1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khóa luận - lý luận về con người trong các tác phẩm của c. mác, ph.ăngghen

54 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 314,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài Trong triết học, con người luôn là một đề tài lớn, việc nghiên cứu vấn đề con người có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của thế giới, vì vậy nó được các nhà triết gia của mọi thời đại bao gồm cả phương Đông và phương Tây quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên con người trong tư tưởng của các nhà triết học cổ đại mới chỉ được định nghĩa đơn giản theo những quan niệm duy vật siêu hình hoặc là duy tâm, thần thánh, chúa,….Chỉ đến triết học Mác – Lênin, vấn đề con người mới được xem xét một cách toàn diện, khoa học, dựa trên lập trường duy vật biện chứng. Chủ nghĩa Mác không nghiên cứu vấn đề con người một cách cô lập mà gắn vấn đề con người với cơ sở nảy sinh ra nó cùng những quan hệ gắn bó với nó. Mục đích cao nhất của chủ nghĩa Mác là giải phóng con người vì thế vấn đề con người được đặt ra và xem xét từ những góc độ khác nhau trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác: Triết học nghiên cứu quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội giúp ta hiểu được cái bản chất nhất trong mối quan hệ tự nhiên – xã hội – con người; Kinh tế chính trị nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội,phê phán xã hội Tư bản chủ nghĩa đã mang nhiều thảm họa cho con người thông qua việc chiếm đoạt giá trị thặng dư; Chủ nghĩa xã hội khoa học chỉ ra những con đường và biện pháp tốt nhất để giải phóng con người. Chủ nghĩa Mác đã kết luận: Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp phát triển của lực lượng sản xuất mà còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của sự tiến bộ xã hội. Đặc biệt khi xã hội loài người ngày càng phát triển như hiện nay.Trong thực tế những năm gần đây từ khi nước ta tiến hành sự nghiệp đổi mới cũng là thời kì đặt ra những vấn đề bức xúc có liên quan tới con người và việc hình thành con người mới. Có thể khẳng định rằng xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một việc dễ dàng bởi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ. Mác nhắc nhở chúng ta rằng trong quá trình phát triển nền kinh tế cần phải gắn “sự nghiệp giải phóng con người” với cuộc đấu tranh chống lại thực tiễn cực đoan của sự thoái hóa con người. Chỉ có như thế chúng ta mới không bị thoái hóa bởi những mặt trái của cơ chế thị trường, mới tránh được nguy cơ đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển. Như vậy, phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Vấn đề xây dựng con người Việt Nam hiện nay đang là vấn đề cấp bách, nó cũng là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế, mở cửa hợp tác, xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội do vậy mà vấn đề con người lại càng được chú trọng quan tâm tạo nguồn lực cho đất nước phát triển. Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về con người, tại hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành trung ương khóa VII, Đảng ta đã đề ra và thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là động lực xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đó là: “ Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Việc xây dựng con người Việt Nam hiện nay theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là việc làm hết sức cần thiết và đó cũng chính là lý do mà em chọn đề tài “Lý luận về con người trong các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp cách mạng nước ta” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

Trang 2

Chủ nghĩa Mác không nghiên cứu vấn đề con người một cách cô lập màgắn vấn đề con người với cơ sở nảy sinh ra nó cùng những quan hệ gắn bó với

nó Mục đích cao nhất của chủ nghĩa Mác là giải phóng con người vì thế vấn

đề con người được đặt ra và xem xét từ những góc độ khác nhau trong ba bộphận hợp thành chủ nghĩa Mác: Triết học nghiên cứu quy luật chung nhất của

tự nhiên, xã hội giúp ta hiểu được cái bản chất nhất trong mối quan hệ tựnhiên – xã hội – con người; Kinh tế chính trị nghiên cứu những quy luật kinh

tế của xã hội,phê phán xã hội Tư bản chủ nghĩa đã mang nhiều thảm họa chocon người thông qua việc chiếm đoạt giá trị thặng dư; Chủ nghĩa xã hội khoahọc chỉ ra những con đường và biện pháp tốt nhất để giải phóng con người.Chủ nghĩa Mác đã kết luận: Con người không chỉ là chủ thể của hoạt độngsản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp phát triển của lựclượng sản xuất mà còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của sự tiến bộ xã hội.Đặc biệt khi xã hội loài người ngày càng phát triển như hiện nay

Trong thực tế những năm gần đây từ khi nước ta tiến hành sự nghiệp đổimới cũng là thời kì đặt ra những vấn đề bức xúc có liên quan tới con người vàviệc hình thành con người mới Có thể khẳng định rằng xây dựng thành công

Trang 3

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một việc dễdàng bởi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề rất mới, chưa

có tiền lệ Mác nhắc nhở chúng ta rằng trong quá trình phát triển nền kinh tế cầnphải gắn “sự nghiệp giải phóng con người” với cuộc đấu tranh chống lại thựctiễn cực đoan của sự thoái hóa con người Chỉ có như thế chúng ta mới không bịthoái hóa bởi những mặt trái của cơ chế thị trường, mới tránh được nguy cơ đichệch định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển

Như vậy, phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xãhội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Vấn đề xây dựng con người ViệtNam hiện nay đang là vấn đề cấp bách, nó cũng là vấn đề mà Đảng và Nhànước ta đặc biệt quan tâm Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế, mởcửa hợp tác, xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội do vậy mà vấn đề conngười lại càng được chú trọng quan tâm tạo nguồn lực cho đất nước phát triển.Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về conngười, tại hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành trung ương khóa VII, Đảng ta

đã đề ra và thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàndiện với tư cách là động lực xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủnghĩa xã hội Đó là: “ Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thểchất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Việc xây dựng con ngườiViệt Nam hiện nay theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là việc làm hết

sức cần thiết và đó cũng chính là lý do mà em chọn đề tài “Lý luận về con người trong các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen và ý nghĩa của nó đối với

sự nghiệp cách mạng nước ta” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan

Vấn đề con người luôn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu,dưới đây là một số tài liệu có liên quan đến vấn đề con người

- Phạm Văn Chung, Triết học Mác về lịch sử - Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia

Trang 4

- Nguyễn Trọng Chuẩn: Để phát triển con người một cách bền vững,

Tạp chí Triết học Tháng 1/2005

- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội lần thứ IX, Nhà xuất

bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001

- Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện đại hội lần thứ XI, Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011

- Phạm Văn Đức, Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng ghen về những tiền đề của lịch sử trong “Hệ tư tưởng Đức” và ý nghĩa của chúng, tạp chí

triết học 12/2005

- Lê Thị Thanh Hà, Một số vấn đề triết học về con người trong “Hệ

tư tưởng Đức”, tạp chí triết học 1/2006.

- Lê Thị Hương: Sự phát triển con người trong cương lĩnh của Đảng cộng sản Việt Nam,Tạp chí Triết học số 11/2012

- Hà Đức Long: Quan điểm của Đảng về con người trong văn kiện đại hội XI, Tạp chí triết học Tháng 2/2012

- Hồ Sỹ Quý, Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph Ăngghen” – Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội.

- Vũ Quang Tạo,C.Mác và sự nghiệp giải phóng con người trong thời đại hiện nay, Tạp chí Triết học số 5/2008

- Lê Thi, C.Mác với vấn đề con người và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

- Tiểu luận triết học: Vấn đề con người trong triết học Mác – Lênin phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là làm rõ lý luận về con người trong các tác phẩmcủa C.Mác, Ăngghen và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp Cách mạng nước ta

Trang 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ lý luận về con người trong một số tác phẩm tiêu biểu củaC.Mác, Ph.Ăngghen

- Làm rõ ý nghĩa của lý luận về con người trong một số tác phẩm tiêubiểu của C.Mác, Ăngghen đối với sự nghiệp cách mạng nước ta

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là lý luận về con người trong các tác phẩm củaC.Mác, Ph.Ăngghen và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp Cách mạng nước ta

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là lý luận về con người của C.Mác và Ph.Ăngghenthể hiện trong các tác phẩm: Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Luậncương về Phoiơbắc, Hệ tư tưởng Đức Khi bàn về ý nghĩa của lý luận đó đốivới sự nghiệp cách mạng nước ta, giới hạn được đưa ra là từ cuối thế kỷ XIXđến nay, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.2 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các vănkiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tài liệu, sách báo có liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là những nguyên tắc, quan điểm của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp phân tích – tổnghợp, quy nạp – diễn dịch, kết hợp lịch sử - lôgic, phương pháp so sánh,

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luậnđược kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 6

nó Do đó phạm trù con người được nghiên cứu rất nhiều trải qua các giaiđoạn lịch sử phát triển của con người kể từ khi nền triết học ra đời Tựu chunglại từ nền triết học phương Đông ( Trung Quốc, Ấn Độ ) đến triết học phươngTây ( Hy Lạp, Tây Âu thời kỳ phục hưng, triết học cổ điển Đức, ) đều cónhững định nghĩa, nghiên cứu về bản chất con người Tùy vào vùng lãnh thổ,điều kiện, hoàn cảnh lịch sử mà các nhà triết học có những quan niệm, quanđiểm khác nhau về con người và bản chất con người Quan điểm triết họcphương Đông thường đi sâu vào nghiên cứu nguồn gốc bản chất của conngười, cho rằng bản chất con người là tâm linh, nặng về duy tâm, con người

do thượng đế tạo ra Triết học phương Tây tập trung nghiên cứu một cách khátoàn diện vấn đề con người, coi “con người là trung tâm của vũ trụ”, thước đocủa vạn vật Quan niệm của các nhà triết học thường mang tính duy vật chủquan, hay vừa duy vật vừa duy tâm Tuy nhiên cả hai nền triết học trênvẫncòn tồn tại nhiều mâu thuẫn, chủ yếu là mâu thuẫn giữa hai hệ tư tưởng là duyvật và duy tâm

Kế thừa có phê phán và phát triển có chọn lọc hai nền triết học trên,triết học Mác – Lênin có những nghiên cứu và lý luận về con người một cáchriêng và cụ thể hơn Điểm xuất phát để nghiên cứu con người của triết họcMác đó là con người trong hoạt động thực tiễn, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể

Trang 7

của nó Sau đây chúng ta sẽ cùng đi vào tìm hiểu một số tác phẩm kinh điểncủa Mác khi nghiên cứu về vấn đề con người

1.1 Tư tưởng triết học về con người của C Mác trong tác phẩm

“Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”

“Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” là bản sơ thảo đầu tiên trongcuốn sách của C.Mác “Phê phán chính trị và khoa kinh tế chính trị” Tác phẩmnày được Mác viết vào thời gian từ tháng Tư đến tháng Tám năm 1844 bằngtiếng Đức Trong lời tựa, C.Mác đã nói “ Bản thảo kinh tế - triết học năm1844” là tác phẩm nhằm phê phán lý luận đương thời về kinh tế, chính trị, phápquyền và một phần phê phán quan niệm của Phoiơbắc và Hêghen, tức là ở đâyC.Mác không có ý định bàn về chủ đề con người, do vậy vấn đề con người ởđây không được trình bày trong một hệ thống chặt chẽ Tuy nhiên những tưtưởng về con người trong tác phẩm này nảy sinh qua đối thoại với các học giảđương thời và qua phê phán Phoiơbắc và Hêghen lại rất phong phú Đó là các

tư tưởng về con người – một thực thể tự nhiên có tính chất người, về tính loàicủa con người, con người cá nhân và con người xã hội, về bản chất con người,

về lao động tha hóa của con người và về giải phóng con người,

Sau đây chúng ta sẽ lần lượt đi vào tìm hiểu các khía cạnh cụ thể khiC.Mác đề cập đến vấn đề con người:

1.1.1 Bản chất con người

Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, trên cơ sở nghiên cứunhững quan điểm về con người và về bản chất con người, C.Mác đã đi đếnnghiên cứu các vấn đề như lao động bị tha hóa, chế độ tư hữu và việc xóa bỏchế độ tư hữu, vấn đề giải phóng con người dưới chủ nghĩa Cộng sản, từ đóhình thành nên quan niệm duy vật về lịch sử Mác cho rằng con người chủyếu xuất phát từ những con người đang lao động sản xuất ra của cải vật chất.Đặt vào hoàn cảnh trong xã hội tư sản lúc đó, người lao động là người côngnhân, người vô sản, đang tồn tại, hoạt động trong điều kiện lao động bị tha

Trang 8

hóa và tự tha hóa Thông qua việc xem xét tình trạng lao động bị tha hóa củangười công nhân, C.Mác đã trình bày tư tưởng của mình về bản chất conngười và về tồn tại người nói chung, điều này liên quan chặt chẽ với quanniệm về con người hiện thực và con người xã hội.

Khi khám phá con người hiện thực, C.Mác hiểu rằng con người chính

là một “ sinh vật có tính loài”, là “ thực thể tự nhiên có tính chất người, nghĩa

là thực thể tồn tại cho bản thân mình và do đó là thực thể loài” Phân tích tồntại của sinh vật có tính loài này, C.Mác nhận ra rằng nó có hai mặt: mặt tựnhiên và mặt xã hội Mặt tự nhiên là thể xác, là cơ thể sinh vật của con ngườicùng mối liên hệ hữu cơ của nó với giới tự nhiên ở bên ngoài Yếu tố sinh họctrong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vìvậy, “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người đời sống thể xác vàđời sống tinh thần của con người gắn với giới tự nhiên” Con người là một bộphận của tự nhiên

Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bảnchất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giớiloài vật là mặt xã hội.Mặt xã hội chính là hoạt động lao động, là liên hệ giữacon người với nhau và là tất cả những gì hình thành trên cơ sở hoạt động vàliên hệ ấy, như nhà nước, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, ý thức, Hai mặtnày liên hệ hữu cơ với nhau trong cùng một thực thể là con người C.Mác chorằng ở cả hai mặt tự nhiên và xã hội, con người đều có những đặc trưng làmcho nó phân biệt đối với loài vật, đó là tính người Ông nhận thấy những đặctrưng này tồn tại ở hai trạng thái ( hai mặt) Trạng thái thứ nhất là những lựclượng bản chất, là cái tiềm năng, tiềm ẩn, còn trạng thái thứ hai là cái thể hiện

ra trong đời sống hiện thực, trước hết là trong hoạt động lao động của conngười Bản chất của con người xét từ hai mặt, hai trạng thái tự nhiên và xã hộicủa nó, chính là tính người của nó Tuy nhiên, C.Mác thấy tính người của conngười về cơ bản là ở mặt xã hội của nó

Trang 9

Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đềcon người trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đềlao động sản xuất ra của cải vật chất C.Mác thấy bản chất của con người kể

cả mặt tự nhiên và xã hội của nó được biểu hiện rõ nhất trong quá trình laođộng nhất là lao động công nghiệp Thông qua hoạt động lao động sản xuất,con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống củamình; hình thành và phát triển ngôn ngữ tư duy; xác lập quan hệ xã hội Do

đó phải xem xét bản chất con người ngay trong quá trình lao động của họ

Với việc khẳng định một cách chính diện và rõ ràng sự tồn tại của conngười cá nhân và bản chất xã hội của nó, C.Mác đã cụ thể hóa quan niệm củaông về con người hiện thực, con người xã hội C.Mác hiểu bản chất con ngườichính là tính người của nó Khái niệm tính người được C.Mác nêu ra với hainội dung, hai ý nghĩa Thứ nhất, nó thể hiện ở cả hai mặt tự nhiên xã hội củacon người nhưng rõ ràng và đầy đủ nhất ở mặt xã hội Về mặt tự nhiên, tínhngười của con người thể hiện ở chỗ con người có những yếu tố, đặc điểm tồntại cao hơn tự nhiên bên ngoài nó Về mặt xã hội, tính người của con người làcái phân biệt với tự nhiên thuần túy gồm cả thể xác con người , nó là cái đượctạo nên trong hoạt động xã hội, lịch sử của con người Thứ hai, tính người củacon người còn được hiểu theo nghĩa là cái hòa đồng giữa con người và tựnhiên, giữa xã hội với tự nhiên, giữa con người và xã hội và giữa con người

và con người Trong sự hòa đồng ấy, tính người của con người thể hiện ra ởtính chủ thể, ở vai trò chủ thể của con người đối với hoạt động lịch sử của nó.Theo C.Mác, tính người này đã được xác lập lần đầu tiên khi con người mớixuất hiện Trong điều kiện lao động bị tha hóa, tính người đó đã bị đánh mất,

bị tha hóa và nó sẽ được xác lập lại trong xã hội Cộng sản tương lai nhưng ởtrình độ cao hơn

Trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, quan niệm của C.Mác

về con người, bản chất con người đã trở thành một yếu tố rất quan trọng của

Trang 10

nội dung tư tưởng triết học khoa học về lịch sử Con người hiện thực, conngười xã hội không chỉ được xác định về mặt tự nhiên, sinh vật, là cái tồn tạiphân biệt nó với con vật, mà chủ yếu còn được xác định với tư cách là conngười hoạt động hiện thực, trước hết là con người lao động sản xuất Trongtác phẩm này, con người được đề cập đến trước hết là một thực thể tự nhiên.

Lý giải điều này, C.Mác đã chỉ rõ, một là giới tự nhiên là thân thể vô cơ củacon người về mặt thể xác, con người được cấu tạo nên từ giới tự nhiên Hai làcon người sống bằng giới tự nhiên Cụ thể: “ giới tự nhiên là tư liệu sinh sốngtrực tiếp đối với con người”, “ giới tự nhiên là vật liệu, đối tượng, công cụ củahoạt động sinh sống của con người”, “ con người phải ở lại trong quá trìnhthường xuyên giao tiếp với giới tự nhiên để tồn tại” [17, tr135] Giới tự nhiên

là môi trường sống của con người và xã hội loài người, là điều kiện đầu tiênthường xuyên và tất yếu của sự tồn tại người, của quá trình con người laođộng sản xuất ra của cải vật chất và do đó cũng là sự tồn tại của xã hội

Con người trước hết là một sinh vật nhưng là một sinh vật khác với tất

cả những sinh vật khác ở khả năng tự ý thức về mình Điều đó khẳng định,con người là một sinh vật có tính loài, có ý thức C.Mác viết: Nếu như convật đồng nhất trực tiếp với hoạt động sinh sống của nó và không tự phân biệt

nó với hoạt động sinh sống khác thì con người lại làm cho bản thân hoạtđộng sinh sống của mình trở thành đối tượng của ý chí và của ý thức bảnthân mình Vì vậy, hoạt động sinh sống của con người là hoạt động sinhsống có ý thức, Chỉ vì thế mà con người là một sinh vật có tính loài chỉ

vì thế mà hoạt động của con người là hoạt động tự do [ 17, tr 136] Như vậy,cùng là thực thể tự nhiên nhưng sự khác nhau cơ bản giữa con người và convật là ở chỗ: con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sảnxuất ra toàn bộ giới tự nhiên, sản phẩm của con vật trực tiếp gắn với cơ thể,thể xác của nó, còn con người thì đối diện một cách tự do với sản phẩm củamình [17, tr137]

Trang 11

Quan điểm giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người là một tưtưởng độc đáo bởi giới tự nhiên mà C.Mác nói ở đây không phải là tự nhiênhoang sơ mà tự nhiên đó nằm trong mối quan hệ với xã hội C.Mác nhấnmạnh “ con người trực tiếp là thực thể tự nhiên” [17,tr 232] Ông đi vào giảithích: Với tính cách là thực thể tự nhiên, hơn nữa lại là thực thể tự nhiên sống,con người một mặt được phú cho sức mạnh tự nhiên dưới hình thức các nănglực thiên bẩm Nhưng mặt khác con người còn bị quy định và bị hạn chế bởinhững đối tượng tự nhiên bên ngoài nó, những đối tượng không phụ thuộcvào nó nhưng lại cần biết và căn bản để nó thể hiện và khẳng định mình

Như vậy, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội,cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thốngnhất Mặt tự nhiên là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội làđặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phảiđược nhân hoá để mang giá trị văn minh của con người, và đến lượt nó, nhucầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trênthống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người tự nhiên -

xã hội

1.1.2 Sự tha hóa lao động

Quan niệm của C.Mác về lao động sản xuất được hình thành thông quaxem xét lao động bị tha hóa, sự tha hóa của người công nhân trong điều kiệncủa sản xuất tư bản chủ nghĩa C.Mác hiểu lao động bị tha hóa, tự tha hóa chính

là việc lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động và sản phẩm của laođộng, những cái mà vốn trước đây thuộc về người lao động thì giờ đây đã táchkhỏi và trở thành xa lạ, thậm chí chống lại người lao động là công nhân Theo

sự xem xét của C.Mác thì bản chất của lao động bị tha hóa chính là việc ngườilao động bị tách khỏi những điều kiện căn bản nhất của quá trình lao động, tức

là những công cụ lao động, tư liệu lao động nói chung và nguyên nhân trực tiếpcủa sự tách rời ấy là chế độ tư hữu tư sản Từ việc xem xét quá trình lao động

Trang 12

ấy của người công nhân, C.Mác đã chỉ ra nội dung, vai trò của các yếu tố, điềukiện tất yếu cấu thành hoạt động lao động và bản chất của lao động.

C.Mác đã cho thấy rõ tư tưởng của ông về bản chất lao động thông qua

sự phân tích các yếu tố và điều kiện tự nhiên của quá trình lao động Theoông, lao động trước hết là quá trình đối tượng hóa con người, bản chất conngười Trong bản thảo kinh tế triết học năm 1844, C.Mác đã làm rõ nội dung

và thực chất của các phạm trù “ sự tha hóa của lao động”, “ lao động bị thahóa”, “ sở hữu tư nhân” và mối quan hệ của chúng trên cơ sở lấy sự kiện kinh

tế làm điểm xuất phát Sự kiện đó là “ người công nhân sản xuất càng nhiềucủa cải, sức mạnh và khối lượng sản phẩm của anh ta càng tăng thì anh tacàng nghèo Người công nhân càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thànhmột hàng hóa càng rẻ mạt Thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thếgiới con người càng mất giá trị” [17, tr 128] Ngay từ đầu C.Mác đã lý giải sựtha hóa của con người từ chính đời sống xã hội của con người, từ điều kiệnsống và các quan hệ xã hội của họ, từ hoạt động thể hiện sức mạnh bản chấtcủa con người đó là lao động

Khác với các đại biểu của triết học cổ điển Đức, những người coi sựxuất hiện của chế độ tư hữu là do bản tính tham lam, ích kỷ của con người.C.Mác đã tập trung lý giải sự tha hóa của lao động với tư cách là một tất yếulịch sử, ông cho rằng: sự tồn tại và phát triển của “ lao động bị tha hóa” gắnliền với chế độ tư hữu Chế độ tư hữu đó được sinh ra do “lao động bị thahóa” và khi “ lao động bị tha hóa” xuất hiện đã làm nảy sinh sự tha hóa củalao động và dẫn đến “ con người bị tha hóa”, “ đời sống bị tha hóa” Để khắcphục sự tha hóa này, C.Mác khẳng định chính là sự xóa bỏ chế độ tư hữu vàviệc giải phóng người công nhân khỏi “ lao động bị tha hóa” dưới chủ nghĩa

tư bản

Trong bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác khẳng định “ việccon người bị tha hóa với sản phẩm lao động của mình, với hoạt động sinh

Trang 13

sống của mình” và sự đối lập có tính chất thù địch giữa người với người.Chính những điều kiện sản xuất ra đời sống vật chất của họ tạo ra sẽ dẫn tới

sự tha hóa của con người đối với “ đời sống có tính loài” của nó tới “ sự thahóa của con người với con người” [17, tr 138]

C.Mác khẳng định chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa một mặt là

cơ sở, là nguyên nhân của sự tha hóa và tự tha hóa của lao động, mặt khác làkết quả của sự tha hóa lao động và chính kết quả của sự tha hóa đó lại dẫn đến

sự tái sản xuất ra chế độ tư hữu ấy C.Mác coi chế độ tư hữu là biểu hiện vậtchất của lao động bị tha hóa Theo ông có ba biểu hiện cụ thể của lao động bịtha hóa Thứ nhất, sản phẩm của lao động không phụ thuộc vào lao động màlại đối lập với lao động như một tồn tại khác xa lạ với lao động Thứ hai, nếutrong quá trình sản xuất, lao động bị tha hóa thể hiện ở sản phẩm của nó thìchính quá trình sản xuất ra sản phẩm ấy cũng là quá trình lao động bị tha hóa.Thứ ba, trong quá trình lao động bị tha hóa nó làm cho bản thân con ngườicũng bị tha hóa, con người trở nên xa lạ với bản chất tinh thần của mình, xarời bản chất đồng loại của mình

Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 của C.Mác cho thấy chế độ tưhữu chính là căn nguyên khiến cho con người bị tha hóa C.Mác đã chỉ ra vàphân tích rất rõ chế độ tư hữu khiến cho con người bị tha hóa như thế nào trênhai phương diện: một là, sự tha hóa của người công nhân trong sản phẩm laođộng của anh ta; hai là, sự tha hóa của người công nhân trong bản thân hành

vi sản xuất, trong bản thân hoạt động sản xuất Chế độ tư hữu khiến cho giátrị con người bị hạ thấp xuống chỉ bằng máy móc, khiến cho người công nhâncảm thấy mình chỉ còn là con vật trong những chức năng con người Do đó,xóa bỏ chế độ tư hữu là điều vô cùng cần thiết và tất yếu Việc xóa bỏ mộtcách tích cực chế độ tư hữu là một giải pháp để giải phóng con người màtrước hết là những người công nhân không có sở hữu khỏi ách thống trị củachế độ tư hữu và trả lại cho con người một đời sống đích thực thay vì một đờisống bị tha hóa

Trang 14

Như vậy, C.Mác không chỉ dùng khái niệm tha hóa để giải thích về sựđối tượng hóa bản chất con người mà còn dùng nó để chỉ các quan hệ kinh tế

tư bản chủ nghĩa, vạch trần sự bóc lột trong xã hội tư bản chủ nghĩa Chính vìthế, sự giải phóng xã hội khỏi chế độ tư hữu, khỏi sự nô dịch chính là quátrình giải phóng con người khỏi sự tha hóa của lao động Trong bản thảo kinh

tế - triết học năm 1844 C.Mác đã dự báo được một xã hội có thể khắc phụcđược sự tha hóa ấy, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa

1.1.3 Giải phóng con người

Giải phóng con người khỏi mọi sự khổ đau, đem lại cho con người mộtcuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc là khát vọng ngàn đời của nhân loại vàcũng là điều quan tâm lớn nhất của các nhà tư tưởng ở mọi thời đại C.Máckhông chỉ là một trong những nhà tư tưởng ấy mà còn vượt lên trên họ, trởthành một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của mọi thời đại, người sánglập học thuyết về sự tự giải phóng của con người

Đối với C.Mác, sự phát triển con người, việc khẳng định bản chất conngười về thực chất là để cho con người đạt được trạng thái hòa đồng giữa nó

và tự nhiên, giữa xã hội và tự nhiên, giữa con người và xã hội, giữa con ngườivới nhau và điều đó cũng có nghĩa là để cho con người đạt tới hình thức cộngđồng mới, cao hơn, cộng đồng toàn nhân loại Để đạt tới trạng thái đó cầnphải xóa bỏ tình trạng lao động bị tha hóa, xóa bỏ chế độ tư hữu tư sản Đấychính là quá trình con người chiếm hữu lại tự nhiên, thế giới đối tượng, chiếmhữu lại bản chất con người của mình

Trong khi nói về sự phát triển xã hội , C.Mác không tách rời nó khỏi sựphát triển con người Đối với ông ngay trong sự phát triển xã hội đã bao hàm

sự phát triển con người và ngược lại C.Mác cho rằng sự phát triển xã hội là

sự phát triển cái hình thức, phương thức để phát triển bản thân con người.Chủ nghĩa Cộng sản chỉ có thể ra đời trên cơ sở giải phóng con người khỏitình trạng lao động bị tha hóa, tự tha hóa, khỏi chế độ tư hữu tư sản

Trang 15

Trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, C.Mác đã phát hiện ratính hai mặt của lao động, của sở hữu tư nhân và từ đó khẳng định chính laođộng bị tha hóa là nguồn gốc cơ bản trực tiếp và sở hữu tư nhân là nguồn gốcdẫn đến mọi nỗi khổ đau của nhân loại, của mỗi con người và làm con người

bị tha hóa Từ đó, C.Mác đã đi tới kết luận quan trọng đầu tiên trong họcthuyết về sự giải phóng con người của mình là sở hữu tư nhân, nhất là sở hữu

tư nhân tư bản chủ nghĩa với tư cách kết quả của quá trình lao động bị thahóa, nó nguyên nhân chủ yếu và cơ bản nhất gây ra những tai họa khủngkhiếp cho con người, làm tha hóa con người Do đó vấn đề bức thiết đặt ra làmuốn giải phóng con người, cần phải xóa bỏ hình thức sở hữu tư nhân

Phải nhìn nhận rằng, nền sản xuất của xã hội tư bản đã biến toàn bộ conngười thành con người hàng hóa, thành một thực thể mất hết tính người cả vềthể xác và tinh thần Vì thế việc xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập nên hình tháichủ nghĩa cộng sản là một tất yếu Cần xây dựng một xã hội Cộng sản chủnghĩa và xã hội ấyphải là sự giải phóng triệt để mọi lực lượng bản chất củacon người biến mọi cảm giác, thuộc tính và nhu cầu của con người thành cảmgiác, thuộc tính và nhu cầu xã hội Chủ nghĩa Cộng sản ấy quyết không phải

là thứ chủ nghĩa Cộng Sản thô lỗ, cùng khổ, phủ nhận toàn bộ sự phát triểncủa văn hóa, văn minh trước đó để trở về trạng thái giản đơn, trái tự nhiên làmmất hết nhu cầu phong phú của con người

Tuy nhiên, việc xóa bỏ chế độ tư hữu không phải là một bài toán dễ, nó

vô cùng nan giải, muốn giải được thì cần phải trải qua một quá trình rất khókhăn và lâu dài trong hiện thực Ngoài ra để xóa bỏ chế độ tư hữu, con ngườicần phải hiểu được bản chất của nó: “ Vì con người chưa làm rõ được chomình bản chất tích cực của chế độ tư hữu và chưa hiểu được tính chất conngười của nhu cầu cho nên con người cũng còn bị chế độ tư hữu cầm tù vàtruyền nhiễm” [ 14, tr 167] Theo C.Mác, muốn xóa bỏ tư tưởng về chế độ tưhữu thì tư tưởng về chủ nghĩa Cộng sản là hoàn toàn đủ rồi Còn muốn xóa bỏ

Trang 16

chế độ tư hữu trong hiện thực thực tế thì phải có hành động Cộng sản chủnghĩa hiện thực” [ 17, tr 194].

Để giải phóng con người khỏi mọi sự tha hóa, sau này C.Mác đã tự xácđịnh cho mình nhiệm vụ phải làm rõ bản chất của chế độ tư hữu và phát hiện,khơi dậy, tập hợp, phát triển những hành động Cộng sản do chính lịch sử đemlại Do vậy, ngay sau khi hoàn thành bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 vàđến hết cuộc đời, C.Mác đã dốc toàn bộ tâm lực của mình vào việc luận giảinhững vấn đề lý luận và thực tiễn cách mạng với mong muốn giúp nhân loạisớm thoát khỏi cảnh đọa đày, đau khổ để trở về với con người, với tất cảnhững gì tốt đẹp nhất Ông đã rút ra kết luận về sự giải phóng xã hội khỏi chế

độ tư hữu và coi việc xóa bỏ chế độ tư hữu là điều kiện tất yếu, chủ yếu của

sự giải phóng công nhân về kinh tế và chính trị, đồng thời là sự xóa bỏ mộtcách hoàn toàn hiện thực sự tha hóa của con người

Trong bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác tập trung nói vềvấn đề cải tạo xã hội theo chủ nghĩa Cộng sản và xem xét vấn đề này chủ yếudưới góc độ triết học Ở đây, C.Mác đã nêu lên những quan điểm mới vềnguyên tắc, đó là quan điểm về chủ nghĩa Cộng sản chân chính với tư cáchhình thức biểu hiện cao nhất của việc xóa bỏ chế độ tư hữu và cũng là hìnhthức cao nhất của việc xóa bỏ mọi tha hóa và tự tha hóa của con người Xóa

bỏ sự tha hóa về kinh tế cũng như sự tha hóa trong lĩnh vực ý thức Ông chorằng: “ chỉ có những trật tự xã hội nào xóa bỏ được những mâu thuẫn giữacon người và tự nhiên, giữa người với người và làm cho tình cảm của conngười trở nên nhân đạo và phù hợp với tính loài có ý thức – bản tính tự nhiên

và bản tính xã hội của con người, đồng thời sản sinh ra con người phong phú

và toàn diện, sâu sắc trong tất cả cảm giác và tri giác của nó thì trật tự đó mới

có thể được gọi là chủ nghĩa Cộng sản chân chính” [ 17, tr 177]

Chủ nghĩa Cộng sản mà C.Mác nói đến sẽ giải quyết thực sự cuộc tranhchấp giữa con người và tự nhiên, giữa con người và con người, sẽ giải quyết

Trang 17

thực sự cuộc tranh chấp giữa tồn tại và bản chất, giữa sự đối tượng hóa và sự

tự khẳng định, giữa tự do và tất yếu, giữa cá thể và loài Giải quyết thực sự ởđây là sự giải quyết mạnh tính hiện thực, chỉ có như thế mới xóa bỏ được chế

độ tư hữu trong hiện thực thực tế Theo C.Mác, chủ nghĩa Cộng sản có khảnăng xóa bỏ hiện tượng chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và thay thếbằng một quan hệ phổ biến gắn chặt giữa chủ thể lao động và đối tượng laođộng Trong quan hệ này, người lao động dùng phương tiện chiếm hữu đốitượng lao động chứ không làm nảy sinh sự tách rời giữa người lao động vàđối tượng lao động

Có thể thấy, tư tưởng của C.Mác về sự xóa bỏ hiện tượng tha hóakhông chỉ là sự phủ định quan hệ kinh tế mang tính chất đối kháng trong xãhội tư bản chủ nghĩa mà còn là lý tưởng cho sự giải phóng mọi tiềm năng củacon người Chỉ khi được giải phóng khỏi những trói buộc do sự phiến diệncủa chế độ chiếm hữu và của chế độ tư hữu, con người mới có thể là conngười toàn vẹn Quan điểm đó của C.Mác cho thấy ông đã đưa ra được mộtphác thảo về một xã hội tương lai với tư cách một nấc thang trong lịch sửnhân loại và là xã hội nhân đạo nhất, mang bản chất nhân văn nhất- xã hội mà

ở đó có sự phát triển toàn diện của con người, có khả năng thỏa mãn ngàycàng đầy đủ những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, có sự kết hợphài hòa những lợi ích của cá nhân, lợi ích của xã hội

1.2 Tư tưởng triết học về con người của C Mác trong tác phẩm

“Luận cương về Phoiơbắc”

“Luận cương về Phoiơbắc” được C.Mác viết tại Bruyxen vào mùa xuânnăm 1845, là văn kiện ngắn gọn nhưng lại chứa đựng những nội dung triếthọc rất sâu sắc, quan trọng và có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với triết học Mácnói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung Vấn đề con người và bản chất con người

là một trong những nội dung cơ bản được C.Mác trình bày trong tác phẩmđược tập trung ở luận đề thứ 6 Từ luận đề này, C.Mác đã phát triển quanđiểm của ông về bản chất con người trong nhiều tác phẩm ông viết sau này

Trang 18

Công lao vĩ đại của L.Phoiơbắc thể hiện ở chỗ ông đê phí phân mộtcâch mạnh mẽ quan điểm duy tđm, thần bí, cùng với đó lă tìm câch lý giảinguồn gốc, bản chất con người theo quan điểm duy vật Ông cho rằng, khôngphải Chúa đê sâng tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa mă chính conngười đê tạo ra hình ảnh của Chúa theo hình ảnh của con người Từ đđy,L.Phoiơbắc khẳng định: ý thức cũng như tư duy của con người chỉ lă sảnphẩm của khí quan vật chất nhục thể, tức lă bộ óc Vật chất không phải lă sảnphẩm của tinh thần, mă chính tinh thần lă sản phẩm tối cao của vật chất.

Tuy nhiín, có một điều đâng tiếc lă khi giải thích vấn đề bản chất conngười vă về lịch sử xê hội loăi người, L.Phoiơbắc đê rơi văo duy tđm Ôngđê

cố gắng chống lại sự “tha hoâ” văo thần thânh của con người vă nếu như chỉdừng lại ở đđy thì quan niệm của ông có điểm hợp lý, nhưng khi tiến xa hơnthì sự giải thích của L.Phoiơbắc lại rơi văo sai lầm Con người mă L.Phoiơbắcníu ra lă con người chung chung, trừu tượng, phi lịch sử Ông không xem xĩtcon người trong câc mối quan hệ xê hội nhất định mă họ đang sống, khôngđếm xỉa đến câc điều kiện sinh hoạt mă họ có được Vì vậy, con người mẵng níu ra hoăn toăn tâch rời hoạt động thực tiễn, xa rời đời sống xê hội hiệnthực Từ đó, mối quan hệ giữa người với người được ông gói gọn trong quan

hệ tình yíu, tình bạn, hơn thế nữa lại lă tình yíu, tình bạn được lý tưởng hoâ

Thông qua việc phí phân quan điểm của L.Phoiơbắc, C.Mâc đê khâiquât bản chất con người như sau: “L.Phoiơbắc hoă toăn bản chất tôn giâo văobản chất con người Nhưng bản chất con người không phải câi trừu tượng cốhữu của câ nhđn riíng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người lătổng hoă câc mối quan hệ” Với quan niệm năy, C.Mâc đê đưa lại cơ sở thếgiới quan vă phương phâp luận khoa học để giải quyết vấn đề con người, hiểuđúng bản chất con người Điều năy, do hạn chế về măt lịch sử L.Phoiơbắc đêkhông thể đem lại một quan điểm đúng đắn Do vậy, theo L.Phoiơbắc, “bảnchất con người chỉ có thể được hiểu lă “loăi”, lă tính phổ biến nội tại, cđm,

gắn bó một câch thuần tuý tự nhiín đông đảo câ nhđn lại với nhau” [14, tr11].

Trang 19

Nếu như L.Phoiơbắc không nói đến quá trình lịch sử cũng như khôngbàn đến quan hệ kinh tế - xã hội của con người, ông xem xét cá nhân conngười một cách chung chung, trừu tượng, cô lập con người với các quan hệ xãhội thì trái lại, C.Mác khẳng định, bản chất con người là tổng hoà các mốiquan hệ xã hội, thừa nhận sự thống nhất biện chứng giữa mặt sinh vật và mặt

xã hội trong con người

Theo C.Mác, con người trước hết là một cá nhân sống; ở đó, mặt sinhhọc là mặt tự nhiên có vai trò rất quan trọng Bởi vì, như mọi động vật khác,con người là một bộ phận của tự nhiên, là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dàicủa thế giới động vật Song, không vì thế mà khẳng định rằng, cái duy nhấttạo nên bản chất con người là đặc tính sinh học, là bản năng sinh vật của conngười C.Mác thừa nhận con người là động vật cao cấp nhất, có đầy đủ cácđặc trưng của sinh vật, nhưng không vì thế mà đồng nhất con người với độngvật Theo C.Mác, sự khác nhau giữa con người và động vật là ở chỗ, conngười bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình Bước tiến hoá này

do tổ chức cơ thể của chính con người quy định Con người sản xuất ra củacải vật chất để nuôi sống mình, tạo ra các tư liệu sinh hoạt cho mình, như thếcon người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình Conngười sáng tạo ra lịch sử, tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên; còn con vật chỉtái tạo, sản xuất ra bản thân nó mà thôi C.Mác cho rằng, ngay trong tính

“loài” của con người cũng không phải tính loài trừu tượng mà có nghĩa là tính

xã hội và loài người chính là “xã hội người”

Con người sống trong xã hội bằng hoạt động thực tiễn của mình, trướchết là hoạt động sản xuất vật chất vì thế họ không thể tách rời nhau, tồn tạiđộc lập Chính việc phải quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất, làm ra củacải vật chất nuôi sống mình, con người buộc phải giao tiếp, quan hệ với nhau,

từ đó tạo nên quan hệ xã hội Tính xã hội, quan hệ xã hội là đặc điểm cơ bảnlàm cho con người khác con vật Do vậy, hoạt động của con người không phải

Trang 20

là hoạt động theo bản năng như động vật mà là hoạt động có ý thức Thôngqua lao động và giao tiếp xã hội, tư duy, ý thức của con người dần được nảysinh và phát triển.

Trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã đưa ra luận điểm

nổi tiếng về bản chất con người: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất conngười là tổng hoà những mối quan hệ xã hội”.Quan điểm của C Mác chothấy, bản chất con người hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực

Đó là những con người cụ thể mà ở đó những mặt khác nhau tạo nên bản chấtcủa con người sẽ được bộc lộ ở những mức độ cụ thể Tất cả các quan hệ xãhội đều góp phần làm hình thành nên bản chất con người Các quan hệ này kếthợp với nhau một cách chặt chẽ, chúng có vị trí, vai trò khác nhau, tác độngqua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhau

Còn có nhiều ý kiến khác nhau về luận điểm trên của Mác, nhưng nhìnchung, có thể hiểu bản chất con người là «tổng hòa những mối quan hệ xãhội» ở những khía cạnh dưới sau: nếu xét theo thời gian thì đó là những quan

hệ quá khứ, quan hệ hiện tại và quan hệ tương lai, trong đó suy cho đến cùngthì những quan hệ hiện tại giữ vai trò quyết định; nếu xét theo các loại quan

hệ thì đó là những quan hệ vật chất và những quan hệ tinh thần, trong đó suycho đến cùng thì những qua hệ vật chất giữ vai trò quyết định; nếu xét theotính chất đó là những quan hệ trực tiếp, gián tiếp, tất nhiên, ngẫu nhiên, ổnđịnh, không ổn định,… trong đó suy cho đến cùng thì những quan hệ trựctiếp, tất nhiên, ổn định giữ vai trò quyết định; nếu xét theo các lĩnh vực củađời sống xã hội thì có các quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ tôn giáo,quan hệ đạo đức, trong đó, suy cho đến cùng thì các quan hệ kinh tế tiện tại,trực tiếp, ổn định giữ vai trò quyết định Trong quan hệ kinh tế thì quan hệ sởhữu tư liệu sản xuất là quan trọng hơn cả Khi các quan hệ xã hội thay đổi thìsớm hay muộn bản chất của con người cũng có sự thay đổi Bản chất conngười được hình thành và thay đổi theo sự hình thành và thay đổi của các

Trang 21

quan hệ xã hội, trong đó trước hết và quan trọng nhất là các quan hệ thuộclĩnh vực kinh tế.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, chungchung mà chỉ có những con người sống, hoạt động trong một xã hội nhấtđịnh, trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định Thông qua những quanđiểm xã hội cụ thể đó, bản chất con người mới bộc lộ thực sự Rõ ràng muốnxem xét bản chất của một con người phải xuất phát từ toàn bộ các mối quan

hệ xã hội ấy Chỉ ra bản chất của con người, C.Mác không dừng lại ở bảnnăng sinh vật của con người, thực chất là ông muốn nói đến, bàn đến conngười hiện thực, nói đến bản năng xã hội của con người trong mọi quan hệcủa đời sống Trong đó, lao động xã hội quyết định đời sống của con người

Do vậy, bản năng sinh vật gia nhập vào bản năng lao động xã hội tạo thànhbản năng có ý thức Điều này làm cho con người hoàn toàn khác con vật, kể

C.Mác và Ph.Ăngghen hiểu rằng, để xây dựng và trình bày quan niệm

về lịch sử với tư cách là một hệ thống lý luận triết học khoa học, nhất địnhphải xác lập quan điểm có tính chất nền tảng của nó Chính vì vậy, ngay từđầu tác phẩm “ Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định lýluận của các ông không phải không dựa trên một tiền đề nào, mà tiền đề củaviệc nghiên cứu lịch sử đó là con người Các ông viết: “Những tiền đề xuấtphát của chúng tôi không phải là những tiền đề tuỳ tiện, không phải là giáođiều, đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trítưởng tượng thôi Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ vànhững điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn

Trang 22

cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra…Tiền đề đầu tiêncủa toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân conngười sống”[14, tr 28-29]

Trước đây, khi nói về vấn đề con người, Bauơ và Stiếcnơ coi con ngườinhư một thực thể tinh thần Đến L.Phoiơbắc, con người đã được xem xét mộtcách cụ thể bằng xương, bằng thịt nhưng do thiếu một quan điểm thực tiễn,nên chủ nghĩa triết học nhân bản của ông mang tính chất trực quan Do đó,trong cuộc sống L.Phoiơbắc không hiểu được bản chất của con người, ôngchỉ dừng lại ở con người trừu tượng

Chính vì điều này mà trên thực tế ta thấy được rằng, L.Phoiơbắc đã có

sự thụt lùi hơn so với các nhà duy vật Pháp bởi các nhà duy vật Pháp họ đãthấy được sự phụ thuộc của con người vào hoàn cảnh Con người theo họ, đó

là sản phẩm của hoàn cảnh, hoàn cảnh quyết định bản chất của nó Tuy nhiên

ở họ vẫn chưa thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn đó là: Con người do hoàn cảnh quyết định, nhưng con người lại cải tạo hoàn cảnh Vì thế, chủ nghĩa duy vật

Pháp đã đi tìm bản chất của con người trong bản tính tự nhiên của nó

Tuy nhiên, L.Phoiơbắc cũng có những bước tiến nhất định so với cácnhà duy vật Pháp trong xem xét bản chất của con người Ông cho rằng, bảnchất con người là tồn tại Điều đó có nghĩa, muốn hiểu con người phải gắn nóvới những điều kiện tồn tại hiện thực của nó L.Phoiơbắc phê phán tôn giáo

và khẳng định phải đi tìm bản chất của con người ở trần gian là đúng, songhạn chế của ôngcũng như của chủ nghĩa duy vật cũ là thiếu một quan điểmthực tiễn.Do thiếu quan điểm thực tiễn đúng đắn nên các nhà duy vật cũ (kể

cả L.Phoiơbắc), trong xem xét bản chất con người đã phải dừng lại ở bản tính

tự nhiên của nó ( L.Phoiơbắc gọi là bản chất tộc loại tình cảm, tình yêu, đạođức v.v ), họ đã không thể giải thích được vì sao ở mỗi thời đại khác nhau lại

có những con người khác nhau Con người của họ là con người bất biến, trừutượng, phi lịch sử, họ cũng không hiểu được mối quan hệ giữa tư duy ý thức

Trang 23

với tồn tại, cũng có nghĩa là không hiểu được con người Như vậy do tính chấttrực quan trong xem xét, các nhà duy vật cũ chỉ thấy một bên là tồn tại, mộtbên là ý thức, không thấy được sự sáng tạo của ý thức, vì thế họ không đủ sức

để bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết về vấn

đề này.Ví dụ, khi Phíchtơ cho rằng “cái tôi” thuần tuý sinh ra mọi cái.L.Phoiơbắc đã vạch ra được điều vô lý là tại sao một cái tôi, không có cái gìnữa mà lại sinh ra mọi cái được Nhưng ông không đủ sức để cắt nghĩa mộtcách khoa học, không giải thích được vì sao con người với 5 giác quan lạinhận thức được thế giới… Trong khi đó, chủ nghĩa duy tâm lại thổi phồngmặt năng động chủ quan của ý thức

C.Mác cho rằng, chỉ có quan điểm thực tiễn đúng đắn mới khắc phụcđược những hạn chế đó Chỉ có xuất phát từ quan điểm thực tiễn chúng ta mới

có thể giải thích được vì sao ý thức con người phản ánh tích cực, sáng tạohiện thực khách quan, vì sao ý thức lại có vai trò to lớn trong cải tạo hiện thựckhách quan…

Sau khi vạch ra những nguyên nhân hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ,các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đi đến kết luận, muốn nhận thức đúngbản chất con người không có con đường nào khác là phải xuất phát từ quanđiểm thực tiễn Trong tác phẩm này, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ conngười là sản phẩm của tự nhiên, vì thế để hiểu con người cần nghiên cứu quan

hệ của nó với bộ phận tự nhiên còn lại Điều quan trọng nhất, theo các ông,quan hệ của con người với tự nhiên diễn ra trong sản xuất vật chất, trong hoạtđộng thực tiễn “Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vậtngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó

là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những

tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chínhđời sống vật chất của mình” [14, tr29]

C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, bản chất của con người không phải ởtính tự nhiên (tính tộc loại theo L.Phoiơbắc) mà cái tạo nên sự hình thành và

Trang 24

phát triển của bản chất ấy là sự biến đổi của các quan hệ xã hội Trong tínhhiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội Cácquan hệ xã hội luôn là cái được xác định và vận động biến đổi không ngừng,điều đó cho thấy, bản chất của con người cũng là cái cụ thể và luôn vận động,phát triển.

Như vậy, với việc xác định khái niệm con người là khái niệm xuất phátcủa triết học khoa học về lịch sử không những chứng tỏ C.Mác vàPh.Ăngghen thấy rõ vị trí của con người với tư cách là chủ thể lịch sử, xã hội,

mà còn cho thấy các ông đã đặt khái niệm này đúng vị trí của nó trong “ hệthống quan niệm duy vật về lịch sử” Đúng là “ lịch sử bắt đầu từ đâu thì tưduy phải bắt đầu từ đó” Vị trí lịch sử hiện thực của con người như thế nào thì

vị trí của nó với tư cách là khái niệm của nhận thức lý luận khoa học về lịch

sử cũng phải như thế ấy

1.3.2 Xuất phát từ quan niệm con người đó là con người sống, hành động, sản xuất, C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra cơ sở của toàn bộ đời sống xã hội đó là sản xuất vật chất

Trong “Hệ tư tưởng Đức” có nhiều luận điểm thể hiện “ định nghĩa” củaC.Mác và Ph.Ăngghen về hình thái kinh tế xã hội với tư cách là kết cấu xã hộichung tất yếu Luận điểm nổi bật là: “Phải xuất phát từ chính sự sản xuất vậtchất ra đời sống trực tiếp để xem xét quá trình hiện thực của sản xuất,…”.Quan niệm của các ông về sản xuất vật chất được thể hiện trên những nộidung cơ bản sau:

Một là, các ông khẳng định: “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con

người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năngsống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hếtcần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Nhưvậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãnnhững nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất Hơn nữa, đó là

Trang 25

một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũngnhư hàng nghìn năm về trước người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ,chỉ nhằm để duy trì đời sống con người”[14, tr39].

Hai là, việc sản sinh những nhu cầu và việc thoả mãn những nhu cầu do

sản xuất vật chất đem lại, đó lại là động lực phát triển của sản xuất vật chất,động lực phát triển của xã hội C.Mác-Ph.Ăngghen khẳng định: khi “nhu cầuđầu tiên đã được thỏa mãn, hành động thỏa mãn và công cụ để thỏa mãn màngười ta đã có được - đưa tới những nhu cầu mới; và sự sản sinh ra những nhucầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên”[14, tr40]

Ba là, cùng với hoạt động sản xuất vật chất hàng ngày, nhằm tái tạo ra

đời sống của bản thân mình, “con người bắt đầu tạo ra những người khác,sinh sôi nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia

đình”.[14, tr41].

C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: “Cần phải coi ba mặt đó của hoạt động

xã hội không phải là ba giai đoạn khác nhau, mà chỉ là ba mặt…, chỉ là ba

“nhân tố”, chúng tồn tại đồng thời với nhau ngay từ buổi đầu của lịch sử, từkhi con người đầu tiên xuất hiện, và chúng hiện vẫn còn biểu hiện ra tronglịch sử” Hơn nữa, cũng không nên hiểu sản xuất vật chất chỉ là sản xuất ranhững tư liệu sinh hoạt cho con người, mà phải hiểu hoạt động sản xuất vậtchất đó chính là phương thức sống của con người Nói một cách khác, sảnxuất vật chất không những chỉ quy định sự tồn tại thể xác của con người, màcòn quy định cả phương thức sinh hoạt, lối sống của con người C.Mác,Ph.Ăngghen khẳng định: “Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấyđơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cánhân Hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân

ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinhsống nhất định của họ Hoạt động sống của họ như thế nào thì họ như thế ấy

Do đó, họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ

Trang 26

sản xuất ra cũng như với cách mà họ sản xuất Do đó, những cá nhân là nhưthế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất trong sự sản xuất củahọ”[14, tr 30] Tất nhiên cũng cần phải thấy rằng, lối sống của cá nhân là kếtquả tổng hợp của nhiều yếu tố: sản xuất vật chất; điều kiện sống như thế nào;truyền thống của mỗi dân tộc; nền giáo dục xã hội; thể chất của mỗi cánhân… Trong đó sản xuất vật chất là yếu tố xét đến cùng.

Từ quan niệm về sản xuất vật chất và vai trò của nó như vậy, C.Mác vàPh.Ăngghen đã vạch ra thực chất mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

Về tồn tại xã hội, các ông quan niệm đó chính là: quá trình hiện thực củasản xuất; sự sản xuất vật chất ra đời sống trực tiếp; các hình thức giao tiếp củacon người, các hình thức gắn liền với phương thức sản xuất và do phươngthức sản xuất ấy sản sinh ra - tức là xã hội công dân ở các giai đoạn khác nhaucủa nó, là cơ sở của toàn bộ lịch sử “Chính con người, khi phát triển sự sảnxuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiệnthực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình Không phải ýthức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức”[14, tr38] Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội còn được thểhiện ở chỗ: tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội về căn bản là như thế

ấy, trong xã hội có đối kháng giai cấp, ý thức xã hội mang tính giai cấp, ýthức thống trị xã hội là ý thức của giai cấp thống trị “Trong mọi thời đại,những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó cónghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chấtthống trị thì cũng là lực lượng tinhthần thống trị trong xã hội Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vậtchất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần… Những tưtưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần củanhững quan hệ vật chất thống trị”[9, tr66]

Về ý thức xã hội, trong tác phẩm này được C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ:

“Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức và

Trang 27

tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người”[14, tr37],tồn tại xã hội chính là nội dung của ý thứ, ý thức được biểu hiện ra thông quangôn ngữ Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và pháttriển của ý thức “ Ngôn ngữ cũng tồn tại lâu như ý thức, ngôn ngữ là ý thứchiện thực, thực tiễn, tồn tại vì cả những người khác và chỉ do đó nó mớicũng tồn tại vì bản thân tôi nữa, và cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ xuất hiện

từ nhu cầu, từ sự tất yếu phải giao tiếp với những người khác”[14, tr43] Xét về bản chất của ý thức thì ý thức là sự phản ánh thế giới, phản ánhđời sống xã hội của con người Các ông đã chỉ ra vấn đề phương pháp luậnquan trong khi đi vào nghiên cứu ý thức con người Chúng ta phải xuấtphát từ “ những con người đang hành động, hiện thực và chính là cũng xuấtphát từ quá trình đời sống hiện thực của họ mà chúng ta mô tả sự phát triểncủa những phản ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng của quá trình đời sống

ấy Ngay cả những ảo tưởng hình thành trong đầu óc con người cũng lànhững vật thăng hoa tất yếu của quá trình đời sống vật chất của họ, mộtquá trình có thể xác định được bằng kinh nghiệm và gắn liền với nhữngtiền đề vật chất”[14, tr37,38]

Tiểu kết chương 1

Như vậy, lý luận về con người được thể hiện trong các tác phẩm củaC.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau Cơ bản nhất làcác ông nhấn mạnh đến sự thống nhất giữa tính tự nhiên, tính sinh vật và tính

xã hội trong con người Tuy con người là sự thống nhất giữa tính sinh vật vàtính xã hội, nhưng tính xã hội, phương diện xã hội, tổng hòa những quan hệ

xã hội mới là phương diện bản chất nhất của con người Do vậy, để hướngcon người đến một bản chất tốt đẹp thì phải giải phóng con người khỏi nhữngquan hệ xã hội tiêu cực, nô dịch, lệ thuộc, đồng thời xây dựng những quan hệ

xã hội công bằng, bình đẳng, tiến bộ

Ngày đăng: 09/08/2018, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w