MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Lý do chọn đề tài Pháp luật là công cụ không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Giữa đạo đức và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau Điều này không chỉ giúp xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức. Điều này ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội. Chính bởi tầm quan trọng của pháp luật trong hệ thống xã hội nên sự ra đời của một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Hệ thống đó một khi thể hiện đúng đắn ý chí và nguyện vọng của số đông, phù hợp với xu thế vận động của lịch sử sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa như hiện nay. Mỗi cá nhân cần phải tính toán những điều kiện khách quan của xã hội và hiệu quả kinh tế. Mối quan hệ giữa con người với con người không đơn thuần chỉ là mối quan hệ có tính chất cảm tính, bị chi phối bởi những nguyên tắc hay những yếu tố đạo đức như trước đây mà những giá trị mới , tính kinh tế cũng như hiệu quả đều trở thành những mối quan tâm hàng đầu. Từ khi xuất hiện, pháp luật luôn gắn với giai cấp cầm quyền. Đối với xã hội có phân chia và đối kháng giai cấp, mọi hoạt động của đời sống xã hội được đưa vào trong khuôn khổ pháp luật nhằm mang lại lợi ích cho giai cấp thống trị. Trên thực tế, pháp luật của những Nhà nước gắn với giai cấp tiên tiến của thời đại thì thường phù hợp với xu hướng phát triển tiến bộ, vì nó bao hàm những chuẩn mực, những quy định nhằm bảo vệ lợi ích chân chính và phẩm giá con người. Trước đây, trong lịch sử, Nho giáo đã lấy đạo đức để răn dạy con người. Với chủ trương đức trị, Nho giáo đã đạo đức hoá chính trị” và đề cao, thậm chí đến mức tuyệt đối hoá việc quản lý xã hội bằng cách nêu gương, cảm hoá, làm cho dân chúng an tâm và từ đó, hy vọng tạo nên sự ổn đình xã hội Đối lập với chủ trương đức trị là tư tưởng pháp trị. Thực tế cho thấy, đã từng có những vị vua đùng pháp luật để cai trị đất nước. Với chủ trương pháp trị, họ đã có những chính sách thiết thực, thưởng phạt phân minh, đưa xã hội đi vào cuộc sống có quy củ, vận hành theo khuôn khổ của phép nước. Tuy nhiên, cả tư tưởng đức trị và pháp trị thời phong kiến, bên cạnh mặt tích cực, đều có tính chất phiến diện. Thực ra, những tư tưởng ấy chỉ là những biện pháp khác nhau mà các thế lực thống trị sử dụng để củng cố địa vị và quyền lực của mình Trong xã hội không còn đối kháng giai cấp, Nhà nước là người đại điện cho nhân dân lao động Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, pháp luật luôn có vai trò bảo vệ các giá trị chân chính, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của con người, đồng thời, tạo điều kiện cho con người phát huy những năng lực thực tiễn của mình. Xuất phát từ những đòi hỏi về lý luận và thực tiễn nói trên việc nghiên cứu những quan điểm của Hàn Phi Tử về vai trò của pháp luật là vô cùng cần thiết. Đó là lý do mà chúng tôi thực hiện tiểu luận với chủ đề : “Quan niệm của Hàn Phi về vai trò của Pháp luật trong xã hội.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Tình hình nghiên cứu 3
1.3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận 4
2 Nội Dung 5
2.1 Bối cảnh xã hội cho sự ra đời quan điểm về Pháp luật của Hàn Phi Tử 5
2.2 Nội dung quan điểm của Hàn Phi Tử về vai trò của pháp luật trong xã hội6 2.2.1 Nội dung tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử 7
2.3 Anh hưởng của tư tưởng pháp trị của Hàn Phi và sự vận dung của nó đối với đời sống xã hội 14
2.3.1 Đối với xã hội phong kiến Trung Hoa 14
2.3.2 Đối với xã hội Việt Nam thời kì phong kiến 14
2.3.3 Một số hạn chế trong tư tưởng của Hàn Phi Tử 17
2.3.4 Sự vận dụng tư tưởng của Hàn Phi Tử vào xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 18
3 Kết luận 16 Danh mục tài liệu tham khảo17
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1 Lý do chọn đề tài
Pháp luật là công cụ không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bìnhthường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng Pháp luật không chỉ làmột công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sựphát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồiđắp nên những giá trị mới
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò củapháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan Giữa đạo đức và pháp luật luôn
có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau Điều này không chỉ giúp xâydựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và pháttriển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức Điều này ảnh hưởng mộtcách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với conngười, giữa con người với xã hội Chính bởi tầm quan trọng của pháp luật trong hệthống xã hội nên sự ra đời của một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh lại càng trở nêncần thiết hơn bao giờ hết Hệ thống đó một khi thể hiện đúng đắn ý chí và nguyệnvọng của số đông, phù hợp với xu thế vận động của lịch sử sẽ góp phần thúc đẩy sựphát triển và tiến bộ xã hội Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường và toàncầu hóa như hiện nay Mỗi cá nhân cần phải tính toán những điều kiện khách quancủa xã hội và hiệu quả kinh tế Mối quan hệ giữa con người với con người khôngđơn thuần chỉ là mối quan hệ có tính chất cảm tính, bị chi phối bởi những nguyêntắc hay những yếu tố đạo đức như trước đây mà những giá trị mới , tính kinh tếcũng như hiệu quả đều trở thành những mối quan tâm hàng đầu
Từ khi xuất hiện, pháp luật luôn gắn với giai cấp cầm quyền Đối với xã hội
có phân chia và đối kháng giai cấp, mọi hoạt động của đời sống xã hội được đưa
Trang 3vào trong khuôn khổ pháp luật nhằm mang lại lợi ích cho giai cấp thống trị Trênthực tế, pháp luật của những Nhà nước gắn với giai cấp tiên tiến của thời đại thìthường phù hợp với xu hướng phát triển tiến bộ, vì nó bao hàm những chuẩn mực,những quy định nhằm bảo vệ lợi ích chân chính và phẩm giá con người.
Trước đây, trong lịch sử, Nho giáo đã lấy đạo đức để răn dạy con người Vớichủ trương "đức trị", Nho giáo đã "đạo đức hoá chính trị” và đề cao, thậm chí đếnmức tuyệt đối hoá việc quản lý xã hội bằng cách nêu gương, cảm hoá, làm cho dânchúng an tâm và từ đó, hy vọng tạo nên sự ổn đình xã hội
Đối lập với chủ trương "đức trị" là tư tưởng "pháp trị" Thực tế cho thấy, đãtừng có những vị vua đùng pháp luật để cai trị đất nước Với chủ trương "pháp trị",
họ đã có những chính sách thiết thực, thưởng phạt phân minh, đưa xã hội đi vàocuộc sống có quy củ, vận hành theo khuôn khổ của phép nước Tuy nhiên, cả tưtưởng "đức trị" và "pháp trị" thời phong kiến, bên cạnh mặt tích cực, đều có tínhchất phiến diện Thực ra, những tư tưởng ấy chỉ là những biện pháp khác nhau màcác thế lực thống trị sử dụng để củng cố địa vị và quyền lực của mình
Trong xã hội không còn đối kháng giai cấp, Nhà nước là người đại điện chonhân dân lao động Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, pháp luật luôn cóvai trò bảo vệ các giá trị chân chính, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của conngười, đồng thời, tạo điều kiện cho con người phát huy những năng lực thực tiễncủa mình
Xuất phát từ những đòi hỏi về lý luận và thực tiễn nói trên việc nghiên cứunhững quan điểm của Hàn Phi Tử về vai trò của pháp luật là vô cùng cần thiết Đó
là lý do mà chúng tôi thực hiện tiểu luận với chủ đề : “Quan niệm của Hàn Phi vềvai trò của Pháp luật trong xã hội
1.2 Tình hình nghiên cứu
Những tư tưởng của Hàn Phi không chỉ ảnh hưởng đến đời sống chính trị xãhội đương thời mà còn có tầm ảnh hưởng trong suốt chiều dài lịch sử do đó đã có
Trang 4rất nhiều nghiên cứu nói về ông ở nhiều góc độ và nội dung khác nhau Trước hết
là những công trình nghiên cứu về than thế, sự nghiệp, nguồn gốc tư tưởng của HànPhi Tử Và tất cả đều có sự thống nhất ở những điểm như sau:
-Về tiểu sử Hàn Phi là một công tử của nước Hàn sinh khoảng 280 Tr.CN,còn năm mất là năm Tần Thủy Hoàng thứ 14 khoảng 233 Tr.Cn
-Về sự nghiệp: những tác phẩm của Hàn Phi được lưu truyền đến ngày naytổng cộng có 55 thiên, chưa hẳn mỗi thiên đều là Hàn Phi viết mà rất nhiều học giảxưa nay đã nghiên cứu về vấn đề này và cũng có rất nhiều thuyết
-Về tư tưởng, các nghiên cứu đều thống nhât là Hàn Phi đã tiếp thu kế thừa
tư tưởng của Nho gia Đạo gia và Pháp gia Bên cạnh đó, trong hệ thống tư tưởngcủa mình, ông đã có những sang tạo riêng, phù hợp với chế độ xã hội đương thời
Ngoài ra Pháp, Thuật, Thế chính là nội dung cơ bản trong tư tưởng của HànPhi nên các học giả cũng hết sức tập trung vào vấn đề này, đặc biệt pháp được khaithác nhiều dưới góc độ pháp luật , cũng là nội dung chính của bài tiểu luận
Nói về tình hình nghiên cứu về tư tưởng của Hàn Phi, có rất nhiều công trình
đã tìm hiểu vấn đề dưới những góc tiếp cận khác nhau Trong nhiều nguồn tư liệu
ta đều bắt gặp những cái nhìn riêng của mỗi tác giả tuy nhiên họ đều thống nhất ởnhững nội dung cơ bản Mặt khác, những công trình nghiên cứu cũng có những hạnchế nhất định, có nhiều nội dung trong quan điểm của Hàn Phi chưa được đi sâunghiên cứu đúng mức Đặc biệt những quan điểm của ông có vai trò như nào đốivới nước ta cũng mới chỉ được nghiên cứu đến một mức độ nhất định
1.3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận
Tiểu luận đi sâu vào nghiên cứu quan niệm của Hàn Phi về vai trò của Phápluật trong xã hội , làm rõ những giá trị cũng như những mặt hạn chế trong tư tưởngcủa Hàn Phi tử đề từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cũng như vận dụngvào nước ta trong giai đoạn hiện nay Để làm được điều này tiểu luận sẽ đi sâu vàokhai thác những nội dung cơ bản trong tư tưởng pháp trị của Hàn Phi trong đó bao
Trang 5gồm những khuôn khổ phép tắc đối với một quốc gia dân tộc cũng như những mốiquan hệ giữa con người ,các cá nhân trong xã hội như vua, bề tôi từ đó có một cáinhìn tổng thể về hệ thống tư tưởng của ông và làm rõ tầm ảnh hưởng của nó đối vớikhông chỉ xã hội Trung Quốc mà cả xã hội Việt Nam …
2 Nội Dung
2.1 Bối cảnh xã hội cho sự ra đời quan điểm về Pháp luật của Hàn Phi Tử
Bối cảnh của thời đại mỗi nhà tư tưởng chính là một trong những tiền đề cho
sự ra đời những quan điểm của họ về một vấn đề xã hội nhất định Do đó, hiểu rõđược bối cảnh kinh tế chính trị xã hội mới có thể đánh giá đúng tư tưởng mà họ thểhiện Chúng tôi xin được đi sâu vào phân tích vào tình hình kinh tế chính trị xã hộiTrung Quốc thời Xuân Thu- Chiến Quốc với những điểm như sau:
-Về kinh tế, nông nghiệp công nghiệp thương nghiệp đều phát triển rất mạnh.Phương pháp canh tác rất tiến bộ, cuối thời Xuân Thu, ở Ngô và Việt, người ta đãtìm ra sắt Nhờ lưỡi cày bằng sắt, nhờ biết dùng bò để kéo cày, mà cày sâu hơn,nhanh hơn, đỡ tốn sức hơn Sự cải thiện phương pháp canh tác chính là một yếu tốquan trọng trong sự phát triển của một quốc gia bởi nó đã khuyến khích sự khaiphá những vùng đất mới Và trong bối cảnh xã hội Trung Hoa bấy giờ, điều nàygiúp các nước chư hầu trở nên phú cường và thực hiện được ý đồ thôn tính cácnước bên cạnh của mình
-Chế độ “tỉnh điền” không còn phù hợp bởi dưới chế độ này, ruộng đất sẽđược chia đều thành các phần trong sự quản lý giám sát của nhà nước Theo đóngười nông dân sẽ canh tác theo thời vụ và nộp hoa lợi trên những phần đất đãđược ấn định Điều này vô hình chung sẽ hạn chế số đất canh tác của mỗi gia đình,
Trang 6mặt khác, mở mang đất đai bờ cõi là mục tiêu mà xã hội muốn hướng đến hơn cả.
Sự tan ra của chế độ Tỉnh điền là điều tất yếu mà Tấn là nước đầu tiên xóa bỏ chínhsách này
-Về chính trị, đây là một thời kì mà chế độ “Tông pháp” của nhà Chu trở nênsuy đồi và loạn lạc, đất đai phải chia cắt cho các vương hầu công khanh, nên mỗingày một thu hẹp lại, chỉ còn trông cậy vào sự cống hiến của các chư hầu khác nhưnước Lỗ Nhà Chu suy nhưng một số chư hầu thì mỗi ngày một mạnh vì chính trịtốt, kinh tế phát triển như nước Tề, hoặc vì thôn tính những nước nhỏ hơn, khai pháđược những đất mới như Sở, Tần Số những nước chư hầu giảm dần qua các thờikì: từ thời Xuân Thu chỉ còn trên một trăm đến thời Chiến Quốc chỉ còn trên mộtchục và đến gần cuối thời kì Chiến Quốc họ trở thành những quốc gia độc lập,không còn phục tùng nhà Chu dù chỉ trên danh nghĩa mà tự xưng vương
-Về xã hội: Sự phát triển của kinh tế đã làm thay đổi cơ bản về thành phần cơcấu xã hội.Sự xuất hiện của các thương nhân, thợ thủ công, tầng lớp địa chủ mới
đã làm thay đổi bộ mặt của xã hội Đây là những thành phần mà địa vị kinh tế đãlàm thay đổi vị trí của họ trong xã hội Tuy nhiên nắm giữ quyền lực vẫn là tầnglớp lãnh chúa đã mất dần quyền lực kinh tế, điều đó dẫn đến những mâu thuẫntrong xã hội Những mâu thuẫn đó đã nói lên tính phức tạp và sự phân tán trong xãhội Có thể thấy đây là một thời kì đã nhen nhóm lên sự biến đổi dữ dội của xã hội
-Về tư tưởng: Các trường phái đua nhau ra đời, trong đó bốn trường pháiNho gia, Mặc gia, Đạo gia và Pháp gia có tầm ảnh hưởng lớn nhất
2.2 Nội dung quan điểm của Hàn Phi Tử về vai trò của pháp luật trong
xã hội
Để làm sang tỏ quan điểm của Hàn Phi Tử về vai trò của Pháp luật, trước hếtchúng tôi sẽ khai thác những khía cạnh trong tư tưởng pháp trị của ông Có ba nộidung cơ bản trong tư tưởng của ông đó chính là pháp, thuật, thế Ba nội dung này
có một mối liên hệ thống nhất chặt chẽ với nhau Trong tư tưởng về pháp, Hàn Phi
đề cập nhiều đến những quy tắc, những chuẩn mực chung mà nhờ vào đó, mỗi cá
Trang 7nhân đều phải tuân thủ những nguyên tắc mà lãnh đạo của một quốc gia đặt ra Bàn
về thuật, Hàn Phi lại muốn bàn luận đến một khía cạnh khác trong vấn đề cai trị đấtnước: đối với một người lãnh đạo, điều quan trọng nhất đó là dùng người Đại sự cóthể thành hay không không thể không kể đến những người kề vai sát cánh cùng Đó
là một quá trình nhìn nhận và xem xét lâu dài cả về năng lực lẫn sự trung thành của
bề tôi Còn thế, đối với ông đó là uy thế, quyền lực của bậc quân vương Năng lựccủa một nhà cầm quyền chưa phải là yếu tố quyết định mà nhờ vào thế họ có thểbuộc người khác phải phục tùng
2.2.1 Nội dung tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử
2.2.1.1Tư tưởng của Hàn Phi về pháp
Nếu như Nho gia dùng chữ “pháp” chỉ theo nghĩa những phép tắc nói chungthì Pháp gia lại đề cập đến nó để hướng tới một vấn đề lớn hơn: đó chính là phápluật .Ngay đến Hàn Phi cũng đã có những định nghĩa của riêng mình về chữ
“pháp” Trong tác phẩm Hàn Phi Tử ông từng viết trong thiên Định Pháp: “Pháp là hiến lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo pháp” hay như ông cũng từng ví pháp luật với dây mực, cái thủy chuẩn, cái quy cái củ tức là đồ dùng làm tiêu chuẩn Pháp luật tức là một tiêu chuẩn để biết đâu là chính, đâu là tà, để khen đúng người, trách đúng kẻ quấy Từ đó ta có thể
hiểu, Hàn Phi quan niệm “pháp” là những khuôn mẫu, phép tắc chuẩn mực do vuabạn ra, công bố ở công đường cho mọi người thực hiện Phải tới thời kì này, phápmới thực sự được hiểu với ý nghĩa là pháp luật
Trên cơ sở phân tích những điều kiện lịch sử cũng như những điều kiện kinh
tế xã hội, Hàn Phi đã luận chứng cho tính tất yếu của pháp trị trong chính trị mớiđảm bảo được sự trị an Có thể nói vị trí của pháp luật đối với một chế độ xã hội do
đó bản thân nó cũng có những yêu cầu riêng Đây cũng chính là nội dung trọng
Trang 8tâm trong tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Trước hết luật pháp phải hợp thời Mộtchế độ xã hội luôn có những đặc thù riêng, vì vậy những hình thức cai trị cũng chỉ
có thể đáp ứng trong những thời điểm lịch sử nhất định Có những chính sách cóthể giúp cho một quốc gia thịnh vượng trong giai đoạn này nhưng giai đoạn khácthì chưa chắc Vậy nên, Pháp luật luôn biến đổi không ngừng để đáp ứng nhữngyêu cầu mới của xã hội Ngoài tính hợp thời, thì tính dễ hiểu, công bằng cũng cầnthiết không kém Tất cả những chính sách được ban hành trong xã hội đều cần sựtuân thủ chặt chẽ từ người dân Tuy nhiên, làm sao họ có thể thực hiện khi nội dungnhững điều luật quá khó hiểu ? Người lãnh đạo luôn phải cân bằng giữa nhữngchính sách và sự tiếp cận của quần chúng Bên cạnh đó, trong xã hội mỗi người đều
có vị trí của riêng mình Có người yếu, kẻ mạnh, có người thấp cổ bé họng, kẻ nắmquyền, để những kẻ mạnh không lấn át kẻ yếu, để số đông không hiếp đáp số ít,pháp luật phải thực sự nghiêm minh., công bằng và được công bố rộng rãi cho mọingười biết
Từ những yêu cầu của pháp luật , chúng ta hoàn toàn có thể xác định đượcvai trò của Pháp luật trong tư tưởng về pháp mà Hàn Phi muốn hướng tới Nó thểhiện ở việc duy trì ổn định trật tự xã hội, trở nên phổ biến trong quần chúng nhândân lao động, ai cũng hiểu, ai cũng biết Nó là một khuôn khổ để mỗi người trongcộng đồng ý thức được hành vi của bản thân mình
2.2.1.2 Tư tưởng của Hàn Phi Tử về thuật
Thuật là nội dung quan trọng trong tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi, tuy nhiên
để làm rõ được nội dung về thuật, cần làm rõ những nội dung như sau: về kháiniệm, tiểu luận cho rằng : Thuật là một danh từ tương đối đa nghĩa trong lịch sửTrung Quốc Một trong những người đề xuất thuật trong chính trị có thể kể đến đó
là Thân Bất Hại Ông xem thuật như một phương thức trị nước của bậc vua chúa
Còn Hàn Phi , ông định nghĩa về thuật như sau: “Thuật là nhân tài năng mà giao cho chức quan, theo cái danh mà trách cứ cái thực, nắm quyền sinh sát trong tay
Trang 9mà xét khả năng của quần thần” Ngoài ra Hàn Phi còn có một quan điểm khác trong thiên Định Pháp đó là: “Thuật thì không muốn cho người khác thấy,… dùng thuật thì những kẻ yêu mến, thân cận cũng không được nghe” Qua những nội dung
trên, có thể thấy thuật là một phương thức để vua chúa tuyển chọn, kiểm tra, giámsát và sử dụng bầy tôi Chủ trương của Pháp gia là bậc vua chúa có nhiệm vụ làmsao cho dân theo đúng pháp luật như vậy là là nước trị Tuy nhiên, xung quanh họ
có quá nhiều công việc nên để đảm đương tất cả là một điều hết sức khó khăn.Phương án tối ưu nhất đó chính là giao một phần trọng trách cho quan lại, quan lạitốt thì dân không loạn Vì vậy bậc minh quân chủ trị quan lại chứ không trị dân.Đối với khái niệm thuật, có lẽ mỗi tác gia đều có một cách tiếp cận của riêng mình.Chẳng hạn như Hàn Phi, các tác giả Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi cho rằng ông đã sử
dụng khái niệm thuật với hai nghĩa : đó là “kĩ thuật” và “tâm thuật” Tuy nhiên
tâm thuật là một phạm vi rộng nên có lẽ chúng tôi sẽ không xét đến vì chúng quánhiều, thiên biến vạn hóa, không theo một quy tắc nào và rất khó xác định Do vậytiểu luận sẽ đi vào tìm hiểu hai nội dung chính là “thuật trừ gian” và “thuật dùngngười”
Trong thuật trừ gian, Hàn Phi đã nhận thức rằng ai cũng chỉ quan tâm đến lợiích của bản thân mình Để tồn tại trong một xã hội biến động lúc bấy giờ, mỗi cánhân quan tâm đên lợi ích của bản thân có lẽ là điều dễ hiểu Vì tính tư lợi nên bềtôi lúc nào cũng có ý định phản vua., chúng tôi xin phép được trích một câu của
Hàn Phi trong Ngoại trừ thuyết tả hạ : “Bậc minh chủ không nên ỷ vào cái lẽ bề tôi không phản mình mà ỷ vào cái lẽ họ không thể phản mình được, không ỷ vào cái lẽ
họ không gạt mình mà ỷ vào cái lẽ họ không thể gạt mình được” Để chứng minh
cho quan điểm của mình, Hàn Phi đã liệt kê ra nhiều hạng người có thể làm loạntrong triều đình, khi sắp xếp lại có thể chia ra làm hai loại: kẻ thân thích của vua vàquân thần Những người này đánh vào tình cảm để khiến vua lung lạc Họ lập bèđảng trong nước, hãm hại các trung thần Để trị những hạng người này, nhà vua cầnhết sức khôn khéo: không được để lộ sự yêu ghét của mình, không cho họ biết mưu
Trang 10tính của mình cũng như không để họ mưu tính việc riêng , bất cứ việc gì họ cũngphải thông qua ý kiến của mình Có lẽ đây là những phương pháp để cho bề tôikhông có cơ hội lộng hành trong triều đình Mặt khác, mọi vấn đề luôn có nguồngốc của nó cũng như những nảy sinh trong xã hội chúng ta cần phải giải quyết từgốc cho đến ngọn Ngay từ đầu, việc cân nhắc chọn lựa những nhân tố để lãnh đạo
đã hết sức cần thiết Hàn Phi đã đề từng đề cập đến năm hạng người không nên sửdụng trong học thuyết của mình: hạng người khinh tước lộc, dễ dàng bỏ chức vụ
mà đi chọn vua khác, hạng người đặt lời giả dối trái pháp luật, hạng người lánh đời
ở ẩn, chê bai vua, hạng người thi ân để phục vụ kẻ dưới, hạng người tranh thắngvới bề trên Mặt khác ông cũng nhận ra gian thần cũng có khi là những người tài ,nếu vua có khả năng quy phục, họ có thể quay ra trung thành với mình Trong lịch
sử đã từng có những trường hợp như vậy như Triệu Giản Chủ từng dùng Dương
Hổ, một phản thần của nước Lỗ Vì vậy thuật trừ gian đôi khi cũng phải được vậndụng một cách linh hoạt, đôi khi gian thần không phải không có cách để thu phụcnhân tâm Điều đó tùy vào khả năng của người lãnh đạo và thanh trừng những nhân
tố có lợi có thể coi là một sai lầm lớn của bất kì người làm chính trị nào
Trong thuật dùng người, quy tắc căn bản của thuật dùng người theo pháp gia
là thuyết hình danh Nói về thuyết danh, Hàn Phi không phải là người sang lập mà
đã kế thừa từ những tiền bối trước Người đầu tiên lập thuyết về danh về danh làKhổng Tử Đây là một thuyết để trị nước: chính danh Thuyết này nhắc nhở nhàcầm quyền nhớ đến bổn phận của họ: đã mang danh là vua, là cha mẹ của dân thìphải giữ tư cách của ông vua và làm tròn sứ mệnh của mình nếu không thì đại sự
sẽ không thể thành Sau này các triết gia Trung Quốc đã kế thừa học thuyết này,trong đó Tuân Tử thuộc Nho gia đã thành lập một hệ thống lý luận khá chặt chẽ.Hàn Phi là môn đệ của Tuân Tử nên đã trực tiếp ảnh hưởng của ông hơn là của pháiDanh gia, tuy nhiên ông áp dụng thuyết của Tuân Tử phần nhiều vào chính trị ,không bàn về tri thức luận Trong phạm vi chính trị, ông thu hẹp vào việc dùngngười, vì vậy ông không hề nói về chính danh, chỉ nói đến hình danh hoặc danh
Trang 11thực Lấy pháp luật làm danh thì sự việc là hình : sự việc mà hợp với pháp thì danh
và thực hợp nhau Hàn Phi cho rằng quy tắc hình danh hợp nhau là quan trọng bậcnhất trong vị trí quan lại, nếu không có nó thì không sao phân biệt được kẻ hayngười dở, kẻ ngay người gian, không sao thưởng phạt cho đúng được, vua sẽ mấtquyền nước sẽ loạn
Từ những tư tưởng của Hàn Phi về thuật có thể thấy để có thể thựchiện ý chí của mình, một ông vua không thể một mình cai quản thiên hạ mà ý chí
đó được thực hiện ngay qua một hệ thống quần thần, những người giúp việc xungquanh ông ta- được gọi là bề tôi Nghiệp bá vương của ông vua thành hay bại phụthuộc nhiều vào việc sử dụng đội ngũ bầy tôi đó Do đó trong chính trị vấn đề sửdụng con người được đặt lên hàng đầu Nhân thức được tầm quan trọng đó nên lýluận chính trị của Hàn Phi chủ yêu xoay quanh quan hệ vua –tôi Vua phải sử dụngbầy tôi như thế nào để vừa thực hiện tốt công việc của mình, vừa không phải lạimình, đó là cái thuật của ông vua sử dụng bầy tôi mà Hàn Phi đã có được sự quansát tỉ mỉ, đi từ hiện tượng đến bản chất, từ đạo đức, tâm lý cho đến sự tác độnghoàn cảnh nên ông vua giỏi phải là người phải biết sử dụng bầy tôi một cách cóhiệu quả để phục vụ mình chứ không phải đưa hết sức lực của mình ra mà làm.Quan điểm của Hàn Phi về vai trò của Pháp luật cũng đã được bộc lộ qua tư tưởngcủa ông, đó chính là tiêu chuẩn để tuyển chọn bầy tôi, bản thân những con ngườinày phải biết tôn trọng pháp luật Khi đã tuân theo pháp luật thì mới có thể chọnđược hiền tài mà không thiên vị người thân thích, không kể địa vị cao thấp sanghay hèn mà điều quan trọng là họ có thể làm sang tỏ pháp luật, làm “lợi cho nước,tiện cho dân” được hay không Vai trò của Pháp luật lúc này còn thể hiện ở chỗ vua
có thể khống chế bề tôi của mình, hiểu bề tôi của mình cũng như dùng tước lộc đểđổi lấy công lao của họ
Trang 122.2.1.3 Tư tưởng Hàn Phi Tử về thế
Pháp luật( pháp) và thuật cai trị (thuật) đều không thể thiếu đối với bậc vuachúa Cho nên Hàn Phi Tử nói: Hai cái ấy ( tức pháp và thuật) không thể thiếu một
vì chúng là công cụ của đế vương Nhưng chỉ có pháp và thuật mà không có thế thìvua không chế ngự được bầy tôi Thế là một trong ba nội dung tạo nên học thuyết
“pháp trị” Trong tác phẩm Hàn Phi tử , Hàn Phi đã đề cập đến rất nhiều khái niệm
về thế như “thế vị”, “uy thế”, “thế trọng” Ta có thể hiêu là uy quyền thế lực mà
nhà vua dựa vào đó để buộc người khác phải phục tùng Theo ông tài đức của một
cá nhân không quyết định đến thế bởi lẽ trong lịch sử đã từng có những cá nhânnhư vua Nghiêu là một người hiền tài nhưng khi chưa làm vua nói không ai nghehay như vua Kiệt, một con người bạo tàn nhưng vì là vua nên không ai dám tráilệnh Sức ảnh hưởng của một người trong xã hội không hẳn nằm ở năng lực mà hơn
cả là vị trí của người đó Một người có quyền thế có thể khiến cho một cộng đồngngười đông đảo trong xã hội nể sợ, ngược lại người không có uy danh thì để cótiếng nói là một điều không hề dễ dàng
Trong chính trị, thế là quyền lực chính trị, mục tiêu chính trị chỉ đạt được khi
nhà vua có “thế” hay không Mối quan hệ giữa Pháp luật và thế thể hiện ở chỗ
pháp chính là một phương tiện để cho một ông vua thể hiện uy thế của mình.Thưởng phạt có thể coi là một trong số những quyền hành mà nhà vua nắm trongtay thậm chí nó là một công cụ sắc bén để pháp luật được thi hành Không cóthưởng phạt thì pháp luật hoàn toàn trống rỗng và vô dụng vì vậy đó có thể coi là
cơ sở thể hiện pháp luật Tuy nhiên thực hiện quyền thưởng phạt như nào cũng làmột bài toán đặt ra cho người nắm quyền Hàn Phi chủ trương phải để cho ngườidân hiểu được việc thưởng chính là do công lao của họ chứ không phải làm ơn, làmđức Như vậy, việc thưởng xuất phát từ lý do khách quan, từ chính khả năng vàcống hiến của mỗi cá nhân Mặt khác, một khi hình phạt được đưa ra, người chịucũng phải hoàn toàn tâm phục khẩu phục, họ cần hiểu rằng họ phạm tội và bây giờ