1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lạm dụng rượu bia trên địa bàn thành phố sóc trăng, tỉnh sóc trăng thực trạng và giải pháp

106 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình 4.22 Nhận định, ý kiến của người được phỏng vấn về hành vi tiêu dùng rượu, bia của thanh niên, những người trưởng thành trong độ tuổi Hình 4.23 Cảm nhận về sự gia tăng trong tiêu dù

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THÁI ĐĂNG

LẠM DỤNG RƯỢU BIA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH

PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Sóc Trăng – Năm 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THÁI ĐĂNG

Thành phố Sóc Trăng – Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: NGUYỄN THÁI ĐĂNG

Sinh ngày: 14/9/1980

Quê quán: Thạnh Trị, Sóc Trăng

Hiện công tác tại: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Sóc Trăng

Là sinh viên Lớp Cao học Quản lý kinh tế, Viện đào tạo sau đại học, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Xin cam đoan:

- Đề tài “LẠM DỤNG RƯỢU BIA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SÓC

TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP"

- Người hướng dẫn: TS Nguyễn Hữu Dũng

Tôi xin cam đoan rằng tôi đã viết luận văn này một cách độc lập và không sử dụng các nguồn thông tin hay tài liệu nào khác ngoài những tài liệu và thông tin đã được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo trích dẫn của luận văn

Những trích đoạn hay nội dung tham khảo từ các nguồn khác đều được liệt

kê trong danh mục tài liệu tham khảo theo hình thức những đoạn trích dẫn nguyên văn hoặc lời diễn giải trong luận văn kèm theo thông tin về nguồn tham khảo rõ ràng Các mẫu nghiên cứu, thu thập được trong luận văn là do tôi trực tiếp phỏng vấn và các cộng tác viên phỏng vấn tại địa bàn sinh sống Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh

Bản luận văn này chưa từng được xuất bản và cũng chưa từng được nộp cho một hội đồng nào khác cũng như chưa chuyển cho bất kỳ bên nào khác có quan tâm đến nội dung luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thái Đăng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

MỤC LỤC 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 8

DANH MỤC CÁC BẢNG 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 10

LỜI MỞ ĐẦU 12

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1

1.1.Sự cần thiết của việc nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và giải pháp vấn đề lạm dụng rượu, bia hiện nay 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 5

1.3.Nội dung nghiên cứu: 6

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6

1.5 Cấu trúc của luận văn: 6

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8

2.1 Một số khái niệm và thông tin liên quan đến nghiên cứu: 8

2.1.1 Khái niệm về nhận thức: 8

2.1.2 Khái niệm về thái độ: 9

2.1.3 Khái niệm về hành vi: 10

2.1.4 Lý thuyết hành vi liên quan 10

2.1.5 Thế nào là lạm dụng rượu, bia? 12

2.2 Môt số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng, lạm dụng rượu, bia 14

2.3 Tác hại của rượu, bia 15

2.3.1 Đến sức khỏe bản thân 15

2.3.2 Đến gia đình và xã hội 18

2.3.3 Tai nạn giao thông có liên quan đến sử dụng rượu, bia có xu hướng tăng nhanh: 20

Trang 5

2.4 Một số nghiên cứu liên quan đến hành vi lạm dụng rượu, bia khác: 21

2.5 Một số chính sách và biện pháp ngăn ngừa chống lạm dụng rượu, bia ở Việt nam nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng 24

2.5.1 Chính sách của Chính phủ Việt Nam 24

2.5.2 Chính sách và biện pháp của chính quyền địa phương tỉnh Sóc Trăng: 25

CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu: 28

3.2.Phương pháp nghiên cứu 31

3.2.1 Nghiên cứu định tính 32

3.2.2 Nghiên cứu định lượng: 32

3.2.3 Xác định mẫu nghiên cứu 33

3.2.4 Xây dựng các chỉ số đánh giá trong nghiên cứu: 33

3.2.5Nguồn thông tin 35

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

4.1 Một số đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu: 36

4.2.Thực trạng sử dụng, lạm dụng rượu, bia 38

4.2.1 Mức lạm dụng tính theo đơn vị rượu 38

4.2.2 Tần suất uống rượu, bia 39

4.2.3 Đánh giá mức tiêu thụ bình quân trong 1 tháng (quy đổi ra đơn vị rượu) giữa các nhóm đối tượng tiêu dùng 41

4.2.4 Chi phí bia/rượu bình quân trong 1 tháng: 42

4.2.5 Người tiêu dùng bị tác dụng của bia, rượu đến cơ thể hoặc bị say 43

Nguồn: Kết quả phân tích mẫu khảo sát (2016) 44

4.2.6 Địa điểm thường xuyên uống bia/rượu 44

4.2.7 Các đối tượng thường xuyên cùng uống bia/rượu 44

4.2.8 Loại rượu thường sử dụng: 46

4.3.Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng, lạm dụng rượu, bia 46

4.3.1.Tuổi bắt đầu sử dụng rượu, bia 46

Trang 6

4.3.2 Tỷ lệ sử dụng rượu, bia theo trình độ học vấn 47

4.3.3.Tỷ lệ sử dụng rượu, bia theo nghề nghiệp 48

4.4 Nhận thức về tác hại của rượu, bia: 48

4.4.1 Ảnh hưởng về sức khoẻ: 48

4.4.2 Ảnh hưởng đến tài chính gia đình 49

4.4.3 Ảnh hưởng đến an toàn giao thông 49

4.4.4 Các dấu hiệu liên quan đến sức khoẻ sau khi uống rượu, bia 51

4.5 Nhận thức về thực trạng lạm dụng rượu, bia 52

4.5.1 Nhận thức và thái độ về hành vi tiêu dùng rượu, bia của thanh niên, những người trưởng thành trong độ tuổi 52

4.5.2 Cảm nhận về sự gia tăng trong tiêu dùng bia/rượu hiện nay tại khu vực đang sinh sống: 53

4.5.3 Nhận thức và thái độ về việc từ bỏ rượu, bia: 54

4.6 Mô tả thái độ và hành vi của người tiêu dùng: 55

4.6.1 Hành vi khi được mời uống rượu, bia: 55

4.6.2 Vắng không làm việc vì đã uống rượu, bia 56

4.6.3 Tham gia giao thông sau khi uống rượu, bia: 56

4.7 Mức độ ảnh hưởng kinh tế, xã hội 57

4.7.1 Mức độ ảnh hưởng của giá cả bia/rượu đến tiêu dùng trong các trường hợp tăng giá 50%; 25%; 10% 57

4.7.2 Vấn đề chi phí xã hội liên quan đến mua bán và tiêu dùng rượu, bia: 58

4.7.3 Mức độ đồng ý đối với biện pháp hoặc chính sách kiểm soát và biện pháp nhằm ngăn chặn sự lạm dụng bia/rượu: 59

4.8 Tóm lược kết quả nghiên cứu: 60

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 62

5.1.Kết luận về thực trạng tiêu dùng rượu, bia trên địa bàn thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng 62

5.2 Kiến nghị chính sách : 63

5.2.1 Kiến nghị đối với Trung ương: 63

5.2.2 Kiến nghị đối với chính quyền địa phương 64

Trang 7

5.3 Hạn chế đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC 2

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

DSM-IV : Loạn thần dạng phân liệt hay rối loạn dạng phân liệt - Danh mục IV NXB : Nhà xuất bản

SCRT : Lý thuyết trách nhiệm xã hội và cộng đồng

SNT : Lý thuyết về tập quán xã hội

WHO : Tổ chức Y tế thế giới

UB ATGT : Uỷ ban an toàn giao thông

UBND : Uỷ ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Sản lượng sản xuất ngành bia, rượu, nước giải khát trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Bảng 3.2: Các chỉ số đánh giá trong nghiên cứu

Bảng 4.1.Thông tin mẫu nghiên cứu

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Các nước dẫn đầu sản lượng bia năm 2011

Hình 1.2 Sản lượng bia ở Việt Nam qua các năm

Hình 2.1 Mô hình thái độ và hành vi

Hình 4.1 Độ tuổi đối tượng phỏng vấn

Hình 4.2 Đánh giá mức độ lạm dụng rượu, bia của người tiêu dùng được

khảo sát tại thành phố Sóc Trăng

Hình 4.3 Tần suất uống rượu, bia của nam và nữ

Hình 4.4 Tần suất uống rượu, bia của nam và nữ

Hình 4.5 Tần suất uống rượu, bia của 2 nhóm trình độ học vấn

Hình 4.6 Mức tiêu thụ có sự khác biệt giữa nam và nữ

Hình 4.7 So sánh mức tiêu thụ giữa 2 nhóm trình độ học vấn

Hình 4.8 Mức tiêu thụ trung bình giữa 2 nhóm ngành nghề khác nhau

Hình 4.9 So sánh chi phí bia rượu bình quân giữa 2 nhóm thu nhập

Hình 4.10 So sánh chi phí bia rượu bình quân giữa nam và nữ

Hình 4.11 Tác dụng của rượu, bia đến cơ thể hoặc bị say

Hình 4.12 Địa điểm thường xuyên uống

Hình 4.13 Đối tượng thường xuyên cùng uống rượu, bia

Hình 4.14 Loại rượu thường sử dụng

Hình 4.15 Độ tuổi bắt đầu uống bia/rượu

Hình 4.16 Trình độ học vấn cao nhất đạt được

Hình 4.17 Nghề nghiệp đối tượng phỏng vấn

Hình 4.18 Cảm nhận rượu, bia ảnh hưởng đến sức khoẻ

Hình 4.19 Cảm nhận rượu, bia ảnh hưởng đến tài chính

Hình 4.20 Cảm nhận ảnh hưởng xấu khi tham gia giao thông

Hình 4.21 Dấu hiệu ảnh hưởng đến sức khoẻ sau khi uống rượu, bia

Trang 11

Hình 4.22 Nhận định, ý kiến của người được phỏng vấn về hành vi tiêu dùng

rượu, bia của thanh niên, những người trưởng thành trong độ tuổi Hình 4.23 Cảm nhận về sự gia tăng trong tiêu dùng bia/rượu hiện nay tại khu

vực đang sinh sống Hình 4.24 Phải từ bỏ rượu, bia nhưng không thành công

Hình 4.25 Hành vi khi được mời uống rượu, bia

Hình 4.26 Vắng không làm việc vì đã uống rượu, bia

Hình 4.27 Tham gia giao thông sau khi uống rượu, bia

Hình 4.28 Ảnh hưởng của giá cả rượu, bia đến tiêu dùng

Hình 4.29 Vấn đề chi phí xã hội

Hình 4.30 Mức độ đồng ý về các biện pháp kiểm soát

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, rượu, bia và các loại thức uống có cồn đang tồn tại một cách hiển nhiên và thường xuyên trong cuộc sống của người Việt Nam Người tiêu dùng sử dụng rượu, bia trong mọi dịp lễ, tết, họp mặt, hội họp, hỷ sự, hậu sự…như một điều bình thường trong cuộc sống Nhưng điều bình thường này lại trở thành vấn nạn của

xã hội khi việc sử dụng rượu, bia quá thường xuyên chuyển thành hành vi lạm dụng rượu, bia

Nhiều nghiên cứu khoa học trước đây đã cho thấy lạm dụng rượu, bia là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội như bạo lực gia đình, tại nạn giao thông, phạm pháp hình sự, bên cạnh đó còn ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, sức khỏe sinh sản, ảnh hưởng đến sự phát triển của giống nòi Mỗi nhà nghiên cứu khác nhau sẽ dựa trên những khía cạnh khác nhau của thực trạng lạm dụng rượu, bia, để chỉ ra tác hại và đề xuất những phương án giải quyết

Đề tài nghiên cứu “LẠM DỤNG RƯỢU BIA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH

PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”

nhằm tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ tiêu dùng rượu, bia của người dân

ở tỉnh Sóc Trăng, thông qua điều tra số liệu thực tế tại thành phố Sóc Trăng Từ thực trạng tiêu dùng để tìm nguyên nhân vì sao người dân lại có hành vi từ sử dụng chuyển sang lạm dụng? những nguyên nhân này sẽ là tiền đề xây dựng giải pháp giải quyết vấn nạn lạm dụng rượu, bia trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Đề tài nghiên cứu xuất phát từ yếu tố con người để tìm hiểu xu hướng tiêu dùng của người dân đối với rượu, bia Các nhân tố mà đề tài nghiên cứu bao gồm thị hiếu, sở thích, những tác động từ xã hội (bạn bè, gia đình, đồng nghiệp, nhà sản xuất rượu, bia), giá cả rượu, bia, tác động từ chính sách pháp luật của Nhà nước…ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tiêu dùng của người dân đối với rượu, bia, từ đó xác định nguyên nhân vì sao người dân lại chuyển từ hành vi sử dụng sang hành vi lạm dụng rượu, bia và định hình xu hướng phát triển trong xã hội hiện nay – điển hình trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Trang 13

Kết quả của đề tài nghiên cứu cho thấy đa số người dân đều hiểu được tác hại của rượu, bia ảnh hưởng xấu đến đời sống của bản thân, gia đình và xã hội; nhưng mọi người dường như thờ ơ và vẫn lạm dụng rượu, bia trong cuộc sống hàng ngày: một số ít người dân không quan tâm đến giá cả, chi phí phải chi trả trong quá trình lạm dụng rượu, bia, họ lạm dụng rượu, bia vì mục tiêu thăng tiến, giao tiếp, mở rộng mối quan hệ trong xã hội; một số ít người dân lạm dụng rượu, bia vì sự thiếu hiểu biết, nhàn rỗi không nghề nghiệp lao động; một số người sử dụng rượu, bia và

họ không nghĩ đây sẽ trở thành hành vi lạm dụng…Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học và kết quả đạt được là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tâm lý của người tiêu dùng, chuyển thành hành vi lạm dụng rượu, bia

Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu còn tìm hiểu những chính sách, quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương tỉnh Sóc Trăng đối với việc hạn chế hành vi lạm dụng rượu, bia của người dân Nhà nước đã có những chính sách, quy định để kiểm soát hành vi lạm dụng rượu, bia, đặc biệt quy định xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông đã cho thấy sự quan tâm của Chính phủ đối với vấn nạn này Đối với tỉnh Sóc Trăng đã có những văn bản chỉ đạo phòng chống nạn lạm dụng rượu, bia, đặc biệt là đối với cán bộ công chức không sử dụng rượu, bia trong giờ làm việc; tuy nhiên các chỉ đạo chỉ dừng lại ở việc lồng ghép quy định phòng chống lạm dụng rượu, bia vào các chính sách bảo vệ trật tự an toàn giao thông, bạo lực gia đình, bạo lực học đường, phạm pháp hình sự…chưa có quy định, kế hoạch cụ thể để kiểm soát, kiềm chế việc lạm dụng rượu, bia trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Từ kết quả nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng từ xã hội và các chính sách, quy định của Nhà nước, địa phương đến nạn lạm dụng rượu, bia, Đề tài đã xây dựng những giải pháp kiểm soát tác hại của việclạm dụng rượu, bia đến người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Các giải pháp bao gồm: nâng cao chất lượng, đổi mới phương pháp và tư duy trong tuyên truyền, phổ biến tác hại của rượu, bia đến từng

hộ gia đình, từng người dân; chính sách kiểm soát giá cả, mức thuế, kiểm soát các loại hình quảng cáo của các thương hiệu rượu, bia; chính sách xây dựng loại thức

Trang 14

uống thay thế rượu, bia tại các buổi tiệc, họp mặt, hội nghị, thay thế hoàn toàn tâm

lý “có họp mặt là phải có rượu, bia”; tăng cường chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nhàn rỗi, kéo những người thất nghiệp ra khỏi vấn nạn lạm dụng rượu, bia gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội…Các chính sách của đề tài xây dựng bắt nguồn từ tâm lý tiêu dùng của nguời dân đối với nạn lạm dụng rượu, bia

và tăng cường vai trò quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương đối với vấn nạn nạn này Từ đó sẽ góp phần giải quyết và kéo giảm mức độ lạm dụng rượu, bia trong người dân, góp phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệ sức khỏe của người dân, tăng cường hiệu quả chất lượng trong lao động, tạo nhiều của cải vật chất cho

xã hội, tiến tới phát triển kinh tế của tỉnh Sóc Trãng ngày càng vững mạnh

Trang 15

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN

1.1.Sự cần thiết của việc nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và giải pháp vấn

đề lạm dụng rượu, bia hiện nay

Rượu, bia đã có từ lâu trong cuộc sống cộng đồng dân cư trên thế giới, người dân thường dùng rượu, bia trong những dịp vui và các ngày lễ, tết Tuy nhiên, hiện nay việc làm dụng rượu, bia và thức uống có cồn khác đang có xu hướng tăng về số lượng và cả mức độ Theo tổ chức nghiên cứu thị trường Eurowatch (Anh) và Tổ chức nghiên cứu thị trường Euromonitor International (Anh), năm 2013 Việt Nam

đã tiêu thụ 3 tỷ lít bia, gấp 3,5 lần so với năm 2004 Lượng bia sử dụng trung bình/người/năm là 32 lít, 6 lít rượu/năm xếp thứ nhất khu vực ASEAN (tương đương với Thái Lan) và thứ ba châu Á (sau Trung Quốc và Nhật Bản) Việc lạm dụng rượu, bia gây tác hại đến sức khỏe của người sử dụng, đến gia đình, cộng đồng

và kinh tế - xã hội đã được nhà nước và cộng đồng đặc biệt quan tâm trong những năm gần đây Nhiều biện pháp ngăn ngừa, hạn chế kiểm soát sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, sử dụng rượu, bia đã được áp dụng

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dựa trên cách tính “1 đơn vị rượu = 1 lon bia 330ml = 125ml rượu vang = 40ml rượu mạnh” đã đưa ra lượng an toàn sử dụng rượu, bia trong một ngày đối với nam không quá 3 đơn vị rượu/ngày (không quá 03 lon bia/ngày), đối với nữ không quá 2 đơn vị rượu/ngày (không quá 02 lon bia/ngày), nếu dùng quá mức này được coi là lạm dụng rượu, bia Tuy nhiên, người Việt ta đang uống với mức trung bình hiện nay là 7,3 ly hoặc lon bia 330ml/ngày (khoảng 7,3 đơn vị rượu/ngày), gấp trên hai lần mức độ an toàn Nên có thể nói Người Việt Nam đang lạm dụng rượu, bia

Sự lạm dụng đã kéo theo sự tăng trưởng không ngừng về sản lượng rượu, bia Năm 2001, Việt Nam với sản lượng 817 triệu lít bia xếp hạng thứ 29 trên thế giới đã tăng lên 2.780 triệu lít bia, vươn lên hạng thứ 13 trên thế giới vào năm 2011 Trong khu vực châu Á, thị trường bia Việt Nam năm 2004 xếp vị trí thứ 8, hiện nay đứng thứ 3 chỉ sau Trung Quốc, Nhật Bản Và bảng số liệu được nêu trong hình 1.1,

Trang 16

cho thấy chỉ trong 10 năm sản lượng rượu, bia của Việt Nam đã tăng trưởng 240,4

Về sản lượng sản xuất và tiêu thụ bia ở Việt Nam: vào năm 2014 tăng 3% đạt 3,1 tỷ lít, số liệu này từ báo cáo của Hiệp hội Bia rượu Nước giải khát Việt Nam

Trang 17

(VBA) Trong 3,1 tỷ lít bia sản xuất và tiêu thụ thì Tổng công ty Bia rượu nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) đạt trên 1,3 tỷ lít, Tổng công ty Bia rượu nước giải khát Hà Nội (Habeco) chiếm 637 triệu lít, 890 triệu lít còn lại thuộc về các doanh nghiệp khác Việt Nam có hơn 400 nhà máy bia Những tỉnh, thành phố tập trung năng lực sản xuất bia là TP HCM chiếm 23,2% tổng năng lực sản xuất, TP Hà Nội: 13,44%,

TP Hải Phòng: 7,47%, Hà Tây: 6,1%, Tiền Giang: 3,79% (Theo Euromonitor)

Thị trường bia Việt Nam tăng trưởng mạnh từ 9 đến 11% mỗi năm; từ 2012 đến 2015 mức tăng trưởng lên đến 15% Dự báo năm 2015, Việt Nam sẽ tiêu thụ khoảng 4 đến 4,4 tỷ lít bia, bình quân 45 đến 47 lít/người/năm, các nhà đầu tư sản xuất bia vẫn đang tăng tốc để đáp ứng nhu cầu thị trường và kỳ vọng con số này sẽ tăng lên 60 đến 70 lít bia/năm trong thời gian tới (Anh Tùng, 2012 Bia rượu liên tục phát triển: mừng hay lo http://www.cesti.gov.vn/the-gioi-du-lieu/bia-ruou-lien-tuc-phat-trien-mung-hay-lo.html)

Tất cả số liệu nêu trên cho thấy tỷ lệ sử dụng rượu, bia ở Việt Nam ngày càng gia tăng nhanh và đang ở mức báo động, cụ thể theo biểu đồ tăng trưởng được nêu trong hình 1.2:

Hình 1.2 Sản lượng bia ở Việt Nam qua các năm Nguồn: Anh Tùng, 2012 Sản xuất và sử dụng rượu bia trên thế giới

<

http://www.cesti.gov.vn/the-gioi-du-lieu/san-xuat-va-su-dung-ruou-bia-tren-the-gioi/content/view/5758/391/157/1.html>

Trang 18

Sự lạm dụng rượu, bia của người Việt Nam đã kéo theo những tác động có hại đến sức khỏe con người, ảnh hưởng đến nền kinh tế và cả sự phát triển của đất nước Không thể phủ nhận thị trường rượu, bia đã mang lại lợi ích cho nền kinh tế, như giải quyết lao động, nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước từ nộp thuế, nhưng những vấn nạn từ rượu, bia mang đến cũng không ít

Mỗi năm người Việt Nam tiêu thụ hơn 3 tỷ lít bia và gần 68 triệu lít rượu Đi cùng sự gia tăng sử dụng rượu, bia là sự gia tăng tai nạn giao thông, bạo lực gia đình, sức khỏe của người Việt không ngừng giảm sút do các bệnh mãn tính từ rượu, bia gây ra

Theo thống kê tại Việt Nam, các rối loạn do lạm dụng rượu (14%) là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật ở nam giới, tiếp đến là trầm cảm (11%) và tai nạn giao thông (8%) Khoảng 60% các vụ bạo lực gia đình, gần 30% số vụ gây rối trật tự xã hội và gần 70% vụ tai nạn giao thông là do sử dụng rượu, bia 15% số giường ở bệnh viện tâm thần là dành cho người nghiện rượu Đây là những con số đáng báo động (Cổng thông tin điện tử Bộ Y Tế, 2015 Lạm dụng rượu bia ở Việt Nam đang ở mức báo động

http://moh.gov.vn:8086/news/Pages/TinKhacV2.aspx?ItemID=573.)

Rượu, bia gây tác hại đến sức khỏe, tâm sinh lý của con người, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả năng suất lao động Điều này tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng, đầu tiên quyết định sự thành công trong công cuộc kiến thiết tổ quốc, khi nguồn nhân lực Việt Nam bị suy thoái về thể chất lẫn tinh thần do rượu, bia thì mọi mục tiêu đặt ra

sẽ trở nên bất khả thi

Nhận thức được tác hại của rượu, bia, thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo thông qua những chính sách, quy định nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tác hại của rượu, bia Năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia Trong đó, có các biện pháp hiệu quả như tăng thuế, hạn chế tính sẵn có của rượu, bia (cấm bán tại một số địa điểm và thời gian nhất định, đăng ký, cấp phép…), cấm và hạn chế quảng cáo,

Trang 19

khuyến mại, tài trợ, cấm sử dụng rượu, bia trong thời gian làm việc, cấm lái xe có

sử dụng rượu, bia…Đặc biệt, quy định cấm cán bộ công chức sử dụng rượu, bia trong giờ làm việc chưa được thực hiện hiệu quả Đây là những thông tin được đưa

ra tại hội nghị triển khai chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của việc lạm dụng đồ uống có cồn do Bộ Y tế tổ chức ngày 7/5 tại Hà Nội

Tuy nhiên, những chính sách, quy định hiện nay dường như chưa cải thiện được tình hình lạm dụng rượu, bia của người Việt Nam hiện nay Cần có sự chung tay góp sức của toàn xã hội, đặc biệt là những nhà khoa học, nhà nghiên cứu để tìm nguyên nhân của sự lạm dụng rượu, bia, rút ra kinh nghiệm và giải pháp giải quyết vấn nạn này, mang lại cuộc sống lành mạnh cho toàn xã hộ và một nền kinh tế phát triển bền vững với những con người khỏe mạnh, tài năng

Một số nhà nghiên cứu đã đi vào thực tế, đánh giá mức độ lạm dụng rượu, bia để tìm ra giải pháp khắc phục.Nhưng tác giả của Luận văn này muốn đứng trên một góc độ khác để giải quyết vấn nạn lạm dụng rượu, bia Đó là nghiên cứu dựa trên những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng rượu, biabao gồm kiến thức, nhận thức, thái độ, hành vi của người tiêu dùng (văn hóa cộng đồng; ảnh hưởng từ người thân, đồng nghiệp và những mối quan hệ xã giao; đặc điểm tính chất của công việc; giá cả hay chất lượng rượu, bia…) từ đó, tìm ra nguyên nhân cốt lõi của

sự lạm dụng rượu, bia và có giải pháp thiết thực, khả thi nhất

Đề tài nghiên cứu tập trung xem xét những guyên nhân cốt lõi của việc lạm dụng rượu, bia xuất phát từ người tiêu dùng như thế nào, lạm dụng đã đến mức báo động ra sao và những giải pháp cụ thể giải quyết vấn đề này

Tác giả lựa chọn thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng để nghiên cứu do đây

là nơi công tác và sinh sống sẽ thuận lợi trong quá trình đi thực tế, tìm số liệu; đồng thời, do thời gian nghiên cứu hạn chế, nên chỉ dừng lại trên địa bàn thành phố Sóc Trăng

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chính của đề tài nhằm đánh giá thực trạng tiêu dùng rượu, bia và xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tần suất, mức độ tiêu dùng rượu, bia của người

Trang 20

tiêu dùng tại địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để làm giảm

bớt việc lạm dụng rượu, bia một cách hiệu quả hơn

1.3.Nội dung nghiên cứu:

Nội dung nghiên cứu của đề tài chủ yếu tìm câu trả lời cho 3 câu hỏi sau:

- Thực trạng tiêu dùng rượu, bia trên địa bàn thành phố Sóc Trăng như thế nào (đối tượng, độ tuổi, địa điểm, môi trường…nào tiêu dùng nhiều nhất)? mức độ lạm dụng rượu, bia như thế nào?

- Nguyên nhân của thực trạng nêu trên? Sự hiểu biết của người tiêu dùng về tác hại của lạm dụng rượu, bia? Tại sao có nhiều tác hại vẫn xảy ra vấn nạn lạm dụng rượu, bia?

- Những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác pḥng chống lạm dụng rượu, bia và giảm tác hại của việc lạm dụng rượu, bia nào có thể áp dụng?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: nhận thức, thái độ, hành vi và mức độ tiêu dùng rượu, bia của người tiêu dùng; nhà sản xuất rượu, bia và chính quyền địa phương tại tỉnh Sóc Trăng

Phạm vi nghiên cứu: do hạn chế về thời gian và năng lực tài chính, phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ thực hiện trên địa thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng

1.5 Cấu trúc của luận văn:

Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong luận văn này gồm có 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu đề tài

Chương này bao gồm giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu; trình bày nội dung nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đồng thời nêu cấu trúc nghiên cứu của luận văn

Chương 2: Cơ sở lý luận và một số khái niệm cơ bản

Chương này trình bày cơ sở lý thuyết làm nền tảng để thực hiện đề tài như một số lý thuyết về hành vi và tập quán Trình bày một số khái niệm liên quan đến

đề tài và những chính sách mà nhà nước ta đang áp dụng trên nước Việt nam nói chung và địa bàn tỉnh Sóc Trăng nói riêng

Trang 21

Chương 3: Đặc điểm địa bàn và Phương pháp nghiên cứu

Chương này nêu những phương pháp, mô hình được áp dụng trong đề tài Xác định mẫu nghiên cứu, xây dựng thang đo, bảng câu hỏi và cách thực hiện thu thập số liệu cũng như phỏng vấn lấy thông tin

Chương 4: Kết quả nghiên cứu:

Chương này trình bày các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng sử dụng rượu, bia trên địa bàn thành phố Sóc Trăng Thông qua những kết quả nghiên cứu này tiến này trả lời câu hỏi số 1 “Thực trạng tiêu dùng rượu, bia trên địa bàn thành phố Sóc Trăng như thế nào (đối tượng, độ tuổi, địa điểm, môi trường…nào tiêu dùng nhiều nhất)? mức độ lạm dụng rượu, bia như thế nào?” và câu hỏi số 2 “Nguyên nhân của thực trạng nêu trên? Sự hiểu biết của người tiêu dùng về tác hại của lạm dụng rượu, bia? Tại sao có nhiều tác hại vẫn xảy

ra vấn nạn lạm dụng rượu, bia?”

Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp

Bằng những kết quả và phân tích ở chương 4 sẽ đưa ra kết luận cho nghiên cứu này cũng như đưa ra giải pháp bằng cách trả lời cho câu hỏi số 3 “Những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác ph ̣ng ch ống lạm dụng rượu, bia và giảm tác hại của việc lạm dụng rượu, bia nào có thể áp dụng?”

Trang 22

CHƯƠNG II:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Một số khái niệm và thông tin liên quan đến nghiên cứu:

Theo thành phần và cấu tạo hóa học thì “Rượu là một hợp chất hữu cơ chứa cacbon, hydro và oxy với công thức C2H6O”

Theo WHO các loại đồ uống có chứa cồn được chế biến qua quá trình lên men và chưng cất, được chia làm 3 loại như sau:

Rượu, bia được sản xuất nhờ quá trình lên men tinh bột hoặc đường có nhiều trong hoa quả và ngũ cốc.(Nguồn: Hoàng Thị Phượng, 2009 Thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và tác hại của lạm dụng rượu bia ở một số vùng sinh thái của Việt Nam Luận án Tiến sỹ Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương)

2.1.1 Khái niệm về nhận thức:

Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn

Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của

sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy

và không ngừng tiến đến gần khách thể

Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu

Trang 23

tượng đến thực tiễn Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong

2.1.2 Khái niệm về thái độ:

Thái độ là những phát biểu hay những đánh giá có giá trị về sự vật, con người hay đồ vật.Thái độ phản ánh con người cảm thấy như thế nào về một điều nào

đó

Thái độ cụ thể hơn giá trị, và bất cứ thái độ nào cũng liên quan đến một số giá trị nào đó Nếu như giá trị có tính ổn định cao thì thái độ lại ít ổn định hơn

Hình 2.1 Mô hình thái độ và hành vi

Trang 24

Nguồn: McShane S L và Von Glinow M.A (2003), Organizational Behavior

2.1.3 Khái niệm về hành vi:

Mỗi cá nhân đều sống trong một tập thể xã hội và có quan hệ với những người xung quanh trong những mối tác động qua lại nhất định Sự tác động qua lại giữa người này với người khác, hay giữa con người với các sự việc, hoàn cảnh xung quanh được thể hiện bởi một hành động đơn lẻ hay các hành động phối hợp được

gọi là hành vi Như vậy hành vi của con người được hiểu là một hành động hay

nhiều hành động phức tạp trước một sự việc, hiện tượng mà các hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan và khách quan

Có rất nhiều yếu tố có thể tác động đến hành vi của một người như trình độ văn hóa, phong tục tập quán cộng đồng, kinh tế xã hội, chính trị, luật pháp, nguồn lực, kỹ năng, phương tiện kỹ năng, thông tin…Mỗi hành vi của một người là biểu hiện của các yếu tố cấu thành nên nó, đó là kiến thức, niềm tin, thái độ, cách thực hành (hay

kỹ năng) của người đó trong một hoàn cảnh hay tình huống cụ thể nào đó Một hành

vi có thể thấy ở một cá nhân, cũng có thể thấy trong thực hành của một nhóm cá nhân hay cả một cộng đồng Hành vi được lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian dài

có thể trở thành thói quen ( Y Cần Thơ, 2011 Khái niệm về hành vi và hành vi sức khỏe http://ycantho.com/content/2/219/0/4/images/13.html.)

2.1.4 Lý thuyết hành vi liên quan

Lý thuyết hành vi vấn đề (PBT) (Jessor, 1987, 1991, 1998; Jessor & Jessor, 1977)

Hành vi vấn đề là hành vi được xã hội định nghĩa như là một vấn đề, như là một nguồn quan tâm, hoặc là không mong muốn bởi các chuẩn mực xã hội hoặc pháp luật của xã hội và các tổ chức của cơ quan; đó là hành vi mà thường gợi lên một số hình thức phản ứng kiểm soát xã hội, dù nhỏ nhất, chẳng hạn như một tuyên

bố không chấp thuận, hoặc cực đoan

Các lý thuyết về hành động lý luận cho rằng ý định (động lực) để thực hiện một hành vi nhất định phụ thuộc vào việc cá nhân đánh giá các hành vi như tích cực (thái độ), và nếu họ phán xét người khác như họ muốn thực hiện hành vi (tiêu chuẩn

Trang 25

chủ quan) Lý thuyết hành vi vấn đề (Jessor, 1987, 1991, 1998; Jessor & Jessor, 1977) xây dựng dựa trên lý thuyết này và cho rằng tất cả các hành vi không được thực hiện dưới sự kiểm soát có mục đích và hành vi có thể được thực hiện trên một

sự liên tục từ tổng kiểm soát để hoàn thành thiếu kiểm soát Cả hai yếu tố nội bộ (kỹ năng nhận thức, kiến thức, cảm xúc) và các yếu tố bên ngoài (tình huống hoặc môi trường) xác định mức độ kiểm soát Các hành vi uống rượu quá mức và lái xe khi đã uống rượu đều có thể gây nguy hiểm cho bản thân và xã hội đều coi như hành vi có vấn đề

Lý thuyết này phân tích những vấn đề liên quan đến hành vi và từng hành vi

có vấn đề Ví dụ như lái xe trong tình trạng thiếu tỉnh táo sau khi uống rượu bia, phải được xem xét trong hệ thống phức hợp của hành vi vừa có khả năng thích ứng vừa có vấn đề nhân cách và môi trường nhận thức Bằng cách xử lý mọi hành vi (không chỉ riêng với hành vi uống rượu), những tai nạn và vấn đề liên quan sẽ giảm đáng kể

Lý thuyết hành vi dự kiến (TPB) (Ajen 1985, 1991; Ajzen & Fishbein, 2005)

Lý thuyết về hành vi quy hoạch nhấn mạnh rằng hành vi của con người bị chi phối không chỉ bởi thái độ cá nhân, mà còn bởi các áp lực xã hội và cảm giác kiểm soát Mô hình này, khi kết hợp với một vài thay đổi, có thể tạo ra một số dự đoán hấp dẫn Ví dụ, cá nhân có nhiều khả năng để thực hiện chứ không phải bỏ qua ý định của họ, chẳng hạn như một kế hoạch để tránh rượu, nếu họ thể hiện những kế hoạch trên nhiều hơn một lần (Cooke & Sheeran, 2004)

Lý thuyết về hành vi của kế hoạch giả định rằng những cân nhắc hợp lý chi phối việc lựa chọn và hành vi của các cá nhân (Ajzen, 1985; Ajzen, 1991; Ajzen & Fishbein, 2005) Cụ thể, theo một tiền chất của lý thuyết này, được gọi là lý thuyết

về hành động lý luận, hành vi được xác định bởi những ý định của cá nhân - kế hoạch rõ ràng của họ hoặc động lực để thực hiện một hành động cụ thể Ví dụ, ý định bỏ hút thuốc lá dùng để chỉ một cam kết rõ ràng để kiêng này

Trang 26

Những ý một phần, nhưng không hoàn toàn, phản ánh thái độ cá nhân của cá nhân, mà là mức độ mà họ cảm nhận được hành động này như mong muốn hay không thuận lợi Những thái độ này phản ánh tín ngưỡng cả nhận thức về hành vi, chẳng hạn như cho dù họ tin rằng hút thuốc là có hại, cũng như tình cảm đánh giá, chẳng hạn như việc họ cảm thấy rằng hút thuốc là không phù hợp

Lý thuyết nhận thức – hành vi

Các quan điểm về hành vi và nhận thức xuất phát từ hai dòng tác phẩm tâm

lý học có liên quan Về mặt lịch sử, lý thuyết học hỏi xuất hiện đầu tiên và phát triển trong TLH lâm sang sử dụng trị liệu hành vi dựa trên nghiên cứu của TLH Sheldon (1995) biểu đạt bản chất của lý thuyết này là việc tách biệt ý thức và hành

vi Các quan điểm tâm động học và quan điểm truyền thống lại cho rằng hành vi xuất phát từ một quá trình thực hiện theo ý thức của chúng ta, điều này có nghĩa là hành vi của con người xuất hiện dựa trên ý thức của họ Nhưng lý thuyết học hỏi cho rằng chúng ta không thể biết được điều gì đang xảy ra trong ý thức của ai đó

Do đó, chúng ta chỉ có thể trị liệu tập trung đến việc giải quyết các vấn đề làm thay đổi hành vi mà không quan tâm đến những vấn đề biến đổi nào có thể xảy ra trong ý thức của chúng ta trong quá trình này

Lý thuyết học hỏi xã hội của Bandura (1977) mở rộng thêm quan điểm này

và cho rằng hầu hết các lý thuyết học hỏi đạt được qua nhận thức của con người và suy nghĩ về những điều mà họ đã trải nghiệm qua

Lý thuyết nhận thức- hành vi đánh giá rằng: hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc các lý giải về môi trường trong quá trình học hỏi Như vậy, rõ rang

là hành vi không phù hợp phải xuất hiện từ việc hiểu sai và lý giải sai

2.1.5 Thế nào là lạm dụng rượu, bia?

Lạm dụng rượu là một vấn đề phức tạp gồm ba mức độ: uống rượu có nguy

cơ bị hại, uống quá độ và nghiện rượu Uống rượu có nguy cơ bị hại, theo định

nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới là “uống rượu thường xuyên, có nguy cơ dẫn đến hậu quả tai hại” về mặt thể chất, tâm thần, hoặc xã hội Điều này bao hàm việc uống

rượu quá mức quy định của cơ quan y tế có thẩm quyền và pháp luật Uống rượu

Trang 27

quá độ, còn gọi là uống quá chén, ám chỉ thói quen uống rượu đã gây tác hại về mặt

thể chất và tâm thần nhưng chưa dẫn đến việc nghiện rượu Nghiện rượu được miêu

tả là “không thể kiềm chế bản thân để tránh uống rượu” Người nghiện rượu thèm rượu, tiếp tục uống bất chấp những tác hại do rượu gây ra, và lên cơn vật vã khi thiếu rượu (Lạm dụng rượu và sức khỏe http://m.wol.jw.org/vi/wol/d/r47/lp-vt/102005722.)

Lạm dụngrượu, bia theo quan điểm WHO:

Lạm dụng rượu, bia là việc sử dụng rượu, bia với mức độ không thích hợp dẫn đến sự biến đổi về chức năng hoặc xuất hiện một dấu hiệu lâm sàng theo DSM-

IV (loạn thần dạng phân liệt hay rối loạn dạng phân liệt)

Mức sử dụng có thể gây nên tình trạng lạm dụng rượu, bia theo khuyến cáo của WHO là:

- Nữ sử dụng quá 1 đơn vị rượu/ngày, 7 đơn vị rượu/tuần ( 30 đơn vị rượu/tháng)

- Nam sử dụng quá 2 đơn vị rượu/ngày, 14 đơn vị rượu/tuần ( 60 đơn vị rượu/tháng)

- Lớn hơn 65 tuổi sử dụng quá 1 đơn vị rượu/ngày, 7 đơn vị rượu/tuần ( 30 đơn vị rượu/tháng)

Lạm dụngrượu, bia theo quan điểm Việt Nam:

Theo Khoản 2, Điều 2 Quyết định 244/QĐ-TTg ngày 12/2/2014 Quyết định

về chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm

2020 thì lạm dụng rượu, bia và đồ uống có cồn là việc sử dụng rượu, bia và đồ uống

có cồn khác với mức độ, liều lượng, đối tượng không thích hợp dẫn đến sự biến đổi

về chức năng của cơ thể hoặc sự xuất hiện dấu hiệu về lâm sàng ảnh hưởng có hại đến sức khoẻ người sử dụng:

- Trẻ em, phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con bằng sữa mẹ sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác;

- Người từ 60 tuổi trở lên uống hơn 14 đơn vị rượu/tuần, hơn 2 đơn vị rượu/ngày, hơn ½ đơn vị rượu/giờ (tức 60 đơn vị rượu/tháng);

Trang 28

- Người dưới 60 tuổi uống trên 21 đơn vị rượu/tuần, hơn 3 đơn vị rượu/ngày, hơn 1 đơn vị rượu/giờ (tức 90 đơn vị rượu/tháng)

- Hoặc sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác trong trường hợp pháp luật nghiêm cấm

Mức lạm dụng tính theo đơn vị rượu:

Đơn vị rượu là đơn vị đo lường để quy đổi rượu, bia và đồ uống có cồn khác, tương đương với 10 gr etanol nguyên chất chứa trong dịch uống (khoảng 2/3 chai bia 500 ml hoặc một lon bia 330 ml 5%, một cốc bia hơi 330 ml, một ly nhỏ 100 ml rượu vang 13,5%, một chén 30 ml rượu mạnh 40%-43%)

Người dưới 60 tuổi bị xem là lạm dụng rượu, bia nếu uống trên 21 đơn vị rượu/tuần, hơn ba đơn vị rượu/ngày, hơn một đơn vị rượu/giờ Người từ 60 tuổi trở lên xem là lạm dụng rượu, bia nếu uống hơn 14 đơn vị rượu/tuần, hơn hai đơn vị rượu/ngày, hơn 1/2 đơn vị rượu/giờ

2.2 Môt số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng, lạm dụng rượu, bia

Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã tìm thấy mối liên quan chặt chẽ giữa hành vi uống rượu ở các mức độ khác nhau với các yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, ảnh hưởng từ sự lôi kéo của bạn bè và người thân trong gia đình Nam giới được báo cáo uông nhiều rượu, bia hơn nữ giới Sự khác biệt khá mạnh về khía cạnh giới tính được thể hiện khá rõ ở các nước khu vực Châu Âu, Đông Nam Á, các nước theo đạo hồi và ở Việt Nam, tỷ lệ nam giới uồng rượu, mức

độ uống và tần suất uống cao hơn nữ giới rất nhiều Tuổi cũng ảnh hưởng đến mô hình uống rượu, bia Ở dộ tuổi từ 25-44 mức độ sử dụng rượu, bia cũng như tần suất uống rượu, bia tăng lên khá nhanh theo chiều tăng của tuổi, nhưng đến tuổi từ 45 trở

đi thì có xu hường giảm nhẹ, cho đến tuổi 60 thì mức độ giảm đáng kể Việc sử dụng rượu, bia cũng bị ảnh hưởng khá lớn bởi người thân trong gia đình và bạn bè xung quanh Các nghiên cứu về vị thành niên và thanh niên ở Việt Nam đã cho biết,

độ tuổi từ 10-24 có người thân trong gia đình sử dụng rượu, bia thì sẽ uống rượu nhiều hơn gấp 1,45 lần so với những em không có người thân uống rượu và 2,7 lần nếu có bạn sử dụng rượu, bia so với những em khác (Nguồn: Hoàng Thị Phượng,

Trang 29

2009 Thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và tác hại của lạm dụng rượu bia ở một số vùng sinh thái của Việt Nam Luận án Tiến sỹ Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương)

Bên cạnh các yếu tố các nhân thì truyền thống văn hóa, phong tục tập quán

và chuẩn mực hành vi cũng là những nhân tốt quan trọng chi phối trực tiếp tới mức

dộ lạm dụng rượu, bia của mỗi cá nhân cũng như của từng khu vực

2.3 Tác hại của rượu, bia

Uống nhiều rượu sẽ có hại cho sức khỏe, điều này thì ai ai cũng biết, và chẳng những gây hại cho bản thân mình, rượu còn gây tổn hại về nhiều mặt vật chất, tình cảm với mọi người xung quanh Ngày nay các nhà khoa học đã tìm ra nhiều bằng chứng chứng minh rằng nếu uống quá nhiều rượu sẽ tổn hại đến nhiều

cơ quan trong cơ thể con người từ hệ thần kinh, hệ tim mạch, hệ nội tiết, đặc biệt là

hệ tiêu hóa gan mật

Về mặt khoa học rượu là một dung dịch gồm nước và cồn (trong đó cồn chiếm từ 1% đến 50% tính theo thể tích, vì vậy được gọi là rượu từ 10đến 500 ), ngoài các thành phần chính trên rượu còn chứa một lượng nhỏ các chất riêng biệt của mỗi nhà sản xuất nhằm tạo nên mỗi loại rượu một màu sắc, một hương vị đặc thù riêng

2.3.1 Đến sức khỏe bản thân

Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết rượu, bia là nguyên nhân trực tiếp gây

ít nhất 30 bệnh và nguyên nhân gián tiếp gây 200 loại bệnh tật, chấn thương (Tuổi trẻ, 2016 Rượu bia là nguyên nhân trực tiếp gây ít nhất 30 bệnh

nhat-30-benh/1041241.html.)

http://tuoitre.vn/tin/can-biet/20160120/ruou-bia-la-nguyen-nhan-truc-tiep-gay-it-Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), rượu, bia gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong với những người mắc bệnh không lây nhiễm như: bệnh tim mạch, đái tháo đường và ung thư; tiếp theo là chấn thương (chủ yếu là tai nạn giao thông) và bệnh đường tiêu hóa (xơ gan)

Có một số ý kiến cho rằng nếu uống bia thì ít gây hại cho sức khỏe hơn so với uống rượu Đây là quan niệm không đúng bởi vì tác hại chủ yếu là do chất cồn

Trang 30

(ethanol) trong đồ uống gây ra Vì vậy tác hại do rượu, bia không phụ thuộc vào loại đồ uống (là bia hay rượu) mà phụ thuộc vào lượng uống (tiêu thụ bao nhiêu gam cồn) và cách thức uống (tần suất sử dụng)

Một vấn đề đáng quan tâm khác đó là rượu, bia gây lệ thuộc làm cho người uống không tự kiểm soát được hành vi uống của bản thân Chất cồn là một chất hướng thần gây nghiện nếu uống thường xuyên sẽ làm cho người uống phải gia tăng liều dùng và tái sử dụng

Theo WHO, trên thực tế, không có tiêu chuẩn cho mức độ tiêu thụ cồn bao nhiêu là có hại do nguy cơ và hậu quả khi sử dụng rượu, bia phụ thuộc vào tuổi, giới tính và các đặc tính sinh học khác của từng người, hoàn cảnh và cách thức uống

Một số nhóm đối tượng nguy cơ cao hoặc cá nhân dễ bị tổn thương còn bị tăng tính nhạy cảm đối với tính độc, kích thích tâm thần và gây nghiện của rượu, bia Nói một cách khác, không có mức độ uống rượu, bia nào là an toàn Các bằng chứng khoa học cho thấy uống một lượng rất nhỏ rượu, bia cũng có thể gây ra nguy

cơ và hậu quả sức khỏe nhất định

Theo các số liệu nghiên cứu công bố trong “Báo cáo về sử dụng rượu, bia tại cộng đồng châu Âu năm 2012”, nguy cơ tử vong do bệnh tật và tai nạn thương tích

sẽ tăng lên đáng kể nếu một người uống nhiều hơn 2 đơn vị cồn trong một ngày và nguy cơ tử vong tăng tương quan với mức độ uống

Thông thường có thể chia các mức độ nguy cơ đối với sử dụng rượu, bia như sau: mức nguy cơ thấp là không nên uống quá hai đơn vị cồn/ngày với nam giới, một đơn vị cồn/ngày đối với nữ giới và không uống quá 5 ngày trong một tuần

Đặc biệt, người dân không nên sử dụng rượu, bia trong các trường hợp, điều khiển phương tiện cơ giới, vận hành máy móc, có thai hoặc đang cho con bú, đang điều trị thuốc có phản ứng với cồn, có các tình trạng bệnh lý mà rượu, bia làm cho nặng lên

Mức có hại là mức độ, cách thức sử dụng làm tăng nguy cơ gây hại đối với sức khỏe và hậu quả xã hội Mặc dù có thể chưa chịu các tác hại trực tiếp về sức khỏe nhưng có nguy cơ mắc các bệnh mãn tính (ung thư, bệnh tim mạch ), nguy cơ

Trang 31

chấn thương, bạo lực hay các hành vi liên quan đến pháp luật, giảm khả năng làm việc, các vấn đề xã hội do nhiễm độc rượu, bia gây nên

Mức nguy hiểm là mức độ, cách thức sử dụng gây ra các hậu quả có hại đối với sức khỏe về thể chất hay tâm thần hoặc các hậu quả xã hội Mức độ sử dụng này gây ra những tổn thương cấp tính hoặc lâu dài đối với sức khỏe về thể chất (tổn thương gan, suy chức năng gan, xơ gan, bệnh tim mạch,…) hay tâm thần (trầm cảm, loạn thần,…) hoặc các hậu quả xã hội khác (tai nạn thương tích, bạo lực, giảm khả năng làm việc)

Khi uống rượu vào cơ thể, nó được hấp thu nhanh trực tiếp vào máu với 20% hấp thu tại dạ dày và 80% tại ruột non, sau 30-60 phút toàn bộ rượu được hấp thu hết Tốc độ hấp thu của rượu vào máu sẽ chậm hơn nếu dạ dày có thức ăn, hoặc dạ dày hoàn toàn rổng Ngược lại nếu rượu được uống cùng lúc hoặc xen kẽ với các loại thức uống có gaz như sodo, coca v.v… tốc độ hấp thu rượu vào máu sẽ gia tăng

và làm người uống sẽ mau say hơn

Sau khi hấp thu, rượu được chuyển hóa chủ yếu tại gan (90%) Một lượng nhỏ rượu còn nguyên dạng (khoảng 5-10%) thải ra ngoài qua mồ hôi, hơi thở và nước tiểu

Mức độ hấp thu rượu vào cơ thể tùy thuộc vào từng loại rượu, nồng độ rượu, lượng thức ăn trong dạ dày, thể trạng người uống…

Sau khi được hấp thu, rượu vào máu và phân tán đến khắp các mô tế bào và các cơ quan trong cơ thể và làm nguy cơ mắc các bệnh như sau:

Trí não: Hủy tế bào, mất trí nhớ, trầm cảm, có hành vi hung hăng

Suy yếu: thị lực, khả năng nói, khả năng phối hợp các cử động

Ung thư: cổ họng, miệng, vú, gan

Tim: Suy yếu cơ, khả năng bị suy tim

Gan: Nhiễm mỡ, sưng gan, xơ gan

Những nguy cơ khác: Hệ miễn dịch kém, ung loét, sưng tuyến tụy

Phụ nữ mang thai: Nguy cơ sinh con dị dạng hoặc chậm phát triển

Trang 32

2.3.2 Đến gia đình và xã hội

Bà Nguyễn Thị Xuyên, Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết: Rượu, bia đứng thứ 5 trong số 10 nguyên nhân gây tử vọng cao nhất trên toàn cầu Chi phí dành cho rượu, bia đã tạo gánh nặng cho nền kinh tế, nhất là các nước đang phát triển Ước tính, chi phí cho rượu, bia và giải quyết hậu quả tác hại của rượu, bia chiếm 2 - 8% GDP quốc gia Trước vấn nạn này, một số nước triển khai về chính sách phòng ngừa lạm dụng rượu, bia

Ở Việt Nam, khi đời sống ngày một nâng cao thì xu hướng sử dụng rượu, bia trở nên tràn lan, gây hậu quả nghiêm trọng Bình quân cả nước mỗi ngày có 40 người chết thì trong đó không ít người có nguyên nhân là do rượu, bia và tình trạng bạo lực cũng bắt nguồn từ đây Rượu, bia là chất gây nghiện và có thể trở thành quốc nạn với nhiều vấn đề xã hội như tai nạn giao thông, hỏa hoạn, chết đuối, bạo lực, giết người và tự tử, gây rối trật tự xã hội: tan vỡ gia đình, lơ là công việc Những năm trước, ở Việt Nam cũng có các chính sách phòng ngừa lạm dụng rượu, bia nhưng vì nhiều lý do nên thực thi của các chính sách tác động đến sản xuất và kinh doanh rượu, bia không cao

Theo thống kê của Viện Chiến lược chính sách y tế, có tới 4,4% người dân Việt Nam phải gánh chịu bệnh tật do hậu quả của rượu, bia mang lại Xu hướng này đang ngày càng gia tăng đáng lo ngại trong giới trẻ Qua điều tra về sức khoẻ vị thành niên và thanh niên (từ 14 - 15 tuổi) cho thấy: 69% nam và 28% nữ đã từng uống bia, rượu

Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam Takeshi Kasai cho biết, theo thống kê của WHO, việc sử dụng đồ uống có cồn ở Việt Nam khá phổ biến, đặc biệt là ở nam giới Ước tính có đến 70% đàn ông Việt Nam uống rượu, bia

và cứ trong 4 người thì có 1 người sử dụng rượu, bia ở mức độ có hại, tương đương với 6 cốc bia hơi mỗi ngày (Nguyễn Bích Thủy, 2014 Tỷ lệ sử dụng rượu, bia ở Việt Nam đang ở mức báo động http://www.vietnamplus.vn/ty-le-su-dung-ruou-bia-o-viet-nam-dang-o-muc-bao-dong/288597.vnp.)

Trang 33

Theo ông Nguyễn Trọng Thái, Chánh Văn phòng Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia, uống rượu, bia trước khi tham gia giao thông, người điều khiển phương tiện dễ bị hưng phấn, bốc đồng, chạy xe với tốc độ cao do bị kích thích, rượu gây ức chế não bộ làm cho người lái xe có thể ngủ gật trong khi điều khiển xe

Rượu, bia là nguyên nhân trực tiếp làm giảm tốc độ phản ứng của lái xe từ 10-30%; làm giảm khả năng điều khiển tự chủ, phản xạ và thị lực, gây ảnh hưởng trực tiếp đến thị giác, quá trình xử lý và truyền tải hình ảnh, gây ước tính sai về khoảng cách dẫn đến gia tăng mức độ rủi ro và tai nạn giao thông

Hiện nay, tỷ lệ sử dụng rượu, bia ở Việt Nam ngày càng gia tăng và đang ở mức báo động 70% số vụ tai nạn giao thông tại Việt Nam có nguyên nhân do lái xe

sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông Đặc biệt, tai nạn giao thông thường xảy

ra trong khoảng thời gian từ 18-24 giờ

Lạm dụng rượu, bia là nguyên nhân của 70% số vụ bạo lực gia đình, trong đó

có bạo lực tình dục

Việc sử dụng rượu, bia ở môi trường công cộng, đông người thường có xu hướng làm cho người sử dụng gia tăng lượng uống rượu, bia, dễ dẫn đến lạm dụng, say rượu, bia…

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng đã thống kê: Rượu, bia có liên quan đến 3,2% tổng số tử vong trên thế giới và 4% người mắc bệnh tật có liên quan đến bia, rượu (58,3 triệu người/năm) GS Sally Caswell, đại diện của WHO cảnh báo: Nghiên cứu gánh nặng toàn cầu về thương tật năm 2002 cho thấy, có tới trên 58 triệu người/năm sống với thương tật do rượu, bia trên toàn thế giới, gần xấp xỉ bằng thuốc lá Tuy nhiên, mức độ nguy hại của rượu, bia còn lớn hơn so với thuốc lá nhiều vì nó còn gây sự rối loạn trật tự xã hội, tác hại đối với người khác, tác động

về kinh tế Đặc biệt, 10 năm gần đây, ngành công nghiệp rượu, bia đã có sự tăng trưởng, mở rộng đáng kể Sự gia tăng nhanh chóng về mức tiêu thụ rượu, bia và tác hại của nó cùng với sự thiếu hụt chính sách phù hợp

Ở Việt Nam, sự xâm nhập của rượu, bia vào giới trẻ tăng đáng kể Độ tuổi trung bình bắt đầu uống rượu, bia ở Việt Nam là 24 tuổi Độ tuổi trung bình ở một

Trang 34

số nước phương Tây là 15 tuổi Đáng lo ngại là việc sử dụng nhiều của giới trẻ sẽ gây tổn thương phát triển của não, nguy cơ phụ thuộc sau này

2.3.3 Tai nạn giao thông có liên quan đến sử dụng rượu, bia có xu hướng tăng nhanh:

Tình hình tai nạn giao thông (TNGT) hiện nay có xu hướng giảm Song, tình hình TNGT do người tham gia giao thông sử dụng rượu, bia, đồ uống có cồn có xu hướng gia tăng

Thông tin do Đại tá Phạm Đình Xinh – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ATGT, Học viện Cảnh sát nhân dân cho biết tại Hội thảo Báo chí ðýa tin về An toàn Giao thông do Trung tâm bồi dýỡng nghiệp vụ báo chí – Hội nhà báo Việt Nam phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới và Hội nhà báo Bắc Ninh tổ chức

Báo cáo tình hình phạm pháp hình sự, gây rối trật tự công cộng và tai nạn giao thông do ảnh hưởng của rượu, bia và đồ uống có cồn giai đoạn 2010 – 2014 cho thấy, trong giai đoạn này đã xảy ra 16.743 vụ tai nạn giao thông Trong đó số

vụ tai nạn giao thông do sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn chiếm 3,8% trong tổng số các vụ tai nạn giao thông đã xảy ra tại các địa phương này Điều đáng lo ngại là các con số trên không phải là con số tổng quan mà chỉ là con số ban đầu được điều tra tại 11 tỉnh, thành là Bắc Ninh, Cần Thơ, Đắc Lắc, Đà Nẵng, Hà Nam,

Hà Nội, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh

Riêng năm 2010, tại 11 tỉnh thành trên xảy ra 3757 vụ tai nạn giao thông, năm 2011 xảy ra 3115 vụ, năm 2013 xảy ra 2567 vụ, năm 2013 xảy ra 3914 vụ, năm

2014 xảy ra 3390 Trong đó, Hà Nội là địa bàn có số vụ tai nạn giao thông xảy ra nhiều nhất (chiếm 42,7%), địa bàn có số vụ tai nạn giao thông thấp nhất là Vĩnh Phúc (chiếm 0,44%) Điều đó cho thấy số vụ tai nạn giao thông đang có xu hướng giảm dần qua các năm

Trung bình mỗi năm Việt Nam có 12.000 người chết vì tai nạn giao thông, trong đó 4.800 trường hợp có liên quan đến rượu, bia

Tuy nhiên, tình hình tai nạn giao thông đường bộ do người tham gia giao thông sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn trên các địa phương khảo sát giai đoạn

Trang 35

2010 – 2014 cho thấy, tình hình tai nạn giao thông do sử dụng rượu, bia và đồ uống

có cồn lại có xu hướng gia tăng dần qua các năm: 61 vụ (2010), 69 vụ (2011), 74 vụ (2012), 68 vụ (2013), 71 vụ (2014)

Hà Nội là địa phương có số vụ tai nạn giao thông xảy ra nhiều nhất (chiếm 31,44% trong tổng số các vụ tai nạn giao thông do sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn), Bắc Ninh là tỉnh có số vụ tai nạn giao thông do người tham gia giao thông sử dụng rượu, bia và đồ uống có ồn ít nhất (chiếm 1,89%)

Theo Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ATGT – Học viện Cảnh sát nhân dân,

có 6 nguyên nhân dẫn tới thực trạng nêu trên:

Thứ nhất là do công tác quản lý nhà nước trong kinh doanh, mua bán sử

dụng rượu, bia và đồ uống có cồn còn lỏng lẻo (nhà nước mới chỉ cấm quảng cáo rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên)

Thứ hai là công tác tuyên truyền về tác hại trong việc sử dụng rượu, bia và

đồ uống có cồn hiệu quả chưa cao

Thứ ba là chưa có Luật riêng để có các chế tài xử lý nghiêm khắc về việc lạm

dụng rượu, bia và đồ uống có cồn

Thứ tư là do sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn trong sinh hoạt là một thói

quen trong tập quán nhân dân

Thứ năm là ý thức chấp hành Luật giao thông chưa cao

Cuối cùng, quy định của pháp luật về việc xử lý người sử dụng rượu, bia và

đồ uống có cồn gây tai nạn giao thông không mang tính răn đe

2.4 Một số nghiên cứu liên quan đến hành vi lạm dụng rượu, bia khác:

Qua theo dõi và thông qua các kết quả nghiên cứu ban đầu của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam cho thấy, hiện nay thanh niên lạm dụng rượu, bia có xu hướng tăng về số lượng và mức độ Một nghiên cứu vào năm 2005, ở TP Hồ Chí Minh với 200 sinh viên cho kết quả sau: Có tới 78,5% số sinh viên được hỏi, trả lời

đã từng uống rượu - bia, chỉ có 21,5% chưa bao giờ uống, trong số đã từng uống chỉ

có 15% là đã bỏ Trên thực tế, đối tượng thanh niên uống rượu, bia ngày càng mở rộng về đối tượng, cả nam và nữ, không trừ đối tượng nào, tất cả thanh niên các

Trang 36

vùng Điều đáng báo động là số lượng thanh niên lạm dụng rượu, bia có xu hướng tăng, uống nhiều lần trong ngày, trong tháng và có hứng thú khi uống; thanh niên đã uống rượu, bia đắt tiền (sản xuất ở nước ngoài) tương đối phổ biến, nhất là thanh niên các đô thị lớn; không gian uống rượu, bia được mở rộng, cả lúc vui và cả lúc buồn, cả trong ngày lễ tết và cả trong các ngày thường Cũng kết quả của cuộc điều tra trên cho thấy: Có tới 70,9% số sinh viên được hỏi cho biết: bản thân đã từng uống rượu, bia từ 1 lần/tuần đến vài lần/tuần, uống 1 lần/tháng đến vài lần/tháng và đáng lưu ý trong số đó có tới 3,1% trả lời là uống hàng ngày

Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Loan (2011) về thực trạng sử dụng rượu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội, tuổi trung bình sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên là 18 tuổi, có sự khác biệt giữa nam và nữ trong việc sử dụng rượu, bia Cùng với yếu tố giới tính thì độ tuổi cũng tạo nên sự khác biệt trong việc sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên Mức độ sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên tăng theo

độ tuổi (Trần Thị Thanh Loan, 2011 Thực trạng sử dụng rượu bia trong thanh thiếu niên Hà Nội Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Viện Xã hội học)

Nghiên cứu của Hoàng Văn Huỳnh, Lê Cự Linh Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng rượu, bia của thanh thiếu niên huyện Chí Linh – Tỉnh Hải Dương, năm 2006 Tạp chí Y học Dự phòng, tập XVIII, số 2 (94): 39-44, 2008

Trong một nghiên cứu mới đây, Việt Nam trở thành nước đứng thứ nhất Đông Nam Á và thứ ba Châu Á về việc tiêu thụ bia rượu Bên cạnh đó, người sử dụng rượu, bia đang dần được trẻ hóa với 1/3 số người bắt đầu uống trước tuổi 20, tỉ

lệ có uống rượu trong độ tuổi 14-17 là 34% và trong độ tuổi 18-21 là 57%

Đi kèm với “thành tích” này là những gánh nặng bệnh tật và hệ lụy xã hội đáng lo ngại Vấn đề trên được nêu ra trong hội thảo “Thực trạng sử dụng rượu, bia trong thanh niên” diễn ra vào sáng 18/9/2015 tại TP HCM.Hàng nghìn người chết mỗi năm vì “rượu lái xe”

Trang 37

Từ nghiên cứu, Mai Mỹ Hạnh, Giảng viên Khoa Tâm lý học, Trường Đại học sư phạm TP HCM cho rằng, không dừng lại ở thói quen giao tiếp, giới trẻ đang

có xu hướng lạm dụng và phụ thuộc quá nhiều vào rượu, bia

Nghiên cứu được thực hiện trên 670 sinh viên đến từ nhiều trường đại học - cao đẳng trên cả nước với kết quả, có hơn 50% số người khảo sát tập trung ở hai mức độ đầu tiên là “sử dụng rượu, bia một cách bình thường” (37,9%) và “có xu hướng lạm dụng rượu, bia” (21,3%); 20,2% “nghiện nhẹ”, 16% “nghiện vừa” và 4,6% rơi vào mức độ “nghiện nặng”

Theo tác giả Hạnh, 5% số bạn trẻ nghiện nặng là con số đáng lo ngại vì ở mức độ này, người nghiện sẽ có những biểu hiện hành vi lệch chuẩn và tìm mọi cách để thỏa mãn việc uống rượu, bia, thậm chí là sẵn sàng dùng bạo lực khi đã sử dụng rượu, bia

Còn theo bác sĩ Huỳnh Thanh Hiển, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện Tâm thần TP HCM, nghiện rượu có thể làm tăng các chứng rối loạn tâm thần như: Rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu (25-50%), trầm cảm (30-40%); nhân cách phi xã hội,

tự sát có sự tác động bởi rượu chiếm 25% Đặc biệt, nghiện rượu làm tăng 6 lần nguy cơ nghiện ma túy Bác sĩ Hiển cho biết, hầu hết các trường hợp sử dụng ma túy đều là người nghiện rượu

Trung úy Đỗ Quang Hưng, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ đường sắt, Công an TP HCM cho biết, 9 tháng đầu năm 2015, trên địa bàn TP HCM xảy ra 45

vụ tai nạn giao thông (TNGT) có nguyên nhân trực tiếp do người điều khiển phương tiện có nồng độ cồn vượt quá mức cho phép Hậu quả là 42 người chết và

10 người bị thương Trung bình những năm qua, số người chết vì TNGT cả nước là 12.000 người/năm, trong đó có 4.000 người chết do có liên quan đến rượu, bia

Theo bác sĩ Huỳnh Thanh Hiển, uống rượu, bia đã trở thành một trong những phong tục, thói quen giao tiếp của người Việt Do đó, không nên hướng đến mục tiêu loại bỏ hẳn việc sử dụng rượu, bia Thay vào đó, nên truyền thông để giới trẻ hiểu được những tác hại của rượu, bia và sử dụng một cách chừng mực

Trang 38

Qua nghiên cứu của mình, thạc sĩ Hạnh cho rằng, hiện nay, thanh niên, sinh viên tìm đến rượu, bia đa phần với mục đích để giải thoát những căng thẳng lo âu

Do đó, thay vì giải tỏa cảm xúc một cách tiêu cực như vậy, nên hướng họ đến cách giải tỏa tích cực hơn như các văn phòng tham vấn tâm lý

Theo thạc sĩ Hạnh, mỗi trường đại học, cao đẳng, các trung tâm sinh hoạt thanh niên, hội sinh viên, nhà văn hóa… phải có một mô hình tham vấn tâm lý Đây

sẽ là nơi thanh niên tìm đến khi gặp các vấn đề tâm lý chứ không phải là quán nhậu Trung úy Đỗ Quang Hưng nhấn mạnh, để hạn chế những vụ tai nạn thương tâm do

“rượu lái xe”, cần đẩy mạnh chế tài xử phạt việc điều khiển phương tiện giao thông khi trong người có nồng độ cồn vượt mức cho phép Trung úy Hưng cho rằng, so với nước ngoài, hiện nay, mức phạt về nội dung này ở nước ta còn thấp và chưa đủ sức răn đe.(Khương Quỳnh, 2015 Giới trẻ có xu hướng lạm dụng rượu bia

http://news.zing.vn/gioi-tre-co-xu-huong-lam-dung-ruou-bia-post581521.html.)

2.5 Một số chính sách và biện pháp ngăn ngừa chống lạm dụng rượu, bia ở Việt nam nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng

2.5.1 Chính sách của Chính phủ Việt Nam

Chính phủ nước ta đưa ra nhiều chính sách nhằm hạn chế, kiểm soát việc sản xuất, tiêu dùng rượu, bia, có thể liệt kê một số chính sách sau:

Nghị định 53/CP ngày 26/6/1994 quy định biện pháp xử lý hành chính đối với cán bộ, viên chức nhà nước và người có hành vi liên quan đến say rượu, bê tha

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 351/TTg ngày 25/8/1996 về việc cấm bán các loại rượu và nước uống có cồn từ 140

trở lên cho người chưa thành niên và rượu, bia cho trẻ em dưới 16 tuổi

Luật của Quốc Hội số 05/1998/QH10 ngày 20/05/1998 đưa ra mức thuế tiêu thụ đặc biệt với mặt hàng rượu, bia

Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg ngày 19/3/2001 phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn

2001 – 2010, trong đó có mục tiêu “phòng chống các bệnh do lối sống không lành mạnh mang lại (nghiện ma tuý, nghiện rượu, …)”

Trang 39

Ngày 7/4/2008 ban hành Nghị định số 40/2008/NĐ-CP về sản xuất kinh doanh rượu

Luật giao thông đường bộ số 26/2001/QH10 ngày 29/6/2001 quy định các hành vi bị nghiêm cấm: trong đó có việc “Người lái xe đang điều khiển xe trên đường mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc 40 miligam/1 lít khí thở hoặc có các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng”

Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 13/11/2008 quy định các hành vi bị nghiêm cấm: trong đó có việc “Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở”

Luật quảng cáo số: 16/2012/QH13, tại Điều 7 quy định sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cấm quảng cáo, trong đó chỉ cấm quảng cáo “Rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên” Còn bia và các thức uống có cồn khác chưa được quy định cấm hay hạn chế quảng cáo, khuyến mãi, đưa hình ảnh sử dụng rượu, bia trên các phương tiện truyền thông và cũng chưa có chính sách truyền thông đầy đủ để tuyên truyền giáo dục về tác hại của rượu, bia Nguyên nhân của tình trạng này là do chưa có cơ chế triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm thực hiện tốt chính sách phòng chống lạm dụng rượu, bia và đồ uống có cồn

Ngày 12/02/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 244/QĐ-TTg về Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020, giao cho Bộ Y tế chủ trì và gấp rút xây dựng hoàn thiện “Luật Phòng chống tác hại của lạm dụng rượu, bia” để Chính phủ trình Quốc hội xem xét ban hành Đồng thời giao cho Bộ Tài Chính đề xuất lộ trình điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia và đồ uống có cồn khác

2.5.2 Chính sách và biện pháp của chính quyền địa phương tỉnh Sóc Trăng:

Việc ban hành các chính sách chống hành vi lạm dụng rượu, bia trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng được cân nhắc từ quyền lợi của nhiều phía Trước hết là bảo vệ trật

tự, an toàn cho xã hội, thứ hai bảo vệ sức khỏe của chính người tiêu dùng và sau cùng phải tính toán đến quyền lợi và sự phát triển của các công ty, xí nghiệp sản

Trang 40

xuất, kinh doanh rượu, bia trên địa bàn tỉnh Nếu tỉnh ban hành chính sách chống rượu, bia quá cứng rắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp rượu, bia, còn ngược lại không kiềm chế việc sử dụng rượu, bia tràn lan sẽ dễ dẫn đến hành vi lạm dụng, gây ra các tệ nạn xã hội khác

Để cùng lúc bảo vệ quyền lợi của nhiều phía và bảo vệ nguồn thu ngân sách của Nhà nước từ hoạt động sản xuất, kinh doanh rượu, bia Thời gian qua, ngoài việc áp dụng các chính sách về thuế, các quy định pháp luật của Nhà nước về phòng chống nạn lạm dụng rượu, bia, tỉnh Sóc Trăng còn ban hành các chỉ đạo và chính sách sau:

Tại Công văn số 604/CTUBND-HC ngày 25/4/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh

đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị nhanh chóng đề xuất các giải pháp cấp bách, tập trung vào chống sử dụng rượu, bia, chất có cồn khi tham gia giao thông; Đến năm

2012, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục ban hành chỉ đạo tăng cường công tác đảm bảo

an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng tại Công văn số 58/CTUBND-HC ngày 26/01/2012 trong đó có đề nghị lực lượng công an thực hiện công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm các quy định về trật

tự an toàn giao thông, nhất là tình trạng điều khiển phương tiện khi có nồng độ cồn trong máu vượt mức cho phép

Bên cạnh đó, hàng năm vào dịp Tết nguyên đán, Ủy ban nhân dân tỉnh đều ban hành văn bản chỉ đạo các ngành chức năng – đặc biệt là lực lượng Công an quan tăng cường kiểm tra, đặt các chốt đo nồng độ cồn, xử phạt hành chính đối với việc uống rượu, bia quá nồng độ cồn quy định khi tham gia giao thông Bên cạnh

đó, còn tuyên truyền, vận động người dân đã uống rượu, bia thì không lái xe, nhằm đảm bảo trật tự an toàn trên địa bàn tỉnh

Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã ban hành Kế hoạch số 63/KH-UBND ngày 06/10/2014 về việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020, trong đó có lồng ghép nội dung phòng chống lạm dụng rượu, bia, dẫn đến nạn bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh

Ngày đăng: 07/08/2018, 23:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w