BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ NGUYỄN SƠN NAM NGHIÊN CỨU BIẾN TÍNH VẬT LIỆU NANO SILICA, SỬ DỤNG LÀM PHA PHÂN TÁN CHẾ TẠO MỠ BÔI TRƠN CHỐNG ĂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ
NGUYỄN SƠN NAM
NGHIÊN CỨU BIẾN TÍNH VẬT LIỆU NANO SILICA,
SỬ DỤNG LÀM PHA PHÂN TÁN CHẾ TẠO MỠ BÔI TRƠN
CHỐNG ĂN MÒN KIM LOẠI
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
Mã số: 9440114
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ
BỘ QUỐC PHÒNG
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS LÊ THANH SƠN
2 TS LÊ QUANG TUẤN
Phản biện 1:
GS.TS ĐINH THỊ NGỌ
Đại học Bách khoa Hà Nội
Phản biện 2:
PGS TS ĐINH VĂN KHA
Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam
Phản biện 3:
PGS.TS CHU CHIẾN HỮU
Viện Khoa học và Công nghệ quân sự
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại Viện KH&CN quân sự vào hồi … ngày … tháng … năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Viện Khoa học và Công nghệ quân sự
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Mỡ bôi trơn, chống ăn mòn kim loại có những tính năng đặc biệt,
mỡ vừa có tính chất của chất rắn, vừa có tính chất của chất lỏng, đồng thời lại có những tính chất đặc thù riêng Vì vậy, mỡ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau
Hiện nay, các chất làm đặc sử dụng để chế tạo mỡ chủ yếu là các chất gốc xà phòng Các loại mỡ này đều có ưu điểm nhất định và tỏ ra hiệu quả trong một số trường hợp cụ thể Tuy vậy, chúng cũng có một
số hạn chế nhất định như: tính chống ăn mòn chưa cao, tính ổn định nhiệt kém, không chịu được nước và độ ẩm cao, thời gian bảo quản ngắn, không ổn định thể keo Để khắc phục các hạn chế trên, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu một số chất làm đặc có nguồn gốc vô cơ nhằm cải thiện các tính năng sử dụng của mỡ, trong đó có silica Tuy nhiên, việc nghiên cứu và ứng dụng silica trong chế tạo mỡ hiện vẫn có một số hạn chế như: kích thước hạt silica lớn nên ảnh hưởng đến chất lượng mỡ; bề mặt silica có các nhóm chức phân cực, ưa nước (-OH), các nhóm này làm cho khả năng tương hợp của silica với môi trường phân tán dầu
là rất thấp Với một số hạn chế trên, việc nghiên cứu và ứng dụng silica trong chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại chưa có nhiều công
bố Để khắc phục một số hạn chế trong chế tạo mỡ với chất làm đặc silica, từ đó chế tạo một hệ mỡ có các tính năng ưu việt, luận án lựa
chọn “Nghiên cứu biến tính vật liệu nano silica, sử dụng làm pha phân
tán chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại” làm nội dung nghiên
cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận án được thực hiện nhằm mục tiêu biến tính nano silica chế tạo
từ tro trấu, sử dụng làm pha phân tán chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn
Trang 4mòn kim loại Đây là loại mỡ có khả năng đáp ứng được các yêu cầu thực tế, ứng dụng trong điều kiện khí hậu Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực quân sự
3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu, lựa chọn phương pháp chế tạo silica có kích thước nano mét
- Nghiên cứu biến tính làm tăng khả năng ưa dầu của nano silica
- Nghiên cứu hình thái cấu trúc của nano silica trước và sau khi biến tính
- Nghiên cứu, lựa chọn môi trường phân tán để chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phụ gia trong mỡ
- Nghiên cứu phương pháp chế tạo, khảo sát các tính chất và đánh giá sơ bộ khả năng ứng dụng của mỡ trong bôi trơn, chống ăn mòn kim loại trên cơ sở silica biến tính
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Silica có kích thước nano mét và mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại trên cơ sở chất làm đặc nano silica biến Phạm vi nghiên cứu: Chế tạo nano silica, các tính chất của nano silica trước và sau khi biến tính, chế tạo và các tính chất sử của mỡ trên cơ sở chất làm đặc silica Các nghiên cứu được tiến hành với quy
mô phòng thí nghiệm
5 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được chia làm ba chương gồm: Chương 1, Tổng quan; Chương 2, Thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu, Chương 3, Kết quả và thảo luận
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Nano silica và nano silica biến tính hữu cơ
1.1.1 Nano silica
Vật liệu nano có kích thước rất nhỏ, thường nằm trong khoảng từ
Trang 51 ÷ 100 nm và có những tính chất thú vị khác hẳn so với vật liệu khối thường thấy Sự thay đổi tính chất một cách đặc biệt ở kích thước nano mét so với vật liệu khối thông thường được cho là do hai yếu tố, đó là hiệu ứng bề mặt và kích thước tới hạn của vật liệu Vật liệu nano có nhiều loại, một trong số đó là nano silica Đây là một loại vật liệu hiện được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vì chúng có nhiều ứng dụng trong đời sống và khoa học Trên thực tế, silica có thể tồn tại dưới các dạng khác nhau như: gel khí (Aerogel), khói (Fumed), vô định hình (Amorphous) và tinh thể (Crystalline) Tuy vậy, luận án chỉ tập trung nghiên cứu silica có kích thước nano mét và ở dạng vô định hình Đặc điểm chính về cấu trúc của nano silica ở dạng vô định hình là có cấu trúc mạng lưới 3 chiều và các nhóm silanol (≡Si-OH) được tạo ra trên
bề mặt nano silica Do có nhóm silanol trên bề mặt nên các hạt silica
có khả năng hút ẩm và dễ dàng kết tụ ngay ở nhiệt độ phòng
Silica có thể được chế tạo từ rất nhiều các phương pháp khác nhau như: phương pháp phun khói, phương pháp kết tủa và phương pháp sol-gel Tuy nhiên hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã và đang nghiên cứu chế tạo silica với quy mô công nghiệp và giá thành rẻ
Đó là chế tạo silica từ các phế phẩm nông nghiệp, trong đó có vỏ trấu
1.1.2 Nano silica biến tính hữu cơ
Vật liệu silica có giá trị sử dụng cao trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tuy vậy, trên bề mặt silica có các nhóm -OH phân cực, ưa nước Vì vậy, để nâng cao khả năng tương hợp của silica với các loại vật liệu như: sơn, cao su tổng hợp, nhựa, chất kết dính, chất bịt kín, mỡ bôi trơn hoặc vật liệu cách nhiệt, thì bề mặt hạt silica cần phải được biến tính sao cho bề mặt hạt chuyển từ dạng ưa nước sang kị nước Về nguyên tắc, cần phải hữu cơ hóa bề mặt silica bằng cách thay thế các nhóm hiđroxyl bằng các nhóm hiđrocacbon Hiện có nhiều phương
Trang 6pháp để biến tính silica, trong đó biến tính bằng phương pháp hóa học
tỏ ra khá hiệu quả Trong nội dung nghiên cứu này, để sử dụng silica làm chất làm đặc chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại, đã biến tính silica chế tạo từ tro trấu bằng các tác nhân là nhựa epoxy,
hexametylđisilazan (HMDS) và n-butanol
1.2 Mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
1.2.1 Khái quát chung về mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại 1.2.2 Pha phân tán của mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
Như đã biết, mỡ bôi trơn được tạo ra bằng công nghệ dựa trên phương pháp làm đặc các loại dầu bôi trơn thể lỏng nhờ các chất làm đặc riêng biệt theo các công đoạn và các điều kiện kỹ thuật nhất định Trong mỡ bôi trơn thì dầu nhờn làm nhiệm vụ bôi trơn, còn chất làm đặc có chức năng giữ dầu lỏng ở trạng thái bán rắn trong mỡ và chống chảy Chất làm đặc có thể là bất cứ một loại vật liệu rắn nào đó mà khi phối liệu với các loại dầu thích hợp, trong những điều kiện xác định, chúng sẽ tạo ra một khung cấu trúc đồng nhất dạng rắn hoặc bán rắn Hiện nay, các chất làm đặc cho mỡ bôi trơn rất đa dạng, chúng được chia làm hai loại chính là mỡ xà phòng và mỡ không xà phòng Các loại mỡ xà phòng kim loại được chia thành các loại như: xà phòng đơn,
xà phòng hỗn hợp hoặc phức Các chất không xà phòng được chia thành hai loại là vô cơ và hữu cơ Muốn có được các loại mỡ có những tính năng đặc biệt như khả năng làm việc trong phạm vi nhiệt độ rộng, tải trọng lớn, sử dụng lâu dài ít phải thay thế, trơ về mặt hóa học, khó
bị oxi hóa bởi môi trường thì các chất làm đặc thể vô cơ như khoáng sét, silica tỏ ra khá hiệu quả
Hiện nay, trên thế giới việc nghiên cứu sản xuất mỡ với chất làm đặc silica đã và đang được một số công ty nghiên cứu sản xuất và đưa vào sử dụng Tuy nhiên ở Việt Nam, đây vẫn là một loại chất làm đặc
Trang 7cho mỡ ít được biết đến cũng như nghiên cứu sử dụng Các loại mỡ trên cơ sở chất làm đặc silica chủ yếu được nhập khẩu bởi các công ty kinh doanh dầu mỡ
1.2.3 Môi trường phân tán mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
Môi trường phân tán chiếm hàm lượng chính trong mỡ, nó quyết định chủ yếu đến khả năng chống ma sát, nhiệt độ làm việc, tính chống xước, mài mòn, ăn mòn, của mỡ Tùy thuộc vào chất làm đặc, lượng dầu nhờn có thể thay đổi trong khoảng từ (70 ÷ 90) % khối lượng Tỉ
lệ dầu nhờn cao hay thấp, tính chất tốt hay xấu có ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất của mỡ nên việc chọn dầu để sản xuất mỡ nhờn là một việc rất quan trọng Một số loại dầu được sử dụng làm pha phân tán cho
mỡ như: dầu khoáng (có thành phần cơ bản gồm các nhóm hiđrocacbon naphten - parafin và nhóm hiđrocacbon thơm - hiđrocacbon naphten-thơm) và dầu tổng hợp Dầu tổng hợp có một số ưu điểm nhất định, tuy nhiên do chi phí cao nên ít được sử dụng
1.2.4 Phụ gia cho mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
Để cải thiện một số tính chất của mỡ cần phải cho thêm vào mỡ một số loại phụ gia Trên thực tế, phụ gia là một hoặc tổ hợp các chất hóa học được thêm vào nhằm cải thiện tính năng cho mỡ Phụ gia hoạt động theo những tương tác vật lý hoặc hóa học và chúng có thể tác động tương hỗ hoặc đối kháng Khi thêm phụ gia vào để cải thiện một số tính chất của mỡ (tăng khả năng bảo vệ, chống ăn mòn kim loại, tăng khả năng chịu mài mòn, chống xước, ) cần phải tính toán sao cho phù hợp với các thành phần của mỡ Nếu các phụ gia này không tan trong môi trường dầu hoặc có thể sẽ làm giảm tác dụng của các loại phụ gia khác thì sẽ không thể sử dụng được Vì vậy, khi cho thêm phụ gia cần phải khảo sát tác dụng tương hỗ qua lại giữa các phụ gia với nhau, sự tương tác giữa phụ gia và môi trường
Trang 8phân tán cũng như khảo sát các cơ chế hoạt động của chúng Từ đó,
đề xuất loại phụ gia tối ưu nhất, tương ứng với từng loại mỡ và từng nhu cầu sử dụng
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loại phụ gia cho mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại Với các loại mỡ có thành phần là dầu khoáng và chất làm đặc silica, hiện chưa
có nhiều công trình nghiên cứu về phụ gia Qua nghiên cứu, tổng hợp
và đánh giá, với mục đích chế tạo hệ mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại trên cơ sở chất làm đặc silica, mỡ có khả năng làm việc ở nhiệt độ cao và môi trường khắc nghiệt, luận án đã lựa chọn dầu khoáng làm môi trường phân tán và một số phụ gia tương hợp như: phụ gia giảm mài mòn, chống xước (tricrezyl photphat), phụ gia chống oxi hóa (điphenylamin) và phụ gia bảo vệ, chống ăn mòn kim loại P89 (sản phẩm nitro hóa, oxi hóa dầu khoáng có khối lượng phân tử trung bình)
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thực nghiệp
2.1.1 Nguyên liệu, hóa chất và thiết bị
- Nguyên liệu, hóa chất
Silica sử dụng làm chất làm đặc có kích thước (20 ÷ 30) nm, diện tích bề mặt riêng trên 100 m2/g Các chất dùng để biến tính silica bao
gồm nhựa epoxy E44, hexametylđisilazan (HMDS) và n-butanol Dầu
khoáng sử dụng để chế tạo mỡ là dầu SN 500 Phụ gia cho mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại là tricrezyl photphat, P89 và điphenylamin
Trang 9tích 3000 ml Các dụng cụ thủy tinh như bình cầu 3 cổ, cốc, ống đong, bình định mức các loại, sinh hàn hồi lưu, phễu lọc hút chân không
2.1.2 Phương pháp thực nghiệm
Trong quá trình chế tạo, biến tính nano silica và chế tạo mỡ, đã sử
dụng các phương pháp cơ bản như: phương pháp phối trộn (trộn nóng, nguội), nghiền cán, bay hơi, đun nóng, hồi lưu,…
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp phân tích hoá lí hiện đại như: FT-IR, SEM, TEM, TG/DTA, BET, đo góc tiếp xúc động
- Các phương pháp đo, khảo sát và đánh giá sản phẩm
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Chế tạo và xác định các đặc trưng của nano silica và nano silica biến tính hữu cơ
3.1.1 Chế tạo và xác định đặc trưng của nano silica
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chế tạo nano silica từ vỏ trấu:
Để chế tạo silica từ vỏ trấu, cần phải xử lý sơ bộ vỏ trấu, sau đó cho vào lò nung và nung trong một khoảng thời gian và nhiệt độ nhất định Nhiệt độ nung và thời gian nung là hai yếu tố quan trọng trong quy trình chế tạo silica Chính vì vậy, trong phần này, sẽ tập trung vào nghiên cứu đánh giá sự ảnh hưởng của nhiệt độ nung và thời gian nung
đến hiệu suất chế tạo silica
Kết quả thực nghiệm cho thấy, ở cùng một nhiệt độ khi thời gian nung tăng lên thì hiệu quả chế tạo silica tăng lên Nhiệt độ nung cũng
có ảnh hưởng tương tự, trong cùng một khoảng thời gian, nếu nhiệt độ nung tăng thì lượng silica chế tạo được cũng tăng Tuy nhiên ở nhiệt
độ thấp (400 oC) và thời gian ngắn (4 giờ) thì sự ảnh hưởng của các yếu tố này là không lớn lắm Mặt khác, khi tiếp tục tăng nhiệt độ nung
Trang 10lên trên 600 oC và thời gian nung lên trên 6 giờ thì khối lượng silica thu được gần như không có sự thay đổi
Như vậy, về mặt năng lượng và khối lượng silica thu được, đã lựa chọn phương án nung trấu ở nhiệt độ 500 oC trong thời gian 5 giờ Với nhiệt độ và thời gian nung như vậy, lượng silica thu được đạt 11,53 % trên lượng vỏ trấu đem nung
- Đặc trưng của nano silica chế tạo từ vỏ trấu: Khi nghiên cứu hình thái cấu trúc bề mặt hạt silica chế tạo từ vỏ trấu, đã tiến hành chụp ảnh hiển vi điện tử quét của mẫu silica Kết quả chụp vật liệu cho thấy, mẫu silica có kích thước hạt trong khoảng từ (20 ÷ 30) nm và tương đối đồng đều (Hình 3.1) Các hạt silica có xu hướng kết tụ lại với nhau
và tạo thành các tập hợp hạt có kích thước lớn hơn Hiện tượng kết tụ này có thể được giải thích là do sự hình thành các liên kết hiđro giữa các nhóm -OH trên bề mặt hạt silica (Hình 3.2)
Hình 3.1 Ảnh chụp SEM của silica chế tạo từ vỏ trấu
Hình 3.2: Cấu trúc bề mặt hạt silica
Trang 11Từ giả thiết trên hình 3.2 có thể thấy, bề mặt silica ngoài liên kết chính siloxan (≡Si-O-Si≡) còn có các nhóm hiđroxyl (-OH) Các nhóm -OH trên bề mặt silica có thể tồn tại ở một số trạng thái khác nhau như: dạng đơn (isolated silanol, ≡Si-OH), dạng kép (geminal silanol,
=Si(OH)2) và dạng kế cận Ngoài các nhóm -OH còn có một lượng nhất định các phân tử nước bị hấp phụ Tiến hành chụp TEM các mẫu
silica cũng cho kết quả tương tự Tuy nhiên khi xem xét kĩ hơn về cấu
trúc có thể thấy, quá trình ghép các nhóm hạt kết tụ tạo thành các ô mạng và hình thành cấu trúc mạng không gian 3 chiều của silica Đặc điểm của cấu trúc này là ở giữa các tập hợp hạt là các lỗ rỗng, dạng không gian ba chiều Qua ảnh chụp SEM, TEM, với cấu trúc hạt silica như vậy, có thể sử dụng sản phẩm này cho quá trình chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
Từ kết quả giản đồ hấp phụ - khử hấp phụ N2 của vật liệu silica chế tạo được cho thấy, vật liệu có đường kính mao quản tương đối lớn, trung bình là 31,3497 nm, diện tích bề mặt riêng đo được là 119 m2/g
Hình 3.7: Mô hình cấu trúc mỡ bôi trơn
Việc xác định đặc điểm hình thái cấu trúc của vật liệu silica chế tạo
từ vỏ trấu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Thông qua các kết quả đo được về silica, có thể giải thích được cơ chế làm đặc của silica, từ đó lựa chọn môi trường phân tán, lựa chọn tỉ lệ chất làm đặc phù hợp, lựa
Trang 12chọn phụ gia tương hợp, lựa chọn quy trình chế tạo mỡ,… Thật vậy,
để giải thích về cơ chế làm đặc của silica trong môi trường dầu khoáng, cần phải căn cứ vào hình thái cấu trúc của silica và quá trình hình thành gel giữa silica và dầu Khi phân tán silica vào trong môi trường dầu, các phần tử dầu sẽ chui vào trong các mạng lưới không gian của silica Khi đó, các mạng lưới silica sẽ chứa đầy các hạt dầu Hỗn hợp gồm dầu và silica sẽ tạo gel và hình thành mỡ (hình 3.7)
3.1.2 Các đặc trưng của nano silica biến tính hữu cơ
3.1.2.1 Silica/nhựa epoxy
Ảnh SEM của mẫu silica sau khi biến tính bằng nhựa epoxy cho thấy, các hạt silica có hình cầu và kích thước không thay đổi nhiều (khoảng 40 ÷ 60 nm) Kết quả xác định phổ hồng ngoại chuyển hóa fourier của silica chưa biến tính có một số pic đặc trưng như: pic ở số sóng 3468 cm-1, đặc trưng cho dao động liên kết của các nhóm -OH tự do; pic 1101 cm-1 là dao động bất đối xứng của Si-O-Si; pic ở 966 cm-1
là của Si-O trong nhóm silanol; pic ở 810 cm-1 là dao động đối xứng của Si-O-Si trong mạng silica; pic 1652 cm-1 là của các phân tử nước hấp phụ vật lý bao quanh silica Sau biến tính bằng nhựa epoxy, đã xuất hiện các đỉnh pic mới của silica biến tính so với silica chưa biến tính
Đó là các đỉnh ở các vị trí số sóng 2863 cm-1 và 2965 cm-1, đặc trưng cho dao động hóa trị của nhóm -CH2- trong mạch cacbon của epoxy Các dao động của vòng thơm xuất hiện ở 1509 cm-1 và 806 cm-1 liên quan đến liên kết đôi C=C trong nhân thơm Từ đó có thể dự đoán sự hình thành liên kết giữa nano silica và nhựa epoxy, xem hình 3.11 Kết quả đo góc tiếp xúc DCA của silica là 45,69o và silica biến tính epoxy là 93,83o Căn cứ vào góc thấm ướt tăng từ góc tiếp xúc nhỏ lên góc tiếp xúc lớn, chứng tỏ rằng bề mặt của silica đã thay đổi từ ưa nước sang kị nước Kết quả phân tích nhiệt khối lượng đã khẳng định thêm về
Trang 13sự hiện diện của các nhóm epoxy trên bề mặt silica biến tính khi xuất hiện một pic tỏa nhiệt rộng trong khoảng nhiệt độ từ 374 oC đến 509 oC
Hình 3.11: Dự đoán cấu tạo của silica sau khi biến tính với nhựa epoxy 3.1.2.2 Silica/HMDS
Kết quả chụp SEM trên vật liệu cho thấy, mẫu silica sau khi biến tính bằng HMDS có kích thước hạt khoảng (40 ÷ 50) nm Trên phổ hồng ngoại chuyển hóa fourier FT-IR của nano silica biến tính bằng HMDS
có các pic quan trọng ở các vị trí số sóng 2845 cm-1 và 2949 cm-1, đặc trưng cho dao động của nhóm -CH3 Pic ở 879 cm-1 liên quan đến dao động của liên kết Si-C Từ kết quả của phổ hồng ngoại có thể dự đoán
sự hình thành liên kết giữa nano silica và HMDS như sau:
2 ≡Si-OH + (CH3)3Si-NH-Si(CH3)3 → 2 ≡Si-O-Si(CH3)3 + NH3
Kết quả đo góc tiếp xúc DCA của silica/HMDS là 100,01o Như vậy có thể kết luận là bề mặt của silica đã được thay đổi từ ưa nước sang kị nước Để đánh giá sự thay đổi bề mặt của nano silica sau khi biến tính còn căn cứ trên kết quả đo phân tích nhiệt khối lượng Trên đường phân tích nhiệt vi sai thấy xuất hiện một pic tỏa nhiệt ở 435 oC, pic này được cho là do phản ứng cháy của các nhóm -Si(CH3)3 Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy, có thể sử dụng silica/HMDS
để chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
3.1.2.3 Silica/n-butanol