1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của dòng vốn FDI, tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia khu vực ASEAN

72 161 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, dòng vốn FDI cũng là một nhân tố quan trọng không kém để thúc đẩy sự tăng trưởng, FDI là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -

LÊ HỒ HOÀNG NHÂN

ẢNH HƯỞNG CỦA DÒNG VỐN FDI, TỰ DO THƯƠNG MẠI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA KHU VỰC ASEAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -

LÊ HỒ HOÀNG NHÂN

ẢNH HƯỞNG CỦA DÒNG VỐN FDI, TỰ DO THƯƠNG MẠI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC QUỐC GIA KHU VỰC ASEAN

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VŨ THỊ MINH HẰNG

Tp Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng

Nguồn dữ liệu nghiên cứu các quốc gia khu vực ASEAN từ năm 1995 đến năm 2016 được lấy từ nguồn cơ sở dữ liệu của Worldbank Bài luận văn chưa được tác giả công bố tại bất kỳ tài liệu nghiên cứu nào Các thông tin về tài liệu tham khảo và kết quả tính toán được tác giả đề cập trong phần phụ lục để người đọc theo dõi và kiểm chứng

Tp Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 01 năm 2018

Tác giả

Lê Hồ Hoàng Nhân

Trang 4

WB: Ngân hàng thế giới

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

FTA: Hiệp định Thương mại Tự do

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

R&D: Nghiên cứu và phát triển (Research & Development)

REM: Mô hình tác động ngẫu nhiên

FEM: Mô hình tác động cố định

VAR: Mô hình vectơ tự hồi quy

VECM: Mô hình vector hiệu chỉnh sai số

ARDL: Mô hình tự hồi quy phân phối trễ

OLS: Phương pháp bình phương bé nhất

Trang 5

Bảng 3.2 Bảng mô tả kỳ vọng các biến

Bảng 4.1 Thống kê mô tả dữ liệu các biến

Bảng 4.2 Bảng kết quả kiểm định tính dừng

Bảng 4.3 Bảng kiểm định đa công tuyến

Bảng 4.4 Kết quả hồi quy bằng phương pháp Pooled OLS

Bảng 4.5 Kết quả hồi quy mô hình Fixed effects

Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình Random effects

Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Hausman

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Mối liên hệ giữa dòng vốn FDI, tự do thương mại và tăng trưởng kinh

tế

Hình 4.1 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi của mô hình REM

Hình 4.2 Kết quả kiểm định tự tương quan của mô hình REM

Trang 6

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ ngữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng nghiên cứu 3

1.5 Phạm vi nghiên cứu và thu thập dữ liệu 3

1.6 Phương pháp nghiên cứu: 4

1.7 Cấu trúc bài nghiên cứu: 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5

2.1 Dòng vốn FDI 5

2.1.1 Khái niệm 5

2.1.2 Vai trò của dòng vốn FDI 6

2.2 Tự do thương mại 8

2.2.1 Khái niệm 8

Trang 7

2.3 Một số quan điểm về lý thuyết tăng trưởng kinh tế 11

2.3.1 Mô hình tăng trưởng của trường phái cổ điển 11

2.3.2 Mô hình tăng trưởng của Các Mác 12

2.3.3 Mô hình trường phái tân cổ điển 12

2.3.4 Mô hình tăng trưởng của Harrob-Domar 12

2.3.5 Mô hình tăng trưởng của Robert Solow 13

2.3.6 Mô hình tăng trưởng hiện đại của Paul Samuelson 13

2.4 Các lý thuyết về FDI 14

2.4.1 Lý thuyết về lợi nhuận cận biên: 14

2.4.2 Lý thuyết thị trường độc quyền 14

2.4.3 Lý thuyết chiết trung: 15

2.5 Lý thuyết về tự do thương mại quốc tế: 15

2.5.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối: 15

2.5.2 Lý thuyết về lợi thế tương đối: 15

2.5.3 Mô hình Hechscher-Ohlin (mô hình H-O): 16

2.5.4 Lợi thế cạnh tranh quốc gia 16

2.5.5 Lý thuyết thương mại mới 16

2.6 Các nghiên cứu trước: 17

2.6.1 Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế: 17

2.6.2 Tác động tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế 20

2.6.3 Tác động của FDI, tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế: 23

2.6.4 Kết luận lý thuyết và bài nghiên cứu trước: 25

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

Trang 8

3.1 Tổng quan các biến và thu thập dữ liệu trong mô hình nghiên cứu: 27

3.2 Mô hình tổng quát của bài nghiên cứu 29

3.3 Phương pháp nghiên cứu: 29

3.4 Kết quả mong đợi của các biến nghiên cứu 31

3.5 Kết luận 32

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Thống kê mô tả 33

4.2 Kiểm định tính dừng 34

4.3 Kiểm định đa cộng tuyến 35

4.4 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế 36

4.5 Kết quả hồi quy của mô hình 37

4.5.1 Mô hình tác động cố định (Fixed effects) 37

4.5.2 Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random effects) 37

4.6 Kiểm định Hausman 38

4.7 Kiểm định phần dư trong mô hình tác động ngẫu nhiên (Random effects) 39

4.7.1 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 39

4.7.2 Kiểm định tự tương quan 40

4.8 Mô hình hoàn chỉnh 41

4.9 Bàn luận về kết quả nghiên cứu: 42

4.10 Kết luận Chương 4 44

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 45

Trang 9

5.2 Hàm ý chính sách 46

5.3 Hàm ý chính sách cho Việt Nam 48

5.4 Hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 50

5.5 Kết luận Chương 5 51

Tài liệu tham khảo

PHỤ LỤC

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu hướng tất yếu của hầu hết các quốc gia Trong đó, tự do thương mại và dòng vốn FDI là một trong những nhân tố khá quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia hay một khu vực Các hoạt động thương mại thông qua quá trình xuất, nhập khẩu hàng hóa dịch vụ góp phần tăng trưởng cho GDP chung của cả nước Hoạt động nhập khẩu của một quốc gia chủ yếu là các sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế, hoặc không có khả năng sản xuất Nhập khẩu hàng hóa làm cho tổng tiêu dùng của nền kinh tế gia tăng, giúp các nhà nhập khẩu học hỏi được kỹ thuật, công nghệ mới từ các nhà cung cấp nước ngoài Bên cạnh đó, việc xuất khẩu cũng đóng góp khá tích cực vào việc tăng trưởng chung, giúp các doanh nghiệp trong nước gia tăng sản lượng sản xuất, thúc đẩy tăng năng suất và

mở rộng thị trường tiêu thụ Ngoài ra, dòng vốn FDI cũng là một nhân tố quan trọng không kém để thúc đẩy sự tăng trưởng, FDI là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia giúp các nước kém phát triển tiếp cận được nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào trong nước; đồng thời, FDI còn đóng vai trò thúc đẩy chuyển giao công nghệ đặc biệt là quá trình tích

tụ, nâng cao nguồn vốn về con người, đó là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong dài hạn Do vậy, dòng vốn FDI luôn được coi là một trong những động lực quan trọng của bất kỳ quốc gia nào, cả các nước phát triển lẫn đang phát triển

Trải qua 50 năm hình thành và phát triển từ một cơ cấu hợp tác đơn giản, mang tính chất khu vực là chính, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã dần trở thành hạt nhân, đóng vai trò trung tâm trong các cơ chế, cấu trúc an ninh, hợp tác khu vực tại châu Á - Thái Bình Dương Hiện nay, ASEAN có 10 đối tác đối thoại chính thức, trong đó có 8 vùng lãnh thổ và 2 tổ chức quốc tế là Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu (EU) Có 6 đối tác đối thoại được thiết lập từ những năm 1970

Trang 11

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, ASEAN lập thêm quan hệ đối thoại với 4 đối tác khác, 2 đối tác đối thoại ngành Bên cạnh đó, ASEAN cũng xây dựng thành công quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi với nhiều tổ chức ở khu vực và trên thế giới như đối tác toàn diện ASEAN-LHQ, Hội đồng hợp tác các nước vùng Vịnh (GCC), khối thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur), Cộng đồng các quốc gia Nam

Mỹ và Carribe và Liên minh Thái Bình Dương Việc ASEAN mở rộng quan hệ hợp tác và khẳng định vị thế, vai trò của mình trên trường quốc tế, từ đó mở ra cơ hội phát triển cho các quốc gia thành viên, đặc biệt là về thu hút FDI và tự do thương mại quốc tế

Theo số liệu tại báo cáo Tóm lược Hợp tác Kinh tế ASEAN được thực hiện bởi Ban giám đốc Nghiên cứu Hợp tác ASEAN (AIMD) thuộc Ban Thư ký ASEAN, tổng thương mại hàng hóa dịch vụ năm 2016 khu vực ASEAN đạt 2,22 nghìn tỷ USD, trong đó, thương mại nội khối ASEAN chiếm 23,48% tổng kim ngạch và vẫn là thị trường lớn nhất cho ASEAN Trung Quốc giữ vững vị thế là thương mại lớn nhất, chiếm 16,01%, tiếp theo là EU-28 ở mức 10,35% và Nhật Bản

là 9,99%; tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2016 vào các quốc gia ASEAN đạt 96,72 tỷ USD, giảm khoảng 2% so với cùng kỳ Tuy nhiên, dòng vốn FDI vào khối ASEAN khá vững chắc, đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 12.22%/năm Đến nay, ASEAN đã trở thành một cộng đồng kinh tế phát triển năng động nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương; tạo ra thị trường rộng lớn 630 triệu dân với tổng sản phẩm quốc nội 3.000 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 4,7%/năm - mức cao trong khu vực cũng như trên thế giới góp phần vào tốc độ tăng trưởng chung của các quốc gia khu vực ASEAN Các số liệu trên cho thấy việc thu hút dòng vốn FDI và thực hiện mạnh mẽ chính sách tự do thương mại đang là vấn đề

mà các quốc gia Đông Nam Á quan tâm và trở thành xu hướng trong thời gian vừa qua

Hiện nay, có khá nhiều bài nghiên cứu của các tác giả về lĩnh vực này Tuy nhiên, đa phần các bài nghiên cứu chỉ tập trung xem xét ảnh hưởng của các yếu tố xuất, nhập khẩu đối với tăng trưởng, hoặc là sự ảnh hưởng giữa đầu tư trực tiếp

Trang 12

nước ngoài FDI hoặc thương mại nói chung lên tăng trưởng kinh tế Như vậy, xu hướng trước đây chỉ là xem xét riêng lẻ sự ảnh hưởng giữa dòng vốn FDI, tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế mà ít có nghiên cứu nào xem xét đồng thời cả ba yếu tố trên trong một bài nghiên cứu Do đó, để làm rõ mức độ ảnh hưởng này tại khu vực ASEAN, cụ thể là 5 quốc gia có nét tương đồng về trình độ phát triển và quy mô tăng trưởng của nền kinh tế là Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippine trong giai đoạn hội nhập từ 1995-2016, tác giả chọn đề tài “Ảnh hưởng của dòng vốn FDI, tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia khu vực ASEAN” làm đề tài nghiên cứu cho bài luận văn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của bài viết là tác giả phân tích sự ảnh hưởng của dòng vốn FDI, tự

do thương mại đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia khu vực ASEAN trong giai đoạn 1995-2016

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

1.3.1 Có tồn tại sự tác động giữa dòng vốn FDI, tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia khu vực ASEAN hay không?

1.3.2 Nếu có, thì đó là tác động âm hay dương, mạnh hay yếu?

1.3.3 Dựa vào kết quả nghiên cứu, hàm ý chính sách và giải pháp giúp thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế tại các quốc gia khu vực ASEAN là gì?

1.4 Đối tượng nghiên cứu

Là sự ảnh hưởng của dòng vốn FDI, tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia khu vực ASEAN giai đoạn 1995-2016

1.5 Phạm vi nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Bài viết đo lường mức độ ảnh hưởng của dòng vốn FDI, tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế tại 5 quốc gia có nét tương đồng về trình độ phát triển và quy

mô tăng trưởng của nền kinh tế tại khu vực ASEAN (Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippine) giai đoạn 1995-2016

Trang 13

1.6 Phương pháp nghiên cứu:

Để đánh giá ảnh hưởng của dòng vốn FDI, tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế tại tại 5 quốc gia khu vực ASEAN (Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippine) giai đoạn 1995-2016, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy 3 bước gồm: Pooled OLS, Fixed Effect Model và Random Effect Model, sau đó dùng kiểm định Hausman để chọn mô hình phù hợp

1.7 Cấu trúc bài nghiên cứu:

Chương 1: Giới thiệu;

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các bài nghiên cứu trước đây;

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu;

Chương 4: Kết quả nghiên cứu;

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 14

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Dòng vốn FDI

2.1.1 Khái niệm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư (Nguồn: voer.edu.vn)

Tuy nhiên, còn rất nhiều cách tiếp cận về khái niệm khác nhau về dòng vốn FDI Theo IMF (1997) “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”

Theo WTO “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một quốc gia có được một tài sản ở một quốc gia khác cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"”

Theo Tổ chức OECD (1996) “FDI phản ánh mục tiêu của một thực thể cư trú tại một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) muốn có được một mối quan tâm (lợi ích) lâu dài trong một thực thể cư trú tại một nền kinh tế khác nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) Mối quan tâm (lợi ích) lâu dài ngụ ý rằng: tồn tại một mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp với doanh nghiệp và một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp đó Đầu tư trực tiếp liên quan đến cả giao dịch ban đầu giữa hai thực thể và mọi giao dịch vốn tiếp theo giữa

Trang 15

chúng và giữa các công ty con, dù có tư cách pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân”

Tại Việt Nam, Luật đầu tư nước ngoài (1987) có định nghĩa “Đầu tư nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này” Sau đó, Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài năm 2000 quy định “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”

Từ các khái niệm nêu trên, chung quy lại “FDI là việc nhà đầu tư ở một nước khác sử dụng tiền hoặc bất cứ tài sản có giá trị nào đầu tư vào một quốc gia khác để được quyền quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm mục đích thu lợi nhuận”

2.1.2 Vai trò của dòng vốn FDI

Thứ nhất, FDI bổ sung nguồn vốn cho hoạt động đầu tư trong nước

Trong các lí luận về tăng trưởng kinh tế, ngoài lao động và đất đai, nhân tố về vốn là một nhân tố quan trọng và luôn được các nhà khoa học đề cập đến Khi đó, nền kinh tế của một quốc gia muốn tăng trưởng một cách mạnh mẽ thì đòi hỏi phải

có khá nhiều vốn để đầu tư Nếu vốn trong nước không đủ khả năng để đáp ứng, nền kinh tế nước đó sẽ có nhu cầu thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, vì vậy bổ sung dòng vốn FDI là điều rất cần thiết cho các nền kinh tế

Thứ hai, FDI đẩy nhanh về chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các quốc gia phát triển

Trong các trường hợp, nguồn vốn cho đầu tư phát triển để thúc đẩy tăng trưởng dù không đáp ứng vẫn có thể cố gắng huy động được Tuy nhiên, các yếu tố

Trang 16

như về khoa học - công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý thì không thu hút được Thu hút FDI sẽ giúp đất nước có cơ hội tiếp thu và nhận chuyển giao khoa học - công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý kinh doanh đã được các nước tích lũy và phát triển trong nhiều năm Tuy nhiên, việc tiếp nhận và chuyển giao công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý đó như thế nào thì còn phụ thuộc khá nhiều vào nội lực cũng như khả năng tiếp nhận của nước đó

Thứ ba, FDI tạo nguồn thu ngân sách lớn

Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, hoặc các địa phương, nguồn thu từ thuế do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là nguồn thu ngân sách quan trọng và có vị trí hàng đầu trong các loại hình đầu tư

Thứ tư, FDI góp phần tạo mới việc làm và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Một trong những mục đích của các doanh nghiệp FDI là khai thác các điều kiện thuận lợi của các quốc gia mà họ đầu tư để đạt được chi phí sản xuất thấp nhất, nên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đa phần sẽ ưu tiên sử dụng lực lượng lao động của địa phương đó Từ đó, thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa phương Trong quá trình sử dụng lao động, đào tạo tay nghề, cũng như đào tạo về kỹ năng sử dụng các công nghệ tiên tiến, tiến bộ ở các nước đang phát triển sẽ được các doanh nghiệp FDI cung cấp Điều này sẽ tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng chuyên nghiệp Không chỉ có lao động phổ thông, mà cả các chuyên gia của địa phương được đào tạo bài bản và cơ hội làm việc từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thứ năm, FDI thúc đẩy kinh tế trong nước tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu (liên kết chuỗi giá trị)

Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mà ngay cả các doanh nghiệp nội địa có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp FDI cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động Chính vì vậy,

Trang 17

tham gia chuỗi liên kết giá trị của các doanh nghiệp FDI có quy mô lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại quốc gia

2.2 Tự do thương mại

2.2.1 Khái niệm

Thương mại là một hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ,… giữa hai hay nhiều đối tác với nhau, và nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác Trong quá trình này, người bán là người cung cấp các sản phẩm cho người mua, đổi lại người mua sẽ trả lại cho người bán một giá trị tương đương nào đó Thương mại tồn tại vì nhiều lý do Nguyên nhân cơ bản của nó

là sự chuyên môn hóa và phân chia lao động, trong đó con người chỉ tập trung vào việc sản xuất hàng hóa hay dịch vụ thuộc lĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ do người khác cung ứng

Theo cách hiểu trên thì thương mại quốc tế là những hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ ra ngoài lãnh thổ của các quốc gia Như vậy thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác thông qua các hoạt động xuất, nhập khẩu Nên có vai trò hết sức quan trọng, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là nhân tố quan trọng để thúc đẩy sản xuất, tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển

Tự do thương mại được hiểu là tự do trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia mà không có sự kiểm soát bằng những chính sách, rào cản nhập khẩu Hiện nay,

tự do thương mại được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm đáng kể, thông qua các hiệp định, hiệp ước, các ký kết song phương, đa phương, tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hóa dễ dàng hơn, giảm thiểu về thủ tục hành chính và các hàng rào thuế quan khác

2.2.2 Vai trò của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) trong thương mại quốc tế

Trang 18

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của ngành sản xuất, hoạt động thương mại đang dần được quan tâm và phát triển ngày càng cao, minh bạch, toàn diện, hướng đến sự tăng trưởng bền vững Minh chứng cụ thể nhất chính là sự chuyển đổi ở mức độ rộng hơn, cao hơn trong các thỏa thuận thương mại tự do giữa các quốc gia, khu vực, mà hiện nay được gọi là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

FTA tác động tạo ra sự tự do thương mại Khi các FTA được thông qua, các thành viên sẽ được hưởng các ưu đãi, trong đó có việc cắt giảm hoặc xóa bỏ các hàng rào thuế quan và các điều kiện khác theo quy định Việc này, sẽ làm xuất hiện tình trạng có hàng hóa nhập khẩu về nước có giá thành rẻ hơn hàng hóa được sản xuất trực tiếp trong nước do có chi phí cao hơn Điều này sẽ trực tiếp thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu nội khối và cũng từ đó sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch

cơ cấu sản xuất và cơ cấu lại ngành thương mại của các nước thành viên Đối với các FTA thế hệ mới, mức cắt giảm thuế sẽ rất sâu thậm chí là giảm xuống mức 0% trên nhiều hàng hóa và dịch vụ nên mức độ tự do thương mại giữa các thành viên càng rõ rệt Bên cạnh những cơ hội được đặt ra còn đi liền với những thách thức trong quá trình cơ cấu la ̣i, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp

Bên cạnh đó, FTA cũng làm chuyển hướng hoạt động thương mại Khi chưa tham gia các hiệp định FTA, hàng hóa có xu hướng luân chuyển theo hướng: các hàng hóa có chất lượng tương ứng mà chí phí sản xuất thấp sẽ được xuất khẩu sang quốc gia có chi phí sản xuất cao hơn hoặc không có lợi thế sản xuất Tuy nhiên, khi tham gia FTA, các quốc gia sẽ ưu tiên chuyển sang nhập khẩu hàng hóa nội khối, dù chí phí sản xuất có cao, nhưng do được giảm thuế và hưởng các ưu đãi về chính sách, nên giá nhập khẩu vẫn mang tính cạnh tranh so với các quốc gia không tham gia FTA Do vậy, điều đó sẽ gây thiệt hại cho quốc gia không phải là thành viên FTA

Do được hưởng các ưu đãi và xóa bỏ các rào cản thuế, nên về nguyên tắc, các thành viên FTA được hưởng lợi từ sự gia tăng của quy mô thị trường, bên cạnh đó

Trang 19

nhu cầu và tính đa dạng cũng sẽ tăng lên, mở ra các cơ hội với nhà sản xuất Tất nhiên, đi liền với mở rộng thị trường là sự gia tăng cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Cạnh tranh được coi là động lực phát triển và đó cũng là tác động lớn nhất của FTA Tác động đáng lưu ý nữa của FTA là thúc đẩy sự lưu chuyển các dòng vốn đầu tư giữa các quốc gia Do các cam kết bảo đảm lợi ích cao,

và cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong FTA thế hệ mới và nhiều dịch vụ

hỗ trợ đi kèm cùng các thị trường hấp dẫn, nên dòng vốn đầu tư sẽ được lưu chuyển mạnh mẽ hơn Điều này mở ra cơ hội với các nền kinh tế là thành viên FTA

Đi liền với vai trò thúc đẩy mạnh mẽ hội nhập và liên kết kinh tế, các FTA thế

hệ mới còn có vai trò quan trọng góp phần nâng cao chuẩn mực tự do hóa thương mại Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp, các quốc gia phải tính đến thị trường lao động toàn cầu, mà ở đó có chuẩn mực, các tiêu chuẩn chung về sử dụng lao động luôn được đề cao và tuân thủ Bên cạnh đó, quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng và phức tạp, buộc các quốc gia phát triển lẫn đang phát triển phải cùng nỗ lực đối phó, thích ứng và giảm thiểu tác động, chấp hành và thực hiện nghiêm các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường để phát triển bền vững đã được Liên hợp quốc thông qua

Tham gia các FTA thế hệ mới mở ra không gian phát triển mới với các quốc gia thành viên Với các FTA thế hệ mới, không gian phát triển của các quốc gia có

sự thay đổi về chất, các cơ hội phát triển được mở ra không chỉ về chiều rộng, mà còn cả về chiều sâu Do vậy, các quốc gia thành viên có nhiều lựa chọn trong không gian phát triển mới Đây chính là cơ hội cho khởi nghiệp, cho sự phát triển sáng tạo trong các lĩnh vực, các ngành, nghề kinh doanh mới Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa với các thành viên đi sau trong tiến trình phát triển

Việc triển khai ký kết và thực hiện các FTA thế hệ mới một cách hiệu quả sẽ góp phần củng cố và bảo đảm an ninh kinh tế, nâng cao vị thế đối với các quốc gia thành viên Trong bối cảnh toàn cầu hoá, muốn bảo đảm an ninh kinh tế không chỉ chú ý các điều kiện của riêng mình, mà cần hài hòa, cùng hợp tác với các quốc gia

Trang 20

khác Nói cách khác, an ninh kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa là an ninh tương tác Do vậy, việc tăng cường liên kết với nhau là chính sách hữu hiệu nhằm ngăn ngừa và đối phó lại những cuộc khủng hoảng chu kỳ hoặc khủng hoảng cơ cấu, bảo đảm an ninh kinh tế, bền vững trong tăng trưởng Hiện nay, việc chọn phương án ký kết các FTA được coi là bước đi hợp lý nhằm củng cố quan hệ giữa các nước và tiến tới sự hợp tác ở những cấp độ cao hơn, tạo tiền đề cho những giải pháp phòng, chống khủng hoảng khả thi hơn

Với vai trò như trên, việc ký kết, triển khai các FTA thế hệ mới sẽ đưa lại nhiều cơ hội song cũng không ít thách thức với các quốc gia thành viên Đó là những cơ hội và thách thức xung quanh mở rộng thị trường thương mại, đầu tư, lao động đi liền với cạnh tranh gia tăng; đó là cơ hội và thách thức nâng cao chất lượng và hoàn thiện hệ thống quản trị quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh thể chế Các cơ hội và thách thức đan xen và chuyển hóa nhau, chúng phụ thuộc vào trình độ phát triển, sự năng động và chủ động hội nhập trong tham gia các FTA của các quốc gia thành viên

2.3 Một số quan điểm về lý thuyết tăng trưởng kinh tế

2.3.1 Mô hình tăng trưởng của trường phái cổ điển

Adam Smith (1723-1970) trong học thuyết về “Giá trị lao động” cho rằng: nguồn gốc của sự tăng trưởng đó là lao động, vốn và đất đai, trong đó lao động là quan trọng nhất và là nguồn gốc tạo ra của cải, là yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, ông khẳng định phân công lao động và chuyên môn hóa lao động là cơ sở làm tăng năng suất lao động, tăng sản lượng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng

Sau Adam Smith, David Ricardo (1772-1823) cũng cho rằng ba yếu tố đó là lao động, vốn và đất đai tác động đến tăng trưởng Khác với Adam Smith, Ricardo cho rằng nhân tố đất đai là quan trọng nhất, góp phần vào tăng trưởng Ricardo kết luận đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng Bên cạnh đó, giống với lý thuyết

Trang 21

“bàn tay vô hình” của Adam Smith trước đó, Ricardo cũng cho rằng sự can thiệp của Chính phủ không làm cho nền kinh tế tăng trưởng

2.3.2 Mô hình tăng trưởng của Các Mác

Các Mác (1818-1883) là một nhà kinh tế học, nhà xã hội học, nhà triết học xuất sắc Khi lập luận về tăng trưởng kinh tế, Các Mác cho rằng: Các yếu tố tác động đến tăng trưởng là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật; trong đó tương tự như Adam Smith, Các Mác cũng cho rằng lao động là yếu tố quan trọng và quyết định đối với tăng trưởng Các Mác đã phát hiện ra điều này trong quá trình ông nghiên cứu về giá trị đặc biệt của sức lao động và quá trình sản xuất giá trị thặng

2.3.3 Mô hình trường phái tân cổ điển

Marshall (1842-1924) cho rằng bốn yếu tố là: lao động, vốn, tài nguyên và khoa học – công nghệ tác động đến tăng trưởng giai đoạn này Bên cạnh đó, các nhà kinh tế cũng chia các yếu tố thành 2 nhóm, bao gồm: (Nhóm 1): theo chiều rộng: vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên; (Nhóm 2): theo chiều sâu: khoa học – công nghệ

Tương tự như trường phái cổ điển, mô hình tân cổ điển cũng cho rằng ba yếu

tố là: lao động, vốn và đất đai có tác động đến tăng trưởng Đồng thời, cả hai đều phủ nhận vai trò của Chính phủ và ủng hộ sự tự do của thị trường, thống nhất lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith Tuy nhiên, mô hình tân cổ điển đã tìm ra yếu tố công nghệ và đó là nhân tố quan trọng nhất tác động đến tăng trưởng, và đây được xem là điểm mới của mô hình

2.3.4 Mô hình tăng trưởng của Harrob-Domar

Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 1940, hai nhà kinh tế Harrob và Domar đã cho ra mô hình giải thích sự tăng trưởng Theo đó, các nhân tố tác động đến tăng trưởng gồm có: lao động, nguồn vốn và đất đai Ông cho rằng cần đầu tư

và vốn dự trữ để tăng trưởng kinh tế Nói cách khác tiết kiệm và đầu tư là yếu tố quyết định trong mô hình của Harrob-Domar Tiết kiệm nhiều hơn, đầu tư hiệu quả

Trang 22

hơn sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Tuy nhiên vẫn có trường hợp không tăng đầu tư thì nền kinh tế vẫn tăng trưởng Kể cả đầu tư có hiệu quả thì tăng đầu tư hay tiết kiệm cũng chỉ làm gia tăng tốc độ tăng trưởng trong ngắn hạn, không đạt được trong dài hạn Vì vậy, mô hình này chỉ có ý nghĩa cho tăng trưởng trong ngắn hạn

và trung hạn hơn là trong dài hạn

2.3.5 Mô hình tăng trưởng của Robert Solow

Năm 1924, Solow đã phát triển mô hình tăng trưởng mang những ý tưởng mới, được gọi là mô hình tăng trưởng Solow Nếu như Harrob-Domar chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Solow đã đưa thêm nhân tố lao động và công nghệ vào phương trình tăng trưởng Theo đó, các nhân tố được phân thành 2 nhóm tương tự như trường phái tân

cổ điển Đồng thời, ông cũng khẳng định lại vai trò quan trọng của yếu tố công nghệ đối với tăng trưởng, chỉ có khoa học – công nghệ mới tạo nên sự tăng trưởng dài hạn liên tục Bên cạnh đó, Solow không hoàn toàn phủ định vai trò của Chính phủ

Vì vậy, mô hình của Solow là sự cộng hưởng hoàn hảo giữa mô hình của trường phái tân cổ điển và mô hình của Keynes thành một mô hình tăng trưởng mới

2.3.6 Mô hình tăng trưởng hiện đại của Paul Samuelson

Dựa vào lý thuyết Keynes, các quốc gia đã lạm dụng khá nhiều các chính sách kinh tế với mục đích hạn chế lạm phát và thất nghiệp, tăng mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, khiến khả năng tự điều chỉnh của thị trường bị hạn chế, đồng thời bắt đầu xuất hiện một số khó khăn mới ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng Trong thời điểm đó, một trường phái mới ra đời ủng hộ xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó quan hệ cung, cầu và những quan hệ cơ bản khác được xác định bởi thị trường, còn nhà nước chỉ tham gia điều tiết vừa phải nhằm khắc phục và hạn chế những thất bại của thị trường Bên cạnh đó, Samuelson cho rằng phát triển kinh

tế phải dựa trên cả “hai bàn tay”, đó là thị trường và nhà nước và “Điều hành một nền kinh tế mà thiếu 1 trong 2 thành phần chính phủ hoặc thị trường cũng như vỗ tay bằng một bàn tay”

Trang 23

Lý thuyết tăng trưởng hiện đại một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của khu vực Nhà nước Theo Samuelson, trong nền kinh tế hỗn hợp hiện đại, Chính phủ

có 4 chức năng: thiết lập khuôn khổ pháp lý; thiết lập chính sách ổn định vĩ mô; phân bổ nguồn tài nguyên và cải thiện hiệu lực, hiệu quả nền kinh tế; phân phối thu nhập Bên cạnh đó, 4 yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, đó là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, mức độ tích luỹ vốn lớn và sự đổi mới khoa học công nghệ

2.4 Các lý thuyết về FDI

2.4.1 Lý thuyết về lợi nhuận cận biên:

Mac Dougall (1960) cho rằng dòng vốn đầu tư sẽ luân chuyển từ các quốc gia

có lãi suất thấp sang các quốc gia có lãi suất cao hơn cho đến khi mức lãi suất giữa hai quốc gia đạt được trạng thái cân bằng Khi đó, cả hai quốc gia đầu tư và nhận đầu tư đều thu được lợi nhuận khiến cho sản lượng chung của thế giới tăng cao hơn

so với thời điểm trước khi đầu tư

Lý thuyết này được công nhận vào những năm 1950 Tuy nhiên, tình hình sau

đó trở nên bất ổn, trong khi tỷ suất đầu tư ra nước ngoài của Hoa Kỳ giảm sút đến mức thấp hơn cả tỷ suất đầu tư trong nước, tuy nhiên dòng vốn của Hoa Kỳ chảy ra nước ngoài vẫn tăng liên tục Cho nên mô hình của Mac Dougall không giải thích được vì sao một quốc gia đồng thời có một lúc cả dòng vốn vào lẫn ra Do đó, lý thuyết này chỉ có thể được xem là đầu của các nghiên cứu về dòng vốn FDI

2.4.2 Lý thuyết thị trường độc quyền

Stephen Hymer và Charles Kindleberger cho rằng sự phát triển và thành công của hình thức đầu tư liên kết theo chiều dọc chịu tác động bởi 3 yếu tố: (1) liên kết các hình thức về hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm giảm bớt các gánh nặng chi phí; (2) sản xuất, khai thác và vận hành khoa học kỹ thuật mới; (3) mở rộng các hoạt động ra ngoài nước

Chiến lược liên kết của các tập đoàn đa quốc gia là bố trí các công đoạn sản xuất khác nhau ở những vị trí khác nhau trên toàn cầu nhằm mục đích tận dụng lợi

Trang 24

thế về so sánh, hạ thấp giá thành sản phẩm thông qua sản xuất hàng loạt và chuyên môn hoá sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường

2.4.3 Lý thuyết chiết trung:

Theo Dunning một công ty muốn đầu tư FDI cần có ba lợi thế sau: (1) Sở hữu (O); (2) Khu vực (L); (3) Nội hoá (I) Theo đó, cả 3 điều kiện kể trên phải được đáp ứng trước khi tiến hành hoạt động đầu tư FDI Lý thuyết đề cập: yếu tố về L là một yếu tố quan trọng để kéo các dòng vốn FDI bên cạnh các nhân tố đẩy như O và I Các lợi thế này liên tục biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển của nền kinh tế nên FDI chảy vào từng quốc gia, khu vực, hay ở các thời kỳ sẽ khác nhau

Sự khác nhau này còn thể hiện qua việc các quốc gia này đang nằm ở giai đoạn nào của giai đoạn phát triển

2.5 Lý thuyết về tự do thương mại quốc tế:

2.5.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối:

Năm 1776, Adam Smith với tác phẩm “Tài sản quốc gia”, được xem là kinh điển với nhiều lý thuyết kinh tế Qua đó, Adam Smith phản đối quan điểm chủ nghĩa trọng thương mà đề cao sự tự do hóa thương mại Thông qua “Bàn tay vô hình” các nước sẽ sản xuất các loại hàng hóa có lợi thế lớn nhất đối với họ bằng các nguồn lực hữu hạn Khi đó các nước sẽ được hưởng lợi nhiều nhất do chi phí sản xuất là thấp nhất

Adam Smith cho rằng mỗi hàng hóa đều khác nhau về chi phí sản xuất Thời điểm này, ông chỉ xem nhân công là chi phí sản xuất duy nhất Bên cạnh đó, Adam Smith cổ vũ xóa bỏ mọi rào cản thương mại giữa các quốc gia bao gồm: hạn ngạch, thuế, Đây là một bước ngoặc lớn, giúp kinh tế thế giới chuyển dần từ bảo hộ mậu dịch sang tự do thương mại

2.5.2 Lý thuyết về lợi thế tương đối:

Để khắc phục những tồn tại trong lý thuyết của Adam Smith David Ricardo (1917) cho rằng lợi thế tuyệt đối của mỗi nước là ít, đa phần các nước hoạt động thương mại với nhau còn dựa trên các lợi thế tương đối Theo ông các nước đều

Trang 25

được hưởng lợi khi thực hiện phân công lao động, đồng thời, thương mại sẽ mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia Nguyên nhân là do chuyên môn hóa để sản xuất một số loại hàng hóa có lợi thế sản xuất để đổi lấy hàng hóa nhập khẩu thông qua thương mại quốc tế

2.5.3 Mô hình Hechscher-Ohlin (mô hình H-O):

Hai nhà kinh tế học Thụy Điển: Eli Hecksher (1879-1952) và B.Ohlin 1979) đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, các nước luôn chủ động hướng tới việc chuyên môn hoá các ngành sản xuất cho phép sử dụng các yếu tố sản xuất thuận lợi nhất dẫn đến lợi thế so sánh trong việc xuất khẩu hàng hoá của mình Chính các lợi thế tự nhiên từ các yếu tố sản xuất (bao gồm: vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu ) đã làm cho một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn (so với sản xuất hàng hoá khác) khi sản xuất một số sản phẩm nào đó

(1899-2.5.4 Lợi thế cạnh tranh quốc gia

Porter cho rằng sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào năng suất lao động của quốc gia đó, trong khi cái cốt lõi của năng suất chính là sự cạnh tranh Ông xây dựng dựa trên sự kết hợp về yếu tố sản xuất, nhu cầu trong nước, cạnh tranh trong nước và ngành công nghiệp hỗ trợ Thương mại và đầu tư phát triển theo hướng tự

do hóa để nâng cao năng suất, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn duy trì năng suất cao Porter cho rằng năng lực cạnh tranh tỷ lệ thuận với tự do thương mại nền kinh tế Vì thế các quốc gia tập trung sản xuất mặt hàng mà quốc gia mình

có lợi thế và nhập khẩu những mặt hàng của đối thủ nếu như năng suất sản xuất trong nước thấp hơn Chính phủ có nhiệm vụ thúc đẩy nâng cao năng suất, loại bỏ rào cản thương mại, bảo hộ Ngoài ra, Chính phủ cũng cần quan tâm phát triển nguồn nhân lực, hạ tầng kinh tế - xã hội

2.5.5 Lý thuyết thương mại mới

Krugman (1979) phát triển một lý thuyết hoàn toàn mới về thương mại quốc

tế Ông cho rằng quan hệ thương mại ngành dựa trên lợi thế theo quy mô, có nghĩa

là sản xuất với quy mô càng lớn thì chi phí sản xuất càng giảm Bên cạnh lợi thế về

Trang 26

quy mô sản xuất, ông còn cho rằng người tiêu dùng khá quan tâm tới sự đa dạng của các mặt hàng Do đó, lợi thế về quy mô sản xuất và ưa thích sự đa dạng của người tiêu dùng tạo điều kiện cho nhà sản xuất độc quyền với nhãn hiệu của riêng mình,

kể cả khi phải chịu áp lực cạnh tranh từ các nhãn hiệu khác

2.6 Các nghiên cứu trước:

2.6.1 Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế:

Theo quan điểm lý thuyết, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tác động đến tăng trưởng kinh tế theo nhiều kênh khác nhau Theo lý thuyết “vòng lẩn quẩn và cú huých từ bên ngoài” của Paul Samuelson nhấn mạnh rằng để phá vỡ vòng luẩn quẩn này thì cần phải có “Cú huých từ bên ngoài”, tức sự đầu tư từ bên ngoài về vốn, công nghệ, con người, Vì vậy, các nước đang phát triển cần phải thu hút đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để kích thích đầu tư nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Cho nên, FDI tạo động lực tăng trưởng kinh tế thông qua hình thức bổ sung vốn cho nền kinh tế; cung cấp, chuyển giao công nghệ; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và tạo công ăn việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, FDI cũng thúc đẩy mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế

Zhang (2001) nghiên cứu mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế tại 11 nền kinh tế ở Đông Á và Mỹ Latinh Dù FDI được dự báo sẽ giúp nền kinh tế nước chủ nhà tăng trưởng, nhưng nó cho thấy mức độ tăng trưởng lại phụ thuộc vào đặc điểm, cơ chế, chính sách của từng quốc gia Đặc biệt, FDI có khuynh hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi nước chủ nhà áp dụng cơ chế tự do hóa thương mại, cải thiện nền giáo dục từ đó nâng cao chất lượng con người nói chung và lực lượng lao động nói riêng, nền kinh tế vĩ mô ổn định; đồng thời, ông khuyến khích FDI đầu tư theo định hướng xuất khẩu

Khaliq (2007) Báo cáo các tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào tăng trưởng kinh tế tại Indonesia trong giai đoạn 1997-2006 Kết quả cho thấy, trên

Trang 27

khi tính đến hiệu quả tăng trưởng của từng ngành, lĩnh vực thì tác động của FDI không còn rõ ràng nữa

Theo PanagiotisPegkas (2015) nghiên cứu tại khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu cho thấy tồn tại mối quan hệ tích cực dài hạn giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, kết quả còn cho rằng vốn nước ngoài đầu tư vào cổ phiếu có vai trò rất quan trọng và tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Y Kueh (1992) cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc là biểu hiện mạnh

mẽ nhất của chính sách mở cửa, giúp nền kinh tế Trung Quốc hội nhập sâu vào kinh

tế thế giới Tác giả khẳng định FDI giúp giải tỏa được cơn khát vốn đầu tư trong nước, thúc đẩy việc làm và tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu của AmeenFadhil (2015) về quy luật của FDI và tăng tưởng kinh

tế tại Malaysia, ông cho rằng dòng vốn FDI đi đôi với sự phát triển con người sẽ đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của nước chủ nhà Tuy nhiên, tại Malaysia trong thời điểm nghiên cứu cho thấy phát triển về nguồn lực con người vẫn chưa tương xứng và chưa thật sự kết nối với phát triển công nghệ từ các doanh nghiệp FDI Như vậy, Chính phủ Malaysia cần phải nỗ lực và tăng cường hơn nữa

để phát triển nguồn nhân lực, tạo tiền đề để thu hút và phục vụ tốt cho dòng vốn FDI; đồng thời, Chính phủ Malaysia nên thúc đẩy sự tư do hóa thương mại và phát triển thị trường ngoại hối

Theo SasiIamsiraroj (2016), sau khi nghiên cứu về mối liên kết giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tăng trưởng kinh tế, ông kết luận tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và dòng vốn đầu tư FDI Ngoài ra, các yếu tố bao gồm: lực lượng lao động, tự do thương mại là các yếu tố quyết định đến thu hút FDI, từ đó kích thích tăng trưởng mạnh hơn nữa

Bên cạnh những bài nghiên cứu cho thấy sự tích cực giữa vốn đầu tư nước ngoài FDI và tăng trưởng kinh tế, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng FDI không có đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Theo Haddad và Harrison (1993) cho rằng sự hiện diện của dòng vốn FDI không làm tăng năng suất của các doanh

Trang 28

nghiệp trong nước khi tác giả kiểm tra ảnh hưởng của FDI đến hoạt động sản xuất tại Ma-rốc Năm 2015, Dilek và cộng sự xác định mối quan hệ giữa dòng FDI và tăng trưởng kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỳ và Nigeria trong giai đoạn 1970-2012 và kiểm định đồng liên kết, nhân quả Granger và hồi quy bằng phương pháp VAR, VECM Kết quả cho thấy không có sự tương quan giữa dòng vốn FDI và GDP bình quân đầu người tại Nigeria trong dài hạn Đồng thời quan hệ nhân quả Granger cũng cho thấy không có mối quan hệ nhân quả tồn tại giữa dòng vốn FDI và GDP bình quân đầu người trong ngắn hạn ở cả hai quốc gia

Nghiên cứu của Carkovic và Levine (2005) nghiên cứu tại 72 quốc gia giai đoạn 1965-1990 Tác giả nêu giả thiết rằng nhiều quốc gia đã đưa ra các ưu đãi thuế đặc biệt và trợ cấp để thu hút dòng vốn FDI với mục tiêu khuyến khích chuyển giao công nghệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở quốc gia mình Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho rằng dòng vốn FDI không gây ảnh hưởng độc lập đến tăng trưởng kinh tế

Do đó, mặc dù chính sách kinh tế hợp lý có thể thúc đẩy cả tăng trưởng và FDI nhưng kết quả lại không phù hợp với quan điểm FDI có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng độc lập mà phải kết hợp với các yếu tố khác như vốn con người, tự do thương mại,…

Bên cạnh đó cũng có một số nghiên cứu cho kết quả tương quan âm giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế Điều này dẫn đến câu hỏi: Liệu rằng FDI ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng thế nào? Một trong những kênh đó là tác động tiêu cực của FDI đến tăng trưởng thông qua sự bóp méo nền kinh tế nội địa Borensztein

và cộng sự (1998) nhận thấy rằng ở những nước có nguồn lực con người thấp thì tác động trực tiếp của FDI lên tăng trưởng là tiêu cực, mặc dù là không đáng kể Nhưng, một khi quốc gia đó có nguồn lực con người đủ mạnh để tiếp xúc với khoa học công nghệ, thì FDI sẽ có một hiệu quả tăng trưởng tích cực Do đó, FDI chỉ mang lại hiệu ứng tốt đối với những quốc gia có vốn con người cao đủ khai thác các tác động ngoại tác liên quan đến khối FDI

Trang 29

Balasubramanyam và cộng sự (1996) nghiên cứu tại 46 quốc gia đang phát triển thì cho rằng sự thâm nhập của vốn con người và công nghệ kỹ thuật mới vào các nền kinh tế bị bóp méo có thể không làm tăng trưởng kinh tế mà còn làm thay đổi độ dốc của hàm sản xuất Sadik và Bolbol (2001) lập luận FDI gây ra sự bóp méo ưu đãi trong các hợp đồng về quốc phòng và dầu mỏ Kết luận này đề nghị cần cân nhắc ảnh hưởng tiêu cực tiềm tàng của FDI đến tăng trưởng kinh tế

Tóm lại, FDI là một trong những nguồn vốn quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngoài việc bổ sung nguồn vốn trong nước, FDI còn mang lại một số lợi ích như: chuyển giao công nghệ, bổ sung việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, tăng thu ngân sách,…Tuy nhiên, nước tiếp nhận đầu tư cần có những điều kiện cần thiết đáp ứng như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực,… thì mới tận dụng được hiệu ứng tích cực

từ FDI Bên cạnh đó, ngoài những tác động tích cực, FDI cũng mang lại một số hậu quả tiêu cực như: phân hóa nền kinh tế, chuyển giá, chuyển giao công nghệ lạc hậu,

ô nhiễm môi trường,… nếu như nước chủ nhà không có các biện pháp thích hợp ngay từ đầu

2.6.2 Tác động tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế

Mối quan hệ giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế là một vấn đề mang tính tranh luận cao trong những năm gần đây Kể từ khi trường phái cổ điển công bố kết quả nghiên cứu, các nhà kinh tế học bấy giờ đã thừa nhận ảnh hưởng tích cực của tự do thương mại đối với tăng trưởng kinh tế Khi đó các quốc gia chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa và thương mại sẽ làm gia tăng trực tiếp thu nhập bình quân đầu người, vì họ có một lợi thế so sánh, nhưng nó cũng gián tiếp khuyến khích sự phát triển thông qua chuyển giao công nghệ, đa dạng sản phẩm, gia tăng quy mô nền kinh tế, phân phối, phân bổ nguồn lực hiệu quả và tương tác với các đối tác thương mại

Nhiều nghiên cứu đã trình bày về tầm quan trọng của tự do thương mại trong dài hạn Bằng chứng ở tầm vĩ mô cho thấy, nền kinh tế mở kích thích tăng trưởng nhanh hơn, trong khi ở gốc độ vi mô lại cho thấy, các doanh nghiệp đạt tốc độ tăng

Trang 30

trưởng nhanh hơn thường là những doanh nghiệp tham gia vào thị trường xuất khẩu

Tự do thương mại làm tăng xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu (đa phần là máy móc, thiết bị), từ đó góp phần cải thiện khoa học công nghệ trong nước Do đó, quá trình sản xuất sẽ hiệu quả hơn và góp phần cải thiện năng suất tăng lên Kết quả, các nền kinh tế mở cửa sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn so với những quốc gia có nền kinh tế đóng và sự gia tăng sự tự do trong thương mại được giả định có một tác động tích cực đến tăng trưởng

Gylfason (1999) nghiên cứu 160 quốc gia giai đoạn 1985-1994 và cho rằng xuất khẩu là động lực chính trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế phát triển Theo đó, xuất khẩu sẽ thúc đẩy sản xuất, gián tiếp làm gia tăng nhập khẩu máy móc, nguyên liệu phục vụ sản xuất, du nhập công nghệ, kỹ thuật mới để tăng năng suất lao động Ibrahim (2002) cho rằng có sự khác biệt giữa 6 quốc gia: Hồng Kông, Malaysia, Hàn Quốc, Philippine, Singapore, Thái Lan khi sản lượng xuất khẩu tăng lên Tác giả cho rằng, hướng phát triển ra ngoài phạm vi quốc gia ở mức độ lớn hoặc trung bình sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng hơn là các khu vực không xuất khẩu, tức là những quốc gia có tự do về thương mại càng lớn thì tăng trưởng càng nhanh Bên cạnh đó, Lawrence và Weinstein (1999) ủng hộ và phát triển giả thuyết cho rằng nhập khẩu có tác động đến tăng trưởng kinh tế Tác giả quan sát tại Nhật Bản giai đoạn 1964-1985 và cho rằng với mức thuế quan thấp hơn và nhập khẩu nhiều hơn sẽ có lợi cho nền kinh tế Nhật Bản do thúc đẩy sự đổi mới, áp lực về sự cạnh tranh từ các đối thủ nước ngoài dẫn đến sự tăng trưởng

Theo Ben-David và B.Loewy (1998), tác giả cho rằng tự do thương mại sẽ thúc đẩy phát triển về tri thức, bên cạnh đó tự do hóa đơn phương của một quốc gia

sẽ làm giảm khoảng cách thu nhập giữa nước tự do hóa và các nước giàu có khác Tác giả đề xuất nên giảm các rào cản về thương mại để thúc đẩy tăng trưởng Hiệu ứng cho rằng một quốc gia tăng trưởng càng mạnh sẽ làm cho các quốc gia khác giảm các rào cản thương mại đối với quốc gia đó Từ đó, quan điểm tăng trưởng dài hạn cho rằng, chính sách tự do hóa đơn phương và đa phương sẽ tạo ra tác động tích

Trang 31

Theo PamZahonogo (2016) khảo sát về ảnh hưởng của tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, chủ yếu là các quốc gia Châu Phi cận Sahara (SSA) Tác giả sử dụng mô hình tăng trưởng động với dữ liệu của 42 quốc gia SSA trong giai đoạn 1980 đến năm 2012 Tác giả khẳng định tồn tại đường cong Laffer ngược đối với sự tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế, tác giả khẳng định lại quan điểm cho rằng giữa tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế không phải là mối quan hệ tuyến tính Nghiên cứu của Sokolov và cộng sự (2017) cho rằng sự tự do về thương mại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ có ảnh hưởng lớn nhất đến tốc độ tăng trưởng GDP của một quốc gia do nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ, điều này sẽ thúc đẩy chuyển giao công nghệ, làm tăng năng suất tại các quốc gia đang phát triển

Ngoài tác động tích cực của tự do thương mại, một số tác giả đã nghiên cứu và kết luận rằng tự do thương mại có thể kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế Theo Alessandro (2004), tự do hóa thương mại đặt ra một số ràng buộc ngoại sinh để tăng trưởng kinh tế Điều này đặc biệt gây bất lợi cho các nền kinh tế mới nổi, góp phần khiến cho nền kinh tế nước chủ nhà phụ thuộc vào quốc tế, gia tăng bất ổn cho nền kinh tế trước các biến động của kinh tế thế giới Bên cạnh đó, tác giả cũng khẳng định mặc dù tự do thương mại tác động tích cực đến việc xóa nghèo nhưng làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo tại các quốc gia Bên cạnh đó, Rodriguez và Rodrik (2001) trong một nghiên cứu cho rằng tự do thương mại có thể gây bất ổn cho nền kinh tế bằng các tác động làm tăng lạm phát dẫn đến mất giá đồng nội tệ, gây khủng hoảng cán cân thanh toán của quốc gia đó

Vehapi và các cộng sự (2015) cho rằng tại 10 quốc gia khu vực Đông Nam

Âu, tự do thương mại có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia

có thu nhập bình quân đầu người và chỉ số tổng vốn đầu tư cố định (GFCF) cao Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định rằng, tại các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người và GFCF thấp thì tự do thương mại sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế

Vì các quốc gia này không đủ các điều kiện về hạ tầng, năng suất lao động còn thấp chưa tận dụng được những lợi thế mà tự do thương mại mang lại Nếu khủng hoảng

Trang 32

kinh tế xảy ra, xuất khẩu tại các nước này giảm mạnh, đồng thời nhập khẩu tăng cao cũng là nguyên nhân chính khiến tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm

Như vậy, qua các nghiên cứu thực nghiệm trước, có nhiều quan điểm ủng hộ việc xuất, nhập khẩu, tự do thương mại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, đóng góp càng nhiều vào GDP do việc cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới và tiếp cận được khoa học công nghệ từ nước ngoài Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu cho rằng, tăng tự do thương mại sẽ kìm hãm nền kinh tế trong nước phát triển, đặc biệt là đối với các quốc gia kém phát triển, có trình độ dân số và cơ sở hạ tầng còn thấp

2.6.3 Tác động của FDI, tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế:

Hầu hết các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đều cho rằng FDI, tự do thương mại đều có tác động đến tăng trưởng kinh tế Đồng thời, FDI và tự do thương mại là hai yếu tố bổ sung cho nhau để thúc đẩy tăng trưởng vì tự do thương mại là điều kiện cần và là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hút dòng vốn FDI của một quốc gia

Liu (2010) khảo sát thực nghiệm tương tác giữa xuất khẩu, nhập khẩu, FDI và tăng trưởng kinh tế đối với 9 nền kinh tế châu Á bằng cách thực hiện các thử nghiệm nhân quả đa lượng trong mô hình VECM Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa thương mại, FDI và tăng trưởng Phát hiện này cho thấy mở rộng xuất khẩu, tự do hóa nhập khẩu, dòng FDI là những yếu tố không thể tách rời của quá trình tăng trưởng ở các nền kinh tế châu Á

Hussain và Haque (2016) cho rằng có mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, thương mại và tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Bangladesh giai đoạn từ năm 1973 đến năm 2014 Kết quả các biến số tự do thương mại và đầu

tư nước ngoài có tác động đáng kể về tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người

Vì FDI và thương mại là hai thành phần quan trọng của tăng trưởng kinh tế ở Bangladesh, ông kiến nghị cần phải xây dựng chính sách thúc đẩy tăng trưởng và giảm các rào cản đối với các dòng vốn nước ngoài

Trang 33

Makki (2004) cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thương mại được coi là chất xúc tác quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển Tác giả kết luận FDI kích thích đầu tư trong nước và tạo điều kiện cải thiện nguồn nhân lực và thể chế Bên cạnh đó, tự do thương mại tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ hiệu quả hơn bằng cách chuyển các giai đoạn gia công sản xuất sang các nước có lợi thế so sánh trong việc sản xuất chúng Kết quả phân tích cho thấy FDI và tự do thương mại đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển FDI tương tác tích cực với thương mại và kích thích đầu

tư trong nước Các chính sách kinh tế vĩ mô lành mạnh và sự ổn định về thể chế là những điều kiện tiên quyết để tăng trưởng theo FDI Tác giả kiến nghị nên hạ thấp

tỷ lệ lạm phát, thuế suất và tiêu dùng của Chính phủ sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

ở các nước đang phát triển

Balasubramanyam và cộng sự (1996) xem xét mối quan hệ giữa dòng vốn FDI, chính sách thương mại và tăng trưởng tại 46 quốc gia đang phát triển Ông khẳng định tại những quốc gia có chính sách thương mại thông thoáng thì các lợi ích mà FDI mang lại cho tăng trưởng sẽ nhiều hơn những quốc gia đang áp dụng một chính sách thương mại kém thông thoáng Bên cạnh đó, tại những quốc gia có nền kinh tế ổn định và hạ tầng được cải thiện tốt thì tác động của FDI và tự do thương mại đến tăng trưởng kinh tế càng hiệu quả

Theo Naveed và Shabbir (2006) nghiên cứu tại 23 nước phát triển giai đoạn 1971-2000 Tác giả khẳng định rằng tự do thương mại có tác động khá tích cực và đáng kể đến tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người, trong khi FDI lại không

có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu của Baharom và các cộng sự (2008) xem xét vai trò của FDI, tự

do thương mại ảnh hưởng đến kinh tế ở Malaysia trong 30 năm từ 1975 đến 2005 Kết quả thực nghiệm đã chứng minh rằng tự do về thương mại có tác động tích cực đến tăng trưởng trong cả ngắn hạn và dài hạn Trong khi đó, FDI tác động cùng chiều với tăng trưởng trong ngắn hạn nhưng lại ngược chiều trong dài hạn Điều này

Trang 34

chứng minh, do các điều kiện cần thiết để Malaysia hấp thụ dòng vốn FDI như nguồn nhân lực, hạ tầng hay thị trường tài chính còn khá yếu chưa tương xứng với nhu cầu hiện tại Belloumi (2014), sử dụng mô hình ARDL để thực hiện bài nghiên cứu tại Tuynisia, giai đoạn 1970-2008 Tác giả khẳng định không tìm thấy mối quan

hệ nhân quả giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế, giữa độ mở thương mại và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn tại Tunisia giai đoạn 1970-2008 FDI không tạo

ra hiệu ứng lan toản tại Tuynisia, tạo ra môi trường cạnh tranh không cân xứng giữa doanh nghiệp nội và ngoại, trình độ phát triển của các doanh nghiệp nội còn khá kém nên không thể tận dụng lợi thế mà FDI mang lại cho nền kinh tế

2.6.4 Kết luận lý thuyết và bài nghiên cứu trước:

Các lý thuyết về tăng trưởng của các nhà nghiên cứu đa phần đều cho rằng ngoài yếu tố về đất đai thì 2 yếu tố vốn và lao động là 2 nhân tố khá quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, các nghiên cứu sau còn bổ sung thêm các yếu tố như tiến bộ khoa học công nghệ, tích lũy vốn, chuyên môn hóa sản xuất,… Khi tự do thương mại được quan tâm và mở rộng thì việc thu hút các dòng vốn ngoại, đặc biệt là dòng vốn FDI để đáp ứng sự thiếu hụt về vốn là điều kiện cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đặc biệt, FDI và tự do thương mại giúp quốc gia đó tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý từ các công ty đa quốc gia có quy mô lớn, đồng thời, các doanh nghiệp FDI cũng chú trọng đào tạo nguồn nhân lực của địa phương, quốc gia đó đáp ứng được công việc, sẵn sàng tiếp nhận chuyển giao công nghệ khi các yếu tố khác được đáp ứng Từ đó, nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao năng suất lao động của một quốc gia thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phát triển

Tổng quan một số bài thực nghiệm trước đây giữa dòng vốn FDI, tự do thương mại và tăng trưởng kinh tế cho thấy đây là một mối quan hệ khá phức tạp Trong mối quan hệ tác động qua lại này còn bị ảnh hưởng bởi khá nhiều các yếu tố khác như vốn con người, lao động, hạ tầng kỹ thuật,…Như vậy, qua phân tích trước đây cho thấy, có tồn tại sự tác động giữa dòng vốn FDI, tự do thương mại và tăng

Trang 35

trưởng kinh tế Tuy nhiên, mỗi bài nghiên cứu lại có hướng đi riêng và cho kết quả không hoàn toàn giống nhau, tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, khu vực và từng giai đoạn nghiên cứu

Tóm lại, sự tác động của 3 yếu tố này sau các bài nghiên cứu thực nghiệm trước được tác giả tổng hợp lại như sau:

Hình 2.1 Mối liên hệ giữa Dòng vốn FDI, tự do thương mại và tăng trưởng

kinh tế

Tăng trưởng kinh tế

Tự do thương mại

Dòng vốn FDI

Trang 36

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Tổng quan các biến và thu thập dữ liệu trong mô hình nghiên cứu:

Dựa vào phương trình và mô hình nghiên cứu của Belloumi (2014) nghiên cứu

về mối quan hệ giữa tự do thương mại, FDI và tăng trưởng kinh tế để áp dụng và phát triển cho bài nghiên cứu của mình Theo đó, Belloumi cho rằng mối quan hệ giữa các yếu tố này còn bị ảnh hưởng mạnh bởi yếu tố là: tổng vốn đầu tư cố định của nền kinh tế và tổng lực lượng lao động Như vậy, theo đề xuất đó, tác giả sẽ sử dụng 5 biến cho mô hình nghiên cứu gồm: (1) tăng trưởng kinh tế, (2) tự do thương mại, (3) dòng vốn FDI, (4) tổng vốn đầu tư cố định của nền kinh tế, (5) lực lượng lao động Trong đó:

(1) Biến tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định và được đo lường bằng tốc

độ tăng lên của các chỉ số này Theo Belloumi (2014) thì biến tăng trưởng kinh tế được ông sử dụng là tốc độ tăng trưởng GDP trong các giai đoạn và tác giả sử dụng tốc độ tăng trưởng GDP để đo lường tăng trưởng kinh tế

(2) Biến tự do thương mại: là biến được sử dụng để đo lường sự can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán hàng hóa thông qua thương mại quốc tế Tự do hóa thương mại càng cao thì mức độ hội nhập của một quốc gia

sẽ càng lớn Theo đó, tự do thương mại bao gồm các yếu tố như: hàng hóa không có thuế quan hay những hàng rào thuế quan, dịch vụ không bị thuế quan và hàng rào thương mại; tự do lưu chuyển vốn và lao động giữa các quốc gia, không có chính sách bảo hộ thương mại Theo nghiên cứu của Belloumi (2014) thì tự do thương mại được thể hiện qua tỷ lệ mậu dịch của một quốc gia và được đo lường bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm t chia cho GDP năm t

(3) Biến dòng vốn FDI: đo lường tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện trong năm Đối với bài nghiên cứu, biến FDI được đại diện bằng tỷ

Ngày đăng: 07/08/2018, 23:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w