Bài nghiên cứu kế thừa các nghiên cứu trước có liên quan đồng thời bổ sung vào mô hình nghiên cứu một cấp biến nghiên cứu, mô hình nghiên cứu xác định được 5 thành phần tác động lên ý đị
Trang 1LÊ MINH TRƯỜNG
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH VÀ HÀNH VI KHỞI SỰ KINH DOANH – TRƯỜNG HỢP CÁC CÁ NHÂN KHỞI NGHIỆP TẠI TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÊ MINH TRƯỜNG
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH VÀ HÀNH VI KHỞI SỰ KINH DOANH – TRƯỜNG HỢP CÁC CÁ NHÂN KHỞI NGHIỆP TẠI TP.HCM
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh ( Hướng nghiên cứu)
Mã số : 60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “ Các yếu tố tác động đến ý định khởi
sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh- trường hợp các cá nhân khởi nghiệp tại Thành Phố Hồ Chí Minh” là kết quả của quá trình nghiên cứu thực sự
và nghiêm túc từ những kiến thức có được trong quá trình học tập tại Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM Kết quả thu thập số liệu được thực hiện trên địa bàn TPHCM sau đó được thực hiện nghiên cứu từng bước để hoàn chỉnh viết báo cáo dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy PGS.TS Phạm Xuân Lan
Nội dung nghiên cứu có tham khảo và sử dụng những thông tin từ các tài liệu trong và ngoài nước, các tài liệu tham khảo được liệt kê đầy đủ trong phần danh mục tài liệu tham khảo.Trong quá trình nghiên cứu còn nhiều hạn chế, kính mong quý Thầy/Cô và các bạn đọc bỏ qua cho những thiếu sót và xin chân thành nhận những góp ý để bài nghiên cứu hoàn chỉnh hơn
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 10 năm 2017
Tác giả
Lê Minh Trường
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 4
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.3 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 6
1.6 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
2.1 Cơ sở lý thuyết về khởi sự kinh doanh và ý định khởi sự kinh doanh 9
2.1.1 Khái niệm khởi sự kinh doanh 9
2.1.2 Khái niệm ý định khởi sự kinh doanh 11
2.2 Các nhân tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh 13
2.2.1 Mô hình hành vi hoạch định 13
2.2.2 Các nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh 15
Trang 52.3.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý định khởi sự kinh doanh và hành vi
khởi sự kinh doanh 27
2.4 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đề xuất 30
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 31
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Thiết kế nghiên cứu 32
3.2 Phương pháp nghiên cứu 33
3.2.1 Nghiên cứu định tính sơ bộ 33
3.2.1 Nghiên cứu chính thức định lượng 38
3.2.3 Phương pháp chọn mẫu 39
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.1 Thông tin mẫu nghiên cứu 41
4.2 Kiểm định mô hình nghiên cứu 43
4.2.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo ( hệ số Cronbach Alpha ) 43
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 49
4.2.3 Phân tích tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu 59
4.2.4 Phân tích hồi quy 60
(Nguồn kết quả nghiên cứu) 70
4.3 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 71
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý 73
5.1 Kết luận 73
5.2 Hàm ý cho cấp quản lý hoạch định chính sách Thành Phố 75
5.2.1 Hàm ý về yếu thái độ với khởi sự kinh doanh 76
Trang 65.2.5 Hàm ý về yếu tố cảm nhận về kiểm soát hành vi 80
5.2.6 Hàm ý về hành vi khởi sự kinh doanh 80
5.3 Hạn chế nghiên cứu 81
5.4 Gợi mở cho hướng nghiên cứu tiếp theo 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1 Thang đo khái niệm Thái độ 34
Bảng 3.2 Thang đo khái niệm Kiểm soát hành vi 35
Bảng 3.3 Thang đo khái niệm Ý kiến người xung quanh 35
Bảng 3.4 Thang đo khái niệm chấp nhận rủi ro 36
Bảng 3.5 Thang đo khái niệm nhu cầu thành tựu 36
Bảng 3.6 Thang đo khái niệm ý định khởi sự kinh doanh 37
Bảng 4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 42
Bảng 4.2 Tóm tắt kết quả kiểm định Cronbach Alpha 44
Bảng 4.3 Tóm tắt kết quả EFA cho các biến độc lập 51
Bảng 4.4 Kết quả bảng ma trận xoay nhân tố phân tích EFA lần 1 52
Bảng 4 5 Ma trận xoay nhân tố phân tích EFA lần cuối 55
Bảng 4.6 Các thông số phân tích EFA khái niệm ý định khởi sự kinh doanh 57
Bảng 4.7 Ma trận nhân tố phân tích EFA cho biến ý định khởi sự kinh doanh 57 Bảng 4.8 Các thông số phân tích EFA cho biến hành vi khởi sự kinh doanh 58
Bảng 4.9 Ma trận xoay nhân tố phân tích EFA biến hành vi khởi sự kinh doanh .58
Bảng 4.10 Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 60
Bảng 4.11 Model Summary mô hình 1 62
Bảng 4.12 ANOVA mô hình 1 62
Bảng 4.13 Hệ số hồi quy mô hình 1 62
Bảng 4.14 Model Summary mô hình 2 68
Bảng 4.15 ANOVA mô hình 2 68
Bảng 4.16 Hệ số Coefficients mô hình hồi quy 2 69
Bảng 4.17 Tóm tắt các hệ số mô hình tổng thể 70
Trang 8Hình 2.3 Các nhân tố cá nhân và ngữ cảnh ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh
17
Hình 2.4 Mô hình các nhân tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB 18
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Tarek (2016 ) 19
Hình 2.6 Mô hình các nhân tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh và dẫn tới hành vi khởi sự kinh doanh thực sự 19
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất 30
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 33
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện phân phối chuẩn của phần dư mô hình 1 63
Hình 4.2 Thể hiện phân phối chuẩn của phần dư mô hình 2 68
Hình 4.3 Kết quả hồi quy tổng thể được tóm tắt 71
Trang 9EFA : Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis)
VIF : Hệ số nhân tố phóng đại phương sai
NCTT : Khái niệm nhu cầu thành tựu
YD : Khái niệm ý định khởi sự kinh doanh
TĐ : Khái niệm thái độ đối với khởi sự kinh doanh
KSHV : Khái niệm cảm nhận khả năng kiểm soát hành vi
YK : Khái niệm ý kiến người xung quanh
CNRR : Khái niệm khuynh hướng chấp nhận rủi ro
NCTT : Khái niệm nhu cầu thành tựu
HVKS : Khái niệm hành vi khởi sự kinh doanh
TP.HCM : Thành Phố Hồ Chí Minh
HSIF : Quỹ đầu tư khởi nghiệp và sáng tạo TP Hồ Chí Minh
SPSS : Statistical Package for the Social Sciences
Trang 10kết hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài và cơ sở lý thuyết phù hợp để có được mô hình nghiên cứu chính thức của luận văn
Bài nghiên cứu kế thừa các nghiên cứu trước có liên quan đồng thời bổ sung vào mô hình nghiên cứu một cấp biến nghiên cứu, mô hình nghiên cứu xác định
được 5 thành phần tác động lên ý định khởi sự kinh doanh là : thái độ đối với khởi
sự kinh doanh, ý kiến người xung quanh, khuynh hướng chấp nhận rủi ro, nhu cầu
về thành tựu, cảm nhận khả năng kiểm soát hành vi , từ ý định khởi sự kinh doanh
sẽ tác động lên hành vi khởi sự kinh doanh đây là điểm mới của đề tài so với các
nghiên cứu trước, mẫu khảo sát được thu thập với số lượng phù hợp (tại Thành Phố
Hồ Chí Minh) để dùng các kỹ thuật phân tích định lượng như cronbach alpha, EFA, tương quan, hồi quy nhằm lượng hóa mức độ tác động của các yếu tố đến ý định khởi sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh, đồng thời kiểm định các giả thuyết nghiên cứu Kết quả cho thấy 5 giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận từ
dữ liệu có được của nghiên cứu , trong đó nhu cầu thành tựu và thái độ đối với khởi
sự kinh doanh là 2 yếu tố tác động mạnh nhất đến ý định khởi sự kinh doanh (hệ số Beta lần lượt là 0.297 và 0.2 ) đồng thời ý định khởi sự kinh doanh tác động rất mạnh đến hành vi khởi sự kinh doanh ( hệ số beta 0.787 ),trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đề ra được các giải pháp thích hợp nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách của Thành Phố có được cơ sở để ra các quyết định hổ trợ chính sách phát triển khởi nghiệp của địa bàn được tốt hơn
Trang 11CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Tình hình thực tiễn về khởi sự kinh doanh, việc khởi sự kinh doanh đã góp phần tạo ra sự tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế, kết quả là tạo ra các tổ chức kinh doanh vừa hoặc nhỏ đã thu hút hơn 90% lao động mới vào làm việc, bên cạnh đó trong những năm gần đây, phong trào khởi nghiệp đang rất phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, phong trào khởi nghiệp được giới trẻ tri thức rất quan tâm nhất là các bạn sinh viên hoặc cựu học viên đã tốt nghiệp từ các trường Đại học, Cao đẳng Năm
2016 được nước ta chọn làm năm quốc gia khởi nghiệp, nhằm khuyến khích sự phát triển kinh tế đất nước gắn liền với việc phát triển doanh nghiệp, thời gian qua đất nước đã có những chính sách khuyến khích phát triển khởi nghiệp và được sự quan
tâm của xã hội (Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới năm 2016 tính đến hết ngày 20 tháng 12 trên cả nước đạt kỷ lục cao chưa từng có là 110.100 đơn vị, tăng 16,2% so với năm 2015 theo số liệu thống kê từ Cơ sở Dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu Tư)
Việc khởi sự kinh doanh (khởi nghiệp) thường có thể xảy ra với bất kỳ sinh viên, học viên thuộc khối ngành nào Thành Phố Hồ Chí Minh là trung tâm hoạt động kinh tế của nước ta (theo sở kế hoạch đầu tư TPHCM, năm 2016 ước lượng có 393.669 doanh nghiệp đang hoạt động khu vực TPHCM) đồng thời cũng là nơi chứa đựng nhiều tri thức mới mẻ và là nơi có nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ đang hoạt động cũng như hoạt động khởi nghiệp được nảy nở từ Thành Phố Hồ Chí Minh là nhiều nhất (đến hết năm 2016, TP.HCM sẽ có khoảng 36.000 DN mới được cấp phép thành lập với số vốn đăng ký là 292.610 tỷ đồng, tăng 12,7% về số lượng và tăng 41,7% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước (theo Sở Kế Hoạch Đầu Tư TPHCM), hằng năm hoạt động khởi nghiệp cứ diễn ra liên tục và phát triển nhanh chóng, tỷ lệ khởi nghiệp thành công là rất thấp (25% doanh nghiệp mới không tồn tại quá 1 năm, xác suất này chỉ còn 10% doanh nghiệp sau khi qua 5 năm và chỉ có
Trang 126% trong năm thứ 10 ,theo Khởi Nghiệp Trẻ) bên cạnh đó TP.HCM đã bố trí gói đầu tư 1.000 tỷ đồng từ ngân sách để hỗ trợ khởi nghiệp bao gồm cả những hộ kinh doanh cá thể và đề ra mục tiêu đến năm 2020 sẽ hỗ trợ cho 2.000 dự án khởi nghiệp
và tính đến 2016 đã có khoảng 200 dự án đầu tiên đăng ký được hỗ trợ (theo số liệu
Sở Kế Hoạch Đầu Tư TPHCM) ngoài ra TPHCM có Quỹ đầu tư khởi nghiệp và
sáng tạo TP Hồ Chí Minh (HSIF) được hình thành với mong muốn giúp cho các
doanh nghiệp khởi nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung phát triển được dự án khởi nghiệp sáng tạo của mình, đóng góp chung vào sự phát triển cho TP Hồ Chí Minh Với mục tiêu trở thành Thành phố khởi nghiệp cho giới trẻ từ nguồn vốn được hình thành từ các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, cá nhân góp vốn, vấn đề hiện tại giới quản lý cũng rất quan tâm về việc khuyến khích các cá nhân phát triển khởi sự kinh doanh, nhằm hiểu rõ hơn về động lực và các đặc điểm
để một cá nhân có thể khởi sự kinh doanh để từ đó khuyến khích ngày càng có nhiều những cá nhân tham gia khởi nghiệp, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế , bên cạnh khuyến khích những “Doanh Nhân tương lai “ luôn hào hứng với các kế hoạch cũng như ý định khởi sự kinh doanh đồng thời giúp các cá nhân hiểu
rõ về tiềm năng khởi sự kinh doanh của mình, với lý do đó bài nghiên cứu này được thực hiện
Thông qua quá trình tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước, cũng đã
có một số nghiên cứu thực hiện về ý định khởi sự kinh doanh (khởi nghiệp) Các
nghiên cứu trong nước phần lớn tập trung vào ý định khởi sự kinh doanh dựa vào
các đặc điểm cá nhân và yếu tố ngữ cảnh, có thể kế đến một số nghiên cứu như Bùi
Thị Thanh Chi & Hoàng Thị Phương Thảo (2013) Nghiên cứu về Ý định khởi
nghiệp của nữ học viên MBA tại TP Hồ Chí Minh , Nguyễn Thị Thu Thủy (2014) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên
Đại Học Quốc Gia Hà Nội , Lý Thục Hiền (2010) Nghiên cứu mối quan hệ giữa kỹ
năng chính trị với xu hướng khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên chính quy ngành quản trị kinh doanh Tại nước ngoài các nghiên cứu hầu như cũng tập trung vào các
đặc điểm cá nhân tác động đến ý định khởi sự kinh doanh như Kamal Và cộng sự
Trang 13(2007) nghiên cứu các đặc điểm cá nhân “nhu cầu thành tựu, khả năng tự kiểm soát hành vi, sáng tạo, chấp nhận rủi ro, tự tin” ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh , Donatus (2009) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh
doanh “nhu cầu thành tựu, khả năng kiểm soát hành vi, hỗ trợ từ môi trường “ , các
nghiên cứu liên quan thường chỉ dừng lại nghiên cứu ở mức độ ý định khởi sự kinh
doanh, chưa tập trung vào nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh để dẫn đến hành vi khởi sự kinh doanh thực sự Trên nền tảng nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh và dẫn đến hành vi khởi sự kinh doanh và dựa vào các nghiên cứu có kế thừa mô hình hành vi hoạch định của
Krugger (2000) để nghiên cứu về khởi sự kinh doanh như Lee và cộng sự (2012)
nghiên cứu thái độ với hành vi khởi sự kinh doanh, ý kiến xung quanh và khả năng
kiểm soát hành vi tác động đến ý định khởi sự kinh doanh hay Richard và cộng sự
(2014) xem xét hành vi khởi sự kinh doanh là một hành vi có kế hoạch được dẫn dắt
từ ý định khởi sự kinh doanh và các yếu tố tác động đến ý khởi sự kinh doanh Tại
Việt Nam các nghiên cứu nói về hành vi khởi sự kinh doanh còn rất ít đặc biệt là nghiên cứu kế thừa mô hình hành vi hoạch định để nghiên cứu về hành vi khởi sự
kinh doanh, với lý do đó luận văn Các Nhân Tố Tác Động Đến Ý Định Khởi Sự Kinh Doanh Và Hành Vi Khởi Sự Kinh Doanh- Trường Hợp Các Cá Nhân Khởi Nghiệp Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh được thực hiện nhằm nghiên cứu
các nhân tố có tác động đến hành vi khởi sự kinh doanh thông qua ý định khởi sự kinh doanh Luận văn góp phần làm tài liệu tham khảo cho giới quản lý nhằm khuyến khích phong trào khởi nghiệp của quốc gia trong công cuộc phát triển kinh
tế, hơn nữa các nhà quản lý có thể hiểu rõ hơn về các nhân tố tác động đến hành vi khởi sự kinh doanh và ý định khởi sự kinh doanh để có những biện pháp chính sách thích hợp nhằm thúc đẩy phomg trào khởi nghiệp trên địa bàn thành phố nói riêng
và đất nước nói chung, bên cạnh đó cũng gợi ý cho các cá nhân quan tâm về khởi sự kinh doanh hiểu biết hơn về những nhân tố tác động đến hành vi khởi sự kinh doanh
từ đó có những quyết định liên quan đến vấn đề khởi sự kinh doanh của bản thân mình
Trang 141.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các yếu tố tác động đến Ý định khởi sự kinh doanh từ đó dẫn đến Hành vi khởi sự kinh doanh của các cá nhân khởi nghiệp trên địa bàn
Thành Phố Hồ Chí Minh
Đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố tác động đến Ý định khởi sự kinh doanh dẫn đến Hành vi khởi sự kinh doanh của các cá nhân khởi
nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
Từ kết quả nghiên cứu nhằm góp phần làm tài liệu tham khảo cho cấp quản lý hoạch định chính sách Thành Phố để khuyến khích phong trào khởi nghiệp quốc gia, bên cạnh đó cũng giúp cho cấp quản lý hoạch định chính sách Thành Phố nắm bắt được những nhân tố có tác động đến ý
định khởi sự kinh doanh để dẫn đến việc khởi nghiệp của các cá nhân và
có những giải pháp hỗ trợ nhằm có thể phát triển tinh thần khởi nghiệp của địa bàn Kết quả nghiên cứu cũng góp phần cho các cá nhân quan tâm nhằm xác định được những yếu tố có thể dẫn đến hành vi khởi sự kinh doanh để từ đó xem xét hành vi khởi sự kinh doanh của cá nhân là một hành vi có kế hoạch và có sự chuẩn bị thích hợp từ trước
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh và hành vi khởi
Trang 151.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính kết hợp trong quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu định tính
Thực hiện thảo luận nhóm với các cá nhân đã từng khởi sự kinh doanh, cùng các thành viên có hiểu biết liên quan đến lĩnh vực của vấn đề nghiên cứu (khởi sự kinh doanh), nhằm hiệu chỉnh thang đo của bài nghiên cứu phù hợp với ngữ cảnh nghiên cứu và hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát để tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu định lượng, bên cạnh đó xem xét cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến ý định khởi
sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh nhằm điều chỉnh mô hình nghiên cứu phù hợp
Nghiên cứu định lượng
Sau khi tiến hành nghiên cứu định tính để có được bảng hỏi hoàn chỉnh tiến hành thu thập dữ liệu và sau đó sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích dữ liệu nghiên cứu định lượng thu thập được
Thực hiện phân tích kiểm tra độ tin cậy thang đo thông qua kiểm tra hệ số Cronbach Alphacủa các khái niệm nghiên cứu, từ đó phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm loại bỏ các biến quan sát không phù hợp khỏi thang đo, sau khi phân tích nhân tố khám phá xem các biến quan sát có hội tụ đúng vào nhân tố hay khái niệm mà nó đo lường hay không để từ đó có được những biến quan sát đã thực sự
đo lường tốt cho các khái niệm cần đo lường, sau đó sẽ dùng kỹ thuật gom biến
nhằm đưa vào đánh giá, lượng hóa mức độ tác động thông qua phương pháp hồi quy tuyến tính để kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu và lượng giá
được mức độ tác động của các yếu tố đến ý định khởi sự kinh doanh cũng như sự tác động của ý định khởi sự kinh doanh đến hành vi khởi sự kinh doanh của các cá nhân khởi nghiệp, chi tiết được trình bày trong chương 3 (phương pháp nghiên cứu)
Trang 16Thông qua kết quả nghiên cứu (kiểm định các giả thuyết, lượng hóa mức độ tác động) sẽ đề xuất các gợi ý nhằm giúp giới quản lý có thể khuyến khích hành vi
khởi sự kinh doanh của các cá nhân để thúc đẩy và phát triển tinh thần khởi nghiệp quốc gia
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến ý định khởi sự kinh doannh và hành vi khởi sự kinh doanh
Ý định khởi sự kinh doanh , hành vi khởi sự kinh doanh
Đối tượng khảo sát : các cá nhân khởi nghiệp với quy mô kinh doanh vừa
và nhỏ (bao gồm các cá nhân đã và đang khởi nghiệp) tại Thành Phố Hồ Chí Minh, với số lượng mẫu nghiên cứu định lượng phù hợp để đảm bảo
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu
Bài nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của các cá nhân trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh từ đây lượng giá được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định khởi sự kinh doanh để dẫn đến hành vi khởi sự kinh doanh (khởi nghiệp), thông qua mô hình nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu có thể đưa ra được cơ sở khoa học cho việc khuyến khích phong trào khởi nghiệp và khuyến khích các cá nhân tham gia khởi nghiệp ngày càng phát triển hơn, cũng như cá nhân có ý định khởi sự kinh doanh có thể gia tăng hành vi khởi sự kinh doanh
Trang 17Bài nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho cấp quản lý hoạch định chính sách Thành Phố nhằm khuyến khích phong trào khởi nghiệp của quốc gia, hưởng ứng năm 2016 là năm quốc gia khởi nghiệp thông qua mức độ tác động của các yếu tố đến ý định và hành vi khởi sự kinh doanh được đo lường để từ đó giới quản lý có chính sách thích hợp nhằm khuyến khích phong trào khởi nghiệp của các cá nhân khởi nghiệp trên địa bàn
Dựa vào kết quả nghiên cứu, cung cấp những cơ sở nghiên cứu cho các bài nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực khởi sự kinh doanh trong tương lai
Góp phần vào cơ sở lý thuyết cho những nghiên cứu có liên quan đến khởi
sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh trong tương lai, thông qua mô hình và kết quả nghiên cứu mở ra hướng nghiên cứu về khởi sự kinh doanh dựa vào lý thuyết hành vi hoạch định, xem khởi sự kinh doanh là một hành vi có kế hoạch và được dẫn dắt từ ý định khởi sự kinh doanh
1.6 Kết cấu luận văn
Giới thiệu một cách khái quát tổng quan về luận văn, các vấn đề chính của luận văn tập trung vào
Trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm nghiên cứu, các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh cũng như hành vi khởi sự kinh doanh, trình bày các nghiên cứu liên quan nhằm đi đến mô hình nghiên cứu chính của bài nghiên cứu, làm cơ sở cho các giả thuyết cần kiểm định
Trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng cho luận văn này, bao gồm quy trình nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, số lượng mẫu điều chỉnh để có được
Trang 18thang đo và cách thức tiến hành nghiên cứu chính để có thể có được kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả nghiên cứ, thống kê mẫu nghiên cứu, kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá để đi đến kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
và lượng giá tầm quan trọng của các yếu tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh
và hành vi khởi sự kinh doanh để từ đó làm cơ sở cho các hàm ý và kết luận ở chương 5 của bài nghiên cứu
Thông qua kết quả nghiên cứu đề xuất các hàm ý và kết luận, rút ra những hạn chế cũng như gợi hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 19CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 này trình bày cơ sở lý thuyết cho các khái niệm nghiên cứu có liên
quan đến mô hình nghiên cứu, trình bày các cơ sở lý thuyết về khởi sự kinh doanh,
ý định khởi sự kinh doanh, hành vi khởi sự kinh doanh và các yếu tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh, thông qua tổng kết các
nghiên cứu có liên quan để có thể đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất chính và các giả thuyết nghiên cứu của luận văn, bên cạnh đó dựa vào cơ sở lý thuyết để có thể tiến hành nghiên cứu định tính nhằm có được mô hình nghiên cứu và thang đo chính thức phục vụ cho công tác khảo sát và nghiên cứu định lượng
2.1 Cơ sở lý thuyết về khởi sự kinh doanh và ý định khởi sự kinh doanh
2.1.1 Khái niệm khởi sự kinh doanh
Có rất nhiều tác giả đưa ra nhiều khái niệm về khởi sự kinh doanh, chúng ta
có thể xem xét một số khái niệm về khởi sự kinh doanh được nghiên cứu trước đây như sau
Theo Shapero & Shokol (1982) Khởi sự kinh doanh là một sự kiện bị tác
động bởi những thay đổi trong đời sống của con người , quyết định một cá nhân thành lập một doanh nghiệp (hành động khởi sự kinh doanh) phụ thuộc vào những thay đổi quan trọng trong cuộc sống của cá nhân đó và thái độ của cá nhân đối với việc khởi sự kinh doanh hay bị thúc đẩy từ ý định khởi sự kinh doanh
Acs & Laszlo (2007) cho rằng Khởi sự kinh doanh là quá trình bắt đầu
một doanh nghiệp mới, một doanh nghiệp mới là doanh nghiệp có biên chế trên số 0 trong bất kỳ năm nào và không tồn tại trong năm trước, việc tạo ra doanh nghiệp mới là thước đo quan trọng trong việc khởi sự kinh doanh, khi bắt đầu một doanh nghiệp mới là một trong những cách chủ yếu để doanh nhân đưa những ý tưởng mới
ra thị trường, nói cách khác khởi sự kinh doanh có thể đại diện cho việc thương mại hóa các ý tưởng
Trang 20Low & MacMillian (1988) cho rằng, khởi sự kinh doanh là việc tạo ra một doanh nghiệp mới với tất cả các nhu cầu và sự thực hiện của nó Những doanh nghiệp mới này ngày càng tăng trong nền kinh tế cạnh tranh và toàn cầu hóa, là một
bộ phận không thể tách rời của sự tinh vi về kinh doanh, sự đổi mới và tính doanh nghiệp đóng góp vào khả năng cạnh tranh của quốc gia
Theo Iversen và cộng sự (2005) khởi sự kinh doanh là quá trình bằng cách con người sẽ mang những đổi mới (hàng hóa, dịch vụ, quy trình…) đến với người tiêu dùng, quá trình này mang tính năng động theo đó các doanh nhân mang những đổi mới cho thị trường thay thế các doanh nghiệp (hoặc sản phẩm, quy trình ) không còn cạnh tranh, đồng thời gây áp lực lên các công ty hiện có, các hoạt động kinh doanh mang sự đổi mới cho thị trường và dẫn đến sự biến đổi về kinh tế
Theo Ngoc Khuong & Huu An (2016) , Khởi sự kinh doanh là quá trình tạo
ra liên doanh mới hoặc tổ chức mới thông qua quá trình đó một vài giá trị sẽ được tạo ra từ không có gì bằng cách đóng góp thời gian, nổ lực làm việc, tiền và chấp nhận rủi ro để đạt được phần thưởng thực sự (ví dụ như sự hài lòng hoặc tự chủ cá nhân) và những phần thưởng bên ngoài (ví dụ như các phần thưởng liên quan đến tiền)
Có rất nhiều khái niệm nói về khởi sự kinh doanh của các tác giả khác nhau nhưng nhìn chung các khái niệm có điểm chung khi nói về khởi sự kinh doanh, các tác giả đều cho rằng khởi sự kinh doanh là việc bắt đầu một doanh nghiệp mới hay một tổ chức kinh doanh mới với các nổ lực và mong muốn nhằm mục đích đưa các
ý tưởng của người khởi sự kinh doanh vào thị trường để có thể tìm kiếm lợi nhuận thông qua tổ chức mới hay doanh nghiệp mới của mình
Bài nghiên cứu này sử dụng khái niệm khởi sự kinh doanh theo quan điểm cho rằng khởi sự kinh doanh là một quá trình mà cá nhân tạo ra một công việc kinh doanh để có thể đưa những ý tưởng của mình tiếp cận với thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kinh doanh
Trang 212.1.2 Khái niệm ý định khởi sự kinh doanh
Theo Ajzen (1991) ý định được hiểu là trạng thái của tâm trí nó hướng sự chú ý của cá nhân, những kinh nghiệm, hành động hướng đến những việc cụ thể tức
là mục tiêu hay cách thức đạt được một điều gì đó, nó như là một yếu tố tâm lý độc lập hoạt động thông qua sự quan tâm, chú ý của cá nhân, giữ những ý tưởng dự định
và sự ưng thuận ban đầu về hành vi dự định
Krueger và cộng sự (2000) thì cho rằng những ý định được cho là điều quan trọng để hiểu rõ những hành vi mà một cá nhân sẽ thực hiện, có thể sẽ có sự khác biệt giữa hành vi dự định và hành vi thực tế, tuy nhiên nó được xác định là một trong những xu hướng của hành động để hướng tới một cái gì đó theo một cách nhất định và nó là dự báo nhất quán của hành vi thực tế
Thông qua các khái niệm khác nhau về ý định, ta có thể thấy rằng các tác giả đưa ra khái niệm ý định đều cho rằng : ý định là một dấu hiệu cho hành vi, ý định sẽ giúp định hình hành vi xảy ra trong tương lai và là một trạng thái tâm lý sẽ hướng hành vi đến những gì được xem là ý định hay dự định từ trước
2.1.2.2 Khái niệm ý định khởi sự kinh doanh
Có rất nhiều tác giả đưa ra các khái niệm liên quan đến ý định khởi sự kinh doanh, một số khái niệm về ý định khởi sự kinh doanh tiêu biểu mà bài nghiên cứu tham khảo
Trang 22Theo Krugger & BraZeal (1994) ý định khởi sự kinh doanh được định nghĩa
là việc cam kết để tạo ra một doanh nghiệp mới và chúng đóng vai trò là chìa khóa
an toàn cho hành vi kinh doanh sau này
Shapero & Shokol (1982) thì cho rằng ý định khởi sự kinh doanh là việc tạo
ra một công việc kinh doanh mới hoặc tạo ra những giá trị mới trong công việc kinh doanh hiện tại , ý định khởi sự kinh doanh đóng vai trò như một mối liên kết giữa doanh nhân (người sáng lập) với tư cách là một cá nhân với bối cảnh mà công việc kinh doanh được tạo ra
Theo Birds (1988) ý định khởi sự kinh doanh đề cập đến các cá nhân mà trạng thái của suy nghĩ hướng đến việc tạo ra công việc kinh doanh mới, phát triển một nhận thức kinh doanh mới hoặc tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại, đây là yếu tố quan trọng trong việc tạo thuận lợi cho công việc kinh doanh mới được tạo ra và có tác động đáng kể đến sự thành công cũng như tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Theo Dell (2008) định nghĩa ý định khởi sự kinh doanh là sự sẵn lòng của các cá nhân để thực hiện hành vi kinh doanh, tham gia vào các hoạt động kinh doanh, tự làm chủ hoặc thành lập một tổ chức kinh doanh mới, nó thường gắn liền với tham vọng, những động lực bên trong và cảm giác tự làm chủ của một cá nhân
Có nhiều khái niệm về ý định khởi sự kinh doanh, nghiên cứu của luận văn
sử dụng khái niệm cho rằng ý định khởi sự kinh doanh là sự sẵn sàng để thực hiện
hành vi kinh doanh thông qua việc làm chủ hành vi kinh doanh hoặc thành lập tổ chức kinh doanh của riêng mình đồng nghĩa với việc sẽ khởi sự kinh doanh (khởi nghiệp) trong tương lai nếu nắm bắt được các cơ hội và nguồn lực cần thiết
Trang 232.2 Các nhân tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh
Hình 2.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB
(Nguồn: Ajzen, 1991)
Dự định thực hiện hành vi chịu tác động của 3 yếu tố
Thái độ của cá nhân đối với hành vi : thể hiện mức độ đánh giá tiêu cực
hoặc tích cực của cá nhân về việc khởi sự kinh doanh Đó không chỉ đơn
Trang 24giản là cảm giác của cá nhân mà bao hàm cả việc cân nhắc đánh giá giá trị của hành vi (khởi sự kinh doanh) nó có khả năng đem lại lợi nhuận, có nhiều
ưu điểm hơn hay không Thái độ còn được hiểu như là việc đánh giá thẩm định những thuận lợi hay khó khăn đối với hành vi, nhận thức của cá nhân về việc thực hiện các hành vi
Ý kiến người xung quanh : khái niệm này đo lường các áp lực của xã hội
mà một cá nhân tự cảm nhận được về việc tiến hành hoặc không tiến hành các hành vi (khởi sự kinh doanh) Cụ thể, nó là dự cảm của một cá nhân về việc những người xung quanh có ủng hộ quyết định hành vi của mình hay không, thể hiện sự ủng hộ, quan tâm, phản đối của những người xung quanh đối với hành vi sẽ thực hiện
Cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi : được định nghĩa là quan niệm
của cá nhân về độ khó hoặc dễ trong việc hoàn thành các hành vi (tôi thấy là tôi có khả năng làm và đủ nguồn lực để làm một việc nào đó không), tuy nhiên, cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi khác với khái niệm cảm nhận
về tự tin khởi sự kinh doanh ở chỗ cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi không chỉ đơn thuần là dự cảm về việc có thể thực hiện được hành vi mà còn
là cảm nhận về việc có khả năng kiểm soát hành vi (khởi sự kinh doanh)
Dựa vào mô hình hành vi hoạch định, ta có thể thấy rằng hành vi được dẫn dắt từ ý định từ trước chứ nó không xảy ra ngẫu nhiên và ý định về hành
vi sẽ định hướng cho hành vi trong tương lai trên cơ sở cho rằng việc khởi sự kinh doanh là một hành vi được hình thành từ các yếu tố như thái độ đối với việc khởi sự kinh doanh, cảm nhận về tính khả thi của hành vi khởi sự kinh doanh, cảm nhận về ý kiến xung quanh đối với việc khởi sự kinh doanh để từ
đó hình thành ý định và dẫn đến hành vi khởi sự kinh doanh
Trang 252.2.2 Các nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh
Tình hình trong và ngoài nước có rất nhiều nghiên cứu nói về ý định khởi sự kinh doanh Các dòng nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh trên thế giới tạm thời có thể chia thành 2 dòng nghiên cứu chính : dòng nghiên cứu về các đặc điểm
cá nhân, ngữ cảnh và dòng nghiên cứu dựa vào lý thuyết hành vi hoạch định
Nghiên cứu về các đặc điểm cá nhân, ngữ cảnh nghĩa là các cá nhân có ý định khởi sự kinh doanh thì phải hội tụ một số đặc điểm sau và không dựa trên nền tảng của mô hình dự đinh khởi sự kinh doanh của Ajzen hay krueger, shapero và Sokol Theo Abir và cộng sự (2014) các dòng nghiên cứu về đặc điểm cá nhân và ngữ cảnh cho thấy có 4 nhóm yếu tố chính tác động đến ý định khởi sự kinh doanh
của cá nhân gồm : nhóm nhân tố đặc điểm cá nhân (sự tự tin, chấp nhận rủi ro, nhu cầu thành tựu, sáng tạo), các nhân tố có liên quan đến bối cảnh (văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị…), các nhân tố liên quan đến động lực các nhân (mong muốn thu
nhập cao, mong muốn được an toàn hơn, mong muốn địa vị xã hội), các nhân tố
nhân khẩu học (tuổi, giới tính, trình độ giáo dục, kinh nghiệm kinh doanh) 4 nhóm
nhân tố này sẽ tác động đến ý định khởi sự kinh doanh của một cá nhân, tiêu biểu
trong dòng nghiên cứu về đặc điểm cá nhân và ngữ cảnh :
Nghiên cứu của Kamal và cộng sự (2007) về các tính cách cá nhân (một số đặc điểm tâm lý) ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh cho rằng ý định khởi sự kinh doanh của các cá nhân bị ảnh hưởng mạnh bởi các đặc tính cá
nhân như : nhu cầu thành tựu, khả năng tự kiểm soát hành vi, sáng tạo, chấp nhận rủi ro, tự tin, chấp nhận sự mơ hồ kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu
tố nhu cầu thành tựu, khả năng tự kiểm soát hành vi, chấp nhận rủi ro, sáng tạo, tác động đến ý định khởi sự kinh doanh của một cá nhân, nghiên cứu
này với quan điểm cho rằng các cá nhân có những đặc điểm được liệt kê thì
sẽ có ý định khởi sự kinh doanh mạnh hơn các cá nhân không hội tụ những đặc điểm này
Trang 26Hình 2.2 Mô hình các nhân tố cá nhân tác động đến ý định khởi sự kinh doanh
(Nguồn Kamal et al 2007)
Nghiên cứu của Donatus (2009) kế thừa nghiên cứu về các đặc điểm
cá nhân tác động đến ý định khởi sự kinh doanh, nghiên cứu của Donatus đưa ra
các nhân tố thuộc đặc điểm cá nhân như nhu cầu thành tựu, nhận thức về kiểm soát hành vi, chấp nhận sự mơ hồ, bên cạnh có biến hỗ trợ của môi trường đóng
vai trò là biến điều tiết tác động đến ý định khởi sự kinh doanh của các cá nhân, nghiên cứu này ngoài xem xét các yếu tố đặc điểm cá nhân có sự tham gia của biến yếu tố môi trường tác động đến mối quan hệ của các đặc điểm cá nhân với
ý định khởi sự kinh doanh, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng các yếu tố như nhu cầu thành tựu càng lớn, khả năng kiểm soát hành vi càng tốt, chấp nhận
sự mơ hồ cao thì sẽ có ý định khởi sự kinh doanh càng mạnh
Trang 27Hình 2.3 Các nhân tố cá nhân và ngữ cảnh ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh
nghiên cứu này có chung quan điểm cho rằng hành vi khởi sự kinh doanh là một
quá trình và hành vi khởi sự kinh doanh là một hành động có kế hoạch nó được
dự báo tốt từ ý định khởi sự kinh doanh, tiếp nối trường phái nghiên cứu này các
nhà nghiên cứu sau này cho ra đời nhiều mô hình dựa vào lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB được phát triển bởi Ajzen , Shapero, Krueger Một số nghiên cứu tiêu biểu trong dòng nghiên cứu khởi sự kinh doanh dựa vào lý thuyết hành vi có kế hoạch :
Nghiên cứu Lee và cộng sự (2012) , nghiên cứu này dựa trên nền tảng lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB của Aijen, nghiên cứu cho
thấy có các biến tác động đến ý định khởi sự kinh doanh gồm : thái độ
với hành vi khởi sự kinh doanh, ý kiến chủ quan người xung quanh, cảm nhận về kiểm soát hành vi , kiến thức được học về kinh doanh, đặc điểm
Trang 28cá nhân, các biến này đóng vai trò là biến độc lập và đều ảnh hưởng đến
ý định khởi sự kinh doanh, nghiên cứu này xem xét trọng tâm là 3 biến thuộc mô hình hành vi có kế hoạch sẽ tác động đến ý định khởi sự kinh doanh
Hình 2.4 Mô hình các nhân tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh dựa trên
lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB
(Nguồn Lee et al 2012)
Nghiên cứu của Tarek (2016), nghiên cứu này cũng dựa vào mô hình nghiên cứu lý thuyết hành vi hoạch định cho rằng hành vi khởi sự kinh doanh là một hành
vi có kế hoạch được dẫn dắt từ ý định khởi sự kinh doanh, kết quả nghiên cứu cho
thấy cả 3 yếu tố thái độ đối với khởi sự kinh doanh, ý kiến xung quanh và cảm nhận
về khả năng kiểm soát hành vi đều tác động cùng chiều đến ý định khởi sự kinh
doanh
Trang 29Hình 2.5 mô hình nghiên cứu của Tarek (2016 )
(Nguồn Tarek 2016 )
Nghiên cứu của Richard và cộng sự (2014), nghiên cứu này cũng dựa trên nền tảng của mô hình hành vi có kế hoạch, kết hợp quá trình tổng kết lý thuyết tác giả đã xem xét hành vi khởi sự kinh doanh là một hành vi có kế hoạch và nó được
tác động bởi 4 nhóm yếu tố chính : thái độ đối với khởi sự kinh doanh, lợi ích có được từ việc tự làm việc cho chính mình (khởi sự kinh doanh), cảm nhận về tính khả thi, khuynh hướng đối với hành động khởi sự kinh doanh từ đó sẽ dẫn dắt đến ý định
khởi sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh thực sự, nghiên cứu này được thể hiện thông qua mô hình bên dưới
Hình 2.6 Mô hình các nhân tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh và dẫn
tới hành vi khởi sự kinh doanh thực sự
(Nguồn : Richard 2014)
5
Trang 30Bài nghiên cứu này tác giả thực hiện dựa theo dòng nghiên cứu về dự định khởi sự kinh doanh (dòng nghiên cứu dựa vào mô hình hành vi hoạch định), cho rằng hành vi khởi sự kinh doanh là một hành động có kế hoạch, nó được chuẩn bị từ trước chứ không phải ngẫu nhiên, các yếu tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh và dẫn đến hành vi khởi sự kinh doanh
2.2.3 Các thành phần tác động lên ý định khởi sự kinh doanh
2.2.3.1 Thái độ
Có nhiều tác giả đưa ra các khái niệm về thái độ khác nhau, có thể xem xét một số khái niệm của các tác giả sau
Theo Ajzen (1991) định nghĩa thái độ là cảm giác chung chung của cá nhân
về cảm giác dễ chịu hay khó chịu đối với các đối tượng kích thích khác nhau, nếu
họ có niềm tin về một đối tượng họ sẽ đạt được thái độ tích cực đối với đối tượng
đó
Tarek (2016) cho rằng thái độ là trạng thái khi các cá nhân nhận biết một số đối tượng sẽ được liên kết với một số thuộc tính nhất định, như vậy cách đánh giá
về thuộc tính sẽ được liên kết với đối tượng, thái độ dựa trên những niềm tin nổi bật
về các thuộc tính của đối tượng và những đánh giá liên quan đến các thuộc tính đó
Bài nghiên cứu sử dụng khái niệm thái độ trong trường hợp đối với việc khởi
sự kinh doanh được hiểu là tình trạng các cá nhân cho rằng việc khởi sự kinh doanh
sẽ có nhiều lợi thế hơn là bất lợi và đối với các cá nhân khởi sự kinh doanh sẽ mang lại điều tuyệt vời, họ tin rằng mình sẽ làm được và họ cảm nhận được những kết quả
mà mình sẽ làm gắn liền với thuộc tính khởi sự kinh doanh
Nghiên cứu của Aliyu et al (2015) cho thấy các cá nhân có thái độ với việc
khởi sự kinh doanh cho rằng việc khởi sự kinh doanh để trở thành doanh nhân sẽ có
nhiều lợi thế hơn là bất lợi đối với họ, kết quả nghiên cứu cho thấy biến thái độ với khởi sự kinh doanh có tác động cùng chiều lên ý định khởi sự kinh doanh, điều này
Trang 31có nghĩa là khi các cá nhân cho rằng việc trở thành một doanh nhân sẽ có nhiều lợi thế hơn là bất lợi, họ cảm thấy bị thu hút rất cao để khởi sự kinh doanh
Nghiên cứu của Lee et al (2012), Nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ
khởi sự kinh doanh của các cá nhân với ý định khởi sự kinh doanh của họ, kết quả
nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa biến thái độ với ý định khởi sự kinh doanh có
mối quan hệ cùng chiều với nhau , khi các cá nhân có thái độ tốt với việc khởi sự
kinh doanh sẽ dẫn họ đến ý định khởi sự kinh doanh cao hơn, nghiên cứu này cũng
giống với kết quả nghiên cứu của các tác giả Dohse và Walter (2009), Paço và cộng
sự (2011), các kết quả nghiên cứu cho thấy ý nghĩa quan trọng giữa thái độ đối với hành vi và ý định khởi sự kinh doanh nó cho thấy rằng nếu các cá nhân khởi nghiệp
cảm nhận sẽ có nhiều lợi ích nếu họ khởi sự kinh doanh, có cái nhìn tích cực hơn về kết quả nhận được trong tương lai khi bắt đầu khởi sự kinh doanh thì thái độ của họ đối với việc khởi sự kinh doanh sẽ ngày càng thuận lợi và ý định khởi sự kinh doanh sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn Như vậy thông qua các nghiên cứu ta thấy các nghiên cứu hỗ trợ cho giả thuyết có mối quan hệ cùng chiều giữa thái độ và ý định khởi sự kinh doanh, khi thái độ với việc khởi sự kinh doanh là tích cực thì ý định khởi sự kinh doanh sẽ mạnh mẽ và tích cực hơn
2.2.3.2 Khả năng kiểm soát hành vi
Khi nói đến khái niệm kiểm soát hành vi chúng ta có thể xem xét đến một số khái niệm về kiểm soát hành vi như sau
Ajzen (1991) cho rằng cảm nhận khả năng kiểm soát hành vi đề cập đến nhận thức của cá nhân cho là dễ dàng hoặc khó khăn để hoàn thành hành vi được đề
ra, nó được đưa ra để phản ánh những kinh nghiệm trong quá khứ của một người và
có thể dự báo được những trở ngại trong tương lai
Bandura (1982) định nghĩa khả năng kiểm soát hành vi có liên quan đến những đánh giá về việc như thế nào để một cá nhân có thể đưa ra một hành động cụ thể để giải quyết tình huống nhất định
Trang 32Shapero & Shokol (1982) định nghĩa cảm nhận khả năng kiểm soát hành vi cũng liên quan đến cách thức các cá nhân cho là khó hay dễ để hoàn thành được hành vi đề ra
Qua các khái niệm về khả năng kiểm soát hành vi khác nhau, bài nghiên cứu
sử dụng khái niệm kiểm soát hành vi được hiểu như là trạng thái phản ứng cho rằng khó hay dễ với hành vi khởi sự kinh doanh được đề ra, niềm tin cũng như hành động mà cá nhân đó sẽ ứng xử để ứng phó với việc khởi sự kinh doanh trong tương lai
Nghiên Cứu Của Jun (2010) cho thấy được mối quan hệ giữa nhận thức về khả năng kiểm soát hành vi với ý định khởi sự kinh doanh có mối quan hệ cùng
chiều, khi cá nhân khởi sự kinh doanh cho rằng mình có thể theo đuổi được những
cơ hội kinh doanh mà người khác khó nhận ra hoặc không theo đuổi được thì ý định khởi sự kinh doanh sẽ mạnh mẽ hơn, nghiên cứu của Dell (2008) cũng cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi với ý định khởi sự kinh doanh, kết quả nghiên cứu cho thấy những cá nhân tự tin vào khả năng giải quyết tình huống cũng như kiểm soát hành vi của mình thì có ý định khởi sự kinh doanh mạnh mẽ hơn
Qua các nghiên cứu liên quan ta thấy được có mối quan hệ cùng chiều giữa
cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi với ý định khởi sự kinh doanh, nếu các cá
nhân có khả năng kiểm soát hành vi của mình tích cực đối với việc khởi sự kinh doanh thì ý định khởi sự kinh doanh sẽ được thôi thúc mạnh mẽ hơn
2.2.3.3 Ý kiến người xung quanh
Khái niệm ý kiến người xung quanh hay còn gọi là quy chuẩn chủ quan,
chúng ta cùng xem một số định nghĩa về quy chuẩn chủ quan bên dưới
Shapero Và Shokol (1982) cho rằng quy chuẩn chủ quan gồm áp lực cũng như sự cảm thông từ các mối quan hệ xã hội như bạn bè, gia đình, đồng nghiệp về việc mong muốn thực hiện hành vi hoặc không thực hiện hành vi cụ thể
Trang 33Ajzen (1991) định nghĩa quy chuẩn chủ quan được biết đến như là chuẩn mực xã hội xung quanh, đề cập đến áp lực xã hội mong muốn hay không mong muốn một hành vi được thực hiện của một cá nhân nào đó trong mối quan hệ xã hội, như bạn bè, người thân, gia đình
Lee et al (2012) và cộng sự cho rằng ý kiến người xung quanh (hay còn gọi
là quy chuẩn chủ quan), chuẩn mực chủ quan là các lời động viên hỗ trợ cũng như
sự nhìn nhận cảm thông từ các thành viên gia đình, bạn bè ở trường Đại học, một số người quan trọng xung quanh đồng thời cũng là sự hỗ trợ về cơ sở hạ tầng xung quanh cho những ai có ý định khởi sự kinh doanh
Krueger và Brazeal (1994) cho rằng ý kiến người xung quanh thể hiện quan niệm của một cá nhân về việc những người quan trọng đối với cá nhân đó suy nghĩ như thế nào khi họ khởi sự kinh doanh
Như vậy ý kiến người xung quanh (hay còn gọi là quy chuẩn chủ quan) của luận văn này đề cập đến các áp lực hay sự động viên, hỗ trợ của những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp hoặc những cá nhân quan trọng trong mối quan
hệ xã hội sẽ thể hiện thông qua việc mong muốn hoặc không mong muốn một cá nhân sẽ thực hiện việc khởi sự kinh doanh
Nghiên cứu của Alexandros và cộng sự (2014) nghiên cứu cho thấy có mối
tương quan thuận giữa ý kiến người xung quanh với ý định khởi sự kinh doanh, có
nghĩa là nếu được hỗ trợ từ gia đình, bạn bè, người thân về cách nhìn nhận tích cực đối với việc khởi sự kinh doanh thì ý định khởi sự kinh doanh của các cá nhân khởi
sự kinh doanh sẽ mạnh mẽ và quyết liệt hơn, bên cạnh đó có nghiên cứu của Lee et
al (2012) kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa ý kiến người xung quanh với ý định khởi sự kinh doanh, khi các cá nhân có được sự động viên, giúp đỡ từ những người thân, bạn bè hoặc những người có liên quan trong xã hội thì họ sẽ có được ý định khởi sự kinh doanh mạnh mẽ hơn, Hoàng Thị Phương
Thảo, Bùi Thị Thanh (2013) trong nghiên cứu ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP Hồ Chí Minh cho rằng nếu các cá nhân được sự hỗ trợ từ gia đình
Trang 34cũng như người thân và bạn bè, không bị rào cản từ các đối tượng này thì ý định
khởi sự kinh doanh được thôi thúc, ngược lại nếu có rào cản từ người thân, bạn bè thì ý định khởi sự kinh doanh của các nữ học viên MBA này trở nên yếu dần, nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Thủy (2013) cũng cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa ý kiến người xung quanh và ý định khởi sự kinh doanh của các sinh viên có ý định khởi sự kinh doanh tại Hà Nội
Các nghiên cứu có liên quan về mối quan hệ giữa ý kiến xung quanh (quy
chuẩn chủ quan) với ý định khởi sự kinh doanh cho thấy có mối quan hệ tích cực (mối quan hệ cùng chiều), khi các cá nhân được sự ủng hộ, hỗ trợ mạnh mẽ từ những người thân, bạn bè, gia đình và xã hội thì ý định khởi sự kinh doanh của họ
sẽ mạnh mẽ hơn
2.3.3.4 Nhu cầu thành tựu
Có nhiều tác giả đưa ra các khái niệm về nhu cầu thành tựu, một số khái niệm về nhu cầu thành tựu từ các bài nghiên cứu trước đây được biết đến như sau
Theo Sagie & Elizur (1999) nhu cầu thành tựu đối với các cá nhân có ý định khởi sự kinh doanh được hiểu là một động lực thúc đẩy mạnh mẽ để các cá nhân đạt
đến sự thành công mà họ mong muốn
Kamal và cộng sự ( 2008) định nghĩa nhu cầu thành tựu là mong muốn nhằm
tăng uy tín và vị thế cá nhân trong xã hội, mong có được một thu nhập cao hơn, mong có được một thành tựu và nhận được sự cộng nhận từ nó Nhìn chung các cá nhân có nhu cầu thành tựu sẽ có tham vọng lớn và họ tin vào sự thành công của mình nếu họ chăm chỉ làm việc
Các khái niệm về nhu cầu thành tựu của các tác giả khác nhau cho thấy được rằng nhu cầu thành tựu là mong muốn có được một vị trí uy tín tốt hơn trong xã hội, muốn được sự công nhận từ những thành tựu đạt được, hay nói lên sự tham vọng
mà một cá nhân khi thực hiện khởi sự kinh doanh sẽ muốn có được
Trang 35David et al (2011) đã cho thấy nhu cầu thành tựu có tác động mạnh nhất đến
ý định khởi sự kinh doanh của các cá nhân, những cá nhân có mong muốn nâng cao
uy tín, thu nhập, vị trí của mình thì họ sẽ được thôi thúc mạnh mẽ để đến với ý định khởi sự kinh doanh , bên cạnh Kamal (2007) cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa nhu cầu thành tựu của các cá nhân khởi sự kinh doanh với ý định khởi sự kinh doanh của họ Nghiên cứu của Donatus (2009) cũng cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa nhu cầu thành tựu và ý định khởi sự kinh doanh
Qua các nghiên cứu liên quan được liệt kê cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa nhu cầu thành tựu với ý định khởi sự kinh doanh, một cá nhân khi có tham vọng đạt được nhiều thành tựu, muốn khẳng định mình trong xã hội, cũng như mong muốn đạt được sự thừa nhận những thành tựu từ xã hội thì cá nhân đó sẽ có ý định khởi sự kinh doanh mạnh mẽ hơn
2.3.3.4 Khuynh hướng chấp nhận rủi ro
Brockhaus (1980) cho rằng khuynh hướng chấp nhận rủi ro của các cá nhân khởi sự kinh doanh được hiểu là nhận thức của cá nhân về việc xác định khả năng
để nhận được phần thưởng dẫn đến sự thành công, cũng như trước đó họ phải xác định và chịu trách nhiệm cho những hậu quả liên quan đến sự thất bại hoặc tình huống thay thế xảy ra sẽ cung cấp cho họ những lợi ích, phần thưởng ít hơn những
gì mà đáng lẽ họ phải nhận hay một kết cục ít sự thất bại hơn tình huống mà họ đề xuất
Kamal và cộng sự (2007) định nghĩa khuynh hướng chấp nhận rủi ro của một
cá nhân chính là sự chấp nhận thất bại và không gục ngã khi một cá nhân vướng phải sự thất bại, các cá nhân có khuynh hướng chấp nhận sự thất bại thường cởi mở đón nhận những sai lầm và xem đó như một bài học, có thể hình dung và chấp nhận được những kết cục không như ý muốn, sẵn sàng chấp nhận hậu quả tiêu cực từ các việc làm này
Qua cách định nghĩa của một số tác giả ta thấy khái niệm khuynh hướng chấp nhận rủi ro là sự cởi mở đón nhận những sai lầm, sẵn sàng lắng nghe từ nhiều
Trang 36ý kiến khác nhau và chấp nhận những thử thách từ các sự kiện khó khăn cũng như đón nhận những sai lầm đến từ sự thất bại
Kamal et al (2007) cho thấy nếu các cá nhân có khuynh hướng chấp nhận
rủi ro thừa nhận những sai lầm của mình và không gục ngã khi thất bại cũng như thoải mái đón nhận những ý kiến khác nhau thì họ sẽ có khuynh hướng tiến đến ý định khởi sự kinh doanh mạnh mẽ hơn Nghiên cứu của Wan (2013) cho thấy chấp nhận rủi ro cũng có mối quan hệ thuận chiều với ý định khởi sự kinh doanh từ đó dẫn tới hành vi khởi sự kinh doanh trong tương lai, Nghiên cứu của Uddin & Bose
(2012) cũng ủng hộ rằng khuynh hướng chấp nhận rủi ro của các cá nhân khởi sự
kinh doanh có mối quan hệ tích cực với ý định khởi sự kinh doanh của họ, một số
nghiên cứu của Altinay và cộng sự (2012) ,Gürol & Atsan (2006) cũng có kết quả
cho thấy khuynh hướng chấp nhận rủi ro của các cá nhân khởi sự kinh doanh có mối quan hệ cùng chiều với ý định khởi sự kinh doanh của họ
Các nghiên cứu liên quan ủng hộ mối quan hệ tích cực giữa khuynh hướng chấp nhận rủi ro và ý định khởi sự kinh doanh, nếu một cá nhân có sự cởi mở với việc chấp nhận những thất bại, sẵn sàng làm việc với những thử thách và chấp nhận những kết quả không tốt từ các sự việc thử thách thì cá nhân đó có ý định khởi sự kinh doanh mạnh mẽ
2.3 Ý định khởi sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh
2.3.1 Khái niệm hành vi khởi sự kinh doanh
Để hiểu rõ hơn về hành vi khởi sự kinh doanh, ta có thể xem xét các định nghĩa
về khái niệm hành vi khởi sự kinh doanh của các tác giả sau
Kruger Và Cộng Sự (2000) định nghĩa hành vi khởi sự kinh doanh là một
hành vi có kế hoạch , mặc dù các doanh nhân khởi sự kinh doanh là khai thác tận dụng cơ hội của thị trường, nhưng trước khi đi tới quyết định thành lập doanh nghiệp, một doanh nhân đã phải nghĩ tới, ham thích và có ý định khởi sự kinh doanh, từ đó họ tìm cơ hội, huy động tài chính và đối tác Hành động khởi sự kinh
Trang 37doanh diễn ra nếu một cá nhân có thái độ tích cực, có suy nghĩ, dự định về hành động đó, một dự định mạnh mẽ sẽ luôn dẫn tới nổ lực để bắt đầu
Shapero và Sokol (1982) cho rằng hành vi khởi sự kinh doanh là việc thành lập một doanh nghiệp mới hay tổ chức kinh doanh mới, nó là hành vi bị tác động bởi những thay đổi trong cuộc sống của con người
Van et al (2008) cho rằng hành vi khởi sự kinh doanh là kết quả của ý định
khởi sự kinh doanh và nó được dẫn dắt từ ý định khởi sự kinh doanh được hình thành từ thái độ của các cá nhân đối với hành vi khởi sự kinh doanh và hành vi khởi
sự kinh doanh là một hành động có chủ đích, được lên kế hoạch từ trước chứ không phải là một hành vi tự phát ngẫu nhiên
Như vậy khái niệm hành vi khởi sự kinh doanh được hiểu như là hành động
sẽ bắt đầu một doanh nghiệp hoặc một công việc kinh doanh của chính mình (làm chủ), hành vi khởi sự kinh doanh được thôi thúc từ ý định khởi sự kinh doanh nó là một hành vi có kế hoạch chứ không phải hành vi tự phát ngẫu nhiên
2.3.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý định khởi sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh
Nền tảng của mối quan hệ này là dựa vào lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) cho rằng hành vi của con người là một quá trình có kế hoạch nó được bắt nguồn từ các yếu tố nhận thức về hành vi để dẫn đến ý định thực hiện hành vi và
từ đó sẽ dẫn đến việc thực hiện hành vi (khởi sự kinh doanh)
Một số nghiên cứu về ý định khởi sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh của các nhân có ý định khởi sự kinh doanh
Nghiên cứu Richard et al (2014), cho thấy mối quan hệ giữa hành vi (hành động) khởi sự kinh doanh với ý định khởi sự kinh doanh, hành vi khởi sự kinh
doanh là một hành động có kế hoạch từ trước và nó bắt nguồn từ ý định khởi sự kinh doanh của các cá nhân từ đó dẫn dắt họ đến hành vi khởi sự kinh doanh, nó không phải là một hành động ngẫu nhiên tự phát, kết quả nghiên cứu cho thấy các
Trang 38cá nhân có sự chuẩn bị (ý định khởi sự kinh doanh ) từ trước thì sẽ dẫn dắt họ đến hành vi khởi sự kinh doanh mạnh mẽ và quyết liệt hơn và ngược lại nếu các cá nhân không có ý định khởi sự kinh doanh mạnh mẽ (không chuẩn bị cho hành vi khởi sự kinh doanh từ trước) thì việc dẫn họ đến hành vi khởi sự kinh doanh sẽ kém mạnh
nó được hình thành từ thái độ của các cá nhân khởi sự kinh doanh cùng một số yếu
tố thực tế và đặc điểm cá nhân của họ để dẫn dắt đến hành vi khởi sự kinh doanh
Nghiên cứu Wan Và Cộng Sự (2013) cũng cho thấy được mối quan hệ giữa ý định khởi sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh, mối quan hệ này vẫn là mối quan hệ cùng chiều, khi các cá nhân khởi sự kinh doanh có ý định khởi sự kinh doanh thì sẽ dẫn dắt họ tới hành vi khởi sự kinh doanh
Như vậy thông qua các nghiên cứu liên quan cho thấy được mối quan hệ cùng chiều giữa ý định khởi sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh, khi các
cá nhân có ý định khởi sự kinh doanh mạnh mẽ sẽ thúc đẩy họ tới hành vi khởi sự kinh doanh mạnh mẽ hơn
Trang 39Bảng 2.1 Tổng kết các nghiên cứu có liên quan trước đây từ một số tác giả
Tarek (2016)
Richard (2014)
Jun (2010)
Dell (2008)
Kamal (2008)
Donatus (2009)
Wan (2013)
Trang 402.4 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đề xuất
Dựa vào tổng kết các nghiên cứu liên quan về các yếu tố tác động đến việc khởi sự kinh doanh và cơ sở lý thuyết, bài nghiên cứu dựa vào dòng nghiên cứu xem xét hành vi khởi sự kinh doanh là một hành vi có kế hoạch và được dẫn dắt từ
ý định khởi sự kinh doanh được hình thành từ các yếu tố có liên quan.Kết hợp các nghiên cứu có liên quan xin đề xuất mô hình nghiên cứu bên dưới (hình 2.7)
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn : đề xuất từ tổng hợp lý thuyết )
Các giả thuyết nghiên cứu của mô hình nghiên cứu đề xuất
H1 : Có mối quan hệ tích cực giữa thái độ khởi sự kinh doanh với ý định khởi sự kinh doanh
H2 : Có mối quan hệ tích cực giữa ý kiến người xung quanh với ý định khởi
sự kinh doanh
H3 : Có mối quan hệ tích cực giữa khuynh hướng chấp nhận rủi ro với ý định khởi sự kinh doanh