THỊ LAN HƯƠNG

Trang 3

MỤC LỤC

1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm học 7 1.2 Những công trình nghiên cứu đề cập đến tội lừa đảo chiếm đoạt

tài sản

14

1.3 Đánh giá tổng quan và những vấn đề đặt ra mà đề tài tiếp tục

nghiên cứu trong luận án

21

Chương 2 TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

26

2.1 Khái niệm tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn

miền Đông Nam Bộ

26

2.2 Phần hiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn

miền Đông Nam Bộ

28

2.3 Phần ẩn của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn

miền Đông Nam Bộ

56

Chương 3 NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI

LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

65

3.1 Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội Lừa đảo

chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

65

3.2 Thực trạng các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa

đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

67

Chương 4 HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÒNG

NGỪA TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

107

4.1 Khái niệm và thực trạng phòng ngừa tình hình tội lừa đảo chiếm

đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

107

4.2 Dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền

Đông Nam Bộ trong thời gian tới

114

4.3 Các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội lừa đảo chiếm

đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ trong thời gian tới

120

DANH MỤC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nhà xuất bản

Phó giáo sư Tòa án nhân dân Tình hình tội phạm Thành phố Hồ Chí Minh Tiến sĩ

Tố tụng hình sự

Uỷ ban nhân dân Viện kiểm sát nhân dân

Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ

Bảng 2.1 Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền

Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2017 2

Bảng 2.2 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xét theo mối quan hệ

với tình hình tội phạm chung trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm

2007 đến năm 2017 3

Bảng 2.3 So sánh tỷ lệ của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn

miền Đông Nam Bộ với tỷ lệ tội này trên phạm vi toàn quốc từ năm 2007 đến năm 2017 4

Bảng 2.4 So sánh hệ số của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên dân số của

miền địa bàn miền Đông Nam bộ và trên toàn quốc trong giai đoạn từ

năm 2007 đến năm 2017 5 Bảng 2.5 Tỷ lệ số vụ, số bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn

miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2017 6

Bảng 2.6 Số vụ, số bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xác định trên

diện tích, dân số của miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ và Tây Nguyên từ năm 2007 đến năm 2017 7

Bảng 2.7 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ năm 2007 đến năm

2017 của miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ và Tây Nguyên xác định trên cơ sở yếu tố dân cư và diện tích 8

Bảng 2.8 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được tính toán trên số

dân cư của các tỉnh, thành miền Đông Nam Bộ 9

Bảng 2.9 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được tính toán trên

cơ sở diện tích của các tỉnh, thành trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 10

Bảng 2.10 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được tính toán trên

cơ sở kết hợp yếu tố dân cư và diện tích của các tỉnh, thành trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 11

Bảng 2.11 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền

Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2017 xét theo giới tính, quốc tịch

và dân tộc của người phạm tội 12

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn

miền Đông Nam bộ từ năm 2007 đến năm 2017 13

Biều đồ 2.2 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền

Đông Nam Bộ xét trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt 14

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông

Nam Bộ xét theo hình phạt ở cấp sơ thẩm đối với các bị cáo 15

Biểu đồ 2.4 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền

Đông Nam Bộ xét theo phương thức, thủ đoạn phạm tội 16

Biểu đồ 2.5 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền

Đông Nam Bộ xét theo độ tuổi của người phạm tội 17

Biểu đồ 2.6 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền

Đông Nam Bộ xét theo trình độ học vấn của người phạm tội 18

Biểu đồ 2.7 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền

Đông Nam Bộ xét theo nghề nghiệp của người phạm tội 19

Biểu đồ 2.8 Thống kê một số nguyên nhân người bị hại bị lừa dối trong các vụ

lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam bộ từ năm

2007 đến năm 2017 20

Biểu đồ 2.9 Tỷ lệ số vụ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức trên trên

địa bàn miền Đông Nam bộ từ năm 2007 đến năm 2017 21

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Miền Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố là thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu Do miền Đông Nam

Bộ có vị trí địa thế chính trị và an ninh quốc phòng quan trọng hàng đầu ở khu vực phía Nam Việt Nam; có hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông vận tải và thông tin liên lạc phát triển tốt nên miền Đông Nam Bộ đã trở thành trung tâm quan trọng của nền kinh tế cả nước, đóng vai trò là cửa ngõ kinh tế và cầu nối Việt Nam với thế giới Trung bình mỗi năm, miền Đông Nam Bộ chiếm 38% GDP, đóng góp gần 60% ngân sách quốc gia, GDP tính theo đầu người cao gần gấp 2,5 lần mức bình quân cả nước [117] Bên cạnh đó, các tỉnh, thành thuộc lõi tứ giác kinh tế trọng điểm phía Nam đều nằm trên địa bàn miền Đông Nam Bộ bao gồm thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, tập trung nhiều khu công nghiệp hoạt động với quy mô lớn Những tỉnh, thành này cũng là những địa phương thu hút đầu tư nước ngoài mạnh nhất so với cả nước Cũng chính vì vậy, miền Đông Nam Bộ luôn có tỷ lệ tăng dân số cao nhất cả nước, là vùng thu hút đông đảo lao động là dân nhập cư từ các địa phương khác đến làm ăn, sinh sống Điều này đã tạo nên sự đa dạng, năng động trong phát triển kinh tế - xã hội của miền Đông Nam Bộ Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, mặt trái của sự phát triển cũng đem lại những yếu tố tiêu cực như sự gia tăng đột biến về dân số kéo theo tình trạng thất nghiệp ngày càng nhiều, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc; lối sống hưởng thụ bằng mọi giá, nhu cầu về vật chất cao hơn khả năng cung cấp dẫn đến sự tha hoá trong lối sống, làm cho tệ nạn xã hội và tình hình tội phạm nói chung, tội LĐCĐTS nói riêng có điều kiện phát sinh, tồn tại và phát triển mạnh trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

Theo thống kê của TAND các tỉnh, thành trên địa bàn miền ĐNB, trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2017 đã xét xử sơ thẩm 5.028 vụ LĐCĐTS với 6.250 bị cáo Tội LĐCĐTS chiếm tỷ lệ 5,17 % trong cơ cấu tội phạm xảy ra trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, song đây là tỷ lệ khá cao so với cơ cấu của tội này trên phạm

Trang 8

2

vi toàn quốc (3,54%) trong cùng giai đoạn Trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu

có tính chiếm đoạt, tội LĐCĐTS đứng thứ ba, chiếm tỷ lệ là 8,91% về số vụ, chỉ sau tội trộm cắp tài sản và tội cướp giật tài sản Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, tội này gia tăng cả về số vụ và số người phạm tội và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tài sản của nhân dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Nguy hiểm hơn, đó là để thực hiện được việc chiếm đoạt tài sản thì các đối tượng còn mua chuộc, lôi kéo cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước đi vào con đường phạm tội, làm tha hóa cán bộ, ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, làm mất lòng tin của nhân dân

Trước tình hình đó, chính quyền, Đảng ủy các cấp và các cơ quan chức năng của các tỉnh, thành trên địa bàn miền Đông Nam Bộ đã triển khai nhiều giải pháp phòng ngừa tội này Tuy nhiên, hiệu quả của những công tác này chưa cao; tội LĐCĐTS xảy

ra trên địa bàn miền Đông Nam Bộ vẫn có những diễn biến phức tạp và liên tục gia tăng Mặt khác, cuộc sống luôn vận động, thay đổi kéo theo sự vận động và thay đổi của các hiện tượng xã hội trong đó có tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội LĐCĐTS nói riêng Đối vấn đề này, miền Đông Nam Bộ cũng không phải là ngoại lệ Hơn thế nữa, tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội LĐCĐTS nói riêng không chỉ là hiện tượng xã hội, hiện tượng mang tính lịch sử cụ thể, tính pháp lý mà còn mang tính không gian và thời gian hay còn gọi là tính “địa lý học của tội phạm” Do vậy, muốn phòng ngừa hiệu quả đối với tội này thì cần phải làm sáng tỏ những nguyên nhân

và điều kiện làm nảy sinh tình hình tội LĐCĐTS, tìm hiểu những nguyên nhân điều kiện bị quyết định bởi “địa bàn” cụ thể; tìm ra những nguyên nhân của hạn chế, tồn tại trong công tác phòng chống tội LĐCĐTS trên địa bàn miền Đông Nam Bộ để xây dựng những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội này là một đòi hỏi hết sức cấp bách, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội

Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên

địa bàn miền Đông Nam Bộ: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”

Trang 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đã đặt ra, luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước, ngoài nước về phòng ngừa tội LĐCĐTS và xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ trong luận án

- Phân tích, đánh giá tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miển Đông Nam Bộ

từ năm 2007 đến 2017

- Phân tích những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến 2017

- Dự báo tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian tới

- Đánh giá các hạn chế trong phòng ngừa tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB

- Xây dựng hệ thống các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận về tình hình tội LĐCĐTS, thực trạng tình hình tội LĐCĐTS, thực trạng nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội LĐCĐTS và thực tiễn phòng ngừa tình hình tội này trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2017 Từ đó, dự báo và xây dựng

hệ thống các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian tới

Trang 10

4

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu dưới góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, tập trung vào tình hình tội LĐCĐTS, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội LĐCĐTS

và thực tiễn phòng ngừa tình hình tội này trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

Về thời gian: Từ năm 2007 đến năm 2017

Về địa bàn nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu trên phạm vi các tỉnh, thành miền Đông Nam Bộ, bao gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Phước và tỉnh Tây Ninh

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường lối đổi mới đất nước, về cải cách tư pháp, về phòng ngừa tội phạm

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tùy thuộc vào khách thể và đối tượng nghiên cứu trong từng chương, mục mà luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể như phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp tọa đàm, tham khảo ý kiến chuyên gia Bên cạnh đó, ngoài việc sử dụng phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu từng chương, mục, tác giả còn kết hợp chặt chẽ các phương pháp trong quá trình thực hiện toàn bộ nội dung luận án để đạt được mục đích nghiên cứu Cụ thể:

- Chương 1- Tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử để đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tìm ra những tư tưởng, quan điểm phù hợp, cũng như những kinh nghiệm có thể kế thừa để định hướng và phát triển đối với đề tài

- Chương 2 và Chương 3 của luận án, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp thống kê; phân tích; tổng hợp; so sánh; hệ thống hóa, phương pháp chuyên gia,

Trang 11

5

điều tra xã hội học, phương pháp nghiên cứu điển hình để làm rõ tình hình cũng như làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2017

- Trong Chương 4 của đề tài, phương pháp tổng hợp; phân tích; dự báo khoa học được sử dụng là các phương pháp chủ đạo mà tác giả sử dụng để đưa ra các dự báo, kết luận, kiến nghị và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian tới

5 Đóng góp về khoa học của luận án

5.1 Điểm mới về phương pháp tiếp cận

Luận án sử dụng phương pháp đa ngành, liên ngành luật học để phân tích, làm

rõ tính quyết định luận về mặt xã hội của tình hình tội LĐCĐTS cũng như nguyên nhân và điều kiện của tình hình của tội này trên địa bàn miền ĐNB trong giai đoạn

từ năm 2007 đến năm 2017

5.2 Điểm mới của luận án

Trong thời gian qua, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về tội LĐCĐTS song chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tình hình tội này trên địa bàn miền ĐNB Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, nhiều đạo luật mới đã được Quốc hội thông qua khóa XIV thông qua, trong đó bao gồm BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) qui định về tội phạm nói chung và tội LĐCĐTS nói riêng, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này Do đó, luận án đã đem lại những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

Luận án đã đem lại cái nhìn tổng quan về tình hình tội LĐCĐTS và cung cấp những thông số mới nhất về tình hình tội này trên địa bàn miền ĐNB Đồng thời qua phân tích các thông số, bằng việc lý giải sự tác động qua lại giữa các hiện tượng

xã hội tiêu cực thuộc môi trường sống và các cá nhân có đặc điểm nhân cách tiêu cực do chịu sự tác động của những hiện tượng xã hội tiêu cực Luận án đã làm rõ

“tính địa lý học” của tình hình tội LĐCĐTS cũng như của nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội này trên địa bàn miền ĐNB

Từ các cơ sở khoa học, luận án đã đưa ra những dự báo về tội LĐCĐTS trong thời gian tới, Trên cơ sở lĩnh hội, quán triệt và vận dụng sáng tạo các quan điểm tiến

Trang 12

6

bộ về phòng ngừa tội phạm từ đó xây dựng các giải pháp phòng ngừa tội LĐCĐTS mang tính khả thi, khoa học phù hợp với xu thế vận động và phát triển của địa bàn miền ĐNB

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận

về phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung, tội LĐCĐTS nói riêng Luận án có thể được sử dụng là tài liệu phục vụ giảng dạy, nghiên cứu, tham khảo trong lĩnh vực tội phạm học và khoa học luật hình sự

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có thể sử dụng để các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân tham khảo xây dựng và áp dụng và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả tình hình LĐCĐTS địa bàn miền ĐNB trong thời gian tới Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp xem xét, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hình sự về tội LĐCĐTS

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2017

Chương 3 Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2017

Chương 4 Hệ thống các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới

Trang 13

7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm học

Sự xuất hiện của tội phạm trong xã hội loài người đã làm phát sinh nhu cầu tìm lời giải cho hiện tượng tiêu cực này để ngăn chặn, làm giảm và tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội Từ thực tiễn này, hệ thống tri thức Tội phạm học

đã hình thành dần hoàn thiện Lịch sử hình thành và phát triển tội phạm học trên thế giới cho thấy nhiều trường phái, nhiều học thuyết, song chỉ khi những vấn đề của tội phạm học được nghiên cứu, soi sáng bằng các quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin mới mang lại cái nhìn khách quan, toàn diện Chính vì vậy, trong phạm vi luận án, tác giả chỉ liệt kê một số công trình tiêu biểu, cung cấp tri thức lý luận tội phạm học, phương pháp và định hướng nghiên cứu cho tác giả luận

án trong quá trình thực hiện đề tài

1.1.1 Khái niệm tình hình tội phạm

Tình hình tội phạm là khái niệm cơ bản, đối tượng nghiên cứu đầu tiên của tội phạm học Khái niệm tình hình tội phạm đã được nghiên cứu với nhiều công trình, nhiều học thuyết khác nhau Người đặt nền móng cho Tội phạm học xã hội chủ

nghĩa, nhà tư tưởng, nhà bác học Paul Lafargue (1890), trong tác phẩm Die

Kriminalitaet in Frankreich von 1840 bis 1886 – Dynamik und Ursachen, (Tình hình tội phạm, ở Pháp từ năm 1840 đến 1886- Động thái và nguyên nhân) [177],

công bố trên tờ Thời đại “Die Neue Zeit” lần đầu tiên đã ông đã sử dụng các thuật ngữ mà ngày nay được sử dụng rộng rãi trong Tội phạm học xã hội chủ nghĩa như tình hình tội phạm, động thái, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm Trong công trình này, Paul Lafargue phê phán các công trình nghiên cứu trước đó chỉ đề cập đến từng khía cạnh phẩm chất đạo đức, nhận thức và thể chất là chưa toàn diện và theo Paul Lafargue “Tất cả mọi công trình nghiên cứu đều vô nghĩa, nếu chỉ đề cập đến từng cá nhân riêng lẻ” Do đó, tình hình tội phạm (Kriminalitaet) ở Pháp từ năm

1840 đến năm 1886 được Paul Lafargue xác định là khách thể nghiên cứu (Ein Objekt der wiss Forschung) Công trình này được xem như một mô hình mẫu về

Trang 14

8

phương pháp tiếp cận và nghiên cứu tình hình tội phạm trong phạm vi lãnh thổ của một nước Với công trình này, tội phạm học Mác-xít chính thức được hình thành Theo chủ nghĩa duy vật Mác-xít, tội phạm là hiện tượng xã hội gắn bó với thực tế khách quan mà trong đó con người sống và làm việc trong một xã hội nhất

định Trên quan điểm này, công trình “Tình hình tội phạm ở Liên Xô – Những

khuynh h ớng cơ bản và tính quy luật, đề cập đến tình hình tội phạm ở Liên Xô trong 70 năm tồn tại Nhà n ớc Xô Viết, B.B Luneev (1991) [159] đánh giá diễn

biến tình hình tội phạm phải chú ý phương pháp sử dụng chất liệu nghiên cứu và phương pháp đánh giá để đảm bảo tính khả thi và sát với quy luật vận động của tình hình tội phạm trong mọi trường hợp

Ở Việt Nam, đến giữa những năm 80 của Thế kỷ XIX mới có một số công trình, đề tài khoa học, sách chuyên khảo Tội phạm học đề cập đến tình hình tội

phạm như “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội phạm và đấu tranh chống tội

phạm”, Viện Nhà nước và pháp luật [133]; “Tình hình t i phạm tội giai đoạn 1980 – 1985”, Viện Khoa học Công an, Bộ nội vụ [134] Kể từ năm 1993 đến nay, cùng

với sự phát triển của ngành Tội phạm học, nhiều công trình có giá trị khoa học cao đặt nền móng cho Tội phạm học Việt Nam phát triển Những công trình này đã nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung của Tội phạm học, trong đó bao gồm khái niệm tình hình tội phạm Có thể kể đến một số công trình như: Giáo

trình “Tội phạm học”, GS.TS Võ Khánh Vinh, Nxb CAND, năm 1996, 2008,

2011, 2013 [141]; “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm”, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm [153]; “Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt

Nam” của PGS TS Phạm Văn Tỉnh - NXB CAND [111]; giáo trình “Tội phạm học” của trường Đại học Luật Hà Nội [26]; giáo trình “Tội phạm học” của GS, TS

Đỗ Ngọc Quang, năm 2012 [78]; bộ sách “Tội phạm học Việt Nam” của tập thể tác giả do GS.TS Trần Đại Quang chỉ đạo biên soạn [77]; bài báo khoa học “Các khái

niệm tội phạm và Tình hình tội phạm trong Tội phạm học” của GS TS Nguyễn

Ngọc Hòa [44] Trong các công trình này, trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, các tác giả đã làm rõ khái niệm tình hình tội phạm Song, tác giả luận án đồng quan điểm với GS.TS Võ Khánh Vinh khi xác định “tình hình tội

Trang 15

9

phạm là một hiện tượng xã hội, pháp lý – hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính chất giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định Tình hình tội phạm có sự thống nhất biện chứng của tất cả các yếu tố cấu thành, biểu hiện ở các thông số (đặc điểm) về lượng và các thông số (đặc điểm) về chất của nó” [141, tr61] Nghiên cứu về tình hình tội phạm không phải chỉ nghiên cứu về những biểu hiện bên ngoài của nó (nghiên cứu về “xu hướng và trạng thái”) mà còn phải nghiên cứu, làm rõ được bản chất, qui luật phát triển của chúng, từ đó mới có thể đề ra các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu và khả thi

Có thể khẳng định, đây chính là khái niệm, là nền tảng lý luận, kiến thức cơ bản, đặt nền móng lý luận, định hướng cho các vấn đề mà tác giả luận án cần giải quyết khi nghiên cứu về tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB

1.1.2 Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm

Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là một trong những vấn đề

cơ bản nhất của Tội phạm học Có rất nhiều trường phái tội phạm học cũng như các công trình nghiên cứu về nguyên nhân của tình hình tội phạm như: Trường phái thần học thì thánh thần chính là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, theo đó mọi quan hệ đều quy tụ về việc đúng hay không làm đúng (trái ý) của Chúa trời và các thánh thần; trường phái theo học thuyết sinh vật học tội phạm với quan niệm yếu tố sinh học chính là yếu tố quyết định sự hình thành, phát triển phẩm chất, nhân cách của con người; thuyết xã hội học tội phạm với sự tuyệt đối hóa vai trò của xã hội… Tuy nhiên tất cả các trường phái này đều chưa khám phá được nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm Đây cũng chính là cơ sở để khẳng định chỉ có Tội phạm học Mác – xít, tội phạm học lấy triết học Mác – Lê nin, phương pháp luận Mác -xít làm nền tảng mới mang lại cái nhìn đầy đủ, khách quan, toàn diện về vấn đề này

Trong các tác phẩm “Những bức th từ Vúp- pơ -tan”, “Tình cảnh giai cấp

lao động ở Anh”,“Tình cảnh n ớc Anh Thế kỷ M ời tám, “Những cuộc tranh luận của Hội nghị dân biểu khóa 6 của tỉnh Ranh” C Mác và Ăng- ghen [160] đã phân

tích những nguyên nhân cơ bản làm phát sinh tội phạm và nhấn mạnh đến các yếu

Trang 16

10

tố nghèo khổ, thiếu thốn, bất bình đẳng, sự ngu dân, sự vô trách nhiệm gắn liền với chế độ xã hội tư bản đã “biến những con người bị tước mất bánh mì thành những con người bị tước mất đạo đức nữa”, “khiến đàn ông thì đầu trộm đuôi cướp, đàn bà thì ăn cắp và mãi dâm”, đây chính là nguồn gốc phát sinh tội phạm Kế thừa tư

tưởng của Mác, Paul Lafargue (1890), cũng trong tác phẩm“Die Kriminalitaet in

Frankreich von 1840 bis 1886 – Dynamik und Ursachen”, (Tình hình tội phạm, ở Pháp từ năm 1840 đến 1886- Động thái và nguyên nhân) [177] đã luận giải nguyên

nhân tội phạm dưới góc độ xem xét tội phạm là một hiện tượng xã hội, có tính lịch

sử Quan điểm của Paul Lafargue là phải đi tìm nguyên nhân của tình hình tội phạm không phải trong con người mà phải tìm ở môi trường nơi mà con người đó sinh sống và trong xã hội nơi con người đó hoạt động

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong giáo trình “Tội

phạm học xã hội chủ nghĩa” của E Buchholz, J Lekschas và D Hartmann [167]

xác định nguyên nhân của THTP là “tổng hợp các hiện tượng có mối tác động qua lại và thâm nhập lẫn nhau; các hiện tượng này là phổ biến và được lặp đi lặp lại nhiều lần trong các mối quan hệ luôn luôn thay đổi”

Các công trình chuyên khảo “Tính nhân quả trong tội phạm học” (1968) – Prichinnost v kriminologii, “Nguyên nhân của việc vi phạm pháp luật”(1976)-

Prichiny Pravonarushenii của Kudrjavcev.VN (1976) Trong các công trình này,

theo tác giả, môi trường sống và những đặc điểm của nhân thân người phạm tội đóng vai trò quyết định trong nguyên nhân của tình trạng phạm tội Đồng thời theo tác giả, những khiếm khuyết trong môi trường sống tuy không phải nguyên nhân trực tiếp của tội phạm nhưng “những nguyên nhân ấy tác động đến sự phát sinh tội phạm thông qua nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố thuộc về tâm lý – xã hội” Cũng theo tác giả, “Tính nhân quả trong tội phạm học thể hiện ở chỗ: “Thứ nhất: Luôn luôn có nhiều kết quả xảy ra; Thứ hai: Cùng do một nguyên nhân nhưng trong những điều kiện cụ thể thì có những hậu quả khác nhau” [132, tr 181] Do đó, để tìm

ra nguyên nhân thì phải làm rõ mối quan hệ giữa điều kiện - nguyên nhân và điều kiện - hậu quả và phải xem xét mối quan hệ giữa nguyên nhân – hậu quả Việc tìm ra nguyên nhân của tình hình tội phạm rất quan trọng “Nó đồng nghĩa với việc chủ động

Trang 17

11

tấn công vào tội phạm vừa tạo ra một cơ chế xã hội, trong đó không những có thể phòng ngừa được sự phát sinh của tội phạm mà còn có thể giáo dục, cải tạo kẻ vi phạm ngay trong xã hội mà không cần tách chúng khỏi xã hội” [132, tr 195]

Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm đã được các tác giả đặc biệt quan tâm, luận giải trong các công trình tiêu biểu nghiên cứu về lý luận tội phạm học ở Việt Nam đã được nêu ở phần trên Ngoài những công trình này, nguyên nhân

và điều kiện của tình hình tội phạm còn được nghiên cứu chuyên sâu trong các công

trình như cuốn “Tội phạm học, Luật Hình sự và Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam” của GS TSKH Đào Trí Úc với Chương 2 “C c nguyên nhân và điều kiện của tình

hình tội phạm”[129]; giáo trình “Tội phạm học nhập môn” của PGS TS Dương

Tuyết Miên [63]; công trình “Tội phạm ở Việt Nam- Thực trạng, nguyên nhân và

giải ph p” của TS Lê Thế Tiệm, Phạm Tự Phả và tập thể tác giả [108]; sách tham

tham khảo cho hệ đào tạo sau đại học “Một số vấn đề tội phạm học Việt Nam”, bài viết “Nguyên nhân và điều kiện của Tình hình tội phạm n ớc ta hiện nay – Mô hình

lý luận” của PGS TS Phạm Văn Tỉnh [109], sách chuyên khảo “Tội phạm học Việt Nam” tập 1 do GS TS Trần Đại Quang chỉ đạo biên soạn [77] Trong số các công

trình nghiên cứu về nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm phải kể đến Giáo

trình tội phạm học” của GS TS Võ Khánh Vinh, trong giáo trình này ông đã chỉ rõ

việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm phải dựa trên cơ

sở đúc kết của triết học, tâm lý học trên cơ sở xem xét cơ chế tâm lý – xã hội của hành vi phạm tội của con người Việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm chỉ mang lại kết quả hữu ích khi làm rõ được các yếu tố làm phát sinh tình hình tội phạm Theo ông, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được hiểu là hệ thống các hiện tượng xã hội tiêu cực trong hình thái kinh tế - xã hội tương ứng, quyết định sự ra đời của tình hình tội phạm như là hậu quả của mình Đây cũng chính là khái niệm mà tác giả sẽ kế thừa và triển khai khi nghiên cứu Chương 3 của đề tài luận án

1.1.3 Phòng ngừa tình hình tội phạm

Phòng ngừa tình hình tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của

tội phạm học Trong tác phẩm“Gia đình thần th nh”[160], C Mác đã chỉ ra sự cần

Trang 18

12

thiết phải “tiêu diệt nguồn gốc chống xã hội của tội phạm” Nhưng theo ông, “người làm luật thông thái phải phòng ngừa tội phạm làm sao để khỏi phải trừng phạt chúng” bởi sự tàn bạo, những hình phạt đau đớn và sự xỉ nhục con người không bao giờ làm giảm được tội phạm Mác – Ăng ghen đã kết luận “Không thể loại trừ tội phạm và các vi phạm an ninh xã hội bằng con đường cải cách những mặt riêng rẽ nào của đời sống xã hội, mà chỉ bằng con đường thay đổi toàn bộ hệ thống các quan

hệ xã hội, cải tạo những quan hệ xã hội bóc lột thành quan hệ xã hội cộng sản chủ nghĩa Phát triển tư tưởng của Mác- Ăng ghen, khi đề cập đến vấn đề tội phạm trong

xã hội Lê-nin đã chỉ rõ “Chúng ta biết rằng, nguyên nhân xã hội cơ bản của tội phạm, cần phải tìm trong sự bóc lột quần chúng, trong sự bần cùng hóa và sự đói nghèo của họ Cùng với sự thanh toán các nguyên nhân chủ yếu này, tình hình tội phạm sẽ bắt đầu tiêu vong”

Trong công trình nghiên cứu chuyên sâu về phòng ngừa tội phạm

“Justification of crime prevention” (Dịch: Cơ sở lý luận của việc phòng ngừa tội

phạm) [173], của tác giả Minkovskij G.M (chủ biên) đã xác định tội phạm là một

hiện tượng xã hội và phòng ngừa tội phạm chính là phương hướng cơ bản nhất Công trình này đã nghiên cứu tương đối toàn diện về phòng ngừa tội phạm, làm

rõ cơ sở lý luận, đặc điểm, cơ sở pháp lý của hoạt động phòng ngừa tội phạm cũng như các biện pháp phòng ngừa tội phạm Trong công trình này Minkovskij G.M đã viết “phòng ngừa tội phạm liên quan mật thiết với việc không ngừng hoàn thiện nguyên tắc pháp chế và bảo đảm sự điều chỉnh toàn diện của pháp luật” Đây là quan điểm mà tác giả luận án sẽ tham khảo khi nghiên cứu và đề xuất, kiến nghị các biện pháp pháp luật trong phòng ngừa tình hình tội LĐCĐTS

ở miền ĐNB trong thời gian tới

Bài viết Kriminalgeographie: Theoretische Konzepte Und Empirische

Ergebnisse (Tạm dịch Địa lý học tội phạm: Các khái niệm lý thuyết và kết quả kinh

nghiệm) của Thilo Eisenhardt [176] đã đề cập đến mối quan hệ phụ thuộc của tình hình tội phạm vào các cấu trúc địa lý vùng, những yếu tố này tác động đến sự phát sinh hay tạo những điều kiện thuận lợi cho tội phạm phát triển Đây chính là quan

Trang 19

13

điểm về “địa lý học tội phạm”, là quan điểm mà tác giả luận án theo đuổi và cần làm rõ khi nghiên cứu về tội LĐCĐTS ở miền ĐNB

Bài viết “Einige aktuelle Erfahrungen zur Kriminalprävention mit deutschem und

europäischem Kontext” của Erich Marks (2009) công bố trong tập tài liệu của Hội nghị

lần thứ XII của Liên hiệp quốc về phòng ngừa tội phạm và tư pháp hình sự [166, tr 20] Trong bài viết, Erich Marks khẳng định, phòng ngừa tội phạm là một chiến lược giải quyết vấn đề và nguyên nhân của tình hình tội phạm Cụ thể, phòng ngừa tội phạm gồm có phòng ngừa cơ bản, phát sinh và tái phạm Đây là một trong những quan điểm

9-mà tác giả luận án tiếp thu và triển khai trong chương 3 của Luận án

Đối với các công trình nghiên cứu trong nước, phòng ngừa tình hình tội phạm luôn được xác định là nội dung đặc biệt quan trọng và được các tác giả làm rõ trong tất cả các công trình nghiên cứu về lý luận Tội phạm học như các cuốn giáo trình

“Tội phạm học”, GS.TS Võ Khánh Vinh, năm 1996, 2006, 2008, 2011, 2013

[141]; Giáo trình “Tội phạm học” của trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình “Tội

phạm học” của GS, TS Đỗ Ngọc Quang [78]; “Giáo trình tội phạm học” của Học

viện Cảnh sát nhân dân, năm 2002, do PGS.TS Phạm Tuấn Bình chủ biên [5];

cuốn“Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [38]; “Tội phạm

học hiện đại và phòng ngừa tội phạm” [113];“Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam” [111]; bài viết “Tội phạm học Việt Nam và Phòng ngừa tội phạm” của PGS TS Phạm Văn Tỉnh [110]; bài viết “Kh i niệm phòng ngừa tội phạm d ới góc độ tội phạm học” của TS Trịnh Tiến Việt [138, tr185-199]; bài

“Đ nh gi hiệu quả phòng ngừa tội phạm - Một số vấn đề lý luận” của PGS TS Nguyễn Thị Phương Hoa [43]; bộ sách “Tội phạm học Việt Nam”cuốn “Tội phạm

học Đại c ơng” do GS TS Trần Đại Quang chỉ đạo biên soạn [77]…

Các công trình này với nhiều cung bậc tri thức các tác giả đã lý giải tội phạm

là một hiện tượng xã hội có nguồn gốc xã hội, có bản chất giai cấp vì thế để phòng ngừa tội phạm phải tiến hành thường xuyên, liên tục bằng tất cả các biện pháp của Nhà nước, biện pháp xã hội Các tác giả đưa ra khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm, theo đó có thể khái quát, phòng ngừa tình hình tội phạm có thể hiểu là không

để cho bất cứ thành viên nào của xã hội phải bị xử lý bằng pháp luật; hay hiểu rộng

Trang 20

14

hơn là phòng ngừa tình hình tội phạm một mặt là thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện phạm tội, không để cho tội phạm xảy ra; mặt khác bằng mọi biện pháp ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội, đồng thời cuối cùng là cải tạo giáo dục người phạm tội làm cho họ trở thành người công dân có ích cho xã hội Quan điểm này chính là định hướng cho tác giả khi nghiên cứu về thực tiễn và các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB

Tóm lại, các công trình nêu trên là những công trình được nghiên cứu công phu, có giá trị khoa học cao; những công trình này chứa đựng hệ thống tri thức đóng vai trò nền tảng trong lý luận Tội phạm học Những kiến thức khoa học này là cơ

sở, là tiền đề quan trọng để tác giả luận án tiếp thu, triển khai nghiên cứu về tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB

1.2 Những công trình nghiên cứu đề cập đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1.2.1 Những công trình đề cập đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ luật học

Tội LĐCĐTS thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu, được ghi nhận trong các

Bộ luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới [161, 162, 163] Trong nhiều công

trình nghiên cứu như Bộ luật hình sự Liên bang Nga; các công trình “Bình luận khoa

học Bộ luật hình sự Liên bang Nga” của GS.TS Ametsina X.M, NXb Pháp lý,

Matxcơva [156]; “Bình luận Bộ luật hình sự Liên bang Nga”, do TS.Lebedev chủ biên [172], nhà xuất bản Tòa án Tối cao Liên bang Nga, năm 2007; Cuốn “Phân tích

c c đặc điểm chung của các tội xâm phạm sở hữu, phân tích các dấu hiệu của từng tội phạm” của GS.TS Borzenkop và GS.TS Kanuixarop chủ biên, nhà xuất bản

Trường Đại học tổng hợp Xretlov, nước Nga [158] các tác giả đã phân tích, làm rõ dấu hiệu pháp lý của tội LĐCĐTS Đáng chú ý là trong công trình nghiên cứu chuyên

sâu về tội phạm sử dụng máy tính “Computer Crime” (Tạm dịch: Tội phạm máy tính)

[165], các tác giả Catherine H.Conly và J.Thomas M Ewen đã đưa ra khái niệm, mô

tả về các phương thức, thủ đoạn của tội lừa đảo trên các hệ thống máy tính như lừa đảo trên dịch vụ của hệ thống điện thoại; lừa đảo bằng các phương tiện chứa thông tin thanh toán giả; lừa đảo bằng các biện pháp tác động vào hệ thống dữ liệu để làm sai

Trang 21

15

lệch hệ thống tính toán hoặc đưa ra những tính toán sai lệch để chiếm đoạt hoặc với mục đích che đậy các hành vi lừa đảo Đây là những hình thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra nhiều ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ trong thời gian vừa qua Do đó, đây

là một công trình rất hữu ích cho tác giả khi nghiên cứu luận án

Ở trong nước, dưới góc độ luật học, tội LĐCĐTS đã được đề cập đến trong

nhiều công trình bình luận khoa học, giáo trình, sách chuyên khảo như “Bình luận

khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam, Phần các tội phạm”, Nhà xuất bản CAND, năm

2001 do TS Phùng Thế Vắc chủ biên [130]; “Bình luận khoa học Bộ Luật hình sự

Việt Nam- Phần các tội phạm” của tác giả Đinh Văn Quế [81];“Bình luận khoa học

Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, Phần các tội phạm”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010 do TS Nguyễn Đức Mai chủ

biên [61];“Gi o trình Luật hình sự Việt Nam”, phần các tội phạm do TS Cao Thị Oanh chủ biên, năm 2010 [71]; “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam”, phần các tội phạm của các trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, [28]; “Gi o trình Luật

hình sự Việt Nam” phần các tội phạm, của Học viện Cảnh sát nhân dân [47]; giáo

trình “Luật hình sự Việt Nam”[139,140] do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên; cuốn

“Tìm hiểu và bình luận các tội xâm phạm sở hữu” do Nguyễn Ngọc Điệp chủ biên

[33]; Cuốn sách “Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự 1999 đ ợc sửa

đổi, bổ sung năm 2009” năm 2010, chủ biên PGS.TS Phạm Việt và PGS.TS Trần

Quốc Thắng, [136]; cuốn “Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự năm

1999 đ ợc sửa đổi bổ sung năm 2009” của tác giả Nguyễn Mai Bộ, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, năm 2010 [9]

Ở phạm vi các luận án, luận văn và trong các bài báo khoa học hẹp hơn, tội

LĐCĐTS được nghiên cứu trong bài“Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình

sự năm 1999”, của tác giả Trương Quang Vinh [146]; bài “Một số vấn đề về động

cơ phạm tội trong các tội xâm phạm sở hữu” của tác giả Phạm Tài Tuệ [125]; bài

“Hoàn thiện c c qui định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu”của tác

giả Nguyễn Ngọc Anh [2]; bài “Về áp dụng “Tình tiết định khung”, “Tình tiết

phạm tội nhiều lần” trong c c tội xâm phạm sở hữu” của tác giả Nguyễn Thanh Hải

[32]; “Bàn về định tội danh với một số tội xâm phạm sở hữu” của Lê Văn Luật

Trang 22

16

[57]; bài “Hoàn thiện c c quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm sở

hữu” [19] của tác giả Trần Vi Dân;“Bàn về việc giải quyết những vụ lừa đảo trên thẻ của ng ời n ớc ngoài”, của tác giả Vũ Trọng Thưởng [106; tr.58, 59, 62]; “X c định ranh giới các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với giao dịch dân sự”, của tác giả Vũ Quốc Thắng [104] và một số bài báo khoa học khác

Các công trình nghiên cứu tội LĐCĐTS dưới góc độ luật học đã tập trung làm

rõ khái niệm, dấu hiệu pháp lý hình sự, thực tiễn áp dụng pháp luật, phương hướng hoàn thiện pháp luật đối với các tội xâm phạm sở hữu và tội LĐCĐTS nói riêng Kết quả nghiên cứu của các công trình nêu là cơ sở để tác giả tham khảo, đề xuất các biện pháp pháp luật trong phòng ngừa tình hình tội LĐCĐTS

1.2.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ Tội phạm học và điều tra tội phạm

Dưới góc độ Tội phạm học và Điều tra tội phạm, có rất nhiều đề tài khoa học, luận án, luận văn và các bài viết về tội LĐCĐTS, có thể khái quát như sau:

Đối với các đề tài khoa học có thể kể đến đề tài khoa học cấp Bộ của tác giả

Nguyễn Đình Chiến “Tội phạm kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng và giải pháp

phòng ngừa đấu tranh”, công bố năm 2001 [14]; Đề tài khoa học cấp Bộ “Tội phạm lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, trốn thuế trong các công ty TNHH- Thực trạng

và giải pháp phòng ngừa đấu tranh của lực l ợng Cảnh sát kinh tế” do Nguyễn

Tiến Lực chủ biên, công bố năm 2003 [58]; đề tài khoa học cấp Bộ “Hoạt động lừa

đảo do ng ời n ớc ngoài thực hiện tại các tỉnh, thành phía Nam – Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh” năm 2009 do PGS, TS Trịnh Văn Thanh làm chủ

nhiệm [99]; Đề tài khoa học cấp cơ sở “Hoạt động phòng ngừa, điều tra tội phạm

LĐCĐTS trong lĩnh vực ngân hàng của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật

tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng, giải

ph p” của tác giả Ngô Thanh Sơn [96]; Đề tài khoa học cơ sở “Hoạt động phòng ngừa, điều tra tội phạm LĐCĐTS của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự

xã hội của Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” của tác giả Đậu Trung Thành, công bố

năm 2012 [101]

Trang 23

17

Tội LĐCĐTS cũng được nhiều tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu khi thực

hiện luận án tiến sĩ như: “An Investigation of Financial Fraud in Online Banking

and Card Payment Systems in the UK and China” (Một điều tra về lừa đảo tài chính qua ngân hàng trực tuyến và hệ thống thanh toán qua thẻ ở Trung Quốc và

V ơng quốc Anh) của Yan Sun, công bố năm 2010 [178];“Hoạt động của lực

l ợng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

của Phạm Quang Phúc [75]; luận án“Điều tra tội phạm chiếm đoạt tài sản Nhà

n ớc” của Phạm Xuân Định; luận án“Đấu tranh phòng, chống tội LĐCĐTS ở Việt Nam” của tác giả Lê Đăng Doanh, năm 2008 [23]; luận án “Điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đảo chiếm đoạt tài sản của công dân có yếu tố đồng phạm ở CHDCND Lào theo chức năng của CSĐT” của Chít Vị Xay Kẹo Ma Ni Vông [18]; luận án

“Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực xuất khẩu lao động của lực l ợng cảnh s t điều tra” của tác giả Trần Anh Tuấn [124]

Ở phạm vi luận văn thạc sĩ và các bài viết, tội LĐCĐTS được nghiên cứu

trong nhiều công trình như: luận văn “Điều tra tội lừa đảo chiếm đoạt tài của công

dân theo chức năng của lực l ợng Cảnh s t điều tra tại thành phố Viên Chăn n ớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” của tác giả Vi-say [149]; luận văn “Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo theo Luật hình sự Việt Nam”của tác giả Nguyễn Sỹ Lý

[59]; luận văn “Phát hiện, điều tra tội phạm lừa đảo trong việc thực hiện Luật thuế

giá trị gia tăng của lực l ợng Cảnh sát kinh tế” của Phan Quang Phương [76];“Điều tra tội LĐCĐTS thông qua hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của lực l ợng Cảnh sát nhân dân và một số giải pháp nâng cao hiệu quả” của

tác giả Nguyễn Giang Nam [64], luận văn “Nâng cao hiệu quả chuyên n đấu tranh

chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả

Nguyễn Trung Kiên [52], luận văn“Phòng ngừa và điều tra tội phạm lừa đảo chiếm

đoạt tài sản của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Bình Định” của Nguyễn Văn Sử [97], “Hoạt động điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Tây Ninh” của Nguyễn Đỗ Xuân Vũ [150]; “Quan hệ giữa Cơ quan Cảnh s t điều

Trang 24

18

tra và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình D ơng trong điều tra các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Lê Thị Gấm [34]; “Hoạt động đối chất trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Tây Ninh” của Nguyễn Văn Sơn [95]; “Hoạt động của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Bình D ơng trong điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh [53]

Bên cạnh đó, tội LĐCĐTS thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu do đó tình hình tội LĐCĐTS cũng được phản ảnh trong các công trình nghiên cứu về nhóm

này như luận án “Quan hệ phối hợp giữa lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về

trật tự xã hội với công an cơ sở trong phòng ngừa tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn miền Đông Nam Bộ”, công bố năm 2016 của tác giả Trần Công Lâm [54];

luận văn “Hoạt động của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự xã hội

Công an tỉnh Bạc Liêu trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của

Nguyễn Minh Quân [80]; “Điều tra các tội xâm phạm sở hữu có yếu tố n ớc ngoài

của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố Hồ Chí Minh” của Mai Trọng Hạnh [39]

1.2.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm

Dưới góc độ tội phạm học, tội LĐCĐTS được đề cập trong nhiều công trình

nghiên cứu như cuốn sách“Trend in cybercrime: The Dark side of the internet” của Hoar.S,Westlaw, 2005 (Xu h ớng tội phạm mạng: mặt trái của Internet) [169] đã

đề cập đến tình hình tội LĐCĐTS sản qua mạng internet Cuốn “Cyber crime and

business: How not to caught by the online phisherman” (Tạm dịch: Tội phạm mạng

và kinh doanh: làm thế nào để không bị mắc bẫy những kẻ câu thông tin trên mạng)

năm 2010 của Nykodym.N., Kahle-Piasecki, L., Ariss, S., &Toussaint, T [175], đã

đi sâu phân tích tình hình tội LĐCĐTS sản qua mạng internet ở Mỹ Tổng hợp công

trình nghiên cứu chuyên về tội phạm học “Handbook on crime” (Tạm dịch: Cẩm

nang về tội phạm) của tác giả Fiona Brookman, Nxb Willan, 2010 [168] đã tổng

hợp các kết quả nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu của nhiều nhà tội phạm

học nổi tiếng trên thế giới Trong đó có các công trình “Theft and fraud by

Trang 25

19

employees” (Trộm cắp và lừa đảo của nhân viên) của các tác giả Martin Gill và

Janice Goldstraw-White; Công trình “Credit fraud” (Lừa đảo tín dụng) của Michael Levi; Công trình “Identity theft and fraud” (Trộm cắp thông tin cá nhân và lừa đảo) của tác giả Natasha Semmens; Công trình “Cybercrime” (Tội phạm mạng) của

Matthew Williams Trong các công trình này, các tác giả đã trình bày khái quát nguyên nhân và điều kiện của từng nhóm tội phạm, trong đó có tội LĐCĐTS trong từng lĩnh vực cụ thể và đưa ra hệ thống các giải pháp phòng, chống đối với tội phạm

này trong từng lĩnh vực Cuốn Tội phạm kinh tế thời mở cửa” do GS.TS Nguyễn

Xuân Yêm và PGS.TS Nguyễn Hòa Bình chủ biên [152] đã mô tả những vấn đề cơ bản về tình hình tội LĐCĐTS ở nước ta trong giai đoạn 1990 - 2001 Trong công

trình“Tội phạm học Việt Nam, Tập 2, Tội phạm học chuyên ngành” do GS.TS Trần

Đại Quang chỉ đạo biên soạn, năm 2014 [77], các tác giả đã đề cập đến tội LĐCĐTS, đặc biệt là tội LĐCĐTS sử dụng công nghệ cao

Khái quát một số đề tài khoa học và luận án tiến sĩ có đề cập trực tiếp đến

tội LĐCĐTS có thể kể đến Đề tài khoa học KX.04.14 “Tội phạm ở Việt Nam thực

trạng, nguyên nhân và giải ph p” [108] do Lê Thế Tiệm làm chủ nhiệm, đã phân

tích sơ lược về tình hình tội LĐCĐTS XHCN và tội LĐCĐTS của công dân giai đoạn 1983 đến 1985 (thời kỳ trước đổi mới) và giai đoạn 1990 đến 1993 (thời kỳ

đổi mới); Luận án tiến sĩ “The effects of technology on interpersonal fraud” (Các

ảnh h ởng của công nghệ đến lừa đảo giữa các cá nhân) cuả Andrew Justin

Harrison, Virginia Commonwealth University, năm 2004 [154]; luận án tiến sĩ

“Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do ng ời n ớc ngoài thực hiện ở Việt Nam” của tác giả Lê Quang Thành, công bố năm 2016 Đáng chú ý

trong luận án tiến sĩ “Examining Violent and Property Crimes in the Provinces of

Turkey for the Years of 2000 and 2007” (Xem xét tội phạm có sự dụng bạo lực và tội phạm về tài sản ở một số tỉnh của Thổ Nhĩ Kỳ c c năm 2000 và 2007), Virginia

Commonwealth University, công bố năm 2010 [174], tác giả Mus Ekrem đã kết luận, tình trạng gia đình có ảnh hưởng mạnh nhất đến tội phạm liên quan đến bạo lực trong khi đó GDP lại là chỉ báo quan trọng nhất của tội phạm về tài sản trong

Trang 26

20

đó bao gồm tội LĐCĐTS Đây là kết luận mà tác giả luận án đồng quan điểm khi nghiên cứu về tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB

Trong nhiều luận văn cao học, các bài viết nghiên cứu về tội LĐCĐTS có thể

kể đến luận văn “Recognition and Reporting of Insurance Fraud in Comparison to

Property Crimes” (Nhận dạng và trình báo tội lừa đảo bảo hiểm so với các tội về tài sản) của Aneta C.D Andros Central Connecticut State University, 2010 [155],

kết quả nghiên cứu chỉ ra hành vi phạm tội lừa đảo trong lĩnh vực bảo hiểm ít được trình báo cơ quan chức năng hơn các hành vi phạm các tội về tài sản khác Về vấn

đề này, bài báo “Well-Meaning Programs Can Have Harmful Effects! Lessons from

Experiments on Programs Such as Scared Straight” (C c ch ơng trình có ý nghĩa cũng có c c ảnh h ởng tiêu cực! Những bài học thu đ ợc từ thực tiễn) đăng trên

tạp chí Crime and Delinquency [157] của các tác giả Anthony Petrosino, Carolyn Turpin-Petrosino và James Finckenauer cũng cho rằng tiền bảo hiểm, lương hưu, tiền thu được từ việc bán nhà, tiền An sinh xã hội và tiền tiết kiệm của những người cao tuổi là mục tiêu hấp dẫn của tội lừa đảo ở các viện dưỡng lão Ở phạm vi trong nước, nhiều luận văn thạc sĩ luật học đã chọn đề tài nghiên cứu liên quan đến tội

LĐCĐTS như “Phòng ngừa tội phạm LĐCĐTS có yếu tố n ớc ngoài theo chức

năng của lực l ợng CSĐT tội phạm về kinh tế và chức vụ trên địa bàn thành phố

Hà Nội” của tác giả Trần Thị Thu Nga [67]; “Phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an thành phố Hồ Chí Minh” của Phan Quý

Vương; luận văn “Tội LĐCĐTS trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại thành phố

Hồ Chí Minh: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng, chống” năm 2014, của

tác giả Nguyễn Vũ Mai Diễm [21];“Phòng ngừa tội phạm LĐCĐTS trong lĩnh vực

ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của Phạm Văn Tuân [123]; “Tội LĐCĐTS trong lĩnh vực ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”của Trần Hoài Nhân [66]

Tội LĐCĐTS chỉ là một trường hợp cụ thể nằm trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu, thuộc bức tranh chung về tình hình tội phạm, do đó tình hình tội LĐCĐTS cũng được phản ánh trong các công trình nghiên cứu về tình hình các tội

Trang 27

21

xâm phạm sở hữu như trong luận án “Phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu do

ng ời ch a thành niên thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả

Huỳnh Tấn Đạt công bố năm 2018 [32]; luận văn “Hoạt động phòng ngừa tội phạm

xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt do ng ời ch a thành niên thực hiện của lực

l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự xã hội của Công an tỉnh Bình D ơng”

của Bùi Ngọc Hà [35]; luận văn“Nguyên nhân và điều kiện các tội xâm phạm sở

hữu có tính chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Bình Ph ớc” của Lê Văn Tùng [126];

“Nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Bình D ơng” của Nguyễn Đình Thanh [98]; “Các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Bình Ph ớc: tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” của Trần

Thị Hồng Lê [55]; “Các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Bình Ph ớc: tình

hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” của Nguyễn Thị Diệu Hiền [40]…

Qua nghiên cứu những công trình nêu trên, có thể nhận thấy tội LĐCĐTS đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ, đa dạng và phong phú Song những công trình này chủ yếu chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực nhất định hoặc theo chức năng, nhiệm vụ của từng lực lượng hay giới hạn ở một địa bàn cụ thể, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tình hình tội LĐCĐTS ở địa bàn miền ĐNB Tuy nhiên, kết quả của những công trình mà tác giả đã tiến hành khảo cứu đã cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phong phú mà tác giả có thể chọn lọc, kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án

1.3 Đánh giá tổng quan và những vấn đề đặt ra mà đề tài tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.3.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Thông qua việc khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án, có thể nhận thấy nguồn tài liệu về lý luận tội phạm học cũng như tội LĐCĐTS rất đa dạng Đây là những nguồn tài liệu, những công trình rất hữu ích đối với tác giả trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài luận án Những nguồn tài liệu này có thể chia thành ba nhóm:

Nhóm thứ nhất là những công trình nghiên cứu về lý luận tội phạm học trong nước và ngoài nước là những công trình tạo nền móng cho sự phát triển của Tội

Trang 28

tế - xã hội khác nhau thì có quan điểm khác nhau về tội LĐCĐTS Đối với những công trình nghiên cứu trong nước, nhất là các giáo trình, các cuốn bình luận khoa học, sách chuyên khảo đã phân tích, làm rõ khái niệm, những dấu hiệu pháp lý hình

sự của tội LĐCĐTS, cơ sở để phân biệt giữa tội LĐCĐTS với các tội phạm khác, nhất là các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Kết quả của những công trình này đã hỗ trợ tác giả khi nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện xuất phát từ những hạn chế của pháp luật và đề xuất các biện pháp pháp luật, các biện pháp tuyên truyền giáo dục để đưa pháp luật vào cuộc sống, nhằm phòng ngừa hiệu quả tình hình tội LĐCĐTS ở khu vực miền ĐNB

Nhóm thứ ba là các công trình nghiên cứu về tội LĐCĐTS dưới góc độ Tội phạm học và Điều tra tội phạm Các công trình này đã khái quát tình hình, nguyên nhân và điều kiện cũng như đề ra các biện pháp phòng ngừa tội LĐCĐTS Song, do giới hạn bởi phạm vi chuyên ngành nghiên cứu nên các công trình thuộc nhóm này chủ yếu tập trung phân tích sâu về phương pháp, chiến thuật điều tra, khám phá tội LĐCĐTS và chủ yếu tập trung vào các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ theo chức năng của lực lượng Công an.Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu, phương pháp tiếp cận để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung của các công trình, tài liệu tham khảo nói trên đã cung cấp thêm cho tác giả cái nhìn tổng quát hơn về tội LĐCĐTS, cung cấp thêm về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để nghiên cứu về phòng ngừa tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB và đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội này

Nhóm thứ tư là các công trình nghiên cứu về tình hình tội LĐCĐTS dưới góc

độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm Trong nhóm này, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nguyên nhân và điều kiện tội LĐCĐTS trong từng lĩnh vực cụ

Trang 29

23

thể ở các nước và ở Việt Nam đã cung cấp cho tác giả luận án có cái nhìn thấu đáo hơn đối với nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội LĐCĐTS trong từng lĩnh vực trên địa bàn miền ĐNB Nhóm các công trình nghiên cứu là các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội LĐCĐTS ở từng địa bàn cụ thể trong từng giai đoạn nhất định đã được các tác giả khái quát hoặc phân tích làm rõ và đề xuất các giải pháp phòng ngừa Những công trình này chủ yếu sử dụng chất liệu nghiên cứu trên phạm vi cả nước hoặc trong giới hạn của một địa phương nhất định mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB Song, những giải pháp và kiến nghị khoa học của những công trình này là nguồn tài liệu phong phú

để tác giả luận án tham khảo, tiếp tục nghiên cứu hoặc phát triển những vấn đề mới

1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Những công trình liên quan đến đề tài luận án được nghiên cứu dưới nhiều góc

độ, cấp độ khác nhau Những công trình này đã đóng góp tích cực vào hệ thống lý luận cũng như thực tiễn phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội LĐCĐTS nói riêng không chỉ là hiện tượng xã hội, hiện tượng mang tính lịch sử cụ thể, tính pháp lý mà còn mang tính không gian và thời gian hay còn gọi là tính “địa lý học của tội phạm” Trong khi đó, qua khảo cứu cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về tình hình tội LĐCĐTS gắn liền với những điều kiện địa lý, tự nhiên, văn hóa, kinh tế, xã hội của miền ĐNB Do đó, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình đã khảo cứu, tác giả rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sau đây:

Một là, phân tích, đánh giá về mức độ, động thái, cơ cấu, tính chất của tình

hình tội LĐCĐTS, nhân thân người phạm tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB từ năm 2007 đến năm 2017 Qua đó, lý giải những đặc thù của tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB so với các địa bàn khác

Hai là, phân tích, lý giải nguyên nhân và điều kiện của tội LĐCĐTS xuất phát

từ chính con người và đời sống xã hội của miền ĐNB trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2017

Trang 30

24

Ba là, từ kết quả nghiên cứu tình hình tội LĐCĐTS, làm rõ nguyên nhân điều

kiện của hiện tượng tiêu cực này để xây dựng hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường phòng ngừa tình hình tội này trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian tới

Kết luận Chương 1

Để giải quyết những vấn đề mà đề tài luận án đặt ra, tác giả đã thực hiện khảo cứu nhiều công trình nghiên cứu về lý luận Tội phạm học cũng như các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tội LĐCĐTS Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về lý luận cơ bản của Tội phạm học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử chính là nền tảng, là cơ sở lý luận để tác giả luận án giải quyết các vấn đề mà đề tài nghiên cứu của luận án đã đặt

ra Những vấn đề này chính là tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB, nguyên nhân điều kiện của tình hình tội này ở miền ĐNB và hệ thống các biện pháp phòng ngừa tình hình tội này

Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tội LĐCĐTS đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhiều chuyên ngành khác nhau Đối với những công trình nghiên cứu về tội LĐCĐTS, phòng ngừa tội LĐCĐTS ở nước ngoài, do những khác biệt về pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội nên kết quả nghiên cứu của những công trình này chưa có sự tương đồng đối với tình hình tội LĐCĐTS

ở nước ta nói chung, ở miền ĐNB nói riêng Ở trong nước, các công trình nghiên cứu

có nội dung liên quan trực tiếp, gián tiếp đến tội LĐCĐTS rất phong phú và đa dạng Những công trình này được thể hiện dưới nhiều hình thức như giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học, luận văn, luận án… Tuy nhiên, đa phần các công trình này được tiếp cận dưới góc độ Luật hình sự hoặc Hoạt động điều tra, phòng chống tội LĐCĐTS nên các giải pháp chủ yếu đi sâu vào các giải pháp phòng ngừa nghiệp vụ, hoàn thiện pháp luật Một số công trình nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học song lại tập trung theo một mảng, giới hạn tại một địa phương hay trong một số lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực tài chính, ngân hàng, lừa đảo do người nước ngoài thực hiện hoặc tuy có công trình nghiên cứu tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn cả nước nhưng ở thời gian trước đây (từ năm 2000 – 2006) nên số liệu đã cũ không còn phù hợp với

Trang 31

về văn hóa, kinh tế, lối sống của con người miền ĐNB đã tác động đến tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn này như thế nào Có làm sáng tỏ được những vấn đề này, xác định đúng nguyên nhân và điều kiện của tội này thì mới giải quyết được căn nguyên của tình hình tội này; từ đó xây dựng hệ thống các giải pháp phòng ngừa hiệu quả, kéo giảm tình hình tội này trên địa bàn miền ĐNB

Trang 32

26

Chương 2 TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 2.1 Khái niệm tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

Khái niệm “tình hình tội phạm” là khái niệm cơ bản, là đối tượng nghiên cứu đầu tiên, được đề cập đến trong rất nhiều các công trình nghiên cứu về Tội phạm học Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, được hình thành từ những hành

vi phạm tội do con người sống trong xã hội gây ra song tình hình tội phạm không chỉ dừng lại ở những hành vi phạm tội đơn lẻ, cũng như không phải sự kết hợp ngẫu nhiên của tổng số tội phạm đã xảy ra trong xã hội mà là một tổng thể thống nhất, biện chứng của các tội phạm cụ thể cấu thành hiện tượng đó Tình hình tội phạm là

“bức tranh tổng thể” phản ánh về hiện tượng tội phạm - “hiện tượng tiêu cực nguy hiểm lớn nhất cho xã hội” [141, tr57]

Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu và đưa ra khái niệm về tình hình tội phạm, song có công trình mới chỉ đề cập đến khái niệm THTP mà chưa chỉ rõ các đặc điểm, nội dung của THTP; có công trình chỉ nói về mặt biểu hiện của tình hình tội phạm hay tập trung làm rõ nội dung của THTP nhưng lại không rút ra khái niệm Khi nghiên cứu vấn đề này, GS.TS Võ Khánh Vinh đã chỉ rõ để có cơ sở đưa

ra khái niệm về THTP phải hiểu được dấu hiệu và các thuộc tính của nó Chính vì vậy, ông đã chỉ rõ các dấu hiệu, các thuộc tính của THTP Theo ông, trước hết tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, chứ không phải là hiện tượng sinh vật học, vật lý, hóa học hay vũ trụ học “THTP có nguồn gốc xã hội, tồn tại trong xã hội, có nội dung xã hội, có nguyên nhân trong xã hội và số phận của nó cũng mang tính xã hội” [141; tr55] THTP là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp; THTP xuất hiện cùng với sự phân chia giai cấp đối kháng trong xã hội, gắn liền với xã hội có giai cấp THTP là một hiện tượng pháp lý – hình sự; những thay đổi của pháp luật hình sự theo hướng tội phạm hóa hoặc phi tội phạm hóa những hành vi cụ thể sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến các chỉ số của THTP, ảnh hưởng đến việc đánh giá thực trạng (mức độ), cơ cấu và động thái của THTP THTP là một hiện tượng tiêu cực nguy

Trang 33

27

hiểm lớn nhất cho xã hội; những hậu quả tác hại về mọi mặt do THTP gây ra là một trong những dấu hiệu không thể thiếu được của khái niệm THTP chứ không phải là một sự kiện riêng biệt hay là phép cộng cơ học thuần túy bằng phép tính tổng cộng các thiệt hại do từng tội phạm cụ thể gây ra THTP là khái niệm chung được hình thành từ tổng thể thống nhất các tội phạm đã thực hiện trong xã hội Tổng thể thống nhất này có các đặc điểm về chất, đặc điểm về lượng và giữa các dấu hiệu, đặc điểm của THTP luôn có sự thống nhất biện chứng của nó THTP là một hiện tượng xã hội tồn tại trong một xã hội nhất định và ở trong khoảng thời gian nhất định, do đó một dấu hiệu nữa của THTP đó là THTP không thể nói chung chung mà phải nói THTP trong một địa bàn và ở một khoảng thời gian nhất định Từ việc phân tích rõ các dấu hiệu, các thuộc tính của THTP, GS.TS Võ Khánh Vinh đã đưa ra khái niệm khái niệm rõ ràng, toàn diện, bao hàm cả bản chất (tức là quy luật của sự phạm tội) và cả mặt biểu hiện của bản chất đó: “tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, pháp

lý - hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính chất giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định

và trong một khoảng thời gian nhất định Tình hình tội phạm có sự thống nhất biện chứng của tất cả các yếu tố cấu thành, biểu hiện ở các thông số (đặc điểm) về lượng

và các thông số (đặc điểm) về chất của nó” [141, tr61] Những thông số của tình hình tội phạm bao gồm: những thông số (đặc điểm) về lượng của tình hình tội phạm

là thực trạng (mức độ) và động thái (diễn biến) của nó và những chỉ số (đặc điểm)

về chất của tình hình tội phạm là cơ cấu và tính chất của nó

Trên cơ sở kế thừa và đồng quan điểm với GS TS Võ Khánh Vinh, tác giả luận án áp dụng lý luận này trong triển khai nghiên cứu vào thực tế đề tài luận án

rút ra khái niệm về tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB như sau:“Tình

hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB là một hiện t ợng xã hội, pháp lý – hình

sự đ ợc thay đổi về mặt lịch sử, mang tính chất giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) của tội LĐCĐTS thực hiện trên địa bàn miền ĐNB trong một khoảng thời gian nhất định”

Theo triết học Mác – Lênin, mỗi khái niệm đều chứa đựng ba yếu tố chung, riêng và đơn nhất Do đó, cũng cần khẳng định rõ, tình hình tội LĐCĐTS trên địa

Trang 34

28

bàn miền ĐNB chỉ là một trong những mảnh ghép của tình hình các tội xâm phạm

sở hữu – phần mảng ghép lớn hơn trong “bức tranh tổng thể” về tình hình tội phạm trên địa bàn miền ĐNB Hay nói cách khác, tình hình tội LĐCĐTS chỉ là một trường hợp cụ thể, một “cái riêng” của tình hình tội phạm nói chung Đồng thời, không nằm ngoài khung lý luận chung của tình hình tội phạm, tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB cũng được phản ánh thông qua các thông số về mức độ, động thái,

cơ cấu, tính chất của tình hình tội này Song, con người “chỉ có thể tiệm cận đến THTP thực tế” [48, tr137]; thực tiễn phòng ngừa tội phạm luôn chỉ ra vẫn tồn tại một số trường hợp tội phạm đã thực hiện nhưng không bị phát hiện, xử lý do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, như: Do thiếu sót của cơ quan bảo vệ pháp luật, nhân dân không tố giác, do pháp luật còn kẽ hở hoặc do người thực hiện hành

vi phạm tội đã có các thủ đoạn tinh vi để che dấu tội phạm, do chưa đưa vào hoặc

có sai sót trong thống kê hình sự… Chính vì vậy, THTP nói chung, tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB nói riêng luôn ở trong tình trạng phân đôi thành hai phần ẩn- hiện khác nhau được gọi là phần hiện của tình hình tội phạm (hay phần tội phạm rõ) và phần ẩn của THTP (hay còn gọi là tội phạm ẩn)

2.2 Phần hiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

“Phần hiện của THTP là toàn bộ những hành vi phạm tội và chủ thể của các hành vi đó đã bị xử lý theo đúng qui định của pháp luật hình sự ở từng đơn vị hành chính – lãnh thổ hay trên phạm vi toàn quốc, trong những khoảng thời gian nhất định và được ghi nhận trong thống kê hình sự” Phần hiện của THTP phản chiếu hình ảnh thu nhỏ của THTP và qua phần hiện có thể nhận diện được những đặc điểm của THTP Từ cơ sở lý luận về phần hiện của THTP, những đặc điểm của tình hình tội LĐCĐTS được biểu hiện qua các thông số về chất và về lượng Các thông

số này có mối quan hệ biện chứng với nhau Sự thay đổi của thông số về lượng hay

về chất cho dù ở dạng tổng thể hay dạng từng phần đều tất yếu dẫn đến sự thay đổi của tình hình tội LĐCĐTS Chính vì vậy, việc thu thập, phân tích và đánh giá đúng các thông số của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền Đông Nam Bộ rất quan trọng Do đó, để nghiên cứu về thực trạng (mức độ), diễn biến (động thái), cơ cấu,

Trang 35

29

tính chất của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB, tác giả dựa vào nguồn

số liệu thống kê của TAND, VKSND, số liệu thống kê của lực lượng CSND các tỉnh, thành miền ĐNB và thông tin tội phạm học từ 480 bản án hình sự sơ thẩm để nghiên cứu, làm rõ phần hiện của tình hình tội LĐCĐTS

2.2.1 Thực trạng (mức độ) của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

“Thực trạng (Mức độ) của THTP là số lượng các tội phạm đã được thực hiện

và những người thực hiện các tội phạm đó ở một địa bàn nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định” [141, tr62] Hay nói cách khác, thực trạng của THTP phản ánh đặc điểm định lượng của THTP, bao gồm tổng thể những hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tế và các chủ thể thực hiện những hành vi này trong một khoảng thời gian và không gian nhất định Như vậy, mức độ của tình hình tội LĐCĐTS trên miền ĐNB từ năm 2007 đến năm 2017 là tổng số tội lừa đảo đã xảy

ra và số người đã thực hiện tội này trên địa bàn miền ĐNB trong giai đoạn này Theo thống kê số liệu của TAND các tỉnh, thành trên địa bàn miền ĐNB, từ năm 2007 đến năm 2017 có 5.028 vụ LĐCĐTS với 6.250 bị cáo được TAND các cấp trên địa bàn đưa ra xét xử sơ thẩm [Bảng 2.1- Phần Phụ lục] Theo bảng số liệu, năm 2016 có số vụ LĐCĐTS xảy ra nhiều nhất với 603 vụ Năm 2010 có số vụ LĐCĐTS xảy ra ít nhất là 295 vụ Trung bình mỗi năm trên địa bàn miền ĐNB xảy

ra 457 vụ LĐCĐTS với 568 bị cáo được đưa ra xét xử Để đánh giá được mức độ của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB, chúng ta cần so sánh, đối chiếu với mức độ tội phạm và số người phạm tội nói chung trên địa bàn này trong cùng khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2017

Qua công tác thống kê và so sánh đã cho thấy trong giai đoạn 2007 -2017 số

vụ LĐCĐTS chiếm 5,17% trong tổng số vụ án hình sự và chiếm 3,47% trong tổng

số bị cáo bị xét xử Như vậy, số vụ và số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội LĐCĐTS chiếm một tỷ lệ không nhỏ so với các tội phạm khác xảy ra trên cùng địa bàn miền ĐNB [Bảng 2.2- Phần Phụ lục] Trong khi đó, đối chiếu với thực trạng tội này trên phạm vi cả nước cho thấy trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2017 trên cả nước

có 24.156 vụ với 32.306 bị cáo LĐCĐTS so với 68.2263 vụ và 1.189.643 bị cáo

Trang 36

30

phạm tội nói chung Thực hiện so sánh tương quan giữa tỷ lệ tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB và tỷ lệ tình hình tội này trên phạm vi toàn quốc trong tình hình tội phạm chung có thể khẳng định mức độ của tình hình tội LĐCĐTS trên miền ĐNB có tỷ lệ về số vụ và số bị cáo cao hơn so với toàn quốc với tỷ lệ là 5,17/3,54% so với 3,47/2,72% [Bảng 2.3- Phần Phụ lục]

Thực trạng của tình tình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB còn được phản ánh qua hệ số của THTP trên địa bàn này Hệ số tội phạm của tội LĐCĐTS được xác định bằng tỷ lệ giữa số vụ, số người phạm tội LĐCĐTS đã được đưa ra xét xử trên 100.000 ngàn dân, tương ứng với dân số của các tỉnh, thành miền ĐNB trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2017 Từ số liệu thống kê cho thấy, hệ số tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB thì hệ số THTP trung bình trong giai đoạn từ năm 2007 – 2017 là 4,1 Điều này có nghĩa là cứ 100.000 người dân sống trên địa bàn này thì trung bình có 04 người phạm tội LĐCĐTS Tiến hành phép so sánh với hệ số tình hình tội LĐCĐTS trên phạm vi toàn quốc cho thấy hệ số tình hình tội LĐCĐTS của cả nước là 3,27; tức là 100.000 dân mới có khoảng 03 người phạm tội LĐCĐTS [Bảng 2.4- Phần Phụ lục]

Nhằm phác họa rõ hơn bức tranh về mức độ tình tình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB, tác giả đã tiến hành nghiên cứu, thống kê số liệu, tính hệ số tiêu cực

và xác định cấp độ nguy hiểm của tình hình tội này ở miền khu vực miền ĐNB so với khu vực miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) và khu vực Tây Nguyên là hai khu vực có vị trí địa lý giáp ranh miền ĐNB đồng thời có nhiều điểm tương đồng về kinh tế - xã hội Từ kết quả phân tích số liệu cho thấy, khu vực ĐNB được xác định là khu vực có cấp độ nguy hiểm cao nhất, tiếp đến là khu vực miền Tây Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên [Bảng 2.5, Bảng 2.6, Bảng 2.7- Phần Phụ lục] Như vậy, có thể khẳng định tội LĐCĐTS trên địa bàn miền Đông Nam Bộ là loại tội có mức độ phổ biến hơn so với cả nước và các khu vực lân cận giáp ranh

là khu vực miền Tây Nam bộ và khu vực Tây Nguyên Kết quả nghiên cứu tình hình tội LĐCĐTS đã đưa ra “bức tranh” tổng quát về tình hình tội này trên địa bàn miền Đông Nam Bộ và làm rõ hơn về tính cấp thiết phải hạn chế đến mức tối đa tỷ

lệ tội này Đồng thời đặt ra vấn đề phải nghiên cứu sâu hơn về diễn biến, cơ cấu

Trang 37

Theo GS, TS Võ Khánh Vinh “Diễn biến (động thái) của THTP là sự vận động

và sự thay đổi của thực trạng và cơ cấu của tình hình tội phạm trong một khoảng thời gian nhất định” [141, tr62] Sự thay đổi này được xác định bằng tỷ lệ tăng hoặc giảm thực trạng và cơ cấu của THTP so với thời gian được chọn làm mốc để so sánh, đối chiếu Như vậy, diễn biến của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB được xác định thông qua sự thay đổi của mức độ và cơ cấu của tình hình tội LĐCĐTS trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2017 Phân tích số liệu về diễn biến của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB cho thấy, trung bình mỗi năm trên địa bàn miền ĐNB xảy ra 457 vụ LĐCĐTS với 568 bị cáo được đưa ra xét xử sơ

thẩm.[Bảng 2.1- Phần Phụ lục] Áp dụng phương pháp so sánh định gốc, theo đó khi

ấn định năm 2007 là gốc và tương ứng với tỷ lệ 100% để tính, thì năm 2008 tăng 25,30% số vụ và 23,38% số bị cáo; năm 2009 giảm 0,60% số vụ, giảm 0,69 số bị cáo; năm 2010 giảm 12,20% số vụ và giảm 8,10% số bị cáo; năm 2011 tăng 8,63% số vụ

và tăng 1,39% số bị cáo; năm 2012 tăng 36,01% số vụ và tăng 30,32% số bị cáo; năm

2013 tăng mạnh 50,30% số vụ và tăng 37,96 % số bị cáo; năm 2014 tăng 63,39% số

vụ, tăng 53,01% số bị cáo; năm 2015 tăng 68,75% số vụ và tăng 56,48% số bị cáo Năm 2016 tăng 79,46% số vụ và tăng 69, 44% số bị cáo và năm 2017 tăng 78,27% số

vụ và 83,56% số bị cáo

Theo số liệu phân tích nêu trên cho thấy diễn biến tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB khá phức tạp Năm 2009, 2010 có số vụ và số bị cáo phạm tội LĐCĐTS có chiều hướng giảm nhưng đến năm 2011 gia tăng về số vụ và tăng nhẹ số

bị cáo Từ năm 2012 đến năm 2016, số vụ và số bị cáo LĐCĐTS tăng đều theo từng năm và giảm không đáng kể trong năm 2017 Điều này hoàn toàn phù hợp với mức

độ tình hình tội LĐCĐTS trên toàn quốc trong cùng giai đoạn và phù hợp với quy luật vận động, phát triển xã hội của miền ĐNB trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm

2017 [Biểu đồ 2.1 – Phần Phụ lục]

Trang 38

32

Năm 2009, 2010 có số vụ và số bị cáo phạm tội LĐCĐTS giảm xuống thấp nhất Hiện tượng giảm về số vụ và số bị cáo trong năm 2009, 2010 có thể lý giải bởi nhiều nguyên nhân và điều kiện Có thể nhận thấy rõ nhất là sau khi Quốc Hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự vào ngày 19/6/2009, theo đó định lượng giá trị tài sản bị chiếm đoạt của tội LĐCĐTS được nâng từ “năm trăm nghìn đồng” thành từ “hai triệu đồng” đã có tác động mạnh đến diễn biến tình hình tội LĐCĐTS Bên cạnh đó, năm 2010, cả nước nói chung và miền ĐNB nói riêng diễn ra nhiều sự kiện lớn như: Kỷ niệm 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Kỷ niệm 35 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Kỷ niệm 65 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 (1945 – 2010), Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh… Để lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn toàn thể các cấp chính quyền, các ban ngành, đoàn thể trên địa bàn miền ĐNB đảm bảo

kỷ cương, ra sức thi đua, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chào mừng các ngày lễ lớn Bên cạnh đó, để đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội chào mừng những sự kiện này, Bộ Công an, lãnh đạo Công an các tỉnh, thành miền ĐNB đã phối kết hợp, chỉ đạo quyết liệt, đẩy mạnh công tác phòng ngừa, mở nhiều đợt tấn công trấn áp tội phạm do đó đã kéo giảm được số vụ và số bị cáo phạm tội nói chung và tội LĐCĐTS nói riêng Từ hiện tượng này cũng cho thấy, nếu công tác phòng ngừa được thực hiện sát sao, hợp lý, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, các địa phương và sự ủng hộ, hỗ trợ của quần chúng nhân dân thì sẽ đạt hiệu quả cao

Giai đoạn năm 2011- 2013, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề từ suy thoái kinh tế toàn cầu, khủng hoảng nợ công của các nước châu Âu Lạm phát của nước ta năm 2011 ở mức cao là 18,58%, giá lương thực, thực phẩm tăng mạnh với mức tăng lần lượt là 29,34%, 23,18% và 22,82%; hàng ngàn doanh nghiệp trên địa bàn miền ĐNB rơi vào tình trạng phá sản, thị trường chứng khoán liên tục chạm đáy, thị trường bất động sản rơi vào tình trạng đóng băng, tình trạng vỡ nợ tín dụng đen dây chuyền [180] Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, biến động, nhiều người rơi vào tình trạng thất nghiệp, cơ hội làm ăn không được thuận lợi, nhu cầu thanh khoản, giải ngân do vay mượn ngân hàng, vỡ nợ đã khiến nhiều người sa vào con đường phạm tội hoặc trở thành nạn nhân của tội LĐCĐTS

Trang 39

33

Giai đoạn 2014 – 2017, nền kinh tế nước ta dần phục hồi, khu vực miền ĐNB vẫn luôn là khu vực thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất trong cả nước, do đó nhu cầu khát vốn kinh doanh sau thời kỳ khủng hoảng tăng cao đồng thời kéo theo đó số người nhập cư không ngừng gia tăng, bài toán chênh lệch giàu nghèo ngày càng trở nên hóc búa Mâu thuẫn xã hội cũng khiến tội LĐCĐTS gia tăng trong giai đoạn này Năm 2015, để tái cấu trúc ngành ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chủ trương sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng Đây là một chủ trương đúng đắn nhưng việc tổ chức, thực hiện khi cơ chế quản lý còn lỏng lẻo, hành lang pháp lý chưa hoàn thiện đã tồn tại nhiều kẽ hở để các đối tượng LĐCĐTS Cũng trong năm

2015, sau khi Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi cho phép người nước ngoài mua nhà tại Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài nhanh chóng đầu

tư vào thị trường bất động sản miền ĐNB, nhất là tại thành phố Hồ Chí Minh đã khiến thị trường mua bán nhà đất trở nên sôi động, trong khi đó trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế nhất định đã khiến nhiều người vướng vào

“bẫy” LĐCĐTS Ngoài ra, giai đoạn từ năm 2014 đến 2017, với sự phát triển mạnh

mẽ của internet với các dịch vụ mua bán hàng qua mạng, bán hàng đa cấp, giao lưu, kết bạn… đã khiến số vụ và số bị cáo LĐCĐTS sử dụng công nghệ cao, LĐCĐTS

do người nước ngoài thực hiện tăng cao trên địa bàn miền ĐNB

Như vậy, nghiên cứu tình hình tội LĐCĐTS địa bàn miền ĐNB trong khoảng thời gian dài sẽ tìm ra quy luật vận động của tội phạm này, đây chính là cơ sở cho việc dự báo tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn này trong tương lai Qua nghiên cứu tình tình hình tội LĐCĐTS địa bàn miền ĐNB, có thể khẳng định tình hình tội LĐCĐTS địa bàn này diễn biến khá phức tạp và theo chiều hướng tăng cả về số vụ và

số bị cáo trong những năm gần đây Vấn đề này đặt ra yêu cầu cho các cơ quan chức năng và toàn xã hội phải dựng các chương trình, kế hoạch, biện pháp cụ phù hợp với từng giai đoạn phát triển của miền ĐNB để phòng ngừa tội này hiệu quả hơn nữa

2.2.3 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

Số liệu thống kê thể hiện mức độ của tội LĐCĐTS mới chỉ phản ánh các đặc điểm về lượng, về quy mô và các dấu hiệu bên ngoài của tội tội LĐCĐTS trên địa

Trang 40

34

bàn miền ĐNB Để làm rõ các đặc điểm về chất, tính chất của THTP thì phải thông qua các chỉ số về cơ cấu của THTP Cơ cấu của THTP là tỷ trọng mối tương quan của các loại tội phạm khác nhau trong số lượng chung của chúng trong một khoảng thời gian nhất định và ở một lãnh thổ (địa bàn) nhất định Cơ cấu của THTP được biểu thị bằng chỉ số tương đối, tức là chỉ số phản ánh mối tương quan giữa các loại tội phạm, tội phạm cụ thể trong THTP Các chỉ số về cơ cấu của tình hình tội phạm

sẽ cho phép xác định được đặc điểm lượng – chất của tính nguy hiểm cho xã hội của tình hình tội phạm [141, tr65] Các chỉ số về cơ cấu của THTP LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB sẽ chỉ rõ các đặc điểm lượng – chất của tính nguy hiểm cho xã hội của tội LĐCĐTS Phân tích các chỉ số này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm, quy luật phát triển của tình hình tội này Do đó,

để phân tích cơ cấu của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB, tác giả sử dụng số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của TAND các tỉnh, thành trên địa bàn miền ĐNB trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2017 Đây là nguồn số liệu có độ chính xác, phản ánh được tỷ trọng giữa số vụ và người phạm tội LĐCĐTS với tổng số vụ

và người phạm tội nói chung; tỷ trọng giữa số vụ và người phạm tội LĐCĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt; nguồn số liệu còn phản ánh khá đầy đủ các thông tin về cơ cấu giới tính; cơ cấu lứa tuổi; cơ cấu về trình độ học vấn, văn hóa giáo dục; cơ cấu về hình phạt; cơ cấu tái phạm, tái phạm nguy hiểm, có tổ chức; cơ cấu về người bị hại; cơ cấu về thủ đoạn gây án…

2.2.3.1 Cơ cấu về tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo mối quan hệ với tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

Từ năm 2007 đến năm 2017, TAND các cấp trên địa bàn miền ĐNB đã xét xử 97.182 vụ với 180.243 bị cáo, trong đó bao gồm 5.028 vụ/6.250 bị cáo phạm tội LĐCĐTS Qua thống kê tại Bảng 2.2 đã cho thấy, tỷ lệ các vụ LĐCĐTS được xét

xử trên địa bàn miền ĐNB từ năm 2007 đến năm 2017 chiếm 5,17% so với tổng số

vụ án được xét xử; tỷ lệ số bị cáo bị xét xử về tội này chiếm 3,47% số bị cáo bị xét

xử [Bảng 2.2 – Phần Phụ lục] Trong khi đó, khi thực hiện so sánh tỷ lệ giữa điều luật qui định về tội LĐCĐTS với tổng số các điều luật được qui định tại Phần Các tội phạm cụ thể của BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhận thấy:

Ngày đăng: 09/08/2018, 16:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w