Chính vì vậy việc nghiên cứu tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến nợ công là điều cần thiết để kiểm soát được tình hình nợ công tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, trong đó có Vi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
NGUYỄN THIỆN PHƯỚC
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ CÔNG
TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
NGUYỄN THIỆN PHƯỚC
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ CÔNG
TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC HÙNG
Tp Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, bài luận văn: “Các yếu tố tác động đến nợ công tại các nước Đông Nam Á” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, có thể Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ côngtrình nghiên cứu nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 01 năm 2018
Học viên
Nguyễn Thiện Phước
Trang 4MỤC LỤC
TRANG BÌA
TRANG LÓT BÌA
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH, BẢNG
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN VĂN 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 2
1.6 Kết cấu của luận văn 3
1.7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 4
2.1 Tổng quan lý thuyết về nợ công 4
2.1.1.Khái niệm nợ công 4
2.1.2 Phân loại nợ công 6
2.1.3 Các đặc điểm của nợ công 7
2.2.Tác động của nợ công đến nền kinh tế 8
2.3 Các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến nợ công 11
2.3.1 Thâm hụt ngân sách 11
2.3.2 Lãi suất thực tế 12
2.3.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 13
2.3.4 Tỷ giá hối đoái 14
Trang 52.4 Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan 14
Kết luận chương 2 16
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Mô hình nghiên cứu và các giả thiết 17
3.1.1 Mô hình nghiên cứu 17
3.1.2 Giả thiết nghiên cứu 19
3.2 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 22
Kết luận chương 3 22
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VỀ NỢ CÔNG TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 23
4.1 Thực trạng về nợ công tại các nước Đông Nam Á 23
4.2 Thực trạng về các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến nợ công tại các nước Đông Nam Á 25
4.2.1 Thâm hụt ngân sách 25
4.2.2 Lãi suất thực tế 28
4.2.3 Tốc độ tăng trưởng GDP 30
4.2.4 Tỷ giá hối đoái 32
Kết luận chương 4 33
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
5.1 Xử lý thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 34
5.2 Kết quả ước lượng hồi quy mô hình nghiên cứu 35
5.2.1 Kết quả ước lượng 35
5.2.2.Kết quả kiểm định các giả định của mô hình hồi quy 36
5.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 40
Kết luận chương 5 42
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 43
6.1 Kết luận 43
Trang 66.2 Khuyến nghị chính sách quản lý nợ công cho các nước Đông Nam Á 45
6.2.1 Về ngân sách nhà nước 45
6.2.3 Về tăng trưởng kinh tế 47
6.2.4 Về tỷ giá hối đoái 48
6.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu mới 48
6.3.1 Hạn chế của luận văn 48
6.3.2 Hướng nghiên cứu mới 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
OLS Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất
FEM Mô hình tác động cố định
REM Mô hình tác động ngẫu nhiên
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
WB Ngân hàng thế giới
Trang 8DANH MỤC HÌNH, BẢNG
Bảng 4.1 Thống kê mô tả về tình hình nợ công giai đoạn 2007 – 2016 của các nước
Đông Nam Á 23
Hình 4.1 Biểu đồ giá trị trung bình của nợ công giai đoạn 2007 – 2016 của các nước Đông Nam Á 25
Bảng 4.2 Thống kê mô tả về tình hình thâm hụt/thăng dư ngân sáchgiai đoạn 2007 – 2016 của các nước Đông Nam Á 25
Hình 4.2 Biểu đồ giá trị trung bình thâm hụt/thặng dự ngân sáchgiai đoạn 2007 – 2016 của các nước Đông Nam Á 26
Bảng 4.3 Thống kê mô tả về lãi suất thực tế giai đoạn 2007 – 2016 của các nước Đông Nam Á 27
Hình 4.3 Biểu đồ giá trị trung bình của lãi suất thực tếgiai đoạn 2007 – 2016 của các nước Đông Nam Á 28
Bảng 4.4 Thống kê mô tả về tốc độ tăng trưởng GDPgiai đoạn 2007 – 2016 của các nước Đông Nam Á 29
Hình 4.4 Biểu đồ giá trị trung bìnhtăng trưởng GDPgiai đoạn 2007 – 2016 của các nước Đông Nam Á 30
Hình 4.5 Biểu đồ tỷ giá hối đoái giai đoạn 2007 – 2016 của các nước Đông Nam Á 31 Bảng 5.1 Thống kế mô tả các biến của mô hình nghiên cứu 33
Bảng 5.2 Tổng hợp kết quả hồi quymô hình nghiên cứu 34
Hình 5.1 Biểu đồ Histogram về phân phối chuẩn của phần dư 38
Hình 5.2 Biểu đồ P – P Plot về phân phối chuẩn của phần dư 39
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN VĂN
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn nhất định trong quá trình quản lý xã hội và nền kinh tế, Nhà nước có lúc cần huy động nhiều hơn nguồn lực từ trong và ngoài nước Nói cách khác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu, Nhà nước phải quyết định vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó - thường được gọi là nợ công Nếu sự vay mượn của Nhà nước hay chính quyền địa phương trở nên quá mức dẫn đến làm gia tăng các khoản nợ công
Đông Nam Á là một khu vực chiến lược về kinh tế và chính trị, trên con đường biển giao thương giữa Đông và Tây, nằm ở phía Đông Nam của châu Á Theo các khái niệm của Liên hiệp quốc và các tổ chức thế giới, Đông Nam Á gồm có 11 quốc gia, trong đó có 10 quốc gia là thành viên chính thức của Tổ chức ASEAN và quốc gia còn lại là quan sát viên của tổ chức này (Đông Timor) Tại Đông Nam Á, hai vấn đề cơ lớn
mà các nước đang quan tâm chính là thị trường tài chính và tình hình nợ công đang hết sức phức tạp Ngay cả khi các đồng tiền trong khu vực đang lên giá, thị trường chứng khoán theo đà tăng và đầu tư nước ngoài quay trở lại, khối lượng lớn các khoản nợ còn lại vẫn là mối đe dọa tới sự ổn định của nền kinh tế Tình trạng hiện tại của các thị trường mới nổi trong khu vực gần giống với mối đe dọa “original sin” - thuật ngữ được
2 nhà kinh tế học Barry Eichengreen và Ricardo Hausmann tạo nên sau khủng hoảng khu vực năm 1997-1998, được dùng để chỉ những khó khăn mà các quốc gia đang phát triển phải đối mặt khi các khoản nợ công tăng lên nhanh chóng
Chính vì vậy việc nghiên cứu tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến nợ công
là điều cần thiết để kiểm soát được tình hình nợ công tại các nước thuộc khu vực Đông
Nam Á, trong đó có Việt Nam Do đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “CÁC YẾU
Trang 10TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ CÔNG TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á” để nghiên
cứu nhằm xác định sự tác động trong ngắn hạn và dài hạn của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến nợ công để giúp các Chính phủ tìm được các giải pháp tối ưu nhằm ổn định cân đối tài khóa, giảm thâm hụt ngân sách nhà nước, cơ cấu lại nợ công từ đó tạo ảnh hưởng tích cực đến tình hình nợ công tại các nước Đông Nam Á trong tương lai
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến nợ công tại các nước Đông Nam Á như thế nào?
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến
nợ công tại các nước Đông Nam Á Dựa trên nền tảng lý thuyết và kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần ổn định tình hình nợ công tại các nước Đông Nam Á trong tương lai
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
❖ Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến nợ công
❖ Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian ngiên cứu: 10 nước Đông Nam Á ngoại trừ Đông Timor.
- Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu được thu thập trong thời gian 10 năm từ 2007 đến 2016
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến nợ công tại các nước Đông Nam Á, tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với ba phương pháp ước lượng là: mô hình OLS thô (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model) Sau đó, để đảm bảo
sự phù hợp của mô hình với dữ liệu nghiên cứu, các kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian, kiểm định Hausman sẽ được thực hiện để chọn ra phương pháp ước lượng phù hợp
Trang 11Bên cạnh đó tác giả cũng thực hiện kiểm định các giả định hồi quy như sau để đảm bảo kết quả ước lượng của mô hình hồi quy là hiệu quả và đáng tin cậy: hiện tượng đa cộng tuyến; hiện tượng phương sai sai số thay đổi; hiện tượng tự tương quan; Phần dư có phân phối chuẩn Ngoài ra, nếu mô hình vi phạm các giả định hồi quy, tác
giả sẽ dùng phương pháp ước lượng FGLS để khắc phục (Judge, Hill et al, 1988)
1.6 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 06 chương như sau:
- Chương 1: Giới thiệu luận văn
- Chương 2: Tổng quan lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu liên quan đến dề tài
- Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Thực trạng về nợ công tại các nước Đông Nam Á
- Chương 5: Kết quả nghiên cứu
- Chương 6: Kết luận và khuyến nghị
1.7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đóng góp về lý luận: Luận văn góp phần hệ thống các lý thuyết về nợ công và sự
tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến nợ công Bên cạnh đó, thông qua việc lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, tác giả sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu gồm các biến được kế thừa từ những nghiên cứu trước và có sự điều chỉnh phù hợp với thực trạng vấn đề nợ công tại các nước Đông Nam Á nhằm ước lượng tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến tình hình nợ công tại các nước này
- Đóng góp về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là cơ sở khoa học
giúp các nhà hoạch định đưa ra những chính sách phù hợp tác động đến các yếu tố kinh
tế vĩ mô trong từng giai đoạn khác nhau để có sự ảnh hưởng tích cực đến tình hình nợ công, góp phần ổn định và phát triển kinh tế một cách bền vững tại các nước này trong thời gian tới
Trang 12CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO
CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.1 Tổng quan lý thuyết về nợ công
2.1.1.Khái niệm nợ công
Các nhà nghiên cứu về kinh tế trên thế giới có các định nghĩa khác nhau về nợ công tùy thuộc vào mục đích, phạm vi sử dụng và thể chế chính trị của mỗi nước Có thể lược khảo một số khái niệm phổ biến thường được sử dụng như sau:
- Theo định nghĩa của World Bank, nợ công bao gồm các khoản nợ do Chính phủ vay và các khoản nợ được bảo lãnh bởi Chính phủ, bao gồm nợ của Chính phủ Trung ương và nợ của chính quyền địa phương Trong đó:
+ Nợ của Chính phủ: bao gồm nợ trong nước, nợ nước ngoài của Chính phủ và các đại lý của Chính phủ; các tỉnh, thành phố hoặc các tổ chức chính trị trực thuộc Chính phủ và các đại lý của các tổ chức này, các doanh nghiệp Nhà nước
+ Nợ được Chính phủ bảo lãnh: gồm những khoản nợ trong nước và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân do Chính phủ đứng ra bảo lãnh
- Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của khu vực công bao gồm khu vực tài chính công và khu vực phi tài chính công Trong đó:
+ Khu vực tài chính công gồm: Các tổ chức tiền tệ (Ngân hàng trung ương, các tổ chức tín dụng Nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụng không cho vay
mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển)
+ Khu vực phi tài chính công gồm: Chính phủ, tỉnh thành phố, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính Nhà nước
- Theo Luật quản lý nợ công Việt Nam (2009), nợ công được chia thành 3 loại gồm:
nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Trong đó: + Nợ của chính phủ: có nguồn gốc từ những khoản nợ trong và ngoài nước được vay bởi Chính phủ hoặc các khoản nợ khác được Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ
Trang 13quyền phát hành theo quy định của pháp luật Các khoản nợ do NHNN vay để thực thi chính sách tiền tệ trong từng giai đoạn không nằm trong nợ Chính phủ
+ Nợ được bảo lãnh bởi Chính phủ: là khoản nợ vay trong và ngoài nước của các công ty, tổ chức được Chính phủ bảo lãnh
+ Nợ được vay bởi chính quyền địa phương: là khoản vay được ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành bởi Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Nếu xét theo khái niệm này, cần lưu ý là không tồn tại sự đồng nhất giữa: “Nợ chính phủ” và “nợ công” Nợ chính phủ trong trường hợp này chỉ là một trong ba yếu tố cấu thành nên nợ công
Đối với cả ba khái niệm trên, tuy mỗi khái niệm dựa trên những cách tiếp cận khác nhau và thích hợp để sử dụng trong những hoàn cảnh cụ thể nhưng một cách chung nhất, có thể hiểu nợ công (nợ chính phủ hay nợ quốc gia) là tổng số tiền đi vay của chính phủ từ trung ương đến địa phương Mục đích của các khoản vay này là để tài trợ cho các khoản chi tiêu ngân sách thâm hụt, do đó có thể hiểu nợ chính phủ là các khoản cộng dồn của thâm hụt ngân sách tại một thời điểm nhất định Thông thường để phản ánh giá trị các khoản nợ chính phủ, người ta thường sử dụng tỷ lệ phần trăm giữa nợ chính phủ và tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Khái niệm này làm rõ một số vấn đề về nợ công như sau:
- Đồng nhất nợ chính phủ với nợ công và nợ quốc gia
- Khái niệm này được áp dụng tại phần lớn các quốc gia trên thế giới, những nước đi theo hướng kinh tế thị trường thực chất, không tồn tại thành phần doanh nghiệp đặt dưới sự lãnh đạo kiểm soát trực tiếp của Nhà nước
- Thâm hụt Ngân sách Nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách Nhà nước, là tình trạng khi tổng chi tiêu của Ngân sách Nhà nước vượt quá các khoản thu trong cân đối (thu "không mang tính hoàn trả") của Ngân sách Nhà nước
Trang 142.1.2 Phân loại nợ công
Dựa vào các phương thức phân loại khác nhau, nợ công có thể được chia thành nhiều loại Những phương thức phân loại nợ công chủ yếu dựa vào nguồn vay nợ, chủ thể nợ và kỳ hạn trả nợ cụ thể như sau:
- Phân loại theo nguồn gốc địa lý:
+ Nợ trong nước: gồm các khoản vay từ nhà đầu tư trong nước
+ Nợ nước ngoài: gồm các khoản vay từ nhà đầu tư nước ngoài
Việc phân loại nợ theo nguồn gốc địa lý có tác dụng trong công tác quản lý nợ, giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế Ngoài ra, việc phân chia thành các loại nợ trong và ngoài nước giúp kiểm soát và ổn định giá trị nội tệ của Việt Nam, vì các khoản nợ nước ngoài được vay chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi Tuy nhiên, người ta thường chỉ chú ý đến các khoản nợ nước ngoài mà lại bỏ qua các khoản nợ từ các khoản vay nhà đầu tư trong nước khi tiến hành xem xét giá trị nợ công
ở các nước, bao gồm Việt Nam Điều này có thể dẫn đến kết quả thống kê không chính xác cho giá trị nợ công của một quốc gia, gây ra tình trạng đánh giá sai lầm về sự an toàn của nợ công để các nhà quản lý có thể hoạch định các chính sách ứng phó kịp thời
và hợp lý
- Phân loại theo chủ thể nợ:
Nợ công phân loại theo tiêu chí chủ thể nợ gồm ba loại khác nhau theo quy định trong Luật quản lý nợ công Việt Nam (2009) đã được trình bày tại mục 2.1.1
- Phân loại theo kỳ hạn nợ:
+ Nợ ngắn hạn: các khoản nợ có thời hạn từ 1 năm trở xuống
+ Nợ trung hạn: các khoản nợ có thời hạn từ 1 năm đến 10 năm
+ Nợ dài hạn: các khoản nợ có thời hạn từ trên 10 năm
- Phân loại theo hình thức vay nợ:
+ Vay nợ trực tiếp: Chính phủ của các quốc gia có thể phát hành trái phiếu để tiến hành vay nợ gián tiếp từ các tổ chức, cá nhân để bù đáp cho các khoản bội chi dẫn đến
Trang 15thâm hụt ngân sách Trái phiếu chính phủ bao gồm nhiều loại như trái phiếu, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng tổ quốc và trái phiếu công trình Chính phủ phát hành trái phiếu bằng nội tệ được xem như không có rủi ro tín dụng do Chính phủ có thể tăng thuế hoặc gia tăng lượng cung tiền bằng cách in tiền nhằm trả đầy đủ nợ và lãi vay khi đến hạn thanh toán Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ tự do chuyển đổi) là có rủi ro tín dụng do lượng
dự trữ ngoại hối của Chính phủ có thể không đủ để trả gốc và lãi vay, bên cạnh đó việc phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ còn có rủi ro về tỷ giá hối đoái do sự biến động giá trị ngoại tệ của khoản nợ đó
+ Vay nợ gián tiếp: Hình thức vay nợ trực tiếp của Chính phủ có được thực hiện thông qua việc vay vốn từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia như: Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á,… Các khoản vay nợ này được các tổ chức trên tài trợ dưới một số hình thức phổ biến như: Vay viện trợ phát triển chính thức, vay có tính chất thương mại hay vay ưu đãi Thông thường, các hình thức trực tiếp này được Chính phủ của các nước có xếp hạng tín dụng thấp sử dụng vì những nước này khó có khả năng vay nợ bằng phát hành trái phiếu chính phủ Trong số các hình thức vay trực tiếp đã nêu, nguồn vay viện trợ phát triển chính thức là nguồn vốn bổ sung đều đặn nhất và có tầm quan trọng lớn đối với các nước đang phát triển Nguồn vay này có thể nhận được dưới các thể thức: viện trợ song phương, viện trợ đa phương, viện trợ không hoàn lại hay viện trợ của tổ chức phi chính phủ
2.1.3 Các đặc điểm của nợ công
Các nhà nghiên cứu, các quốc gia hay tổ chức quốc tế có những cách định nghĩa cũng như phân loại nợ công khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu… Nhưng nhìn chung, nợ công có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Có tính chất ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước Nhà nước có hai trách nhiệm trả nợ trực tiếp và gián tiếp Trách nhiệm trực tiếp của Nhà nước đó là người đi vay vì vậy, cơ quan hay tổ chức đi vay đó sẽ có trách nhiệm trực tiếp đối với khoản
Trang 16vay Trách nhiệm gián tiếp được thể hiện khi một người hoặc một tổ chức trong nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo lãnh để vay nợ, nếu đối tượng đi vay không trả được nợ thì cơ quan Nhà nước đứng ra bảo lãnh có trách nhiệm trả thay khoản nợ
đó
- Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm quản lý nợ công chặt chẽ theo đúng quy trình để đạt được hai mục tiêu: thứ nhất, đảm bảo việc trả được nợ của chủ thể đi vay và ở tầm vĩ mô là đảm bảo cán cân thanh toán và an ninh tài chính của đất nước; thứ hai, để đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và đạt được mục tiêu đã đề ra Ngoài ra, vấn đề quản lý và kiểm soát chặt chẽ nợ công giúp tạo được niềm tin, uy tín của Nhà nước đối với người dân, góp phần ổn định chính trị, xã hội
- Nợ công cần phải được vay vốn và sử dụng vì lợi ích chung của đất nước, của nhân dân chứ không vì lợi ích của bất kỳ đối tượng nào Nợ công phải được sử dụng nhằm mục đích cuối cùng đó là sự phát triển của đất nước Đây là điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất để quyết định vay nợ công
2.2.Tác động của nợ công đến nền kinh tế
Sự tác động của nợ công đến nền kinh tế được các nhà nghiên cứu thảo luận và đưa
ra rất nhiều quan điểm khác nhau Những quan điểm này đều cho thấy những tác động
cả tích cực lẫn tiêu cực của nợ công đối với nền kinh tế của một quốc gia Có thể tổng hợp lại một số tác động cả tích cực lẫn tiêu cực của nợ công đến nền kinh tế của một quốc gia như sau:
- Những tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:
+ Quan điểm của Keynes cho rằng khi chính phủ vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách mà mức chi tiêu công không thay đổi sẽ làm tăng mức tiêu dùng trong dân cư dẫn đến tăng tổng cầu về hàng hóa, dịch vụ, tăng sản lượng và việc làm trong ngắn hạn + Chính phủ các quốc gia có thể sử dụng nợ công để bổ sung tăng cường nguồn vốn để đầu tư cho các dự án xã hội, công trình trọng điểm quốc gia, phát triển đồng bộ
cơ sở hạ tầng, kích thích tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn tăng tốc
Trang 17phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định Muốn phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất do đó nợ công có thể được sử dụng để tài trợ cho nhu cầu quan trọng này của một quốc gia như Việt Nam
+ Nợ công góp phần tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư
+ Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc
tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương Đây chính là những nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền và chính sách nhất quán của quốc gia
- Bên cạnh những tác động tích cực nếu được sử dụng hiệu quả, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực nhất định đến nền kinh tế của quốc gia như sau:
+ Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ ngoài nước Nếu Chính phủ sử dụng và quản lý nợ công không chặt chẽ và kém hiệu quả dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế
+ Khi chính phủ vay nợ trong nước quá nhiều sẽ làm giảm tích lũy vốn tư nhân dẫn đến sự suy giảm mức độ đầu tư của khu vực tư nhân Khi đó mức suy giảm của vốn khu vực tư sẽ bị thay thế bằng các khoản nợ tích lũy của chính phủ Người dân sở hữu trái phiếu chính phủ quá nhiều sẽ làm nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư suy giảm song song đó nhu cầu vay nợ của chính phủ tăng lên sẽ dẫn đến tăng lãi suất và chi phí đầu tư
Trang 18+ Nợ công làm tiết kiệm quốc gia suy giảm Khi Chính phủ thực hiện vay nợ công để bù đắp thâm hụt ngân sách sẽ xảy ra những khả năng có tác động đến tiết kiệm quốc gia như sau: (1) phần tiết kiệm tư nhân tăng ít hơn so với phần tiết kiệm của chính phủ giảm, dẫn đến tiết kiệm quốc gia giảm; (2) nợ công làm đầu tư nội địa giảm dẫn đến đầu ra là tổng vốn nội địa giảm, lãi suất tăng, chi phí biên của sản phẩm tăng, năng suất lao động sụt giảm làm giảm thu nhập trung bình dẫn đến giảm tiết kiệm quốc gia; (3) tăng nợ công làm lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài dẫn đến luồng tiền nước ngoài chảy vào trong nước tăng khiến cho tỷ giá hối đoái giảm làm giá cả hàng trong nước đắt hơn hàng nước ngoài khiến xuất khẩu ròng giảm, thu nhập người dân nội địa giảm khiến tiết kiệm quốc gia giảm
+ Nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát Có hai nguyên nhân chính gây ra lạm phát
đó là do tổng cầu tăng hoặc do chi phí đẩy Khi Chính phủ tăng vay nợ trong nước, lãi suất tăng làm tăng chi phí đầu tư, tăng giá thành và giá bán sản phẩm Ngoài ra, tăng
nợ công dẫn đến chi tiêu công của chính phủ tăng sẽ khiến cho tổng cầu về hàng hóa, dịch vụ tăng tạo áp lực lên lạm phát Khi Chính phủ tăng vay nợ nước ngoài, áp lực trả
nợ và lãi bằng ngoại tệ sẽ làm tăng cầu ngoại tệ lên làm tăng giá đồng ngoại tệ và giảm giá đồng nội tệ làm tăng chi phí đầu vào khi nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu… dẫn đến lạm phát
+ Nợ công làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội Nếu Chính phủ vay nợ nước ngoài, nguồn tiền để trả nợ cả gốc và lãi chỉ có thể lấy từ các khoản thu thuế của người dân Khi đó, người dân phải chịu một khoản thuế cao hơn trong tương lai để trả lãi nợ nước ngoài làm giảm thu nhập, tiêu dùng dẫn đến chất lượng cuộc sống suy giảm Nếu Chính phủ vay nợ trong nước có thể ít có tác động tiêu cực hơn so với nợ nước ngoài vì khi đó Chính phủ chỉ phải trả nợ cho chính công dân nước mình và người dân cũng được thụ hưởng các lợi ích do các khoản chi tiêu công từ vay nợ tạo ra Tuy nhiên, ngay cả khi người bị đánh thuế để trả lại cho chính họ khi họ
sở hữu trái phiếu chính phủ thì vẫn có những tác động khiến cho các hoạt động kinh tế
Trang 19của người đó bị bóp méo như thay đổi hành vi tiết kiệm, tiêu dùng từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế vĩ mô khác như sản xuất, việc làm
+ Bên cạnh đó, một quốc gia với những khoản nợ công lớn có thể phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng khác như phải thay đổi chính sách tài chính quốc gia để trang trải các khoản nợ, làm giảm hệ số xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nguy cơ suy giảm chủ quyền, sự độc lập về chính trị, thay đổi các định hướng kinh tế của quốc gia cũng như giảm vị thế quốc gia trong các mối quan hệ song phương với đối tác là các nước chủ nợ…
2.3 Các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến nợ công
2.3.1 Thâm hụt ngân sách
Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay Đi vay chính là một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách
Từ bản chất nợ công có thể thấy mức thâm hụt ngân sách phản ánh giá trị tuyệt đối của nợ chính phủ Nợ công chính là mức thâm hụt ngân sách tích lũy qua các năm Nếu ngân sách Nhà nước bị thâm hụt sẽ dẫn đến nhu cầu vay nợ của Nhà nước gia tăng và làm trầm trọng thêm tình hình nợ công Ngược lại, nếu ngân sách Nhà nước thặng dư, Chính phủ không có nhu cầu phải vay nợ thêm đồng thời có thêm nguồn tài chính để chi trả cho các khoản nợ công cũ như mua lại trái phiếu chính phủ trước hạn làm cho mức nợ công giảm xuống
Một số nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới giải thích tác động của thâm hụt ngân sách tới nợ công như: Dornbusch (1984) nghiên cứu trường hợp của Brazil, thâm hụt ngân sách là nguyên nhân của nợ nước ngoài tăng nhanh Sachs và Larrain (1993) cho rằng nợ trong nước là một trong những cách ngắn hạn để tài trợ thâm hụt ngân sách
Trang 20Phương pháp này giúp Chính phủ bù đắp được thâm hụt mà không ảnh hưởng đến dự trữ và cung tiền, nhưng cũng khiến tăng thâm hụt ngân sách theo thời gian do gia tăng nghĩa vụ nợ.Theo Alfaidi (2002), nợ nước ngoài của Ai Cập gia tăng một cách đáng kể
do thâm hụt ngân sách tăng nhanh Theo Gartner (2003), tỷ lệ thâm hụt ngân sách và tỷ
lệ nợ công có mối quan hệ cùng chiều
2.3.2 Lãi suất thực tế
Lãi suất thực tế được tính xấp xỉ bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát Đây
là lãi suất mà nhà đầu tư hy vọng nhận được sau khi trừ đi lạm phát Việc tăng giảm lãi suất thực tế sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến những khoản nợ công có lãi suất thả nổi và những khoản vay mới Tỷ lệ các khoản nợ công có lãi suất thả nổi trong tổng nợ càng cao thì sự ảnh hưởng của lãi suất thực tế đến nợ công càng lớn Nếu lãi suất thực tế tăng sẽ làm cho việc trả lãi các khoản nợ công có lãi suất thả nổi trở nên khó khăn hơn
và sẽ dẫn đến nợ công ngày càng gia tăng Chính phủ cũng khó có thể tiếp tục thực hiện các khoản vay mới vì lãi suất thực tế tăng cao Mặt khác, ngay cả những khoản vay có lãi suất cố định thì sự biến động của lãi suất thực tế cũng sẽ ảnh hưởng đến giá
cả của các công cụ nợ, nghĩa là, gián tiếp ảnh hưởng tới quy mô nợ công Bởi khi lãi suất tăng lên, chi phí vay nợ tăng lên, các khoản vay của Chính phủ sẽ trở nên đắt hơn
và khó khăn hơn, làm gia tăng nợ công
Các nghiên cứu về sự tác động của lãi suất thực tế đến nợ công của Giavazzi và Pagano (1996), Alesina và Perotti (1995), Alesina và Ardagna (2010) chỉ ra lãi suất giảm sẽ cải thiện tình trạng nợ công, giảm áp lưc trả lãi Ngoài ra, lãi suất thấp có tác động tới nền kinh tế thông qua việc khuyến khích đầu tư và tiêu dùng, từ đó làm GDP tăng và tỷ lệ nợ công trên GDP sẽ giảm Sachs và Larrain (1993) cho rằng, lãi suất cao
là yếu tố làm gia tăng nợ công Theo Alfaidi (2002), các yếu tố tác động đến khoản nợ công vay từ nước ngoài của các nước đang phát triển, trong đó lãi suất thực tế cao là yếu tố làm gia tăng nợ nước ngoài của các quốc gia này
Trang 212.3.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính)
Nhiều nghiên cứu cho rằng tăng trưởng kinh tế là yếu tố kinh tế quan trọng có ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề trong xã hội Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội đạt được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) của một quốc gia (hoặc địa phương) Sự gia tăng này được biểu hiện ở quy
mô và tốc độ Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng) Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối
và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ
Trong thời kỳ kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP cao sẽ làm cho Chính phủ
dễ dàng tiếp cận các khoản vay có lãi suất thực tế thấp Đồng thời, tăng trưởng kinh tế nhanh góp phần gia tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, cải thiện đáng kể tình trạng thâm hụt ngân sách dẫn đến việc phải vay nợ của Chính phủ Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao còn giúp giảm tỷ lệ nợ công trên GDP Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, tăng trưởng kinh tế chậm, làm các chỉ tiêu kinh tế xấu đi và điều này cũng làm gia tăng chỉ tiêu nợ công trên GDP
Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh điều này Imimole, Imoughele và Okhuese (2014) chỉ ra rằng tăng trưởng GDP thực tế có tác động đối với nợ nước ngoài của Nigeria Còn theo Abbas, Akitoby, Abdritzky, Berger, Komatsuzaki và Tyson (2014), tăng trưởng GDP thực tế là một yếu tố chính tác động đến nợ công, khi tăng trưởng kinh tế thực cao, tỷ lệ nợ công sẽ giảm
Trang 222.3.4 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác Nó cũng được coi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác
Trong cơ cấu danh mục nợ công có những khoản nợ vay bằng đồng ngoại tệ từ các nước khác, do đó, sự biến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của các khoản nợ công vay bằng ngoại tệ Nếu nợ vay bằng ngoại tệ, đặc biệt là những ngoại tệ
có sự biến động lớn về giá trị chiếm tỷ lệ cao thì ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá đến nợ công càng lớn
Theo Imimole, Imoughele và Okhuese (2014), tỷ giá tăng lên 1% sẽ làm nợ nước
ngoài trên GDP của Nigeria tăng lên 0,811%
2.4 Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan
Christabell Matiti (2013) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ công và tăng
trưởng kinh tế tại Kenya Quản lý nợ công cẩn thận giúp tăng trưởng kinh tế và ổn định thông qua việc huy động nguồn lực với chi phí vay thấp và hạn chế rủi ro tài chính Tác giả sử dụng các yếu tố ảnh hưởng đến nợ công bao gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế, chi tiêu công và các nguồn thu thuế Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau từ Cục Thống kê quốc gia Kenya và Ngân hàng Trung ương Kenya,giai đoạn nghiên cứu từ 2002 - 2012 Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng bảng thu thập dữ liệu đã được chỉnh sửa, mã hoá và làm sạch Kết quả cho thấy, nợ trong nước được đặc trưng bởi lãi suất cao hơn so với nợ nước ngoài, chủ yếu được ký kết theo điều khoản ưu đãi, và do đó rất tốn kém để duy trì Biện pháp giảm nợ trong nước có thể đạt được bằng cách sử dụng các khoản thu từ chương trình tư nhân hóa của các tập đoàn công hay sử dụng các nguồn vốn vay bên ngoài chủ yếu dựa vào các điều khoản ưu đãi để trả nợ trong nước đắt hơn
Jurgita Stankeviciene & Ausrine Lakstutiene (2013) thực hiện nghiên cứu về
mối quan hệ giữa nợ công và các yếu tố kinh tế vĩ mô: trường hợp của các quốc gia
Trang 23vùng Baltic Nghiên cứu này tập trung vào vấn đề về đánh giá và quản lý nợ công do thay đổi môi trường kinh tế vĩ mô Nghiên cứu sử dụng các phương pháp bao gồm hệ thống cơ sở lý thuyết, phân tích so sánh và tổng quát hợp lý, thống kê toán học Tác giả
sử dụng các yếu tố kinh tế vĩ mô để đánh giá tác động đến tỷ lệ nợ công trên GDP bao gồm: tốc độ tăng trưởng GDP, chi tiêu công và khối lượng xuất khẩu Kết quả cho thấy Estonia có nợ thấp nhất; khối lượng xuất khẩu là một trong những yếu tố quan trọng nhất liên quan đến nợ công ở tất cả các nước vùng Baltic
Bogdan Andrei Dumitrescu (2014) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nợ
công tại Romania bắt đầu từ phương trình nợ công và hạn chế về ngân sách liên ngân hàng đề xuất một phân tích về sự phát triển của tỷ lệ nợ công trên GDP của Romania trong giai đoạn 2002-2013, xác định các yếu tố chính ảnh hưởng và thực hiện phân tích tính bền vững của nợ công trong ngắn hạn và dài hạn Các yếu tố ảnh hưởng đến nợ công được tác giả sử dụng để phân tích bao gồm: cán cân ngân sách sơ cấp, lãi suất danh nghĩa, tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế Sự suy thoái của cán cân ngân sách do cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính và việc thúc đẩy các chính sách tài chính không bền vững trong những năm trước khủng hoảng gây ra lạm phát đã làm tăng nợ công trong một thời gian tương đối ngắn Sự củng cố tài chính đạt được trong những năm gần đây giúp giảm thâm hụt ngân sách và tỷ lệ lạm phát đồng thời tăng tốc độ phát triển kinh tế đã góp phần ổn định nợ công
Marek Dabrowski (2014) thực hiện nghiên cứu về các yếu tố quyết định mức độ
an toàn của nợ công Không có tiêu chuẩn an toàn về nợ công duy nhất cho tất cả các nền kinh tế Trên thực tế, mức nợ công an toàn là tùy từng quốc gia và phụ thuộc vào nhiều yếu tố và hoàn cảnh không thể đoán trước Tác giả sử dụng tỷ lệ nợ công trên GDP là biến phụ thuộc để thực hiện nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng Các yếu tố tác động được đưa vào như các biến độc lập bao gồm: tỷ lệ thâm hụt/thặng
dư ngân sách trên GDP, tốc độ tăng trưởng GDP và lãi suất thực tế của khoản vay của chính phủ Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong giai đoạn phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng
Trang 24trưởng GDP thực tế cao hơn khiến việc vay nợ dễ dàng hơn do lãi suất thực thấp hơn,
và việc thu ngân sách nhà nước tốt hơn giúp cải thiện tình trạng nợ công Trong thời kỳ suy thoái kinh tế, tất cả các chỉ số này xấu đi dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ nợ công trên GDP Ngoài ra, nếu có những thị trường tài chính nghi ngờ về mức độ tin cậy của chính phủ, lãi suất thực sẽ tăng nhanh làm gia tăng tỷ lệ nợ công trên GDP của một nước
Kết luận chương 2
Trong chương 2 tác giả đã tiến hành hệ thống hóa lý thuyết về nợ công, các tác động của nợ công đến nền kinh tế cũng như các yếu tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến nợ công bao gồm: thâm hụt ngân sách, lãi suất thực tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ giá hối đoái Ngoài ra, tác giả cũng đã thực hiện lược khảo một số nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến nợ công để có cơ sở vững chắc cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu của luận văn
Trang 25CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu và các giả thiết
3.1.1 Mô hình nghiên cứu
Hầu hết các nghiên cứu trước đều sử dụng biến là tỷ lệ nợ công trên tổng GDP làm biến phụ thuộc nên tác giả sẽ dùng biến này để phản ánh yếu tố nợ công trong mô hình nghiên cứu của luận văn Bên cạnh đó, tác giả kế thừa những yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến nợ công từ mô hình nghiên cứu của Marek Dabrowski (2014) có bổ sung thêm yếu tố tỷ giá hối đoái để đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến tỷ lệ
nợ công trên tổng GDP ở các nước Đông Nam Á bởi vì trong cơ cấu danh mục nợ công
có những khoản nợ vay bằng đồng ngoại tệ, do đó, sự biến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nợ công
Tóm lại, mô hình nghiên cứu được đề xuất trong luận văn để đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô lên nợ công có thể được thể hiện qua phương trình hồi quy tuyến tính đa biến cụ thể như sau:
PDit=β0 + β1BDEFit + β2INTit + β3GDPit + β4EXit + εit Trong đó:
- PDit: thể hiện tỷ lệ nợ công trên GDP của nước i ở giai đoạn t
- BDEFit: thể hiện tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP của nước i ở giai đoạn t
- INTit: thể hiện tỷ lệ lãi suất thực tế của nước i ở giai đoạn t
- GDPit: thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP của nước i ở giai đoạn t
- EXit: thể hiện tỷ giá hối đoái cuối kỳ của nước i ở giai đoạn t
- εit: là sai số của mô hình
Trang 26Chi tiết về cách đo lường các biến được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3.1 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Biến phụ thuộc
Nợ công PDit (public debt)
Nợ công của quốc gia (i) cuối năm (t) chi cho tổng GDP của quốc gia (i) cuối năm (t)
Biến độc lập
Tỷ lệ thâm hụt
ngân sách
BDEFit (Budget Deficit)
Tổng chi trong năm (t) trừ đi tổng thu trong năm (t) của quốc gia (i) Sau đó, chia cho GDP của quốc gia (i) trong năm (t)
Tỷ lệ lãi suất thực
tế
INT (Effective Interest Rate)
Tỷ lệ lãi suất thực tế (%) của các nước
dữ liệu về nợ công của nước này) với dữ liệu được thu thập từ World Bank (tỷ lệ lãi suất thực tế và Tỷ giá hối đoái) và IMF (Nợ công, Tổng thu và tổng chi của chính phủ, tốc độ tăng trưởng GDP) trong 10 năm từ 2007 đến 2016 Kích thước mẫu này đủ lớn
Trang 27để kết quả hồi quy đủ tin cậy, có ý nghĩa thống kê theo điều kiện về kích thước mẫu để thực hiện phân tích hồi quy.
3.1.2 Giả thiết nghiên cứu
Dựa trên nền tảng lý luận, các nghiên cứu đã lược khảo và mô hình nghiên cứu đã được đề xuất, các giả thiết nghiên cứu được đưa ra như sau:
Giả thiết H1: Tỷ lệ nợ công biến động cùng chiều với tỷ lệ thâm hụt ngân sách
Khi ngân sách Nhà nước bị thâm hụt sẽ dẫn đến nhu cầu vay nợ của Nhà nước gia tăng và làm trầm trọng thêm tình hình nợ công Ngược lại, nếu ngân sách Nhà nước thặng dư, Chính phủ không có nhu cầu phải vay nợ thêm đồng thời có thêm nguồn tài chính để chi trả cho các khoản nợ công cũ như mua lại trái phiếu chính phủ trước hạn làm cho mức nợ công giảm xuống
Giả thiết H2: Lãi suất thực tế có tác động tích cực đến tỷ lệ nợ công
Việc tăng giảm lãi suất thực tế sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến những khoản nợ công
có lãi suất thả nổi và những khoản vay mới Tỷ lệ các khoản nợ công có lãi suất thả nổi trong tổng nợ càng cao thì sự ảnh hưởng của lãi suất thực tế đến nợ công càng lớn Nếu lãi suất thực tế tăng sẽ làm cho việc trả lãi các khoản nợ công có lãi suất thả nổi trở nên khó khăn hơn và sẽ dẫn đến nợ công ngày càng gia tăng Chính phủ cũng khó có thể tiếp tục thực hiện các khoản vay mới vì lãi suất thực tế tăng cao
Giả thiết H3: Tốc độ tăng trưởng GDP có tác động tiêu cực đến tỷ lệ nợ công
Trong thời kỳ kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP cao sẽ làm cho Chính phủ
dễ dàng tiếp cận các khoản vay có lãi suất thực tế thấp Đồng thời, tăng trưởng kinh
tế nhanh góp phần gia tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, cải thiện đáng kể tình trạng thâm hụt ngân sách dẫn đến việc phải vay nợ của Chính phủ Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao còn giúp giảm tỷ lệ nợ công trên GDP Ngược lại, trong thời
kỳ suy thoái, tăng trưởng kinh tế chậm, làm các chỉ tiêu kinh tế xấu đi và điều này cũng làm gia tăng chỉ tiêu nợ công trên GDP
Giả thiết H4: Tỷ giá hối đoái có tác động tích cực đến tỷ lệ nợ công
Trang 28Trong cơ cấu danh mục nợ công có những khoản nợ vay bằng đồng ngoại tệ từ các nước khác, do đó, sự biến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của các khoản nợ công vay bằng ngoại tệ Nếu nợ vay bằng ngoại tệ, đặc biệt là những ngoại
tệ có sự biến động lớn về giá trị chiếm tỷ lệ cao thì ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá đến nợ công càng lớn
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu sẽ được thu thập dưới dạng dữ liệu bảng để đưa vào phân tích hồi quy Dữ liệu bảng thường được dùng trong các nghiên cứu định lượng vì các ưu điểm sau: Các kết quả ước lượng từ dữ liệu bảng giúp các tham số trong mô hình có độ tin cậy cao hơn và dữ liệu bảng giúp lượng hóa những tác động không thể được xác định khi sử dụng dữ liệu chéo hoặc dữ liệu thời gian Để thu thập dữ liệu bảng, chúng ta phải thu thập nhiều đối tượng (units) giống nhau trong cùng một hoặc nhiều thời điểm Chẳng hạn, chúng ta có thể thu thập các dữ liệu của cùng các cá nhân, công ty, trường học, thành phố, quốc gia… trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2014
Ba cách hồi quy được tác giả sử dụng trong luận văn để ước lượng mức độ tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến biến phụ thuộc chính là tỷ lệ nợ công trên GDP của các quốc gia là: phương pháp OLS thô (Pooled OLS), mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effects Model) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects Model) Trong đó:
- Mô hình Pooled OLS: dùng để kiểm định ảnh hưởng của các biến độc lập đối với
biến phụ thuộc Mô hình Pooled OLS thực chất là việc sử dụng dữ liệu bảng để phân tích bằng hình thức sử dụng tất cả dữ liệu bằng cách sắp xếp chồng không phân biệt từng cá thể riêng, tức là mô hình này sử dụng dữ liệu như một phân tích OLS thông thường Phương pháp bình phương bé nhất (OLS) được sử dụng để ước lượng đường thẳng hồi quy bởi vì nó cho phép sai số cực tiểu giữa các điểm ước lượng trên đường thẳng hồi quy và những điểm quan sát thực tế của đường thẳng hồi quy là phù hợp nhất
Trang 29- Mô hình ảnh hưởng cố định (FEM – Fixed effects model): Mô hình ảnh hưởng
cố định đưa ra giả thuyết cho rằng mỗi đối tượng nghiên cứu sẽ có những đặc điểm riêng có tác động đến biến giải thích Mô hình này xem xét sự tương quan giữa phần
dư của mỗi đối tượng nghiên cứu với biến giải thích từ đó loại bỏ ảnh hưởng của đặc điểm riêng của các đối tượng nghiên cứu khỏi các biến giải thích để ước lượng những ảnh hưởng thực của biến giải thích lên biến được giải thích (biến phụ thuộc)
- Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM – Random Effects Model):Nếu giả định
của mô hình FEM là có sự khác biệt giữa các đối tượng và có sự ảnh hưởng lên biến giải thích thì giả định của mô hình REM chính là đặc điểm riêng giữa các đối tượng nghiên cứu là ngẫu nhiên và không tương quan đến các biến giải thích Như vậy, sự khác biệt giữa mô hình FEM và mô hình REM ở đặc điểm riêng biệt của các đối tượng, nếu sự khác biệt giữa các đối tượng có ảnh hưởng đến biến giải thích thì sử dụng mô hình REM sẽ tốt hơn so với mô hình FEM
Sau khi ước lượng bằng ba phương pháp trên, tác giả sẽ thực hiện kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian để lựa chọn giữa hai phương pháp Pooled OLS và REM, kiểm định Hausman để lựa chọn giữa hai phương pháp ước lượng REM và FEM (Baltagi, 2008)
Bên cạnh đó, trong thực tế khi tiến hành nghiên cứu thì tổng thể của nghiên cứu là rất lớn, nên khó có thể thu thập dữ liệu của toàn bộ tổng thể, chính vì vậy thông thường các nhà nghiên cứu sẽ lựa chọn một tập hợp một số đối tượng nghiên cứu tạo thành mẫu nghiên cứu để tiến hành phân tích, trên cơ sở đó suy ra tính chất chung của tổng thể Chính vì vậy, để kết quả hồi quy có ý nghĩa, thể hiện đầy đủ những tính chất chung của tổng thể nghiên cứu thì cần đảm bảo các giả định hồi quy không bị vi phạm Nếu các giả định bị vi phạm, thì các kết quả ước lượng được không đáng tin cậy nữa Vì vậy, để có thể ước lượng mô hình chính xác cần phải thực hiện một số kiểm định các giả định sau đây: (1) Không có hiện tượng đa cộng tuyến; (2) kiểm định White để phát hiện phương sai sai số thay đổi; (3) kiểm định Wooldridge phát hiện hiện tượng tự
Trang 30tương quan (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Ngoài ra, nếu mô hình
vi phạm các giả định hồi quy, tác giả sẽ dùng phương pháp ước lượng FGLS để khắc phục (Judge, Hill và cộng sự, 1988)
3.3 Dữ liệu nghiên cứu
Tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu từ nguồn dữ liệu hàng năm của Ngân hàng Thế Giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đối với mười quốc gia trong khu vực Đông Nam
Á bao gồm: Indonesia, Singapore, Brunei, Campuchia, Lào, Malaysia, Philippin, Thái Lan, Myanmar, và Việt Nam (trừ Đông Timor) trong thời gian 10 năm từ 2007đến
2016 với kích thước mẫu là 100
Kết luận chương 3
Trong chương 3, tác giả dựa trên những nghiên cứu trên thế giới đã lược khảo, đặc biệt là nghiên cứu của Marek Dabrowski (2014) để đề xuất mô hình nghiên cứu sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến tỷ lệ nợ công trên GDP của các nước trong khu vực Đông Nam Á Để thực hiện nghiên cứu định lượng, tác giả dùng dữ liệu bảng được thu thập từ World Bank, IMF Sau đó, tác giả sử dụng các phương pháp ước lượng khác nhau như OLS thô, REM, FEM để ước lượng sự tác động của các yếu tố kinh tế
vĩ mô đến tỷ lệ nợ công Các tiêu chuẩn kiểm định nhưHausman và Breusch-Pagan Lagrangian được sử dụng để chọn ra phương pháp ước lượng thích hợp Bên cạnh đó,tác giả còn thực hiện một số kiểm định sự vi phạm các giả định hồi quy của mô hình nghiên cứu để đảm bảo các hệ số ước lượng hiệu quả
Trang 31CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VỀ NỢ CÔNG TẠI CÁC NƯỚC
ĐÔNG NAM Á
4.1 Thực trạng về nợ công tại các nước Đông Nam Á
Bảng 4.1 Thống kê mô tả về tình hình nợ công giai đoạn 2007 – 2016 của các
nước Đông Nam Á
Thời gian Mức thấp nhất Mức cao nhất Mức trung bình Độ lệch chuẩn
tệ, nhu cầu về vốn đầu tư phát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia… Theo các chuyên
Trang 32gia kinh tế, đối với các quốc gia mới nổi hay đang phát triển, tỷ lệ nợ công trên GDP ở mức 40% là tỷ lệ được đề xuất và tỷ lệ này không nên bị phá vỡ trong dài hạn
Nhìn vào bảng 4.1 có thể thấy, trong giai đoạn 2007 – 2016, các nước Đông Nam
Á có mức tỷ lệ nợ công trên GDP trung bình dao động trong khoảng từ 42,3026% (năm 2008) đến 47,2440% (năm 2016) Xu hướng chung của tỷ lệ nợ công các nước Đông Nam Á đó là tăng dần theo thời gian và đạt đỉnh điểm vào năm 2016 Hầu hết các nước Đông Nam Á đều là các nước đang phát triển nên tỷ lệ nợ công trung bình như đã thống kê mặc dù cao hơn khuyến nghị của các chuyên gia là 40% nhưng vẫn nằm ở mức khá an toàn
Dữ liệu về tỷ lệ nợ công của các nước được thể hiện chi tiết hơn ở phụ lục 1 Từ phụ lục 1, ta có thể nhận ra trong các quốc gia Đông Nam Á được thống kê, một số nước có tỷ lệ nợ công khá cao như Việt Nam (tỷ lệ nợ công là 62,42% năm 2016), Lào (tỷ lệ nợ công là 65,80% năm 2016), Malaysia (tỷ lệ nợ công là 56.25% năm 2016) và Singapore (tỷ lệ nợ công là 112,89% năm 2016) Tuy nhiên, phần lớn nợ công của Singapore là vay từ dân cư của quốc đảo này bằng chính đồng nội tệ với mức lãi suất rất thấp nên nợ công không chịu tác động rủi ro tỷ giá hay mất khả năng chi trả Singapore cũng là quốc gia hiếm hoi của Châu Á được đánh giá tín nhiệm ở mức cao nhất AAA (cùng với nền kinh tế Hồng Kông) Các nước còn lại là Việt Nam, Lào và Malaysia cần phải lưu ý vấn đề về tỷ lệ nợ công hiện nay Bởi vì cơ cấu nợ công của các nước này có tỷ lệ nợ nước ngoài khá lớn nên chịu rủi ro khá cao về tỷ giá Ngoài
ra, mức tín nhiệm của Chính phủ Việt Nam và Malaysia theo Moody’s trong năm 2016 lần lượt là B1 và A3, còn Lào thì không được Moody’s xếp hạng tín nhiệm Điều này
có nghĩa Việt Nam và Lào phải chi trả lãi khá cao khi đi vay nợ và nợ phải trả hàng năm lớn hơn nhiều so với các quốc gia khác (vì quy mô nợ lớn hơn, mức lãi suất trái phiếu chính phủ cao hơn do mức tín nhiệm thấp) Kết quả là, nguồn thu từ thuế sẽ phải dành nhiều hơn cho trả nợ, giảm tỷ lệ tiền dành cho đầu tư phát triển Đây chính là
Trang 33nguyên nhân khiến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khó bền vững, chưa tính đến hiệu quả đầu tư và các vấn đề về tham nhũng, thể chế yếu kém
Hình 4.1 Biểu đồ giá trị trung bình của nợ công giai đoạn 2007 – 2016 của các
nước Đông Nam Á 4.2 Thực trạng về các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến nợ công tại các nước Đông Nam Á
4.2.1 Thâm hụt ngân sách
Bảng 4.2 Thống kê mô tả về tình hình thâm hụt/thăng dư ngân sáchgiai đoạn
2007 – 2016 của các nước Đông Nam Á
Thời gian Mức thấp nhất Mức cao nhất Mức trung bình Độ lệch chuẩn
Trang 342013 -.1299 0744 002126 0600562
2014 -.0553 0629 008536 0350513
2015 -.0369 1452 030258 0488829
2016 -.0331 2190 043874 0683181
Hình 4.2 Biểu đồ giá trị trung bình thâm hụt/thặng dự ngân sáchgiai đoạn
2007 – 2016 của các nước Đông Nam Á
Thâm hụt hay thặng dư ngân sách được xác định bằng chênh lệch giữa tổng thu
và tổng chi ngân sách trung ương và địa phương trong một năm của Chính phủ Nếu tổng thu nhỏ hơn tổng chi thì ngân sách sẽ bị thâm hụt và ngược lại sẽ là thặng dư Dữ liệu thâm hụt/thặng dư ngân sách trong nghiên cứu được tác giả tính bằng cách lấy hiệu
số của tổng chi trừ cho tổng thu Do đó, số dương sẽ thể hiện cho tình trạng thâm hụt ngân sách, còn số âm sẽ thể hiện cho tình trạng thặng dư ngân sách
Trang 35Số liệu trong bảng 4.2 cho thấy tỷ lệ thâm hụt/thặng dư ngân sách trên GDP của các nước Đông Nam Á từ 2007 đến 2016 có giá trị trung bình biến động trong khoảng
từ -3,5943% (năm 2008) đến 4,3874% (năm 2016).Những năm mà ngân sách của các nước Đông Nam Á có giá trị trung bình thặng dư là năm 2007, 2008, 2011 và 2012 Trong đó, năm 2008 tỷ lệ thặng dư ngân sách trên GDP của các nước Đông Nam Á đạt giá trị trung bình cao nhất là 3,5943% Các năm giá trị trung bình ngân sách của các nước Đông Nam Á bị thâm hụt là 2009, 2010, 2013, 2014, 2015 và 2016 Trong đó, năm 2016 tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP của các nước Đông Nam Á đạt giá trị trung bình cao nhất là 4,3874% Có thể thấy, số năm mà các nước Đông Nam Á có tình trạng thâm hụt ngân sách (6 năm) nhiều hơn số năm thặng dư ngân sách (4 năm) Theo phụ lục 2, các nước thường có tỷ lệ ngân sách thặng dư so với GDP là Singapore (cả 10 năm từ 2007 – 2016 đều thặng dư ngân sách), Brunei (có 8 năm thặng
dư ngân sách) và Thái Lan (có 5 năm thặng dư ngân sách) Trong khi đó, các nước Việt Nam, Lào và Malaysia có tình trạng thâm hụt ngân sách trong cả 10 năm từ 2007 –
2016 Bốn nước còn lại là Cambodia, Indonesia, Myanmar và Philippines cũng thường xuyên rơi vào tình trạng thâm hụt ngân sách từ 6 đến 9 năm trong giai đoạn 2007 –
2016 Thực tế này cho thấy đa số Chính phủ các nước Đông Nam Á đều có tình trạng thu không đủ chi dẫn đến thâm hụt ngân sách trong nhiều năm Những khoản thâm hụt này sẽ được giải quyết bằng cách vay mượn nợ từ trong hoặc ngoài nước Do đó, tình trạng thâm hụt này kéo theo thực trạng nợ công có xu hướng ngày càng tăng trong khu vực