1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy hoạch xây dựng khu đô thị mới với tác động của hoạt động kinh tế đô thị trong điều kiện việt nam (tt)

27 177 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QH xây dựng hiện nay lại chưa coi trọng đúng mức hoạt động kinh tế đô thị, thể hiện ở phương pháp QH hiện nay mới chỉ nói đến các chỉ tiêu sử dụng đất m2/người, dân số cư trú, hoạt động

Trang 1

LÊ XUÂN TRƯỜNG

QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI VỚI TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐÔ THỊ TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quy hoạch vùng và đô thị

Mã số: 62.58.01.05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ

Hà Nội, năm 2018

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS TS PHẠM HÙNG CƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học 2: PGS TS TRẦN VĂN TẤN

Phản biện 1 : GS TS NGUYỄN TỐ LĂNG

Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia và Thư viện Trường Đại học Xây dựng

Trang 3

xã hội đơn vị ở tại các khu ĐTM Hà Nội hiện nay, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 7- 2010

2 Lê Xuân Trường (2013), Giải cứu thị trường bất động sản dưới góc nhìn QH đô thị, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam tháng 6/2013;

3 Lê Xuân Trường (2013) , Vai trò “Cấp công trình” trong hiệu quả đầu tư xây dựng, Tạp chí Xây dựng số tháng 7-2013;

4 Lê Xuân Trường (2013), Động lực quan trọng trong việc xây dựng, phát triển các khu ĐTM- Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 9/2013

5 Lê Xuân Trường (2014) , Nhà ở xã hội nhìn từ góc độ Kinh

tế đô thị, Tạp chí Kiến trúc số 8/2014

6 Lê Xuân Trường (2015) , Bản sắc và Kinh tế đô thị, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 1&2 /2015

7 Lê Xuân Trường (2015) , Thể chế QH xây dựng và quản lý

đô thị từ góc nhìn Kinh tế đô thị, Tạp chí Kiến trúc số 2/2015

8 Lê Xuân Trường (2016) , QH xây dựng khu ĐTM- Bài toán

cư trú và phát triển kinh tế đô thị, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 198.2016

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài

Việt Nam đang chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh

tế công nghiệp, hiện đại; song Quy hoạch (viết tắt là QH) đô thị vẫn mang nặng tính hành chính, quản lý, tập trung vào hoạt động cư trú; hiện nay chưa đáp ứng được các nhu cầu hiện tại và tương lai

Từ năm 2006 đến nay, Chính phủ, Quốc hội đã ban hành rất nhiều Luật, Nghị định, về xây dựng, phát triển khu đô thị mới (viết tắt là ĐTM) Thực tế này cho thấy cần phải đổi mới về QH, phát triển

đô thị và điều chỉnh mô hình phát triển khu ĐTM để phù hợp với định hướng mới, phù hợp với Luật, thể chế hiện hành

Theo thống kê của Bộ Xây dựng, hiện có gần 805 khu ĐTM (tính đến tháng 4/2017), Xu hướng mở rộng đô thị, xây dựng khu ĐTM ngày càng phát triển Tuy nhiên, các dự án hầu hết tập trung ở đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Bởi vậy việc phát triển các khu ĐTM tại các đô thị đặc biệt này có thể là hình mẫu cho sự phát triển đô thị cho các khu vực khác

Các khu ĐTM thời gian qua đã phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu nhà ở, mở rộng đô thị, Tuy nhiên thường được QH xây dựng giống nhau về tính chất, theo quy chuẩn: chỉ đáp ứng nhu cầu cư trú, kinh doanh bất động sản

QH xây dựng hiện nay lại chưa coi trọng đúng mức hoạt động kinh tế đô thị, thể hiện ở phương pháp QH hiện nay mới chỉ nói đến các chỉ tiêu sử dụng đất (m2/người), dân số cư trú, hoạt động cư trú ,chưa bám sát nhu cầu của thực tiễn, bị “treo”, gây lãng phí đất đai, gây quá tải hệ thống hạ tầng kỹ thuật, kém hiệu quả, bị bỏ hoang,…

Trên thế giới cũng xuất hiện nhiều khu đô thị "ma": đô thị không

có người ở như khu đô thị Hồ Meixi; thành phố Ordos, Nội Mông; đô thị phá sản như ở Detroit Mỹ,…Trong khi cũng có nhiều đô thị rất phát triển như: Singapo, Dubai,

Gần đây Hà Nội xuất hiện 2 khu ĐTM là Royal city và Time City với mô hình phát triển khác biệt với một số không gian như : Siêu thị ngầm lớn nhất Đông Nam Á, khu vui chơi giải trí tầm cỡ thế giới,… nhưng cũng gây sức ép, hệ luỵ tới môi trường, hạ tầng xung quanh như: tắc đường, ô nhiễm,

Trên thế giới đã xuất hiện rất nhiều khu như: Thung lũng Silicon, Science park, Business park, khu kinh tế cửa khẩu, khu kinh tế biển,…

Trang 5

hiện chưa được nghiên cứu, nhận diện, đánh giá một cách toàn diện, khoa học trong QH đô thị tại Việt Nam

Khi không nhận diện rõ hoạt động kinh tế đô thị; không tạo dựng không gian cho hoạt động kinh tế phát triển; dẫn tới QH khu ĐTM thường giống nhau, không tận dụng lợi thế vị trí, địa điểm và có thể gặp nhiều vấn đề như: không chớp được cơ hội phát triển hoặc không kiểm soát được sự phát triển (tự phát và phát triển quá đà) Chính vì vậy nghiên cứu QH xây dựng khu ĐTM với tác động của hoạt động kinh tế đô thị trong điều kiện Việt Nam là rất cấp thiết,

có tính ứng dụng thực tế cao và tạo tiền đề, cơ sở cho việc nghiên cứu

lý luận QH đô thị gắn với thực tiễn; thu hút, kiến tạo phát triển; giúp cho công tác nghiên cứu, đào tạo; đầu tư, thẩm định, phê duyệt và quản lý khu ĐTM hiệu quả hơn, bền vững hơn

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất lý luận, mô hình giải pháp, phương pháp QH xây dựng khu ĐTM gắn với hoạt động kinh tế đô thị Bổ sung, hoàn thiện cho các lý luận, phương pháp QH đã có nhằm xây dựng phát triển đô thị hiệu quả hơn

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đưa ra quan điểm, nguyên tắc phát triển; xác định các cấu trúc,

mô hình phát triển khu ĐTM gắn với hoạt động kinh tế đô thị; Đề xuất quy trình lập QH cho mô hình phát triển tối ưu và đề xuất một số chỉ tiêu quy định quản lý, điều chỉnh QH

4 Đối tượng nghiên cứu

QH xây dựng khu ĐTM tại các thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh,

Đà Nẵng Nghiên cứu hoạt động kinh tế đô thị quan hệ tương tác với khu ĐTM Nghiên cứu các mối quan hệ tương tác dưới góc nhìn, đánh giá tổng hợp

5 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: Nghiên cứu đến 2030 Không gian: Chủ yếu tại Hà Nội, tham khảo 1 số khu tại thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng

6 Phương pháp nghiên cứu

Tiếp cận, nghiên cứu góc nhìn toàn diện, bền vững; sử dụng đồng thời nhiều phương pháp nghiên cứu: Phương pháp khảo sát thực địa: Phương pháp bản đồ: Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp ma trận Phương pháp thống kê so sánh: Phương pháp dự báo:Phương pháp chuyên gia

7 Các đề xuất mới của luận án

Trang 6

7.1 Khái niệm Khu ĐTM gắn với hoạt động kinh tế đô thị: là khu ĐTM có bổ sung thêm không gian giành cho hoạt động kinh tế đô thị phát triển nhằm đáp ứng không chỉ nhu cầu nội tại (hoạt động cư trú mới, chỗ ở mới) mà còn đáp ứng các nhu cầu từ bên ngoài vào khu ĐTM (tạo thu nhập và việc làm mới)

7.2 Các đề xuất mới Quan điểm, Nguyên tắc, Mô hình giải pháp QH Khu ĐTM gắn với hoạt động kinh tế đô thị:

Đề tài đề xuất: Các quan điểm mới; Các nguyên tắc; Đề xuất các dạng cấu trúc, mô hình phát triển khu ĐTM gắn với hoạt động kinh tế

đô thị ;

Đề xuất quy trình lập QH và một số chỉ tiêu, quy định quản lý

QH gắn với hoạt động kinh tế đô thị cho một mô hình tối ưu

8 Giới thiệu bố cục của luận án:

Luận án gồm 150 trang (không tính phần phụ lục) được bố cục gồm các phần:

Mở đầu (06 trang): Lý do lựa chọn đề tài; mục đích, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và các đề xuất mới của luận

án

Nội dung luận án (138 trang) gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan; Chương 2: Cơ sở khoa học và thực tiễn; Chương 3: Giải pháp

và bàn luận kết quả nghiên cứu

Kết luận và kiến nghị (04 trang)

Danh mục công trình của tác giả và Tài liệu tham khảo (02 trang) Trong đó có 94 hình vẽ và bảng biểu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI VỚI TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KINH

TẾ ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm Khu ĐTM và Đơn vị ở

- Khái niệm Khu ĐTM quy định trong Quy chế khu ĐTM (Ban hành kèm theo Nghị định số 02/2006/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ) Đơn vị ở (được quy định trong QCXDVN 01:2008/BXD Quy chuẩn QH xây dựng) Như vậy khu ĐTM hiện không có giới hạn chặn trên (>= 20 ha) và đang được hiểu là đất ở nằm trong phần đất dân dụng của đô thị

1.1.2 Khái niệm liên quan đến phát triển đô thị

Theo Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị

1.1.3 Khái niệm Khu kinh tế

Trang 7

Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014

Khu đô thị kinh tế (trong luận án gọi tắt là khu kinh tế) là Khu ĐTM có chức năng chủ yếu phát triển hoạt động kinh tế, Khu đô thị chủ yếu là hoạt động kinh tế phát triển

1.1.4 Khái niệm Kinh tế đô thị

+ Kinh tế đô thị (theo lý thuyết kinh tế học, kinh tế đô thị Arthur O’Sullivan, ) bao gồm 2 thành phần chính là: hoạt động kinh tế nội tại; hoạt động kinh tế phát triển

Chính phủ Việt Nam thể chế hóa, nhận diện hệ thống hoạt động kinh tế: gồm các 21 nhóm ngành, 642 hoạt động kinh tế (Quyết định

số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ) 1.2 Sự tác động từ thế giới tới quá trình QH đô thị tại Việt Nam

1.2.1 Bối cảnh chung nền kinh tế thế giới và Việt Nam Kinh tế thế giới có nhiều biến động, xu hướng toàn cầu hóa phát triển, công nghệ phát triển, hội nhập hóa kéo theo sự liên thông, không biên giới, mở ra thị trường ngày càng rộng lớn nhưng tính cạnh tranh cũng ngày càng cao, Việc tạo ra không gian, nắm lấy cơ hội phát triển, đáp ứng các nhu cầu thị trường mới phải nhanh hơn, bền vững hơn nếu không sẽ bị tụt hậu ngày càng xa hơn, trì trệ hơn

Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, hiện Việt Nam đang trong giai đoạn ‘tái cấu trúc’ toàn diện nên các cơ sở lý thuyết và thực tiễn về QH đô thị Việt Nam cũng biến động, thay đổi theo

1.2.2 Đặc điểm quá trình đô thị hóa tại Việt Nam

Tính đến tháng 4/2017, toàn quốc có 805 đô thị (tăng thêm 08 đô thị loại V so với cuối năm 2016) Tỷ lệ đô thị hóa ước đạt 37% Đô thị hóa Việt Nam có đặc điểm bao trùm khu vực nông thôn, chuyển từ thị trường nông thôn sang thị trường đô thị, thị trường quốc gia, toàn cầu dẫn tới có sự chuyển dịch về hoạt động cư trú, hoạt động kinh tế, cơ cấu lao động, và cần các không gian mới để phát triển

1.3 Sự hình thành và đặc điểm của các khu ĐTM tại Việt Nam

1.3.1 Khái quát tình hình phát triển đô thị tại Việt Nam từ

1986 đến nay

Đô thị Việt Nam trước năm 1986 phát triển chậm và chịu ảnh hưởng của nền kinh tế tập trung bao cấp và chỉ do nhà nước đầu tư, xây dựng, quản lý

Từ năm 1986, Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa- đổi mới kinh tế và phát triển theo hướng đa

Trang 8

dạng, cho phép nhiều thành phần kinh tế đầu tư phát triển đô thị và nhà ở; đang tiếp tục phát triển

Từ năm 2011 đến 2015, các đô thị đã phát triển chậm lại do suy giảm kinh tế toàn cầu, Việt Nam và thị trường bất động sản đóng băng, giá trị bất động sản giảm sút, nhiều khu ĐTM xây xong không

có người về ở, bị bỏ hoang, hiệu quả kém,

Từ 2015 tới nay: kinh tế bắt đầu hồi phục và tiếp tục phát triển, 1.3.2 Tình hình phát triển khu ĐTM tại Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Xây dựng, hiện có gần 805 khu ĐTM (tính đến tháng 4/2017), trong đó có: 15 khu ĐTM quy mô hơn 1.000 ha, 94 khu ĐTM quy mô từ 200 ha đến 1.000 ha Tuy nhiên, các dự án hầu hết tập trung ở đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Xu hướng mở rộng đô thị, xây dựng khu ĐTM ngày càng phát triển Các khu ĐTM hiện được QH như phần mở rộng phần đất ở của đô thị được quy định trong QH chung, QH phân khu

1.4 Thực trạng khu ĐTM với tác động của hoạt động kinh tế

đô thị trong giai đoạn công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam

Có rất nhiều đô thị mới hình thành và phát triển đa dạng trong nhiều năm qua tại Hà Nội và trên các tỉnh thành khắp Việt Nam Có nhiều đô thị mới phát triển tương đối thành công nhưng bên cạnh đó cũng có những khu ĐTM chỉ tồn tại trên giấy, trên quyết định hoặc treo hoặc hiện đang dở dang, chưa hoàn thiện

1.4.1 Phân loại Khu ĐTM

Các khu ĐTM hiện nay chưa được phân cấp, phân loại cụ thể theo từng vùng, từng địa phương, trong khi các đô thị lõi lại được phân cấp, phân loại để dễ dàng quản lý hành chính Do hầu hết các

QH khu ĐTM chỉ đáp ứng nhu cầu cư trú, kinh doanh bất động sản (ở + dịch vụ ở) nên làm cho các khu ĐTM giống nhau và chưa có phân loại phù hợp trong khi nếu xem xét dựa trên hoạt động kinh tế đô thị khác nhau thì mô hình khu ĐTM phải khác nhau

1.4.2 Cấu trúc khu ĐTM

Hầu hết các khu ĐTM hiện nay có cấu trúc giống nhau và lấy cấu trúc đơn vị ở làm cơ bản; cũng chưa quan tâm tới vị trí tương quan của khu ĐTM với trung tâm đô thị lõi, với hoạt động kinh tế đô thị lõi nên thường QH khu ĐTM thường giống nhau ở tất cả các vị trí: chủ yếu theo dân số cư trú, tính toán m2/người, phân bố cơ cấu sản phẩm giống nhau, quản lý theo mật độ xây dựng, Cấu trúc khu ĐTM hiện nay chưa có không gian riêng dành cho hoạt động kinh tế phát triển

Trang 9

1.4.3 Mô hình phát triển Khu ĐTM

Mô hình phát triển khu ĐTM phụ thuộc và thể hiện qua cấu trúc

QH khu ĐTM Tuy nhiên do cấu trúc QH khu ĐTM (thành phần bên trong) hầu như là lấy đơn vị ở làm chuẩn nên sự tác động qua lại giữa hoạt động kinh tế và hoạt động cư trú chưa được tính tới và khó đánh giá được Do không phân loại, đánh giá các khu ĐTM gắn với vị trí, địa điểm, kết nối thị trường xung quanh (chủ yếu do không đánh giá quan hệ hoạt động kinh tế trong khu ĐTM so với bên ngoài) dẫn tới việc lựa chọn mô hình phát triển khu ĐTM trở lên khó khăn, không có định hướng phát triển rõ ràng và thiếu hiệu quả

1.4.4 Quy trình lập QH xây dựng khu ĐTM

Hình B1.10: Quy trình lập QH khu ĐTM hiện nay (chưa tính theo

hoạt động kinh tế) 1.4.5 Đánh giá Hoạt động kinh tế đô thị hiện nay

Hoạt động kinh tế phát triển trong QH chưa được nhận diện, quy định rõ ràng do đó QH khu ĐTM không để dành hay bố trí không gian riêng cho nó Khi không nhận diện, đánh giá đúng hoạt động kinh tế

đô thị thì có thể bỏ lỡ cơ hội phát triển hoặc không kiểm soát được sự phát triển: phát triển quá mức gây ảnh hưởng, hệ lụy tới các hoạt động khác; tăng chi phí xã hội và các vấn đề đô thị…

1.4.6 Tác động môi trường trong QH xây dựng khu ĐTM hiện nay

Trong thực tế khi các hoạt động kinh tế phát triển đô thị tự động xâm nhập vào khu ĐTM, dẫn tới việc điều chỉnh QH mới chỉ đáp ứng

về mặt chức năng (thành chức năng hỗn hợp là chính) đã bị động, bỏ quên hoặc chưa quan tâm đúng mức tới các tác động về mặt môi trường của các hoạt động này Như vậy cần phải có cách nhìn mới về

Trang 10

vấn đề môi trường: không chỉ tạo môi trường sinh thái phù hợp cho môi trường ở và sinh hoạt của người dân mà còn phải chủ động quản

lý, kiểm soát một cách phù hợp các hoạt động kinh tế trong khu ĐTM (môi trường hoạt động kinh tế đô thị)

1.4.7 Quản lý, khai thác và cơ chế chính sách phát triển khu ĐTM

Việc quản lý khai thác khu ĐTM hiện nay mới chú trọng tới quản lý khu vực đất ở, đáp ứng hoạt động cư trú và khu vực hạ tầng

kỹ thuật Quản lý hiện nay chưa tạo ra cơ hội, sự thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển một cách cân bằng, bền vững Phải điều chỉnh QH nhiều lần vì thực tế các công trình phát triển không giống bản vẽ QH được duyệt Việc quản lý chưa đáp ứng hài hòa lợi ích của cả 3 chủ thể là nhà nước, nhà đầu tư và cộng đồng người dân đô thị

Trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa, Việt Nam hội nhập và nền kinh tế số (Cách mạng công nghệ 4.0), công nghệ cao phát triển;

sự đan xen, lồng ghép các ngành nghề, liên ngành trở nên phổ quát, đặc biệt là liên ngành giữa xây dựng và kinh tế; giữa QH xây dựng đô thị và hoạt động kinh tế đô thị ngày càng rõ nét thì hiện nay cơ chế chính sách QH xây dựng khu ĐTM chỉ đơn thuần như QH khu ở, đơn

vị ở trở nên lạc hậu Rất cần thiết phải có cơ chế chính sách mới tích hợp giữa QH xây dựng đô thị, khu ĐTM với ngành kinh tế, với hoạt động kinh tế đô thị (bên cạnh các ngành khác); đồng thời tạo nền tảng, điều kiện, thúc đẩy QH xây dựng khu ĐTM ngày càng hiệu quả hơn, khả thi hơn (nhằm hướng dẫn, cụ thể hóa Luật QH mà Quốc hội mới thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2019)

1.5 Kết quả khảo sát các khu ĐTM tại Việt Nam

Dựa trên phương pháp khảo sát thực tế và đánh giá hơn 200 khu ĐTM tại 3 thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng có thể thấy các khu ĐTM hầu như không bố trí không gian riêng cho hoạt động kinh

tế phát triển (ngoại trừ Phú Mỹ Hưng, Royal city và Time city) dẫn đến bị biến động không gian do các hoạt động kinh tế phát triển xâm nhập tự phát làm phá vỡ QH, bị treo, bị bỏ hoang,

Khi có thêm các không gian hoạt động kinh tế phát triển đáp ứng các nhu cầu lớn hơn khu ĐTM đã tạo thêm việc làm mới tại chỗ, tạo thêm sức hút cho khu ĐTM

1.6 Tổng quan về QH xây dựng khu ĐTM với tác động của hoạt động kinh tế đô thị trên thế giới

Singapo và các nước phát triển coi hoạt động kinh tế nhiều thành phần là tự nhiên nên QH khu ĐTM chuyển sang QH hành động,

Trang 11

gắn với hoạt động kinh tế, hoạt động văn hóa, và không chỉ dựa vào yếu tố dân số cư trú Trên thế giới đã giải quyết các vấn đề của các khu ĐTM trên quan điểm tổng hợp các hoạt động đô thị như hoạt động cư trú, hoạt động kinh tế, hoạt động văn hóa, hoạt động khác, trong nhiều trường hợp hoạt động kinh tế đóng vai trò chủ đạo như cụm kinh tế Dubai, business park, science park,

1.7 Các công trình nghiên cứu có liên quan

Hiện chưa có nghiên cứu nào liên quan tới vấn đề QH khu ĐTM gắn với hoạt động kinh tế đô thị tại Việt Nam Nghiên cứu gần nhất có tính tới sự liên ngành giữa Nhà ở và giá trị kinh tế là của TS Hoàng Hữu Phê Tuy nhiên lý thuyết này chưa làm rõ, chưa nghiên cứu việc thu nhập của cư dân đô thị từ đâu, mối quan hệ giữa nhà ở với việc làm, giữa cư trú và kinh tế…và tác động tới các vấn đề khác như môi trường, kinh tế, văn hóa, xã hội, quản lý,…trong quá trình

QH xây dựng đô thị tại Việt Nam

1.8 Các vấn đề thực tiễn đặt ra, cần nghiên cứu

Trong khi các khu ĐTM hiện hầu như đều thiếu không gian cho hoạt động kinh tế phát triển và hiện đang chưa phân biệt rõ ràng, còn trộn lẫn hoạt động kinh tế nội tại với hoạt động kinh tế phát triển Các khu ĐTM hiện nay đang gặp nhiều vấn đề: bị bỏ hoang, QH “treo”, thiếu hiệu quả,

Lịch sử đã minh chứng: cùng với sự phát triển của công nghệ, toàn cầu hóa, hiện đại hóa thì việc gắn kết hoạt động kinh tế và hoạt động cư trú mang tính tất yếu trong quá trình phát triển đô thị

Sự thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển đang là nhiệm vụ sống còn, cạnh tranh để thu hút, hấp thụ một cách có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài vào đô thị và đáp ứng các nhu cầu thực tiễn

Bởi vậy việc đổi mới toàn diện quan điểm, lý luận QH các khu ĐTM từ chỉ phục vụ nhu cầu cư trú sang phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế đô thị nhằm lập, quản lý QH xây dựng khu ĐTM có hiệu quả hơn và bền vững hơn trở nên cấp thiết

Đề tài tập trung nghiên cứu: các Khu ĐTM; Nhận diện hoạt động kinh tế đô thị và mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế đô thị với không gian, với các hoạt động khác của khu ĐTM; Thay đổi tư duy lập QH; Đề xuất quan điểm, nguyên tắc, phân loại, cấu trúc, các dạng mô hình phát triển và quy trình lập QH, quản lý khu ĐTM gắn với hoạt động kinh tế đô thị; Làm luận cứ, cơ sở cho việc lập, quản

lý, điều chỉnh và khai thác QH khu ĐTM phù hợp với nền kinh tế thị trường

Trang 12

Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI VỚI TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐÔ THỊ

2.1 Cơ sở Lý luận quy hoạch xây dựng đô thị và Hoạt động kinh tế đô thị

2.1.1 Cơ sở lý thuyết quy hoạch và phát triển đô thị

Lý thuyết về kinh tế đô thị và QH đã có nhiều trên thế giới, đan xen lẫn nhau nhưng chưa được hiểu đúng, chưa áp dụng vào QH khu ĐTM ở Việt Nam một cách thích hợp và gắn với thực tiễn từng vùng từng địa phương và từng thời kỳ khác nhau

2.1.1.1 Lý thuyết đơn vị ở- neighborhood conmunity

2.1.1.2 Lý thuyết về đô thị công nghiệp của Tony Ganier

2.1.1.3 Lý thuyết QH hiện đại: “Chủ nghĩa đô thị mới- New Urbanism”

2.1.1.4 Lý thuyết tầng bậc và phi tầng bậc trong cấu trúc đô thị 2.1.1.5 Lý thuyết phát triển hỗn hợp, Mixed –use Development 2.1.1.6 Lý thuyết về đô thị đáng sống (đô thị sống tốt- Liveable city) và một số lý thuyết khác

2.1.2 Các lý thuyết kinh tế đô thị

2.1.2.1 Lý thuyết QH “ Bussiness Park”

2.1.2.2 Lý thuyết về cụm kinh tế- đặc khu kinh tế

2.1.2.3 Lý thuyết về Kinh tế đô thị - Urban economic

2.1.2.4 Lý thuyết 3 và 4 thành phần kinh tế

Trong giai đoạn tới, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực Khai thác tài nguyên (khai khoáng, nông nghiệp) giảm xuống còn 10% trong cơ cấu lao động chung của các ngành kinh tế; Sản xuất (công nghiệp, xây dựng) giảm xuống còn 20%; Lao động trong lĩnh vực Dịch vụ và Liên kết số sẽ chiếm 70% Các hoạt động dịch vụ, liên kết các thành phần kinh tế, kinh tế số xảy ra chủ yếu trong khu vực đô thị, trong khu ĐTM

2.2 Cơ sở pháp lý

Các xu hướng đổi mới thể chế do nhiệm kỳ mới, gia nhập WTO, CPTPP, dẫn đến có thể xuất hiện nhiều cơ chế, chính sách mới của nhà nước về QH, xây dựng trong thời gian tới

2.2.1 Cơ sở pháp lý chung

2.2.2 Cơ sở pháp lý về phát triển kinh tế đô thị

2.2.3 Cơ sở pháp lý về đô thị và khu đô thi mới

Sự nghiên cứu mang tính liên ngành, lồng ghép giữa QH không gian đô thị và QH chuyên ngành (có QH hoạt động kinh tế đô thị) là

Trang 13

khó khăn, chịu sự tác động, chi phối của rất nhiều văn bản Luật, nhiều yếu tố, nhưng đã trở lên cấp thiết và phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển

2.3 Quan hệ tương tác giữa QH Đô thị với Hoạt động kinh tế

đô thị

2.3.1 Hoạt động kinh tế đô thị tại Việt Nam

2.3.1.1 Nhận diện, vai trò, tính chất, quy mô của hoạt động kinh tế

Hoạt động kinh tế đô thị với vai trò là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trong khu vực

đô thị Hoạt động kinh tế đô thị bao gồm: Hoạt động kinh tế nội tại, Hoạt động kinh tế phát triển và Hoạt động kinh tế hỗn hợp

2.3.1.2 Các chủ thể tham gia

Hình 2.9: Các chủ thể tác động tới Kinh tế đô thị và QH khu ĐTM

2.3.1.3 Phân bố, phân loại các hoạt động kinh tế đô thị Việt Nam áp dụng Hệ thống ngành kinh tế theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ, gồm các 21 nhóm ngành, 642 hoạt động kinh tế, cụ thể có thể chia theo nhóm nằm trong và ngoài khu vực dân dụng đô thị (các hoạt động kinh tế không gây ô nhiễm môi trường,không cần cách ly mới được phép nằm trong khu vực dân dụng của đô thị) như sau:

Bảng 2.11: Các nhóm hoạt động kinh tế trong và ngoài khu vực dân dụng

của đô thị

- Nhóm A: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

- Nhóm B: Khai khoáng

- Nhóm C: Công nghiệp chế biến

- Nhóm D: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng,

hơi nước và điều hòa không khí

- Nhóm E: Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác

Nằm ngoài khu vực dân dụng

đô thị

Ngày đăng: 08/08/2018, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w