Các chỉ tiêu nhân trắc Hiện nay người ta nhận định tình trạng dinh dưỡng trẻ em chủ yếu dựa vào 3 chỉ tiêu sau: Chiều cao theo tuổi Cân nặng theo chiều cao Cân nặng theo tuổi Chiều
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM TẠI TRƯỜNG MẦM NON - MẪU GIÁO TƯ THỤC
HẠNH DUNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Họ và tên sinh viên: TÔN NỮ QUỲNH LÊ Ngành: BẢO QUẢN CHẾ BIẾN NÔNG SẢN THỰC PHẨM VÀ DINH DƯỠNG NGƯỜI
Niên khóa: 2005 - 2009
Tháng 08/2009
Trang 2KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM TẠI TRƯỜNG MẦM NON - MẪU GIÁO TƯ THỤC HẠNH DUNG Ở THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Tác giả
TÔN NỮ QUỲNH LÊ
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành
Bảo Quản Chế Biến Nông Sản Thực Phẩm và Dinh Dưỡng Người
Giáo viên hướng dẫn:
TS BS NGUYỄN THỊ MINH KIỀU
TS PHAN TẠI HUÂN
Tháng 08 năm 2009
Trang 3● Trân trọng biết ơn toàn thể quý thầy cô trong khoa Công Nghệ Thực Phẩm
đã tận tình dạy bảo, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong thời gian tôi học tập tại trường
● Xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến TS BS Nguyễn Thị Minh Kiều và TS Phan Tại Huân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành đề tài
● Xin chân thành cám ơn TS BS Trần Thị Minh Hạnh và TS BS Phạm Gia Tiến cùng các anh chị phòng Dinh Dưỡng Lâm Sàng, Trung Tâm Dinh Dưỡng TP Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập
● Xin cám ơn toàn thể các cô giáo trường mầm non - mẫu giáo tư thục Hạnh Dung đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
● Cám ơn tất cả các bạn lớp DH05DD cùng các anh chị, bạn bè thân thuộc đã cùng tôi chia sẻ những vui buồn, giúp đỡ tôi có đủ nghị lực để vượt qua những khó khăn trong lúc học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin chân thành kính chúc tất cả quý thầy cô, anh chị và các bạn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và thành công
TP Hồ Chí Minh ngày 02 tháng 08 năm 2009
Tôn Nữ Quỳnh Lê
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài: “Khảo sát và đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em tại trường
mầm non - mẫu giáo tư thục Hạnh Dung ở thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện từ
tháng 1 năm 2009 đến hết tháng 4 năm 2009 tại trường mầm non - mẫu giáo tư thục Hạnh Dung, số 42/3 Nguyễn Văn Trỗi, phường 15, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh Các số liệu về cân nặng, chiều cao của tất cả các bé đang học tại trường thuộc
5 nhóm tuổi (12 – 24 tháng, 25 – 36 tháng, 37 – 48 tháng, 49 – 60 tháng, 61 – 72 tháng) được thu thập trong vòng 4 tháng
● Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ
Sử dụng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
Sử dụng chỉ tiêu chiều cao theo tuổi để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi
Sử dụng chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng thể gầy còm
● Đánh giá tình trạng thừa cân – béo phì của trẻ
Sử dụng chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao để đánh giá tình trạng thừa cân – béo phì của trẻ
Kết quả cho thấy tại nhà trường chưa có trường hợp trẻ bị suy dinh dưỡng, chỉ
có trường hợp trẻ bị dọa suy ở cả 3 thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm Tình trạng dọa suy chỉ tập trung ở nhóm 12 – 24 tháng, 25 – 36 tháng, 37 – 48 tháng Tỷ lệ trẻ bị dọa suy ở nhóm 12 – 24 tháng và 25 – 36 tháng cao hơn so với các nhóm tuổi còn lại
Tỷ lệ trẻ bị thừa cân – béo phì của nhà trường cao hơn so với tỷ lệ trẻ bị dọa suy Tình trạng thừa cân – béo phì xuất hiện ở tất cả các nhóm tuổi được khảo sát, trong đó nhóm tuổi 48 – 60 tháng và 61 – 72 tháng có tỷ lệ trẻ bị thừa cân – béo phì cao hơn so với các nhóm tuổi còn lại
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các hình viii
Danh sách các bảng ix
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Định nghĩa tình trạng dinh dưỡng 3
2.2 Suy dinh dưỡng ở trẻ em 3
2.2.1 Định nghĩa suy dinh dưỡng 3
2.2.2 Phân loại suy dinh dưỡng 4
2.2.3 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em hiện nay 6
2.3 Béo phì ở trẻ em 8
2.3.1 Định nghĩa béo phì 8
2.3.2 Phân loại béo phì 9
2.3.3 Tình trạng béo phì của trẻ em hiện nay 11
2.4 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em 13
2.4.1 Định nghĩa 13
2.4.2 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng 14
2.4.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp nhân trắc học 14
2.4.4 Kỹ thuật thu thập số liệu 15
Trang 62.4.5 Nhận định tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi 16
2.4.5.1 Các chỉ tiêu nhân trắc 16
2.4.5.2 Quần thể tham chiếu 17
2.4.5.3 Giới hạn ngưỡng 17
2.5 Cách phân loại và nhận định các chỉ tiêu nhân trắc 19
2.5.1 Cân nặng theo tuổi 19
2.5.2 Chiều cao theo tuổi 19
2.5.3 Cân nặng theo chiều cao 20
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Nội dung nghiên cứu 21
3.2 Đối tượng nghiên cứu 21
3.3 Thời gian nghiên cứu 21
3.4 Địa điểm nghiên cứu 21
3.5 Phương pháp nghiên cứu 21
3.5.1 Các thông tin và số liệu cần thu thập 21
3.5.2 Dụng cụ và vật liệu 22
3.6 Phương thức tiến hành 22
3.6.1 Thu thập thông tin và số liệu 22
3.6.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ đang học tại trường 23
3.6.2.1 Tính tuổi của trẻ 23
3.6.2.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ 23
3.6.3 Xử lý số liệu 25
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Sỉ số, giới tính và phân nhóm tuổi theo các thời điểm trong thời gian 4 tháng khảo sát 26
4.2 Tình trạng vận động của trẻ tại trường 28
4.3 Kết quả tính toán tình trạng dinh dưỡng của trẻ 29
4.3.1 Kết quả tính toán tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong tháng 1/2009 29
4.3.1.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 29
4.3.1.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi 29
4.3.1.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm và thừa cân – béo phì 29
Trang 74.3.2 Kết quả tính toán tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong tháng 2/2009 29
4.3.2.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 29
4.3.2.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi 29
4.3.2.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm và thừa cân – béo phì 29
4.3.3 Kết quả tính toán tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong tháng 3/2009 30
4.3.3.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 30
4.3.3.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi 30
4.3.3.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm và thừa cân – béo phì 30
4.3.4 Kết quả tính toán tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong tháng 4/2009 30
4.3.4.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 30
4.3.4.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi 30
4.3.4.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm và thừa cân – béo phì 30
4.4 Kết quả đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo từng tháng 31
4.5 Kết quả đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo từng nhóm tuổi 36
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8
CC/T Chiều cao theo tuổi
CCTB Chiều cao trung bình
CDC Center for Disease Control
CN/CC Cân nặng theo chiều cao
CN/T Cân nặng theo tuổi
CNTB Cân nặng trung bình
MUAC Mid – Upper – Arm Circumference
NCHS National Center for Health Statistics
WHO World Health Organization
WSH Water Sanitation and Health
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện số trẻ bị SDD tại 10 nước trên thế giới 6
Hình 2.2 Biểu đồ mô tả diễn biến suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (W/A) ở trẻ em dưới 5 tuổi trên cả nước từ 1985 – 2008 8
Hình 2.3 Đồ thị mô tả diễn tiến tình trạng TC – BP trẻ em dưới 5 tuổi tại TP Hồ Chí Minh qua các năm 1999 – 2006 12
Hình 2.4 Đồ thị mô tả tỷ lệ thừa cân theo nhóm tháng tuổi tại TP Hồ Chí Minh năm 2006 13
Hình 2.5 Đường cong phân bố của CN/CC của quần thể tham chiếu 18
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ giới tính của các bé trong trường 27
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ trẻ theo các nhóm tuổi 28
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Phân loại suy dinh dưỡng theo Welcome 5
Bảng 2.2 Tỷ lệ trẻ em SDD từ năm 1990 đến năm 2004 theo nông thôn, thành thị và miền núi 7
Bảng 3.1 Bảng đánh giá tình trạng SDD thể nhẹ cân dựa vào CN/T 24
Bảng 3.2 Bảng đánh giá tình trạng SDD thể thấp còi dựa vào CC/T 24
Bảng 3.3 Bảng đánh giá tình trạng SDD thể gầy còm dựa vào CN/CC 25
Bảng 3.4 Bảng đánh giá tình trạng TC – BP dựa vào CN/CC 25
Bảng 4.1 Các thời điểm cân đo cho các bé của nhà trường 26
Bảng 4.2 Kết quả đánh giá tình trạng SDD thể nhẹ cân dựa theo CN/T 31
Bảng 4.3 Kết quả đánh giá tình trạng SDD thể thấp còi dựa theo CC/T 32
Bảng 4.4 Kết quả đánh giá tình trạng SDD thể gầy còm dựa theo CN/CC 33
Bảng 4.5 Kết quả đánh giá tình trạng thừa cân dựa theo CN/CC 34
Bảng 4.6 Kết quả đánh giá tình trạng béo phì độ I dựa theo CN/CC 35
Bảng 4.7 Kết quả đánh giá tình trạng béo phì độ II dựa theo CN/CC 35
Bảng 4.8 Kết quả đánh giá tình trạng béo phì độ III dựa theo CN/CC 36
Bảng 4.9 Kết quả đánh giá TTDD của nhóm tuổi 12 – 24 tháng 37
Bảng 4.10 Kết quả đánh giá TTDD của nhóm tuổi 25 – 36 tháng 37
Bảng 4.11 Kết quả đánh giá TTDD của nhóm tuổi 37 – 48 tháng 37
Bảng 4.12 Kết quả đánh giá TTDD của nhóm tuổi 49 – 60 tháng 38
Bảng 4.13 Kết quả đánh giá TTDD của nhóm tuổi 61 – 72 tháng 38
Trang 11Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trẻ em lứa tuổi nhà trẻ - mẫu giáo (từ 1 đến 5 tuổi) là lứa tuổi phát triển thể lực
và trí lực quan trọng Đây là nhóm đối tượng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất của thế hệ tương lai, cụ thể là tầm vóc của người Việt Nam Do đó tình trạng dinh dưỡng của trẻ em lứa tuổi này cần được theo dõi và đánh giá thường xuyên
để có những định hướng và can thiệp kịp thời
Theo báo cáo của Phạm Thị Ngân Hà và ctv (2006), kết quả thu được từ những khảo sát định kỳ tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh qua các năm cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (cân nặng/tuổi) của trẻ dưới 5 tuổi đang giảm dần (từ 14,0% năm 2000 giảm còn 10,2% năm 2005) nhưng thừa cân và béo phì lại có xu hướng gia tăng (từ 3,2% năm 2000 tăng đến 6,3% năm 2005) Trong tương lai mục tiêu của chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em không chỉ dừng lại ở mức độ giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng mà còn là khống chế sự gia tăng thừa cân – béo phì và cải thiện tầm vóc của người Việt Nam
Để theo dõi và đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 1 đến 5 tuổi, ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và trên cả nước nói chung đã có những cuộc nghiên cứu khảo sát định kỳ tại các thời điểm cụ thể và những cuộc nghiên cứu trên quy mô lớn trong thời gian dài Nhiều kế hoạch, kiến nghị đã được đề ra nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi trong những năm tiếp theo để đảm bảo cho sự phát triển tốt nhất của trẻ trong giai đoạn này
Năm 2009, để góp phần khảo sát, đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em lứa tuổi nhà trẻ - mẫu giáo, được sự phân công của Khoa Công Nghệ Thực Phẩm Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và sự đồng ý của Bộ Môn Bảo Quản Chế Biến Nông Sản Thực Phẩm và Dinh Dưỡng Người, chúng tôi thực hiện đề
Trang 12tài: “Khảo sát và đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em tại trường mầm non - mẫu giáo tư thục Hạnh Dung ở thành phố Hồ Chí Minh”
Đề tài được tiến hành dưới sự hướng dẫn của TS BS Nguyễn Thị Minh Kiều
và TS Phan Tại Huân
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Định nghĩa tình trạng dinh dưỡng
Theo Giáo Trình Dinh Dưỡng Phần 2 của Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia thì tình trạng dinh dưỡng (TTDD) được định nghĩa là tập hợp các đặc điểm cấu trúc, các chỉ tiêu hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý và mức độ hoạt động thể lực và trí lực Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của cá thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe
Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ
0 đến 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng Đôi khi người ta cũng lấy tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ làm đại diện
2.2 Suy dinh dưỡng ở trẻ em
2.2.1 Định nghĩa suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein – năng lượng và các vi chất dinh dưỡng Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, nhiều nhất từ 6 đến 24 tháng tuổi, bệnh biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần, vận động Trẻ suy dinh dưỡng dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, diễn biến bệnh thường nặng và có thể dẫn tới tử vong (Đào Thị Ngọc Diễn và
Lê Thị Hải, 2002)
Trang 14Theo tổ chức UNICEF thì suy dinh dưỡng là một thuật ngữ chung thường được sử dụng để chỉ sự thiếu hụt dinh dưỡng nhưng theo chuyên môn thì nó còn liên quan đến sự dư thừa dinh dưỡng Người bị suy dinh dưỡng khi bữa ăn của họ không cung cấp đầy đủ năng lượng và protein cho sự sinh trưởng và duy trì các chức năng của cơ thể hoặc khi người đó không có khả năng hấp thu đầy đủ lượng thực phẩm họ
ăn vào do bệnh tật (UNICEF, 2006)
Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng suy dinh dưỡng là một vấn đề sức khỏe rất đáng quan tâm, đặc biệt ở các nước đang phát triển Nó là kết quả của sự dung nạp không đầy đủ thực phẩm, sai lầm trong việc lựa chọn thực phẩm, và sự phản ứng của
cơ thể trước hàng loạt các bệnh truyền nhiễm dẫn đến sự kém hấp thu các chất dinh dưỡng hoặc mất khả năng sử dụng các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự duy trì sức khỏe Về phương diện lâm sàng thì suy dinh dưỡng được mô tả là kết quả của sự dung nạp không đầy đủ protein, năng lượng, là kết quả của việc mắc các bệnh truyền nhiễm kéo dài gây nên sự rối loạn chuyển hoá trong cơ thể (WSH, 2001)
Briend và Nestel (2005) định nghĩa suy dinh dưỡng là tình trạng sức khỏe yếu kém do sự hấp thu không đầy đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng thiết yếu Đó cũng có thể là kết quả của bệnh truyền nhiễm gây ra sự mất cân bằng giữa năng lượng
và các chất dinh dưỡng với nhu cầu cần thiết của cơ thể dẫn đến sự rối loạn hấp thu, chứng biếng ăn và sự sút cân quá mức
2.2.2 Phân loại suy dinh dưỡng
Ở cộng đồng, cách phân loại thông dụng nhất trước đây dựa vào cân nặng theo tuổi quy ra phần trăm của cân nặng chuẩn Thiếu dinh dưỡng độ I tương ứng với cân nặng chỉ còn 75 - 90% so với cân nặng chuẩn Thiếu dinh dưỡng độ 2 tương ứng với cân nặng chỉ còn 60 - 75% so với cân nặng chuẩn Cách phân loại này đơn giản nhưng không phân biệt được thiếu dinh dưỡng mới xảy ra hay xảy ra đã lâu (Nguyễn Minh Thủy, 2008)
Để khắc phục nhược điểm đó, vào năm 1976, Waterlow đã đề nghị cách phân loại như sau: Phân loại dựa vào 2 chỉ tiêu là cân nặng so với chiều cao và chiều cao so với tuổi
Nếu:
- Trẻ có chiều cao/tuổi > 90% và cân nặng/chiều cao > 80% là bình thường
Trang 15- Trẻ có chiều cao/tuổi > 90% và cân nặng/chiều cao < 80% là suy dinh dưỡng thể gầy còm (Wasting) biểu hiện tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính
- Trẻ có chiều cao/tuổi < 90% và cân nặng/chiều cao > 80% là suy dinh dưỡng thể còi cọc hay thấp còi (Stunting) biểu hiện tình trạng suy dinh dưỡng trong quá khứ
- Trẻ có chiều cao/tuổi < 90% và cân nặng/chiều cao < 80% là suy dinh dưỡng thể gầy còm + còi cọc biểu hiện tình trạng suy dinh dưỡng mạn tính (Trích dẫn bởi Đào Thị Ngọc Diễn và Lê Thị Hải, 2002)
Năm 1969, Welcome và nhóm cộng sự đã đề ra cách phân loại suy dinh dưỡng theo các thể nặng, được trình bày ở Bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân loại suy dinh dưỡng theo Welcome
60 - 80% Kwashiorkor Thiếu dinh dưỡng
< 60% Marasmus - Kwashiorkor Marasmus
(Nguồn: Waterlow, 1976) Theo Bảng 2.1, trẻ có cân nặng theo tuổi chỉ còn 60 – 80% so với cân nặng chuẩn và
có biểu hiện phù là thể Kwashiorkor, không phù là thiếu dinh dưỡng Trẻ có cân nặng theo tuổi còn dưới 60% so với cân nặng chuẩn và có phù là thể Marasmus – Kwashiorkor, không có phù là thể Marasmus
Suy dinh dưỡng thể Marasmus là dạng suy dinh dưỡng nặng hay gặp nhất
Đó là hậu quả của chế độ ăn thiếu cả năng lượng và protein do cai sữa sớm hoặc ăn bổ sung không hợp lý Tình trạng vệ sinh kém gây tiêu chảy, trẻ ăn càng kém và vòng luẩn quẩn bệnh lý bắt đầu Kwashiorkor ít gặp hơn Marasmus, thường là do chế độ ăn quá nghèo về protein nhưng carbohydrate tạm đủ (chế độ ăn chủ yếu dựa vào khoai, sắn) (Nguyễn Minh Thủy, 2008)
Trang 162.2.3 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em hiện nay
Theo thống kê của tổ chức UNICEF (2006), trên thế giới, ở các nước đang phát triển có khoảng hơn ¼ trẻ em bị suy dinh dưỡng, ước tính có khoảng 146 triệu trẻ
em bị suy dinh dưỡng Khoảng 73% của số này lại chỉ tập trung ở 10 nước
57
8 8 7 6 6 6
3 3 2 0
10 20 30 40 50 60
Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện số trẻ bị SDD tại 10 nước trên thế giới
(Theo số liệu của UNICEF, 2006) Tình trạng thiếu dinh dưỡng vẫn còn là một vấn đề toàn cầu, đã góp phần cướp đi sinh mạng của một nửa số trẻ em bị tử vong, tức là khoảng 5,6 triệu trẻ em trong một năm Theo báo cáo của tổ chức UNICEF năm 2006, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
bị suy dinh dưỡng giảm không đáng kể tính từ năm 1990 Mặc dù một số nước đã đạt được những tiến bộ trong việc giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tỷ lệ trẻ bị thiếu cân trung bình ở các nước đang phát triển chỉ giảm 5% trong suốt 15 năm qua Hiện nay có 27% trẻ em ở các nước đang phát triển bị thiếu cân Báo cáo chỉ ra rằng chỉ có hai khu vực đang trên đà đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, đó là khu vực Châu Mỹ La Tinh - Caribê và khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, với tỷ lệ trẻ thiếu cân trung bình của từng khu vực là 7% và 15% Việt Nam cùng với bốn nước khác trong khu vực là Trung Quốc, Malayxia, Singapore và Inđônêxia được đánh giá là trên đà đạt được mục tiêu Cũng theo bản báo cáo này, Việt Nam có tỷ lệ giảm trẻ suy dinh dưỡng hàng năm đứng thứ ba trong khu vực sau Malayxia và Trung Quốc; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng ở Việt Nam đã giảm đáng kể trong vòng hai thập kỷ qua, từ 51,2% năm 1985 xuống còn 25,2% năm 2005
Trang 17Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở Việt Nam vẫn còn khá cao so với khu vực (Trung Quốc: 8%, Malayxia:11%, Mông cổ: 13%) Có một sự cách biệt lớn về số trẻ
em bị suy dinh dưỡng ở các vùng, miền Việt Nam Ví dụ, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở Đắc Nông là 35%, nhiều hơn gấp 3 lần ở thành phố Hồ Chí Minh (10%) (UNICEF Việt Nam, 2006)
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là khác nhau giữa nông thôn, thành thị và miền núi được trình bày ở Bảng 2.2
Bảng 2.2 Tỷ lệ trẻ em SDD từ năm 1990 đến năm 2004 theo nông thôn, thành thị và
năm 2006 lần lượt là 23,4%, 31,9% và 7,2%
Trang 18Hình 2.2 Biểu đồ mô tả diễn biến suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (W/A) ở trẻ em dưới 5
tuổi trên cả nước từ 1985 - 2008
(Nguồn: Viện Dinh dưỡng Quốc gia, 2009)
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em nước ta hiện nay đã giảm nhiều Mức giảm suy dinh dưỡng từ đầu thập kỷ 90 đến năm 2000 cao hơn nhiều so với mức giảm chung cho các nước đang phát triển (giảm 0,4%/năm) Đặc biệt từ năm 2000 đến năm
2004 mức giảm suy dinh dưỡng trẻ em đã tăng lên và Việt Nam đã đạt được mức giảm suy dinh dưỡng gần với mức đề ra của Hội nghị Thượng đỉnh về Dinh dưỡng là 2% (Nguyễn Công Khẩn và ctv, 2007)
Kết quả thu được từ những khảo sát định kỳ tình trạng dinh dưỡng của trẻ
em dưới 5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh qua các năm cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (cân nặng/tuổi) của trẻ dưới 5 tuổi đang giảm dần (từ 14% năm 2000 giảm xuống còn 10,2% năm 2005 và tốc độ giảm trong 5 năm đó không cao khoảng 0,76%/năm) (Phạm Thị Ngân Hà và ctv, 2006)
2.3 Béo phì ở trẻ em
2.3.1 Định nghĩa béo phì
Béo phì là kết quả của một cân bằng năng lượng dương tính giữa năng
lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao Là một trạng thái bệnh lý được đặc trưng bởi sự
Trang 19tích tụ mỡ quá mức cần thiết cho những chức năng tối ưu của cơ thể và làm tổn hại đến sức khỏe, hay số lượng mỡ tăng cao bất thường đủ để gây nguy hiểm (Đào Thị Ngọc Diễn và Lê Thị Hải, 2002)
Thừa cân là khi cân nặng cơ thể vượt quá cân nặng cho phép hoặc cân nặng chuẩn tương ứng với chiều cao (Hills và Wahlqvist, 1994)
Béo phì là khi lượng mỡ trong cơ thể vượt quá mức gây tổn hại đến sức khỏe Khi số lượng và kích thước của các tế bào mỡ trong cơ thể tăng lên thì có thể gây ra béo phì Một người bình thường thì có khoảng 30 đến 35 tỉ tế bào mỡ Khi một người tăng cân, trước hết sẽ tăng về kích thước của các tế bào mỡ, sau đó sẽ tăng về số lượng của các tế bào này (Myers, 2004)
Có thể định nghĩa thừa cân và béo phì một cách chính xác hơn nhờ vào chỉ số BMI (Body Mass Index) Chỉ số BMI được tính bằng cân nặng (tính bằng kilogam) chia cho bình phương chiều cao (tính bằng mét) Chỉ số này được sử dụng rất phổ biến để đánh giá thừa cân béo phì ở trẻ em từ 9 tuổi trở lên và người trưởng thành
Tổ chức CDC (Center for Disease Control) cho rằng đối với người trưởng thành nếu có BMI nằm trong khoảng từ 25 đến 29,9 là thừa cân; nếu có BMI ≥ 30 là béo phì (CDC, 2009)
Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì thừa cân và béo phì là tình trạng tập trung
mỡ không bình thường hoặc quá mức gây nguy hại đến sức khỏe Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa một người thừa cân là khi có BMI ≥ 25 và béo phì là khi có BMI ≥ 30 Theo chuẩn tăng trưởng trẻ em của Tổ chức Y tế Thế giới được ban bố vào tháng 4 năm 2006 thì bao gồm cả biểu đồ BMI cho trẻ nhỏ và trẻ từ 5 tuổi trở lên Tuy nhiên
sự đo lường mức độ thừa cân và béo phì ở trẻ em từ 5 đến 14 tuổi đang gặp khó khăn bởi vì hiện nay chưa có một định nghĩa chuẩn nào về béo phì cho trẻ em được áp dụng trên thế giới Hiện nay Tổ chức Y tế Thế giới đang phát triển bảng tăng trưởng tham khảo quốc tế cho trẻ em lứa tuổi tiền học đường và lứa tuổi thiếu niên (Media Centre, 2006)
2.3.2 Phân loại béo phì
Theo Lê Thị Hải (2002) thì béo phì được phân loại dựa theo sinh bệnh học, hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì như sau:
Phân loại dựa theo sinh bệnh học:
Trang 20Béo phì đơn thuần (ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng
Béo phì bệnh lý: Là béo phì có các vấn đề bệnh lý liên quan bao gồm:
Béo phì do nguyên nhân nội tiết
Béo phì do suy giáp trạng: Thường xuất hiện muộn, béo vừa, chậm lớn,
da khô, táo bón và chậm phát triển tinh thần
Béo phì do cường vỏ thượng thận: Có thể do tổn thương tuyến yên hoặc
u tuyến thượng thận, thường béo ở mặt và thân kèm theo tăng huyết áp
Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng: Béo phì thường nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, béo chủ yếu ở thân kèm theo chậm lớn
Béo phì trong hội chứng tăng hormon u nang buồng trứng: Thường xuất hiện sau dậy thì
Béo phì trong thiểu năng sinh dục
Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn nên thường kèm theo béo phì
Béo phì do sử dụng thuốc: Sử dụng corticoid liều cao và kéo dài, dùng estrogen
Phân loại theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì:
Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): Là béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ
Béo phì bắt đầu ở người lớn: Là béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ, còn số lượng tế bào mỡ bình thường
Béo phì xuất hiện sớm: Là béo phì xuất hiện trước 5 tuổi
Béo phì xuất hiện muộn: Là béo phì xuất hiện sau 5 tuổi
Các giai đoạn thường xuất hiện béo phì là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và tuổi
vị thành niên
Theo Hills và Wahlqvist (1994) thì có 2 dạng béo phì được phân biệt ở nam
và nữ là dạng béo hình trái táo ở nam và dạng béo hình trái lê ở nữ Béo hình trái táo là dạng béo có lượng mỡ tập trung chủ yếu ở phần bụng, đây là dạng béo có mối nguy hiểm đến sức khỏe rất cao Béo hình trái lê là dạng béo có lượng mỡ tập trung chủ yếu
Trang 21ở phần hông, đùi và mông, dạng béo này ít nguy hiểm đến sức khỏe hơn là dạng trái táo
Marks và Wahlqvist (1996) đã phân loại béo phì theo BMI như sau:
BMI nằm trong khoảng từ 20 đến 25: Bình thường
BMI nằm trong khoảng từ 25 đến 29: Thừa cân (Béo phì độ I)
BMI nằm trong khoảng từ 30 đến 40: Béo phì độ II
BMI từ 40 trở lên: Béo phì độ III
2.3.3 Tình trạng béo phì của trẻ em hiện nay
Tổ chức Y tế Thế giới năm 2004 ước tính có khoảng hơn 22 triệu trẻ em
dưới 5 tuổi bị thừa cân - béo phì và trên 17 triệu trong số đó tập trung chủ yếu tại các nước đang phát triển Trên thế giới có khoảng 10% trẻ em trong độ tuổi đến trường (từ
5 đến 17 tuổi) bị thừa cân, béo phì Ở Mỹ, tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ em và thiếu niên đã tăng từ 15% trong thập niên 70 lên hơn 25% vào thập niên 90 Tại Trung Quốc,
tỷ lệ trẻ em bị thừa cân – béo phì trong độ tuổi đến trường ở đô thị đã tăng từ 8% năm
1991 lên hơn 12% trong vòng 6 năm sau đó (Media Centre, 2004)
Tổ chức Y tế Thế giới ước tính trên thế giới năm 2005 có khoảng 1,6 tỉ
người trưởng thành bị thừa cân và có ít nhất 400 triệu người trưởng thành bị béo phì Năm 2005 trên thế giới có ít nhất 20 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân Dự đoán đến năm 2015 sẽ có khoảng 2,3 tỉ người trưởng thành bị thừa cân và hơn 700 triệu người bị béo phì (Media Centre, 2006)
Ở Châu Âu có 27% đàn ông và 38% phụ nữ được xếp vào diện béo phì Tại nhiều nước châu Âu, tỷ lệ người béo phì lên đến 50% và cứ trong 5 em nhỏ thì có 1
em béo phì Các chuyên gia cho rằng ở châu Âu, những người béo phì thường nằm trong nhóm người có thu nhập thấp, ít học, thích ăn nhiều thịt, đồ ăn béo và có đường Đây cũng là nhóm người có tỷ lệ mắc các bệnh như tiểu đường, tim, huyết áp, ung thư
và loãng xương cao nhất Mỗi năm, chi phí chữa bệnh béo phì ngốn từ 2% đến 8% ngân sách dành cho y tế của mỗi nước (Thông tấn xã Việt Nam, 2008) Trong khi đó ở những nước đang phát triển thì lại có xu hướng ngược lại, béo phì thường gặp ở những gia đình khá giả do quan niệm người béo là biểu hiện của sự giàu có và khỏe mạnh
Ở nước ta trong thời gian gần đây tỷ lệ trẻ thừa cân - béo phì có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ở các thành phố lớn
Trang 22Nghiên cứu của ThS BS Trần Thị Loan – phòng Dinh dưỡng cộng đồng thuộc Trung Tâm Dinh Dưỡng TP Hồ Chí Minh từ năm 1999 đến năm 2004 cho thấy trẻ dưới 5 tuổi có tỷ lệ thừa cân tăng từ 2,1% lên 6%, gấp 3 lần chỉ trong 5 năm; trẻ lớp
1 và 2 có tỷ lệ thừa cân từ 3,9% lên 6%, tăng gấp rưỡi trong vòng 1 năm Tình trạng thừa cân ở một số đối tượng trẻ em đã ngang bằng hoặc vượt số trẻ suy dinh dưỡng: lứa tuổi nhà trẻ - mẫu giáo có 7,8% thừa cân, học sinh cấp 1 có 9,4% thừa cân (Việt báo, 2005)
Theo khảo sát của Phạm Thị Ngân Hà và ctv (2006) thì hiện tượng gia tăng
tỷ lệ thừa cân ở trẻ dưới 5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh qua các năm càng rõ rệt (từ 2,2% vào năm 1999 tăng lên 6,3% vào năm 2005 và 10,6% vào năm 2006) Chiều hướng này rất đáng báo động, cần có can thiệp cộng đồng để kìm hãm sự gia tăng tỷ lệ thừa cân trong những năm tới
Hình 2.3 Đồ thị mô tả diễn tiến tình trạng TC - BP trẻ em dưới 5 tuổi tại TP Hồ Chí
Minh qua các năm 1999 – 2006
(Nguồn: Phạm Thị Ngân Hà và ctv, 2006)
Trang 23Kết quả thu được từ những khảo sát định kỳ tình trạng dinh dưỡng của trẻ
em dưới 5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh qua các năm cho thấy tỷ lệ thừa cân và béo phì có xu hướng gia tăng (từ 3,2% năm 2000 tăng đến 6,3% năm 2005 và tốc độ tăng trong 5 năm đó khoảng 0,62%/năm (Phạm Thị Ngân Hà và ctv, 2006)
Theo kết quả cuộc tổng điều tra toàn quốc của Viện Dinh Dưỡng năm 2007,
cứ 100 người trong độ tuổi trưởng thành thì có tới 17 người béo phì Đặc biệt tỷ lệ này
ở thành thị tới hơn 32%, cao gấp 3 lần ở nông thôn Với trẻ em, tại thành phố Hồ Chí Minh có 6% trẻ dưới 5 tuổi và đến 22,7% trẻ đang học cấp 1 bị thừa cân – béo phì (Vũ Thủy, 2007)
2.4 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em
2.4.1 Định nghĩa
Giáo Trình Dinh Dưỡng Phần 2 của Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia định nghĩa đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó Tình hình dinh dưỡng của một cộng đồng, một địa phương cũng như trên phạm vi cả nước
là một trong các nguồn dẫn liệu rất quan trọng để xây dựng và đánh giá các dự án về
Trang 24sức khỏe và phát triển kinh tế xã hội Để có các nguồn số liệu tin cậy, đánh giá tình trạng dinh dưỡng cần được tiến hành đúng phương pháp và theo một quy trình hợp lý
Có thể thu thập các thông tin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng bằng việc sử dụng phương pháp hồi cứu Đây là phương pháp xem xét một vấn đề trên cơ sở các sự việc đã diễn ra trong quá khứ (dịch tể học, chẩn đoán…) (Phạm Hùng Việt, 2005) Trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng, phương pháp hồi cứu được sử dụng để ghi lại các thông tin và số liệu về cân nặng và chiều cao của các đối tượng được khảo sát để tiến hành đánh giá dựa trên các thông tin và số liệu đó
2.4.2 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
Phương pháp lâm sàng: Các thăm khám thực thể, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng thiếu dinh dưỡng
Phương pháp nhân trắc học: Đánh giá các chỉ số phát triển ở trẻ em và các chỉ số
về thể chất có liên quan tới dinh dưỡng người lớn
Phương pháp hóa sinh: Các xét nghiệm dịch thể và các chất bài tiết để phát hiện mức bão hòa chất dinh dưỡng ở các mô cũng như các rối loạn chức phận
Đánh giá chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng Các thống kê y tế: Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong
Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe
(Bộ Y Tế - Viện Dinh Dưỡng, 1998)
2.4.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp nhân trắc học
Theo Giáo Trình Dinh Dưỡng Phần 2 của Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia, nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển Có thể khai thác, đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và đánh giá được mức độ suy dinh dưỡng Tuy nhiên phương pháp này cũng
có một vài nhược điểm như: không đánh giá được sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu
Có thể chia ra nhóm các kích thước nhân trắc sau đây:
Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng
Trang 25Các kích thước về độ dài, đặc biệt là chiều cao
Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein
2.4.4 Kỹ thuật thu thập số liệu
Tuổi: Muốn tính tuổi cần phải biết ngày tháng năm sinh của trẻ và ngày tháng năm điều tra Quy ước tính tuổi được Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra vào năm 1983 bao gồm quy ước tính tuổi theo tháng và quy ước tính tuổi theo năm như sau:
Quy ước tính tuổi theo tháng:
Kể từ khi mới sinh tới trước ngày tròn tháng (từ 1 đến 29 ngày hay còn gọi
là tháng thứ nhất) được coi là 1 tháng tuổi
Kể từ ngày tròn 1 tháng đến trước ngày tròn 2 tháng (từ 30 ngày đến 59 ngày hay còn gọi là tháng thứ hai) được coi là 2 tháng tuổi
Tương tự như vậy kể từ ngày tròn 11 tháng đến trước ngày tròn 12 tháng (tức là tháng thứ 12) được coi là 12 tháng tuổi
Tóm lại lấy ngày sinh làm mốc, trẻ đang ở tháng thứ bao nhiêu thì bấy nhiêu tháng tuổi
Quy ước tính tuổi theo năm:
Từ sơ sinh đến trước ngày đầy năm (tức là năm thứ nhất) gọi là 0 tuổi hay dưới 1 tuổi
Từ ngày tròn 1 năm đến trước ngày sinh nhật lần thứ hai (tức là năm thứ hai) gọi là 1 tuổi
Tóm lại kể từ ngày sinh nhật thứ bao nhiêu thì trẻ bắt đầu bấy nhiêu tuổi (tính theo năm)
Như vậy theo quy ước:
0 tuổi tức là năm thứ nhất, gồm các tháng tuổi từ 1 đến 12
1 tuổi tức là năm thứ hai, gồm các tháng tuổi từ 13 đến 24
2 tuổi tức là năm thứ ba, gồm các tháng tuổi từ 25 đến 36
3 tuổi tức là năm thứ tư, gồm các tháng tuổi từ 37 đến 48
4 tuổi tức là năm thứ năm, gồm các tháng tuổi từ 49 đến 60
5 tuổi tức là năm thứ sáu, gồm các tháng tuổi từ 61 đến 72
(Bộ Y Tế - Viện Dinh Dưỡng, 1998)
Trang 26Cân nặng: Sử dụng cân để đo Cân phải được chỉnh ở mức cân bằng (ở vị trí số 0) Mỗi buổi sáng nên kiểm tra cân với khối lượng 10 kg hoặc nhẹ hơn và điều chỉnh lại nếu cần thiết Khi cân trẻ thì nên cho cởi quần áo Nếu trẻ sợ và khóc thì chỉnh cân
về số 0 rồi cho người nhà của trẻ lên cân Sau đó cho người nhà của trẻ bế trẻ và cân cả hai rồi trừ đi cân nặng của người nhà để ra cân nặng thực tế của trẻ
Chiều cao: Đối với trẻ dưới 2 tuổi thì đo chiều dài nằm bằng cách: Tháo giày
và bế nhẹ nhàng lên bàn cân Giữ cho gót chân trẻ sát mặt phẳng nằm ngang và bàn chân thẳng đứng Mảnh gỗ chỉ số 0 của thước đo áp sát đỉnh đầu Người phụ sẽ giữ cho trẻ nhìn thẳng lên trần nhà Người đo sẽ giữ cho bàn chân của trẻ áp sát vào mảnh
gỗ di động và ấn tay lên đầu gối của trẻ Đọc kết quả chiều dài theo đơn vị cm với 1 số
lẻ Đối với trẻ trên 2 tuổi thì đo chiều cao đứng bằng cách: Cho trẻ tháo bỏ giày dép, đứng dựa lưng vào thước đo Người phụ phải đảm bảo cho trẻ nhìn thẳng ra phía trước theo hướng đường thẳng nằm ngang với gót chân, bắp chân, mông, vai và đầu phải tiếp xúc với thước đo Mảnh gỗ của thước sẽ được hạ xuống cho áp sát vào đỉnh đầu, đọc số đo theo đơn vị cm với 1 số lẻ (Hussein và ctv, 1995)
2.4.5 Nhận định tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi
Theo Hussein và ctv (1995) thì việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng phải dựa vào các số liệu nhân trắc của trẻ em dưới 5 tuổi vì đây chính là nhóm tuổi đại diện cho cộng đồng chung Số liệu cần thu thập là cân nặng, chiều cao, tuổi và giới tính
2.4.5.1 Các chỉ tiêu nhân trắc
Hiện nay người ta nhận định tình trạng dinh dưỡng trẻ em chủ yếu dựa vào
3 chỉ tiêu sau:
Chiều cao theo tuổi
Cân nặng theo chiều cao
Cân nặng theo tuổi
Chiều cao theo tuổi: Là một chỉ tiêu thích hợp để đánh giá tác động dài hạn gây nên tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ (suy dinh dưỡng từ quá khứ, trong một thời gian dài)
Cân nặng theo chiều cao: Là chỉ tiêu thích hợp để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cấp tính, đánh giá nhanh tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong một thời gian ngắn hạn khi trẻ dung nạp thực phẩm một cách không đầy đủ và cân bằng Đây là một chỉ
Trang 27tiêu nhân trắc quan trọng được rất nhiều người sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em
Cân nặng theo tuổi: Là một chỉ tiêu chung không mang giá trị đặc hiệu như
2 chỉ tiêu trên Nó không cho ta biết được suy dinh dưỡng từ trong quá khứ hay chỉ mới xảy ra gần đây (Onis, 2000)
Cân nặng theo chiều cao được giới thiệu như một chỉ tiêu chính để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng trong hầu hết các văn bản và tài liệu hướng dẫn được đưa ra bởi tổ chức Liên Hiệp Quốc, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ khác (Hussein và ctv, 1995)
Ngoài ra theo nghiên cứu của Myatt và ctv (2006) thì chu vi vòng cánh tay MUAC (Mid – Upper – Arm Circumference) cũng được xem là một chỉ tiêu phù hợp
để kiểm tra và nhận định tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em từ 6 đến 59 tháng trong cộng đồng
2.4.5.2 Quần thể tham chiếu
Muốn nhận định các kết quả về nhân trắc, cần phải chọn một quần thể tham chiếu Không nên coi quần thể tham chiếu là chuẩn, nghĩa là mục tiêu mong muốn, mà chỉ là cơ sở để đưa ra các nhận định thuận tiện cho các so sánh trong nước và quốc tế
Do ở trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệ sinh thì khả năng phát triển không khác nhau theo chủng tộc (Bộ Y Tế - Viện Dinh Dưỡng, 1998)
Sự lựa chọn quần thể tham chiếu để đánh giá tình trạng dinh dưỡng có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ trẻ em được nhận định là bị suy dinh dưỡng Quần thể tham chiếu của The US National Center for Health Statistics (NCHS)/WHO được đưa vào sử dụng từ những năm 1970 (Onis, 2000)
Vào năm 1983, Tổ chức Y tế Thế giới đã đề nghị lấy số liệu của NCHS Hoa
Kỳ làm quần thể tham chiếu và đề nghị này hiện nay đã được ứng dụng rộng rãi, mặc
dù cũng còn một số nước áp dụng các quần thể tham chiếu địa phương (Bộ Y Tế - Viện Dinh Dưỡng, 1998)
2.4.5.3 Giới hạn ngưỡng
Theo Hussein và ctv (1995), lấy cân nặng của mỗi đứa trẻ trong quần thể đang khảo sát so sánh với cân nặng của những đứa trẻ có cùng chiều cao trong quần
Trang 28thể tham chiếu, có sự phân biệt giữa trẻ trai và gái Tương ứng với mỗi chiều cao thì cân nặng của những đứa trẻ trong quần thể tham chiếu sẽ tuân theo phân bố chuẩn với đường biểu diễn là đường cong hình chuông và đỉnh của đường cong hay điểm giữa của đường cong chính là cân nặng trung bình
Hình 2.5 Đường cong phân bố của CN/CC của quần thể tham chiếu
(Nguồn: Hussein và ctv, 1995) Người ta sử dụng giới hạn ngưỡng theo các cách như sau:
Theo phân bố thống kê thường lấy âm 2 độ lệch chuẩn (-2SD) của số trung bình làm giới hạn ngưỡng Ví dụ khi có cân nặng của một trẻ A, ta có thể đối chiếu với
số liệu tham chiếu của tổ chức NCHS cho đứa trẻ cùng giới và tuổi Nếu cân nặng của trẻ A ở dưới ngưỡng -2SD của trẻ cùng giới và tuổi trong quần thể của NCHS (nghĩa
là cân nặng của trẻ A < cân nặng TB của những trẻ cùng giới và tuổi trong quần thể của NCHS trừ đi 2SD), thì trẻ A bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân Từ cách đó người ta tính được tỷ lệ trẻ có cân nặng ở dưới ngưỡng -2SD ở vùng khảo sát
Cách thứ hai là tính Z-score theo công thức:
Z-score = (Kích thước đo được – Số trung bình của quần thể tham chiếu)/Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu
Cách biểu hiện theo tỷ lệ phần trăm dưới giới hạn ngưỡng -2SD cho một kết luận tổng quát nhưng để đánh giá hiệu quả các can thiệp dinh dưỡng thì cách so sánh
số trung bình của Z-score tỏ ra thích hợp hơn (Bộ Y Tế - Viện Dinh Dưỡng, 1998)
Trang 292.5 Cách phân loại và nhận định các chỉ tiêu nhân trắc
Sử dụng các chỉ tiêu cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi
Suy dinh dưỡng có thể được đánh giá bằng cách so sánh các số đo cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) với
số liệu của quần thể tham chiếu của tổ chức NCHS (Froozani và ctv, 1999)
Theo Briend và Nestel (2005), nếu cân nặng theo tuổi của trẻ ở dưới -2SD của quần thể tham chiếu của NCHS (nghĩa là cân nặng theo tuổi của trẻ đang khảo sát
< cân nặng TB của những trẻ cùng tuổi cùng giới trong quần thể của NCHS trừ đi 2SD) thì trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân; nếu chiều cao theo tuổi của trẻ ở dưới -2SD của quần thể của NCHS (tức là chiều cao theo tuổi của trẻ đang khảo sát < chiều cao TB của những trẻ cùng tuổi cùng giới trong quần thể của NCHS trừ đi 2SD) thì trẻ
bị suy dinh dưỡng thể thấp còi; nếu cân nặng theo chiều cao của trẻ ở dưới -2SD của quần thể của NCHS (nghĩa là cân nặng theo chiều cao của trẻ đang khảo sát < cân nặng TB của những trẻ cùng giới có cùng chiều cao trong quần thể của NCHS trừ đi 2SD) thì trẻ bị suy dinh dưỡng thể gầy còm
2.5.1 Cân nặng theo tuổi
Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ
Cân nặng theo tuổi của mỗi đứa trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới trong quần thể tham chiếu quốc tế của tổ chức NCHS Tổ chức Y tế Thế giới kiến nghị lấy điểm ngưỡng ở dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) để coi là suy dinh dưỡng
Từ dưới -2SD đến -3SD: Suy dinh dưỡng độ I
Từ dưới -3SD đến -4SD: Suy dinh dưỡng độ II
Dưới -4SD: Suy dinh dưỡng độ III
Phân loại suy dinh dưỡng bằng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi có nhược điểm là không phân biệt được suy dinh dưỡng mới xảy ra hay kéo dài đã lâu
2.5.2 Chiều cao theo tuổi
Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ
Trang 30Chiều cao theo tuổi của mỗi đứa trẻ được so sánh với chiều cao của trẻ cùng tuổi, cùng giới trong quần thể tham chiếu của NCHS Thang phân loại dựa theo độ lệch chuẩn như sau:
Từ dưới -2SD đến -3SD: Suy dinh dưỡng độ I
Từ dưới -3SD đến -4SD: Suy dinh dưỡng độ II
Dưới -4SD: Suy dinh dưỡng độ III
Chỉ tiêu chiều cao theo tuổi thấp (dưới -2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc suy dinh dưỡng trong quá khứ làm cho đứa trẻ bị thấp còi
2.5.3 Cân nặng theo chiều cao
Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng thể gầy còm của trẻ
Cân nặng theo chiều cao thấp so với điểm ngưỡng là dưới -2SD của quần thể tham chiếu của NCHS phản ánh suy dinh dưỡng ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm cho đứa trẻ bị ngừng lên cân, sụt cân trở nên gầy còm Các điểm ngưỡng phân loại mức độ giống như 2 chỉ tiêu trên
Khi cả hai chỉ tiêu chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao đều thấp hơn điểm ngưỡng đề nghị, đứa trẻ bị suy dinh dưỡng thể phối hợp (mãn tính + cấp tính) vừa gầy còm vừa thấp còi
Trong các điều tra sàng lọc, giới hạn ngưỡng để coi là thừa cân – béo phì khi chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao trên +2SD (nghĩa là cân nặng theo chiều cao của trẻ đang khảo sát lớn hơn cân nặng TB của những trẻ cùng giới có cùng chiều cao trong quần thể của NCHS cộng với 2SD) Theo lý thuyết, để xác định là béo thì cần đo thêm
bề dày lớp mỡ dưới da Tuy vậy trong các điều tra cộng đồng, chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao là đủ để đánh giá vì đa số cá thể có cân nặng theo chiều cao cao đều béo (Bộ
Y Tế - Viện Dinh Dưỡng, 1998)
Trang 31
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát tình trạng dinh dưỡng của trẻ em tại một trường mầm non - mẫu giáo ở 5 nhóm tuổi (12 – 24 tháng, 25 – 36 tháng, 37 – 48 tháng, 49 – 60 tháng, 61 đến
72 tháng) tại 4 thời điểm (tháng 1, tháng 2, tháng 3, tháng 4 năm 2009)
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên toàn bộ trẻ em đang học tại trường mầm non
- mẫu giáo tư thục Hạnh Dung ở thành phố Hồ Chí Minh
3.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 1 năm 2009 đến hết tháng 4 năm 2009
3.4 Địa điểm nghiên cứu
Trường mầm non - mẫu giáo tư thục Hạnh Dung
42/3 Nguyễn Văn Trỗi, phường 15, Q Phú Nhuận, TP HCM
3.5 Phương pháp nghiên cứu
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em bằng phương pháp nhân trắc học trên
cơ sở hồi cứu
3.5.1 Các thông tin và số liệu cần thu thập
- Tổng số trẻ đang học ở trường, tình trạng vận động của trẻ
- Sỉ số trẻ của từng nhóm tuổi
- Số trẻ trai, trẻ gái đang học tại trường
- Họ tên, ngày tháng năm sinh của từng trẻ, giới tính của từng trẻ
- Ngày tháng năm thực hiện cân đo cân nặng và chiều cao của trẻ
- Chỉ số nhân trắc của từng trẻ trong tháng 1, tháng 2, tháng 3, tháng 4 năm 2009: Cân nặng của trẻ (tính bằng kilogam), chiều cao đứng của trẻ trên 24 tháng tuổi (tính bằng centimet), chiều dài nằm của trẻ dưới 24 tháng tuổi (tính bằng centimet)
Trang 32- Cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) của từng trẻ
3.5.2 Dụng cụ và vật liệu
- Sổ tay ghi chép thông tin
- Sổ theo dõi, sổ kế hoạch và công tác của nhà trường
- Các bảng kích thước nhân trắc tham khảo (Quần thể NCHS) của Bộ Y Tế - Viện Dinh Dưỡng trong quyển “Hướng dẫn Đánh giá tình hình dinh dưỡng và thực phẩm ở một cộng đồng” xuất bản trong khuôn khổ dự án FAO: GCP/VIE/018/FRA, gồm các bảng sau:
- Bảng cân nặng (kg) theo tuổi trên trẻ nam
- Bảng cân nặng (kg) theo tuổi trên trẻ nữ
- Bảng chiều dài nằm (cm) theo tuổi từ 0 đến 36 tháng trên trẻ nam
- Bảng chiều cao đứng (cm) theo tuổi từ 2 đến 18 tuổi trên nam
- Bảng chiều dài nằm (cm) theo tuổi từ 0 đến 36 tháng trên trẻ nữ
- Bảng chiều cao đứng (cm) theo tuổi từ 2 đến 18 tuổi trên nữ
- Bảng cân nặng (kg) theo chiều cao đứng (cm) trên trẻ nam
- Bảng cân nặng (kg) theo chiều cao đứng (cm) trên trẻ nữ
3.6 Phương thức tiến hành
3.6.1 Thu thập thông tin và số liệu
Đến trường mầm non - mẫu giáo Hạnh Dung vào mỗi tháng trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến hết tháng 4 năm 2009 để thu thập các thông tin và số liệu cần thiết Ghi chép các thông tin về sỉ số trẻ đang học tại trường, họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính của từng trẻ trong mỗi tháng từ sổ công tác của nhà trường
Ghi chép các số liệu về chiều cao, cân nặng của từng trẻ, số trẻ đi học đều đặn,
số trẻ nghỉ học của từng tháng từ sổ theo dõi của nhà trường
Ghi chép các thời điểm cân đo cân nặng và chiều cao của trẻ trong từng tháng
từ sổ kế hoạch của nhà trường, phỏng vấn và ghi chép lại về cách cân đo và các loại cân và thước đo mà nhà trường đã sử dụng
Ghi chép thông tin về chế độ vận động của trẻ tại trường bằng cách quan sát
Trang 333.6.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ đang học tại trường
Tại thời điểm cân đo chiều cao và cân nặng của trẻ trong mỗi tháng từ tháng
1 đến tháng 4 năm 2009, tiến hành đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo các bước như sau: Tính tuổi của trẻ (tính từ lúc mới sinh đến thời điểm tiến hành cân đo của tháng đang khảo sát), đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong tháng đó, tính
tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng và thừa cân – béo phì trong tháng đó, tính tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng và thừa cân – béo phì theo từng nhóm tuổi trong tháng đó
3.6.2.1 Tính tuổi của trẻ
Tính tuổi của trẻ theo quy ước tính tuổi theo tháng của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1983 dựa vào ngày sinh và ngày tháng năm tiến hành cân đo
Quy ước tính tuổi theo tháng:
Kể từ khi mới sinh tới trước ngày tròn tháng (từ 1 đến 29 ngày hay còn gọi là tháng thứ nhất) được coi là 1 tháng tuổi
Kể từ ngày tròn 1 tháng đến trước ngày tròn 2 tháng (từ 30 ngày đến 59 ngày hay còn gọi là tháng thứ hai) được coi là 2 tháng tuổi
Tương tự như vậy kể từ ngày tròn 11 tháng đến trước ngày tròn 12 tháng (tức là tháng thứ 12) được coi là 12 tháng tuổi
Lấy ngày sinh của trẻ làm mốc, tính đến thời điểm tiến hành cân đo, trẻ đang ở tháng thứ bao nhiêu thì bấy nhiêu tháng tuổi
3.6.2.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Dựa vào cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) của trẻ trong tháng đang khảo sát, đối chiếu với các bảng kích thước nhân trắc tham khảo (Quần thể tham chiếu của NCHS) để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ theo kiến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới
Đánh giá suy dinh dưỡng thể nhẹ cân: Lấy cân nặng của trẻ đang khảo sát đối chiếu với cân nặng của những trẻ cùng tuổi, cùng giới trong quần thể của NCHS trong bảng cân nặng (kg) theo tuổi trên trẻ nam và trẻ nữ Các điểm ngưỡng được trình bày trong Bảng 3.1
Trang 34Bảng 3.1 Bảng đánh giá tình trạng SDD thể nhẹ cân dựa vào CN/T
CN/T Tình trạng dinh dưỡng
-1SD ≤ CN/T ≤ +1SD (CNTB – 1SD ≤ CN/T ≤ CNTB + 1SD)
Bình thường
-2SD ≤ CN/T < -1SD Dọa suy -3SD ≤ CN/T < -2SD SDD độ I -4SD ≤ CN/T < -3SD SDD độ II
Đánh giá suy dinh dưỡng thể thấp còi: Lấy chiều cao của trẻ đang khảo sát đối chiếu với chiều cao của những trẻ cùng tuổi, cùng giới trong quần thể của NCHS trong các bảng chiều dài nằm (cm) theo tuổi từ 0 đến 36 tháng trên trẻ nam và trẻ nữ, bảng chiều cao đứng (cm) theo tuổi từ 2 đến 18 tuổi trên nam và nữ Các điểm ngưỡng được trình bày trong Bảng 3.2
Bảng 3.2 Bảng đánh giá tình trạng SDD thể thấp còi dựa vào CC/T
CC/T Tình trạng dinh dưỡng
-1SD ≤ CC/T ≤ +1SD (CCTB – 1SD ≤ CC/T ≤ CCTB + 1SD)
Bình thường
-2SD ≤ CC/T < -1SD Dọa suy -3SD ≤ CC/T < -2SD SDD độ I
- 4SD ≤ CC/T < -3SD SDD độ II
Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng thể gầy còm: Lấy cân nặng của trẻ đang khảo sát đối chiếu với cân nặng của những trẻ cùng giới có cùng chiều cao trong quần thể của NCHS trong bảng cân nặng (kg) theo chiều cao đứng trên trẻ nam và trẻ
nữ Các điểm ngưỡng được trình bày trong Bảng 3.3
Trang 35Bảng 3.3 Bảng đánh giá tình trạng SDD thể gầy còm dựa vào CN/CC
CN/CC Tình trạng dinh dưỡng
-1SD ≤ CN/CC ≤ +1SD (CNTB – 1SD ≤ CN/CC ≤ CNTB + 1SD)
Bình thường
-3SD ≤ CN/CC < -2SD SDD độ I -4SD ≤ CN/CC < -3SD SDD độ II
Đánh giá tình trạng thừa cân – béo phì (TC – BP): Lấy cân nặng của trẻ
đang khảo sát đối chiếu với cân nặng của những trẻ cùng giới có cùng chiều cao trong quần thể của NCHS trong bảng cân nặng (kg) theo chiều cao đứng trên trẻ nam và trẻ
nữ Các điểm ngưỡng được trình bày trong Bảng 3.4
Bảng 3.4 Bảng đánh giá tình trạng TC – BP dựa vào CN/CC
CN/CC Tình trạng dinh dưỡng
-1SD ≤ CN/CC ≤ +1SD (CNTB – 1SD ≤ CN/CC ≤ CNTB + 1SD)
Bình thường
+2SD < CN/CC ≤ +3SD Béo phì độ I +3SD < CN/CC ≤ +4SD Béo phì độ II