Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2: Phân tích mối liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim mạn tính.. Mố
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
DƯƠNG THÚY QUỲNH
NỒNG ĐỘ CYSTATIN C HUYẾT TƯƠNG Ở BỆNH NHÂN SUY TIM MẠN TÍNH ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG
ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số: 8720107
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÁI NGUYÊN – NĂM 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trongbất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai sót, tôi xin hoàn toànchịu trách
nhiệm
Tác giả luận văn
Dương Thúy Quỳnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn
- Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo (Bộ phận đào tạo sau Đại học), Bộ mônNội trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
- Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Khoa Tim mạch, Khoa Sinh hóa Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
- Ban Giám hiệu, Bộ môn Nội Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên
Đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, công tác, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Y học của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- PGS TS Nguyễn Trọng Hiếu, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉbảo tận tình tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
- Tập thể y, bác sỹ và các cán bộ trong khoa Tim mạch, khoa Sinh hóaBệnh viện Trung ương Thái Nguyên luôn nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiệnthuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, công tác và hoàn thành luận văn này
- Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo
vệ đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn
- Cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, tập thể Cao học K20 đã luôn giúp
đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin gửi cảm ơn và tình cảm thân thương nhất tới:
Toàn thể gia đình, nơi đã tạo điều kiện tốt nhất, động viên tinh thần giúp tôi thêm niềm tin và nghị lực trong suốt quá trình học tập và thực hiệnnghiên cứu này
Thái Nguyên, 2018
Dương Thúy Quỳnh
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ADQI The Acute Dialysis Quality
Initiative
Hành động vì chất lượnglọc máu cấp
ANP A-type natriuretic peptide Peptit lợi niệu natri ABMI body mass index Chỉ số khối cơ thể
BNP B-type natriuretic peptide Peptit lợi niệu natri BBUN blood urea nitrogen Nitơ ure máu
CI confidence interval Khoảng tin cậy
CRS Cardiorenal syndrome Hội chứng tim thận
Cys C Cystatin C
EDTA ethylen diamine tetra acetat
eGFR glomerular filtration rate Mức lọc cầu thận ước tính
EF ejection fraction Phân suất tống máu
MLCT Mức lọc cầu thận
MLCTcre Mức lọc cầu thận ước tính
dựa vào creatininMLCTcys Mức lọc cầu thận ước tính
dựa vào cystatin CNYHA New York Heart Association Hội tim mạch New YorkPtt Áp lực thủy tĩnh
QC Quality Control Kiểm tra chất lượng
RAA Renin- Angiotensin- Aldosterol
ROC receiver operating characteristic Đường cong nhận dạng
Trang 51 2 Hội chứng tim thận( Cardiorenal syndrome- CRS) 7
1.3.2 Nguồn gốc tổng hợp, giải phóng và chuyển hóa cystatin C 12
1.3.4 Ý nghĩa sinh học và các yếu tố ảnh hưởng cystatin C 121.3.5 Cystatin C với vai trò chất chỉ điểm sinh học trong bệnh thận 151.3.6 Nồng độ cystatin C máu ở bệnh nhân suy tim mạn tính 17
Trang 62.4.2 Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 1: Mô tả nồng độ cystatin C huyết tương ở bệnh nhân suy tim mạn đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương
Thái Nguyên 25
2.4.3 Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2: Phân tích mối liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim mạn tính 26 2.5 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.5.1 Kỹ thuật và phương tiện thu thập số liệu 27
2.5.2 Các tiêu chuẩn đánh giá và phân loại sử dụng trong nghiên cứu 32
2.6 Xử lý số liệu nghiên cứu 36
2.6.1 Phương pháp xử lý số liệu 36
2.6.2 Phần mềm thống kê 36
2.7 Đạo đức nghiên cứu 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 38
3.2 Nồng độ cystatin C huyết tương của đối tượng nghiên cứu 41
3.3 Mối liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương và một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy tim mạn tính 48
Chương 4: BÀN LUẬN 59
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 59
4.2 Nồng độ cystatin C huyết tương ở bệnh nhân suy tim mạn tính 61
4.3 Mối liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim mạn tính 68
KẾT LUẬN 75
1 Nồng độ cystatin C huyết tương ở bệnh nhân suy tim mạn tính 75
2 Mối liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim mạn tính 76
KHUYẾN NGHỊ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán thừa cân, béo phì dựa vào BMI và số 33
đo vòng eo áp dụng cho người trưởng thành Châu Á - IDF, 2005 Bảng 2.2 Phân loại bệnh thận mạn tính theo KDIGO -2012 35
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 38
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nguyên nhân suy tim 39
Bảng 3.3 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.4 Một số đặc điểm cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 40
Bảng 3 5 Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương của đối tượng nghiên cứu 42 Bảng 3.6 Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo phân độ 42
NYHA của đối tượng nghiên cứu Bảng 3.7 Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo tuổi và giới 43
của đối tượng nghiên cứu Bảng 3.8 Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo nguyên nhân suy tim 43 của đối tượng nghiên cứu Bảng 3.9 Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo một số triệu chứng lâm 44 sàng của đối tượng nghiên cứu Bảng 3.10 Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo nhịp tim, 45
huyết áp lúc nhập viện Bảng 3.11 Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo BMI
45 Bảng 3.12 Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo hemoglobin
46 Bảng 3.13 Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo ure, 46
creatinin huyết tương Bảng 3.14 Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo phân suất 47 tống máu EF %
Trang 8viii viii
Bảng 3.15 Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương 48với tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.16 Tương quan giữa nồng độ cystatin C huyết tương với tuổi và BMI 48
Bảng 3.17 Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương 48với phân độ suy tim theo NYHA của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.18 Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương 49với từng nguyên nhân suy tim của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.19 Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương 50với một số triệu chứng lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.20 Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương 51với nhịp tim, huyết áp lúc nhập viện
Bảng 3.21 Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với BMI 52
Bảng 3.22 Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương 52với ure, creatinin
Bảng 3.23 Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương 56với giai đoạn bệnh thận mạn (dựa vào MLCT ước tính theo creatinin) ởbệnh nhân suy tim mạn
Bảng 3.24 Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương 56với hemoglobin
Bảng 3.25 Tương quan giữa nồng độ cystatin C huyết tương với lg(NT-
Trang 9Danh mục sơ đồ
DANH MỤC HÌNH
Sơ đồ 1.1 Cơ chế bệnh sinh hội chứng tim thận theo thuyết huyết động 9
Sơ đồ 1.2 Cơ chế bệnh sinh hội chứng tim thận theo thuyết thần kinh- 10hormone
Danh mục các đồ thị
Đồ thị 1.3 Phân tích ROC của Cys-C, Cr và Cr & Cys-C -điểm trên tỷ 20
lệ tử vong 3 năm của bệnh nhân suy tim mạn (Theo Ling Fei)
Đồ thị 3.1 Tương quan giữa nồng độ cystatin C huyết tương và nồng 53
độ creatinin huyết tương
Đồ thị 3.2 Tương quan giữa nồng độ cystatin C huyết tương và MLCT
54 creatinin
Đồ thị 3.3 Tương quan giữa MLCT cystatin C và MLCT creatinin 55
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chẩn đoán và điều trị suy tim mạn tính, đánh giá chức năng thận
là một việc hết sức cần thiết Vai trò ảnh hưởng qua lại giữa tim và thận đãđược đề cập từ rất lâu trong y văn [8] Hội chứng tim thận (Cardiorenalsyndrome- CRS) được định nghĩa năm 2004: “Là một tình trạng rối loạn sinhbệnh học của tim và thận gây ra bởi các bệnh lý cấp hoặc mạn tính của một cơquan có thể ảnh hưởng tới rối loạn chức năng cấp hoặc mạn tính của các cơquan khác”[8], [26], [27], [59]
Tuy rằng có nghiên cứu đã chỉ ra suy tim mạn và bệnh thận mạn là cácyếu tố nguy cơ hoàn toàn độc lập nhưng cũng có nghiên cứu cho thấy bệnhthận mạn làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân suy tim mạn tính, có 30- 60 %bệnh nhân suy tim có suy thận kèm theo; trong quá trình điều trị suy tim cấphoặc mạn có 20- 30% bệnh nhân suy thận tiến triển ( tăng creatinin máu trên0,3 mg/dl hoặc 27 µmol/l) [31] Nghiên cứu tại Việt nam có 31,7% ngườibệnh suy tim cấp (52,4 % suy tim mạn đợt cấp) có tình trạng suy giảm chứcnăng thận [14] Điều này cho thấy sự thường gặp và nguy hiểm của suy giảmchức năng thận ở bệnh nhân suy tim Chức năng thận nên được xem xét trong
sự phân tầng nguy cơ và các chiến lược điều trị suy tim
Trên lâm sàng phát hiện tổn thương thận sớm có ý nghĩa quan trọngtrong điều trị suy tim mạn tính Từ trước đến nay để biết suy thậnthường dựa vào đo mức lọc cầu thận (MLCT) Đo mức lọc cầu thận là mộtviệc vô cùng phức tạp thường chỉ có độ chính xác cao khi áp dụng trong cácnghiên cứu khoa học Phương pháp xác định MLCT áp dụng phổ biến tronglâm sàng là ước tính dựa vào nồng độ creatinin huyết thanh Tuy nhiên, ở giaiđoạn sớm của tổn thương thận MLCT ước tính dựa vào creatinin huyết thanhchưa phản ánh được mức độ tổn thương thận [18], [57]
Trang 11Gần đây, các nhà nghiên cứu đã tìm ra một số chất chỉ điểm sinh học(biomarker) hứa hẹn có giá trị đánh giá biến đổi chức năng thận ở giai đoạnsớm tổn thương thận trong đó có cystatin C [29],[ 41], [51] Cystatin C là mộtprotein trọng lượng phân tử nhỏ, được sản xuất từ các tế bào có nhân của cơthể với tốc độ ổn định, được lọc tự do qua cầu thận, được tái hấp thu vàchuyển hóa tại ống thận Khi cầu thận bị tổn thương làm thay đổi khả năng lọccystatin C ở cầu thận làm tăng nồng độ cystatin C trong máu [11], [41] Cystatin C không chỉ vượt trội so với creatinin như một dấu hiệu của chứcnăng thận, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của bệnh thận mạn tính mà còn cóliên quan đến nguy cơ tim mạch, bệnh lí thần kinh cũng như tiền sản giật ởphụ nữ có thai [60] Nghiên cứu của Ling Fei (2016) cho thấy nồng độcystatin C ở tất cả các bệnh nhân là 1,2 ± 0,4 mg/l, ở nhóm tử vong cao hơnnhóm sống, điểm Cr & Cys C đã có hiệu suất tốt hơn chỉ riêng Cr hoặc Cys C.Điều đó cho thấy cystatin C có giá trị đánh giá không chỉ chức năng thận màcòn tiên lượng tử vong ở bệnh nhân suy tim mạn tính [42]
Tại Việt Nam đã có một vài nghiên cứu về nồng độ cystatin C trên bệnhnhân đái tháo đường có tổn thương thận, xơ gan và suy tim cấp tính [10],[ 17],[19] Để làm rõ hơn vai trò của cystatin C trong chẩn đoán hội chứng tim thận
và tiên lượng điều trị ở bệnh nhân suy tim mạn tính vì vậy chúng tôi tiến hành
đề tài: “Nồng độ cystatin C huyết tương ở bệnh nhân suy tim mạn tính điều trịtại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên” với 2 mục tiêu:
1- Mô tả nồng độ cystatin C huyết tương ở bệnh nhân suy tim mạn đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
2- Phân tích mối liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim mạn tính.
Trang 121.1 Suy tim
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1.1 Định nghĩa, phân độ suy tim
- Định nghĩa suy tim
Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, là hậu quả của tổn thươngthực thể hay rối loạn chức năng quả tim dẫn đến tâm thất không đủ khả năngtiếp nhận máu (suy tâm trương) hoặc tống máu (suy tâm thu) [20], [32]
- Phân độ suy tim:
Phân độ suy tim theo Hội tim mạch New York (NYHA):
Độ I: Không hạn chế vận động - Vận động thể lực thông thường khônggây mệt, khó thở hoặc hồi hộp
Độ II: Hạn chế nhẹ vận động thể lực Bệnh nhân khỏe khi nghỉ ngơi Vậnđộng thể lực thông thường dẫn đến mệt, hồi hộp, khó thở hoặc đau ngực
Độ III: Hạn chế nhiều vận động thể lực Mặc dù bệnh nhân khỏe khi nghỉngơi, nhưng chỉ vận động nhẹ đã có triệu chứng cơ năng
Độ IV: Không vận động thể lực nào mà không thấy khó chịu Triệuchứng cơ năng của suy tim xảy ra ngay khi nghỉ ngơi Chỉ cần một vậnđộng thể lực nhẹ, triệu chứng cơ năng trên bệnh nhân sẽ gia tăng [32]
1.1.2 Sinh lý bệnh suy tim
Suy tim thường làm cung lượng tim bị giảm xuống, khi cung lượng tim
bị giảm xuống thì cơ thể phản ứng lại bằng các cơ chế bù trừ của tim và các hệthống ngoài tim để cố duy trì cung lượng tim nhằm đáp ứng nhu cầu đưa máu
đi nuôi cơ thể Nhưng cơ chế này kéo dài hoặc bị vượt quá sẽ xảy ra suy timvới nhiều hậu quả của nó
Trang 131.1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung lượng tim
Qua nhiều nghiên cứu người ta đã hiểu rõ cung lượng tim phụ thuộc vào
4 yếu tố chính: tiền gánh, hậu gánh, sức co bóp của tim, tần số tim
- Tiền gánh phụ thuộc vào
+ Áp lực đổ đầy thất, tức là lượng máu tĩnh mạch trở về thất
+ Độ giãn của tâm thất, nhưng ở mức độ ít quan trọng hơn
Như vậy tim càng suy thể tích nhát bóp càng giảm
Trang 14* Tần số tim
Trong suy tim, lúc đầu nhịp tim tăng lên, sẽ có tác động bù trừ tốt chochính tình trạng giảm thể tích nhát bóp và qua đó sẽ duy trì cung lượng tim Nhưng nếu nhịp tim tăng lên quá nhiều, thì nhu cầu oxy của cơ tim sẽ lại tănglên, công của cơ tim cũng phải tăng cao và hậu quả là tim sẽ càng yếu đi mộtcách nhanh chóng [20]
1.1.2.2 Các cơ chế bù trừ trong suy tim
* Cơ chế bù trừ tại tim
- Giãn tâm thất: Giãn tâm thất chính là cơ chế thích ứng đầu tiên đểtránh quá tăng áp lực cuối tâm trương của tâm thất Khi tâm thất giãn ra sẽlàm kéo dài các sợi cơ tim và theo luật Starling sẽ làm tăng sức co bóp củacác sợi cơ tim, nếu dự trữ co cơ vẫn còn
- Phì đại tâm thất: Tim cũng có thể thích ứng bằng cách tăng bề dày củacác thành tim, nhất là trong trường hợp áp lực ở các buồng tim Việc tăng bềdày của các thành tim chủ yếu là để đối phó lại với tình trạng tăng hậu gánh
Ta biết rằng khi hậu gánh sẽ làm giãn thể tích tống máu, do đó để bù lại, cơtim phải tăng bề dày lên
- Hệ thần kinh giao cảm được kích thích: Khi có suy tim, hệ thần kinhgiao cảm được kích thích, lượng Catecholamin từ đầu tận cùng của các sợigiao cảm hậu hạch được tiết ra nhiều làm tăng sức co bóp của cơ tim và tăngtần số tim
* Cơ chế bù trừ ngoài tim
Trong suy tim, để đối phó với việc giảm cung lượng tim, hệ thống mạchmáu ở ngoại vi được co lại để tăng cường thể tích tuần hoàn hữu ích Cụ thểcó
3 hệ thống co mạch ngoại vi được huy động
- Hệ thần kinh giao cảm
Trang 15Cường giao cảm làm co mạch da, thận và về sau ở khu vực các tạng trong
ổ bụng và ở các cơ
- Hệ Renin – Angiotensin – Aldosteron
Việc tăng cường hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm và giảm tưới máu chothận (do co mạch) sẽ làm tăng nồng độ renin trong máu Rennin sẽ hoạt hóaAngiotensinnogen và các phản ứng tiếp theo để tăng tổng hợp Angiotensin II.Chính Angiotensin II là một chất co mạch rất mạnh, đồng thời nó lại tham giavào kích thích sinh tổng hợp và giải phóng ra Noadrenalin ở đầu tận cùng cácsợi thần kinh giao cảm hậu hạch và Adrenalin từ tủy thượng thận Cũng chínhAngiotensin II còn kích thích vỏ thượng thận tiết ra Aldosterol, từ đó làm tăngtái hấp thu Natri và nước ở ống thận
- Hệ Arginin - Vasopressin
Trong suy tim ở giai đoạn muộn hơn, vùng dưới đồi - tuyến yên đượckích thích để tiết ra Arginin – Vasoprerssin làm tăng thêm tác dụng co mạchngoaị vi của Angiotensin II, đồng thời làm tăng tái hấp thu nước ở ống thận
Cả ba hệ thống co mạch này đều nhằm mục đích duy trì cung lượng tim,nhưng lâu ngày chúng lại làm tăng tiền gánh và hậu gánh, làm tăng ứ nước và
natri, tăng công và mức tiêu thụ oxy của cơ tim tạo nên một “Vòng luẩn quẩn“
bệnh lý và làm cho suy tim ngày càng nặng thêm [20]
1.1.3 Điều trị suy tim
- Nguyên tắc điều trị suy tim
+ Loại bỏ các yếu tố thúc đẩy suy tim
+ Điều trị nguyên nhân gây suy tim
+ Điều trị triệu chứng: kiểm soát tình trạng suy tim sung huyết
+ Giảm công cho tim: giảm tiền tải và hậu tải
+ Kiểm soát tình trạng ứ muối và nước
+ Tăng sức co bóp cơ tim
Trang 16- Các thuốc điều trị suy tim
Các thuốc chính yếu để điều trị suy tim bao gồm: digitalis, thuốc giãnmạch, ức chế β, thuốc lợi tiểu và các chất ức chế phosphodiesterase(Amrinone, Milrinone, Enoximone) Hầu hết bệnh nhân cần phác đồ điều trịbao gồm nhiều loại thuốc phối hợp với nhau [20]
1 2 Hội chứng tim thận( Cardiorenal syndrome- CRS)
1.2.1 Định nghĩa
Trong một báo cáo năm 2004 của National Heart, Lung and BloodInstitute, hội chứng tim thận (Cardiorenal syndrome- CRS) được định nghĩa làmột tình trạng rối loạn sinh bệnh học của tim và thận gây ra bởi các bệnh lýcấp hoặc mạn tính của một cơ quan có thể ảnh hưởng tới rối loạn chức năngcấp hoặc mạn tính của các cơ quan khác [8], [59]
1.2.2 Phân loại
Ronco và cộng sự lần đầu tiên đề xuất một hệ thống phân loại năm phầncho CRS trong năm 2008 cũng đã được chấp nhận tại hội nghị đồng thuậnADQI năm 2010 [26], [27] Bao gồm:
Loại 1 (Hội chứng tim
Trang 17Loại 4 (Hội chứng thận
tim mạn tính)
Bệnh thận mạn (như bệnh cầu thận mạn) gópphần làm giảm chức năng tim, phì đại tim và/hoặc làm tăng nguy cơ của những biến cố timmạch
Loại 5 (Hội chứng tim
Trước đây cho rằng suy tim gây giảm tưới máu tới thận, tăng co mạch
là nguyên nhân dẫn đến thiếu oxi và tăng hoại tử ống thận Tuy nhiên giảmtưới máu dẫn đến xơ gan trước thận và cũng gặp ở cả những trường hợp suychức năng tâm trương và chức năng tâm thu thất trái bình thường Vậy nênthuyết mới bổ sung cung lượng tim giảm (do tăng sung huyết tim, tăng áp lựcnhĩ trái và tăng áp lực tĩnh mạch chủ dưới) dẫn đến tăng huyết áp tĩnh mạchthận, sung huyết thận, tăng fibrogenesis, tăng mất chức năng thận và tăngviêm, tăng hoạt động thần kinh hormone dẫn đến tăng muối nước dẫn đếnvòng xoáy bệnh lí
* Thuyết thần kinh - hormone
Nhấn mạnh vai trò của RAAS dẫn đến tăng muối nước tăng hoạt động
hệ thần kinh giao cảm làm tăng quá tải thể tích thông qua RAAS và tăng comạch hệ thống Kết quả: làm tăng xơ hóa tim thận dẫn đến rối loạn chức năngtim thận
Trang 18Thuyết huyết động cổ điển
Suy tim Suy thận
(lưu lượng thấp)
Tăng co mạch thận Thiếu máu thận Hoại tử ống thận cấp
Tăng sung huyết tim Tăng áp lực nhĩ trái Tăng áp lực TM chủ dưới Giảm cung
Tăng huyết
áp TM thận
Đáp ứng hormone và thần kinh thể dịch Tăng hoạt động hệ TK giao cảm
Tăng hoạt động hệ RAA Thay đổi arginine vasopressin Thay đổi ANP và BNP
Tăng viêm và kích hoạt tế bào
Giảm chức năng thận Giảm tốc độ lọc cầu thận Giảm nước tiểu đầu ra Giảm bài tiết muối, nước
Sơ đồ 1.1 Cơ chế bệnh sinh hội chứng tim thận theo thuyết huyết động [37]
Trang 19Giảm cung lượng tim Tăng tái cấu trúc
cơ tim
Suy tim
Tăng hoạt động hệ TK giao cảm
Tăng hoạt động hệ RAA
Thay đổi
Arginin
Vasopressin
Tăng ANP Tăng BNP
Tăng Ang II
thận cuối cùng
Sơ đồ 1.2 Cơ chế bệnh sinh hội chứng tim thận theo thuyết thần
kinh-hormone [37]
Trang 201.3 Đại cương về cystatin C
1.3.1 Cấu trúc và chức năng của cystatin C
Cystatin C lần đầu tiên được miêu tả là “gamma-vết” vào năm 1961 bởiGrubb và Löfberg Cystatin C được tìm thấy trong máu, dịch não tủy và trongnước tiểu của bệnh nhân suy thận, đặc biệt nó tăng cao ở những bệnh nhân suythận cấp, và cũng chính Grubb và Löfberg là những người có báo cáo đầu tiên
về trình tự acid amin của cystatin C và đề xuất như là một thước đo tốc độ lọccầu thận vào năm 1985
Qua nhiều nghiên cứu người ta đã xác định được cystatin C là một protein cókhối lượng phân tử khoảng 13,3 kDa, pH đẳng điện là 9,2, gồm 120 acid amin,được mã hoá bởi gen CST3, được sản xuất đều đặn ở hầu hết các tế bào cónhân trong cơ thể Do khối lượng phân tử nhỏ nên cystatin C có thể dễ dàngqua màng lọc cầu thận và bị giáng hóa tại các tế bào ống lượn gần của thận.Người ta thấy cystatin C có trong hầu hết các dịch trong cơ thể như: máu,dịch não tủy, sữa, và một lượng nhỏ trong nước tiểu [2],[ 11],[ 17]
Hình 1.1 Phân tử cystatin C (Cấu trúc bậc 1, bậc 2, bậc 3 và bậc 4)
Trang 211.3.2 Nguồn gốc tổng hợp, giải phóng và chuyển hóa cystatin C
Chức năng của cystatin C là điều hoà hoạt động của cystein protease, cụthể là ức chế enzym này trong một số quá trình sinh học trong cơ thể Ở ngườikhoẻ mạnh với chức năng thận tốt, cystatin C được lọc qua màng cầu thận và
bị giáng hoá hoàn toàn tại ống thận
Do cystatin C luôn được sản xuất tại các tế bào trong cơ thể và đượcchuyển hoá tại thận (cystatin C không trở lại máu nữa) một cách đều đặn vànhư vậy nồng độ của cystatin C luôn được giữ ở mức ổn định khi chức năngthận còn tốt và thận hoạt động đều đặn Trong trường hợp chức năng thận bịtổn thương, mức lọc cầu thận suy giảm, những chất cần đào thải qua thận tănglên trong máu, bao gồm cả cystatin C
Các kết quả nghiên cứu cho thấy: cystatin C là một protein trong huyếtthanh có giá trị như một chỉ số sinh học (biomarker) trong thăm dò chức năngthận, đặc biệt mức lọc cầu thận (glomerular filtration rate - GFR) Ở bệnhnhân có mức lọc cầu thận thay đổi, nồng độ cystatin C huyết thanh tăng sớmhơn creatinin huyết thanh từ 24- 48 giờ, nồng độ cystatin C tăng ngay sau khimức lọc cầu thận là 80 ml/phút/1,73 m2 da, trong khi đó creatinin huyết thanhchỉ tăng khi mức lọc cầu thận là 40 ml/phút/1,73 m2 da [2], [11]
1.3.3 Nguyên lý định lượng
Nguyên lý chung là thuốc thử chứa kháng thể đặc hiệu cystatin C ngườitạo phức hợp với cystatin C, chất chỉ thị phát hiện sự có mặt của phức hợpkháng nguyên- kháng thể chứa cystatin C Các phương pháp: RIA, miễn dịch
đo độ đục, ELISA, điện hóa phát quang [3]
1.3.4 Ý nghĩa sinh học và các yếu tố ảnh hưởng cystatin C
* Với các bệnh tại thận
Do trọng lượng phân tử thấp nên cystatin C dễ dàng lọt qua màng lọccầu thận, nồng độ cystatin C trong máu có liên quan với mức lọc cầu thận.Nồng
Trang 22độ cystatin C trong máu không phụ thuộc vào tuổi, giới, cân nặng, chiều cao
và khối cơ của người bệnh Trong khi đó chỉ số creatinin máu bị ảnh hưởngbởi các yếu tố trên, bên cạnh đó trong một số trường hợp, trị số creatininhuyết thanh sẽ không phản ánh sự tương thích với tình trạng người bệnh trênlâm sàng, ví dụ với một bệnh nhân mắc bệnh thận có kèm mắc bệnh xơ gan,bệnh béo phì, người dinh dưỡng kém hoặc người có khối cơ bị giảm nhiều
Trong những trường hợp này, cystatin C đặc biệt hữu ích giúp cho việcphát hiện sớm bệnh thận trong khi các thông số cũ như urê, creatinin, độ thanhthải creatinin có thể hầu như bình thường Cystatin C còn rất hữu ích đối vớicác trường hợp các bác sĩ nghi ngờ chức năng thận của người bệnh bị suygiảm nhưng các kết quả thăm dò cũ như creatinin và mức lọc cầu thận chothấy bình thường
Ở những bệnh nhân ghép thận việc phát hiện những tổn thương sớmtrong những ngày đầu sau ghép là rất quan trọng có giá trị tiên lượng rất lớnđối với bệnh nhân, qua nhiều nghiên cứu đã cho thấy giá trị của cystatin Ctrong phát hiện sớm, kịp thời hơn creatinin huyết thanh đối với bệnh nhânghép thận
Ngoài ra cystatin C còn hỗ trợ rất tốt cùng với các thông số khác nhưcreatinin, độ thanh thải creatinin trong sàng lọc và theo dõi tổn thương chứcnăng thận ở những bệnh nhân có nghi ngờ tổn thương thận, người suy thậncấp và mạn, đặc biệt trong những trường hợp suy thận cấp [2], [11]
* Với các bệnh ngoài thận
Giúp ích trong đánh giá và theo dõi các bệnh nhân có nguy cơ gia tăngcác bệnh về tim mạch từ nhẹ trung bình tới nặng, tai biến mạch máu não (rốiloạn chuyển hoá lipid, béo phì, đái tháo đường ) đột qụy và theo dõi chứcnăng thận ở người cao tuổi
Trang 23Với nhóm người có nguy cơ cao về tim mạch, trị số cystatin C caothường có tỷ lệ mắc suy tim, đột qụy và thậm chí tử vong cao hơn hẳn so vớicác nhóm khác có trị số cystatin C ở mức trung bình hoặc thấp.
Trong thai nghén: Tiền sản giật là một yếu tố gây tử vong cao đối vớisản phụ và thai nhi Việc theo dõi chức năng thận trong tiền sản giật là rất cầnthiết, cystatin C đã được xác nhận là một dấu hiệu quan trọng đáng tin cậy choGFR ở phụ nữ mang thai
Trong một số nghiên cứu còn thấy cystatin C tăng trong bệnhAlzheimer, hay những tổn thương của tế bào thần kinh
Ngoài ra cystatin C còn dùng để theo dõi để điều chỉnh liều lượng củamột số loại thuốc được dùng trong lâm sàng có ảnh hưởng đến chức năng lọccủa cầu thận [2], [11]
* Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ cystatin C
Nồng độ cystatin C ít chịu ảnh hưởng bởi tuổi, giới tính, chủng tộc, khốilượng cơ Nồng độ cystatin C trong máu ở người khỏe mạnh ổn định [3],[ 33]
Mức độ cystatin C trong huyết thanh ở người khỏe mạnh lứa tuổi trưởngthành là 0,52 - 0,98 mg/l, ở phụ nữ là 0,52-0,90 mg/l và ở nam giới là 0,56-0,98 mg/l, ở người dưới 50 tuổi là 0,53- 0,92 mg/l và ở người trên 50 tuổi là0,58-
1,02 mg/l [33]
Ở Việt Nam theo nghiên cứu của Trần Thị Liên Minh ở 285 người tuổi
từ 18 tuổi tham gia nghiên cứu ở nhóm tuổi 18-29 nồng độ cystatin huyếtthanh là 0,53 ± 0,02 mg/l, ở nhóm 30-39 tuổi là 0,50 ± 0,01 mg/l, ở nhóm 40-
Trang 24(nhưng nồng độ cystatin C không tỷ lệ với số lượng và kích thước khối u),chứng tăng homocystein máu ở những bệnh nhân ghép thận, dùng corticoidliều cao dài ngày…
• Nồng độ cystatin C có thể giảm khi dùng cyclosporin
• Vỡ hồng cầu: Nồng độ Hb ≤ 435 μmol/l (700 mg/dl) ảnh hưởng không đángkể
• Mỡ máu: không bị ảnh hưởng
• Yếu tố dạng thấp: ≤ 1200 IU/ml không bị ảnh hưởng
• Thuốc: hầu hết các thuốc trong danh mục chung không gây ảnh hưởng đếnnồng độ cystatin C [2], [3]
1.3.5 Cystatin C với vai trò chất chỉ điểm sinh học trong bệnh thận
Cystatin C được đánh giá là một marker sinh học trong đánh giá chứcnăng thận [29],[ 41],[ 51], [54], [56]
1.3.5.1 Cystatin C để ước tính mức lọc cầu thận
Công thức Stevens LA:
MLCT = 76,7 x CysC – 1,19
Hoặc = 127,7 x CysC-1,17 x tuổi-0,13( nhân với 0,91 nếu là nữ, với 1,06nếu là người gốc Phi)
Công thức Hoek: MLCT = - 4,32 + 80,35 x 1/CysC [17], [54]
1.3.5.2 Nồng độ cystatin C máu ở bệnh nhân tổn thương thận
Ở bệnh nhân tổn thương thận cấp tính xảy ra do nhiều nguyên nhânkhác nhau dẫn tới suy thận cấp tính, tăng nồng độ cystatin C trong huyếtthanh
Cystatin C ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính: các nghiên cứu so sánh chothấy MLCT ước tính dựa vào cystatin C sai lệch với giá trị MLCT thực ít hơn
so với creatinin ở đối tượng nghiên cứu khác nhau Theo Hojs R1 (2008)nghiên cứu trên 592 bệnh nhân người lớn bị bệnh thận mạn kết quả là độthanh thải
Trang 2551CrEDTA trung bình là 47 ml/phút/1,73 m2 da, creatinine huyết thanh trung
Trang 26bình là 269 µmol/l và nồng độ cystatin C huyết thanh trung bình là 2,68 mg/l[57].
Biến đổi nồng độ cystatin C ở bệnh nhân đái tháo đường: ở bệnh nhânđái tháo đường týp 2 có tổn thương cầu thận giai đoạn sớm các protein trọnglượng phân tử lớn hơn 6 kDa như cystatin C bị giảm lọc qua cầu thận trong khicreatinin chưa bị ảnh hưởng Albumin niệu phối hợp với tổn thương mạng lướimao mạch quanh ống thận gây tổn thương ống thận Ở bệnh nhân đái tháođường tổn thương thận có thể có tăng nồng độ cystatin C trong huyết thanh.Nghiên cứu của Phạm Quốc Toản (2007) mô tả cắt ngang trên 235 đối tượngđái tháo đường type 2 cho thấy kết quả tỉ lệ tăng cystatin C huyết thanh ở bệnhnhân tổn thương thận (1,51 ± 0,78 mg/l) cao hơn so với nhóm chứng khỏemạnh(0,78 ± 0,13 mg/l) và nhóm chứng bệnh (0,85 ± 0,16 mg/l) Tỉ lệ tăngcystatin C trong nhóm tổn tương thận chiếm 67,7 % với p < 0,01 có ý nghĩathống kê Nồng độ cystatin C huyết thanh tương quan thuận mức độ chặt vớicreatinin, tương quan nghịch mức độ chặt với MLCT creatinin MLCTcystatin C tương quan thuận mức độ chặt với MLCT creatinin Khi ước tínhmức lọc cầu thận bằng cystatin C, tỷ lệ bệnh nhân thận tăng thêm 29,4% sovới ước lượng bằng creatinin huyết thanh
[17]
Theo Nguyễn Thị Lệ (2011), nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 130 bệnhnhân có các bệnh lý cầu thận tại khoa Nội thận - Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng12/2009 đến 8/2010 có creatinin từ 0,8-3,0mg/dl chia thành 2 nhóm: nhóm A
có độ thanh lọc creatinin 24 giờ dưới 90ml/phút/1,73m2 da, nhóm B có độthanh lọc creatinin 24 giờ trên 90ml/phút/1,73m2 da Ở nhóm A, cystatin Chuyết thanh tương quan nghịch với độ thanh lọc creatinin 24 giờ tốt hơncreatinin huyết thanh (r= -0,918; p < 0,05) và (r= -0,715; p < 0,05) Ở nhóm
B, cystatin C huyết thanh tương quan nghịch với độ thanh lọc creatinin 24 giờtốt hơn creatinin huyết thanh (r= -0,522; p < 0,05) và (r= -0,423; p < 0,05)
Trang 27Độ nhạy,
Trang 28độ đặc hiệu của cystatin C huyết thanh, creatinin huyết thanh, độ thanh lọccreatinin 24 giờ lần lượt là 91%, 89%; 78%,87%; 85%, 80% [12] Như vậy,cystatin C huyết thanh giúp phát hiện sớm sự suy giảm độ lọc cầu thận ởnhững bệnh nhân có bệnh lý cầu thận tốt hơn creatinin huyết thanh.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2014) mô tả cắt ngang 124bệnh nhân xơ gan cho thấy diện tích dưới đường cong ROC của cystatin C là93,4 % cao hơn của creatinin là 87,8 %, chứng tỏ cystatin C có giá trị chẩnđoán sớm bệnh nhân xơ gan có tổn thương thận [19]
1.3.6 Nồng độ cystatin C máu ở bệnh nhân suy tim mạn tính
1.3.6.1 Sự biến đổi nồng độ cystatin C máu ở bệnh nhân suy tim mạn tính
Nồng độ cystatin C được coi như là một yếu tố nguy cơ độc lập và cógiá trị tiên lượng tử vong ở bệnh nhân cao tuổi Điều này đã được Sarnak(2005) nghiên cứu quan sát dựa trên đo nồng độ cystatin C từ huyết thanhđông lạnh thu được trong năm 1992-1993 của Cardiovascular Health Studytheo dõi 6 tháng 4384 người lớn từ 65 tuổi trở lên từ không bị suy tim trước
đó tại Hoa Kỳ cho thấy trong thời gian theo dõi trung vị 8,3 năm (tối đa, 9,1năm) có 54,4% bệnh nhân suy tim tăng nồng độ cystatin C huyết thanh (763người tham gia suy tim) [44]
Cystatin C là một yếu tố tiên đoán mạnh mẽ hơn về tử vong so vớicreatinine ở người cao tuổi bị suy tim Theo Shlipak (2005) nghiên cứu trên
279 người tham gia có tiền sử suy tim và đo nồng độ cystatin C và creatininetrong huyết thanh được theo dõi trên các kết cục tử vong trong khoảng 6,5năm Mức creatinine trung bình và cystatin C là 1,05 mg/dl và 1,26 mg/l Mỗi
độ lệch chuẩn tăng cystatin C (0,35 mg/l) có liên quan đến nguy cơ tử vongđiều chỉnh được 31% (95% CI 20% - 43%, p < 0,001), trong khi mỗi độ lệchchuẩn tăng
Trang 29creatinine (0,39 mg /dl) có nguy cơ tử vong được điều chỉnh cao hơn 17%(95%
CI 1% - 36%, p = 0,04) [47],[ 48],[ 49],[ 50]
Nồng độ cystatin C cao cũng dự đoán nguy cơ gia tăng đáng kể tử vong
do mọi nguyên nhân, các biến cố về tim mạch, và suy tim xung huyết trong sốnhững người đi cùng với bệnh tim mạch Theo Joachim H Ix (2007) nghiêncứu trên 990 người bệnh tim mạch sau thời gian theo dõi trung bình 37 tháng,
132 người tham gia (13%) tử vong, 101 (10%) có các biến cố tim mạch, và 57(7%) bị suy tim Cystatin C có nguy cơ tương tự cao nhất đối với những người
có nồng độ thấp hơn (≤ 60 ml/ phút/ 1,73 m2 da) hoặc tỉ lệ lọc cầu thận caohơn và trong số những người có hoặc không có microalbumin niệu [36]
Phân loại cystatin C cao nhất cũng liên quan độc lập với nguy cơ tửvong và suy tim cao Phân tích của Meng Lee (2010) từ dữ liệu được thu thập
từ 14 nghiên cứu, với 13 nhóm nghiên cứu có nguy cơ tim mạch và 1 nhómnghiên cứu chung, có 22 509 đối tượng với 2321 trường hợp bệnh tim mạch,
741 trường hợp bệnh mạch vành, và 828 đột quỵ Mức cystatin C cao nhất sovới thấp nhất có liên quan đến nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn (RR 2,62, 95%
CI 2,05-3,37, p < 0,001), bệnh mạch vành (RR 1,72, 95% CI 1,27 - 2,34, p <0,001) ), và đột quỵ (RR 1,83,
95% CI 1,12 – 3,00, p= 0,02) sau khi điều chỉnh các yếu tố nguy cơ tim mạch
đã được xác lập Mỗi độ lệch chuẩn tăng nồng độ cystatin C làm tăng nguy cơbệnh tim mạch (RR 1,34, 95% CI 1,18 -1,51, p < 0,001) [46]
Nghiên cứu của Ling Fei (2016) nghiên cứu mô tả 221 bệnh nhân suytim mạn với tuổi trung bình của bệnh nhân là 66,6 tuổi, trong đó 59% bệnhnhân (n = 131) là nam, 18,6% bệnh nhân (n = 41) qua đời cho thấy nồng độcystatin C ở tất cả các bệnh nhân là 1,2 ± 0,4 mg/l, ở nhóm bệnh nhân tử vong(18,6%) là 1,5 ± 0,4 với p < 0,001: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [42]
Theo Trần Quang Khánh (2012) nghiên cứu 214 bệnh nhân nhập viện vì
Trang 30suy tim cấp (n = 214) được đo cystatin C tại thời điểm nhập viện và 48 giờsau
Trang 31nhập viện Tại thời điểm nhập viện giá trị trung vị của cystatin C là 1,2 mg/l(khoảng tứ phân vị 1,1 – 1,6 mg/l) Tăng cystatin C ≥ 0,3 mg/l sau 48 giờ nhậpviện xảy ra ở 35%, hậu quả làm kéo dài thời gian nằm viện hơn 2 ngày (p =0,05), liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong chung trong bệnh viện một cách có ýnghĩa OR =
31 tháng 12 năm 2001 cho thấy hệ số tương quan tổng quát đối với sự biến đổitương đối của cystatin C huyết thanh (r = 0,816, 95% CI 0,804 đến 0,826) caohơn tỷ lệ nghịch của creatinin huyết thanh (r = 0,742, 95% CI, 0,726 đến 0,758, p < 0,001) [28]
Cystatin C là một yếu tố tiên đoán mạnh mẽ và độc lập của kết cục ở 12tháng trong suy tim cấp Hơn nữa, cystatin C xác định bệnh nhân tiên lượngxấu mặc dù creatinine huyết tương bình thường Các bệnh nhân suy tim cấpđược đo nồng độ cystatin C (n = 480) từ một nghiên cứu đa trung tâm Tửvong do mọi nguyên nhân ở tháng thứ 12 là 25,4% Cystatin C, creatinine,tuổi tác, giới tính và huyết áp tâm thu khi nhập viện được xác định là các yếu
tố nguy cơ độc lập về tiên lượng Kết hợp tứ phân vị giữa NT-proBNP vàcystatin C cải thiện sự phân tầng nguy cơ xa hơn Hơn nữa, ở những bệnhnhân có creatinine huyết thanh bình thường, cystatin C tăng có tỷ lệ tử vongcao hơn đáng kể ở thời điểm 12 tháng: 40,4% so với 12,6% ở bệnh nhân códấu hiệu trong phạm vi bình thường, p < 0,0001[38]
Theo Hojs R1 (2008) phân tích khả năng dự đoán chính xác GFR của
Trang 32bệnh nhân dưới hoặc trên 60 ml/ phút/ 1,73 m2 da cho thấy dự đoán cao hơnđối với công thức cystatin C so với công thức MDRD (91,6 so với 84,1%, p <
Trang 330,078) [36].
Nghiên cứu của Axel Åkerblom (2015) mô tả cắt ngang 2716 bệnh nhânngoại trú tim mạch cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa creatinine và cystatin C,MLCT creatinine trung bình xấp xỉ 10 ml/phút/1,73 m2 da so với MLCTcystatin C trung bình lên đến 90 ml/phút/1,73 m2 da [23]
Nghiên cứu của Ling Fei (2016) cho thấy tuổi, huyết áp tâm thu, LVEF,BNP, creatinin có liên quan đến sự thay đổi nồng độ cystatin C Kết quả phântích cho thấy điểm Cr & Cys C có auROC là 0,75 (95% CI: 0,69–0,81), caohơn đáng kể so với Cr (p = 0,001), với điểm cắt là 5,99, độ nhạy là 66,7%, đặchiệu là 76,7% Điểm Cr & Cys C đã có hiệu suất tốt hơn chỉ riêng Cr hoặc Cys
C Điều đó cho thấy cystatin C có giá trị đánh giá không chỉ chức năng thận
mà còn tiên lượng tử vong ở bệnh nhân suy tim mạn tính [42]
Đồ thị 1.3 Phân tích ROC của Cys-C, Cr và Cr & Cys-C -điểm trên tỷ lệ
tử vong 3 năm của bệnh nhân suy tim mạn (Theo Ling Fei [42]
Nghiên cứu của Kazumasa Nosaka (2013) tại Bệnh viện Okayama (Nhật
Bản) từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 5 năm 2009 ở các bệnh nhân có bệnhđộng mạch vành, rối loạn nhịp tim, bệnh cơ tim, bệnh tim bẩm sinh, và van tim
Trang 34loại trừ hội chứng vành cấp tính và đo mức cystatin C huyết thanh, creatininehuyết thanh,
Trang 35hocmon kích thích tuyến giáp (TSH), và peptide lợi niệu type B (BNP) Sau đóphân tích mối quan hệ giữa cystatin C huyết thanh và các thông số siêu âm tim
ở 78 bệnh nhân Trong phân tích hồi quy tuyến tính đơn giản, các mô hìnhLAD, E / A, E 'và TMF, các thay thế cho chức năng tâm trương tim, có liênquan đáng kể với cystatin C huyết thanh Tuy nhiên, LVDd, LVDs, và LVEF,thay thế cho chức năng tâm thu, không liên quan với cystatin C huyết thanh khiphân tích đơn biến r = 0,266, p
< 0,01 phân tích đa biến với r = 0,017, p = 0,39
[39]
Theo M Mendez (2010) thì cystatin C là một yếu tố tiên đoán tốt hơn về
tử vong toàn cầu so với NT-proBNP trong nhóm bệnh nhân cao tuổi suy timkhông được chọn trước bởi phân suất tống máu thất trái của họ Nghiên cứu có
194 bệnh nhân suy tim Tuổi trung bình là 78,62 ± 8,6 năm, 58% là phụ nữ,39% suy tim NYHA III-IV, LVEF dưới 45% chiếm 41% trường hợp, 11%chết trong quá trình theo dõi Nồng độ cystatin C cao hơn ở những ngườikhông sống sót so với người sống sót (2,44 mg/dl so với 1,59 mg/dl, p =0,030) Khu vực dưới đường cong ROC của cystatin C cho tử vong toàn cầu là0,769 (IC: 0,634 - 0,904, p < 0001).; không tìm thấy bất kỳ sự khác biệt có ýnghĩa thống kê giữa nồng độ NT-proBNP giữa những người sống sót và nhữngngười không sống sót (logNT-proBNP 3,64 ± 0,56 so với 3,38 ± 0,49; p =0,432) [43]
Nghiên cứu của Pérez-Calvo (2012) trên 526 bệnh nhân có suy tim cấp
và NTpro-BNP trên 900 pg/ml đã được đưa vào nghiên cứu Từ nhóm này, 367bệnh nhân (69,8%) có creatinine huyết thanh dưới 1,3 mg/dl Các đường congnhận dạng (ROC) được sử dụng để xác định giá trị cắt tốt nhất cho cystatin C.Bệnh nhân có nồng độ cystatin C trên 1,25 mg/dl có tỷ lệ tử vong 37,8%, sovới 13,6% đối với những người dưới ngưỡng giới hạn (p < 0,001) Sau khi môhình nguy cơ tỷ lệ Cox, tuổi, cystatin C, cholesterol toàn phần thấp và suy tim
Trang 36với phân suất tống máu bảo quản vẫn liên quan đáng kể đến tử vong do mọinguyên nhân trong một năm tiếp theo Trong suy tim cấp và chức năng thậnbình thường hoặc suy giảm chức năng
Trang 37thận, hiệu quả của cystatin C có thể cao hơn NT-proBNP Do đó, cystatin C cóthể là nhãn sinh học được ưa thích trong việc đánh giá bệnh nhân với suy timcấp và chức năng thận suy giảm nhẹ [55].
Năm 2011 Anoop Shankar và Srinivas Teppala đã công bố kết quả kiểmtra Khảo sát Sức khoẻ và Dinh dưỡng Quốc gia 1999-2002 với 2583 người từ
20 tuổi (54,5% phụ nữ) không có bệnh thận mạn được nhận biết lâm sàng(được định nghĩa là tỷ lệ lọc cầu thận ước tính < 60 ml/ phút/ 1,73 m2 da hoặcalbumin niệu) Nồng độ cystatin C trong huyết thanh được phân loại thành các
tứ phân vị (< 0,76 mg/ l,
0,76 - 0,86 mg /l, 0,87 - 0,97 mg/ l, > 0,97 mg/ l) Tăng huyết áp được địnhnghĩa là dùng thuốc giảm huyết áp hoặc huyết áp tâm thu > 140 mmHg và /hoặc huyết áp tâm trương > 90 mmHg Nồng độ cystatin C trong huyết thanhtăng cao có liên quan đến tăng huyết áp ở phụ nữ, nhưng không phải ở đànông Sau khi điều chỉnh tuổi, chủng tộc, giáo dục, hút thuốc, lượng cồn, chỉ số
cơ thể, đái tháo đường, cholesterol toàn phần và protein phản ứng C, tỷ lệchênh lệch (khoảng tin cậy 95%) của tăng huyết áp so với tứ phân vị cystatin C
từ tứ phân vị I (tham chiếu) là 2,04 (1,13-3,69); p = 0,02 ở phụ nữ và 0,86(0,53-1,41); p = 0,51 ở nam giới [22]
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 382.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 3969 bệnh nhân được chẩn đoán là suy tim mạn tính đợt cấp đang điều trịtại khoa Tim Mạch Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
* Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định suy tim mạn
Theo khuyến cáo của Hội Tim Mạch Châu Âu 2012 [6]
- Chẩn đoán suy tim tâm thu:
+ Triệu chứng cơ năng (khó thở khi gắng sức/ nghỉ ngơi, mệt mỏi, hokhan, ho nhiều khi nằm, khi về đêm, phù)
+ Triệu chứng thực thể (nhịp tim nhanh, tiếng tim T3, tiếng thổi tim,nhịp thở nhanh, có ran ở phổi, tĩnh mạch cổ nổi, phù ngoại biên, gan to, cóphản hồi gan tĩnh mạch cổ)
+ Giảm phân suất tống máu (LVEF < 50%)
- Chẩn đoán suy tim tâm trương:
+ Có triệu chứng cơ năng và/hoặc thực thể của suy tim
+ Phân suất tống máu bảo tồn (LVEF ≥ 50%)
+ Tăng Natriuretic Peptide (BNP ≥ 35 pg/ml và/hoặc NT-proBNP ≥ 125pg/ml)
+ Chứng cứ biến đổi cấu trúc cơ tim (dày thất trái, giãn nhĩ trái) và/hoặc rối loạn chức năng tâm trương
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp của suy tim mạn tính gồm các bệnhnhân suy tim mạn nặng hơn hoặc mất bù : ở bệnh nhân suy tim mạn đang điềutrị diễn tiến nặng hơn và có bằng chứng sung huyết hệ thống và phổi
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối
- Bệnh nhân đang điều trị bệnh lí tuyến giáp, viêm gan tiến triển, bệnh khớp
Trang 40- Bệnh nhân sử dụng corticoid trong một tháng trước thời điểm nghiêncứu, ung thư, có thai, nhiễm trùng nặng, nhiễm HIV, rối loạn tâm thần.
- Những bệnh nhân có bệnh lý cấp tính: nhồi máu cơ tim cấp tính, độtquỵ não, nhiễm khuẩn, tiền hôn mê và hôn mê
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2017
- Địa điểm: Khoa Tim Mạch Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu.
2.3.2 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
2.3.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Cỡ mẫu: được tính theo công thức ước lượng một giá trị trung bình [7]:
n= Z2 1-α/2 s 2
(X.ε)2n: là cỡ mẫu nghiên cứu của đối tượng suy tim mạn
α: Mức ý nghĩa thống kê; với α = 0,05 thì hệ số Z1-α/2 =1,96
s: Phương sai của nghiên cứu Ling Fei [42] là 0,4
X: giá trị trung bình nồng độ cystatin C ở bệnh nhân suy tim mạn củanghiên cứu của Ling Fei [42] là 1,2 ± 0,4 mg/l
ε: Sai số mong đợi, chọn ε = 0,1
Từ công thức trên ta có số đối tượng nghiên cứu là 43
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu chúng tôi thu thập được thông tincủa 69 đối tượng nghiên cứu