1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu về văn hóa của các quốc gia đông nam á hải đảo

61 412 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, thông qua những đóng góp to lớn của các nhà khảo cổ học, các phát hiện khảo cổ học và các nghiên cứu chuyên ngành, đa ngành đã cho phép các nhà nghiên cứu có những nhận thức ch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC -o0o -

LÊ THỊ THÙY LINH

TÌM HIỂU VỀ VĂN HÓA CỦA CÁC QUỐC GIA

ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC -o0o -

LÊ THỊ THÙY LINH

TÌM HIỂU VỀ VĂN HÓA CỦA CÁC QUỐC GIA

ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO

Nhóm ngành: Lịch sử Thế giới Cổ trung đại

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TS Lường Hoài Thanh

Sơn La, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập và nghiên cứu, được sự giúp đỡ tận tình của Tiến sĩ Lường Hoài Thanh, đến nay khóa luận của em đã hoàn thành Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến cô giáo Tiến sĩ Lường Hoài Thanh đã bỏ nhiều thời gian

và công sức để hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều về kiến thức cũng như kinh nghiệm

và tư liệu trong suốt quá trình em thực hiện khóa luận

Em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, em xin gửi lời cảm ơn đến trung tâm thư viện Tỉnh Sơn La, trung tâm thư viện Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện tốt nhất để em thực hiện khóa luận này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện khóa luận, song có thể còn có những mặt hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2018

Tác giả khóa luận

Lê Thị Thùy Linh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn khóa luận 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của khóa luận 3

6 Kết cấu của khóa luận 4

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO 5

1.1 Điều kiện tự nhiên 5

1.2 Dân cư khu vực Đông Nam Á hải đảo 10

1.3 Khái quát tiến trình lịch sử các quốc gia Đông Nam Á hải đảo 11

CHƯƠNG 2: NÉT ĐẶC TRƯNG VỀ VĂN HÓA CỦA KHU VỰC ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO 20

2.1 Tôn giáo và tín ngưỡng 20

2.2 Văn học 40

2.3 Lễ hội truyền thống 46

2.3.1 Philippines 46

2.3.2 Malaysia 49

2.3.3 Indonexia 51

2.3.4 Brunei 54

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn khóa luận

Nằm ở vị trí chiến lược, ngay tại ngã tư của các tuyến đường mậu dịch thế giới, khu vực Đông Nám Á đón nhận rất nhiều nguồn ảnh hưởng từ bên ngoài: Ấn Độ, Ả Rập, Trung Quốc, Châu Âu và cả phần còn lại của thế giới Tất cả những ảnh hưởng này đươc hấp thụ và kế thừa trong nền văn hóa bản địa, rồi lại được thể hiện qua nền văn hóa, ngôn ngữ, kiến trúc … độc đáo nhưng lại có những mối quan hệ mật thiết với những nền văn hóa mà nó chịu ảnh hưởng Với vị trí và tầm quan trọng của mình, các nước Đông Nam Á nói chung và các quốc gia Đông Nam Á hải đảo nói riêng đang dần khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế Bên cạnh những đặc điểm chung vốn có của các quốc gia Đông Nam Á như địa hình, khí hậu gió mùa, ảnh hưởng của biển các quốc gia Đông Nam Á hải đảo đã sáng tạo nên những nền văn hóa địa phương đa dạng, phong phú Trên nền tảng của những tín ngưỡng, văn hóa dân gian bản địa và quá trình tiếp nhận lâu dài ảnh hưởng văn hóa

từ Ấn Độ, Trung Hoa, thế giới Ảrập và châu Âu đã làm gia tăng tính đa dạng về văn hóa và tôn giáo khu vực này

Trong suốt tiến trình lịch sử, khu vực Đông Nam Á hải đảo đã để lại những dấu

ấn không nhỏ đối với lịch sử khu vực và châu lục do vị trí chiến lược, là con đường thông thương Đông – Tây quan trọng trong suốt lịch sử cổ - trung đại Dấu ấn văn hóa của khu vực này cũng có những đặc trưng riêng biệt, đặc biệt là sự xuất hiện và chi phối của Hồi giáo và văn hóa Hồi giáo bên cnahj những yếu tố văn hóa và tín ngưỡng bản địa

Vì thế, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “tìm hiểu về văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á hải đảo” làm khóa luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Với vị trí và tầm quan trọng của mình trong lịch sử, Đông Nam Á đã từ lâu thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, nhiều nhà khoa học khác nhau, các viện nghiên cứu: Viện Quan Hệ Quốc Tế, Viện nghiên cứu Đông Nam Á thược trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia và một số cơ quan khác… đã có những công trình nghiên cứu về Đông Nam Á được xuất bản

Công trình “Lược sử Đông Nam Á” do Phan Ngọc Liên chủ biên, Nxb Giáo Dục, 1997 Tác phẩm đã khái quát về tiến trình lịch sử Đông Nam Á từ khi hình thành

Trang 6

cho đến những năm 90 của thế kỉ XX, trong đó, lịch sử và quá trình phát triển của các quốc gia Đông Nam Á được trình bày trong chương II, III và bốn đã mang lại cho độc giả cái nhìn tổng thể về tiến trình lịch sử Đông Nam Á với một số quốc gia tiêu biểu

Tác phẩm “Lịch sử Đông Nam Á” do Lương Ninh chủ biên, Nxb Giáo Dục,

2005 Công trình là một tập hợp những nghiên cứu về lịch sử Đông Nam Á từ khi con người xuất hiện cho đến đầu thế kỉ XX Mặc dù vậy, tác phẩm chủ yếu dừng lại ở việc tìm hiểu và nghiên cứu về tiến trình lịch sử của các quốc gia Đông Nam Á, vai trò của

tổ chức ASEAN nhưng phần văn hóa của các nước, nhất là của các quốc gia Đông Nam Á hải đảo hầu như không được nhắc tới, nếu có chỉ mang tính chất sơ lược gắn liền với lịch sử các quốc gia mà chưa được nghiên cứu một cách hệ thống

Cuốn “Lịch sử phát triển Đông Nam Á” tác giả Mary Somers Heidhues, Nxb Văn hóa thông tin” cũng đi vào trình bày khía quát các quốc gia Đông Nam Á nói chung trong tiến trình lịch sử mà phần văn hóa hầu như không được nhắc tới

Công trình Mấy tín ngưỡng tôn giáo Đông Nam Á doTrương Sỹ Hùng chủ biên,

Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2003 Công trình là một đóng gópl ớn của các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về đời sống văn hóa của cư dân ĐÔng Nam Á Tuy nhiên, tác phẩm mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu và tìm hiểu và tôn giáo và tín ngưỡng chứ chưa đi vào khai thác các yếu tố văn hóa khác như văn học, chữ viết, lễ hội truyền thống của cư dân Đông Nam Á, nhất là cư dân Đông Nam Á hải đảo

Tác phẩm “Tìm hiểu văn hóa Đông Nam Á hải đảo” của Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Nxb , năm của các tác giả thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á đã cho ta cái nhìn khái quát về một số đặc trưng riêng của văn hóa Đông Nam Á hải đảo

Nhìn chung các công trình ấy, các bài viết ấy đã phần nào cho ta thấy được biểu hiện, các đặc trưng về con người, điều kiện tự nhiên và một nền văn hóa vô cùng đặc sắc của các nước Đông Nam Á, trong đó có các quốc gia Đông Nam Á hải đảo Đây làcơ sở, nền tảng vững chắc nhất để chúng tôi có một cái nhìn khái quát hơn về khu vực Đông Nam Á hải đảo cũng như hiểu được phân fnaof những đặc trưng của khu vực này

Tuy nhiên, những nghiên cứu trên chỉ nghiên cứu trên từng mặt, từng lĩnh vực hoặc mang tính khái quát chứ chưa đi vào nghiên cứu một cách có hệ thống những nét đặc trưng về văn hóa của toàn bộ các quốc gia hải đảo Vì thế, chúng tôi mạnh dạn lựa

Trang 7

chọn vấn đề “” để góp phần đưa ra cái nhìn toàn cảnh hơn, cụ thể hơn về những đặc trưng văn hóa của khu vực Đông Nam Á hải đảo

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là văn hóa của một số quốc gia Đông Nam Á hải đảo như Indonexia, Malaixia, Philippin

- Khái quát những nét sơ lược về điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành, lịch

sử của các quốc gia Đông Nam Á hải đảo

- Tìm hiểu những đặc trưng về văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á hải đảo như tôn giáo, tín ngưỡng; văn học, chữ viết, lễ hội truyền thống

- Chỉ ra được những yếu tố văn hóa Ấn Độ, Hồi giáo đối với khu vực Đông Nam Á hải đảo

- Rút ra một số đặc điểm về văn hóa của khu vực Đông Nam Á để thấy được yếu tố “thống nhất trong đa dạng” là đặc trưng vốn có của văn hóa Đông Nam Á nói chung và của khu vực hải đảo nói riêng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận chủ yếu sử dụng các phương pháp của khoa học lịch sử như phương pháp lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng kết hợp các phương pháp bổ trợ như so sánh, đối chiếu, sưu tầm tư liệu

5 Đóng góp của khóa luận

- Khái quát được những đặc trưng về văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á hải đảo

- Là tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa khu vực Đông Nam Á khi học các học phần Lịch sử Đông Nam Á cổ - trung đại

Trang 8

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu làm hai chương:

Chương I: Khái quát về khu vực Đông Nam á hải đảo

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.2 Dân cư khu vực Đông Nam Á hải đảo

1.3 Khái quát tiến trình lịch sử Đông Nam Á hải đảo

Chương II: Nét đặc trưng về văn hóa của khu vực Đông Nam Á hải đảo

2.1 Tôn giáo và tín ngưỡng

2.2 Văn học

2.3 Lễ hội truyền thống

Trang 9

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO

1.1 Điều kiện tự nhiên

Đông Nam Á vốn là một chỉnh thể riêng biệt, khác với các khu vực còn lại của châu Á Tuy nhiên, trước đây, người ta thường hiểu tầm quan trọng lịch sử của Đông Nam Á chủ yếu ở vị trí địa lý của nó Khu vực này được coi là hành lang, cầu nối giữa phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản…) và phương Tây (Ấn Độ, Tây Á, Địa Trung Hải)

Đông Nam Á là một khu vực rộng, trải ra trên một phần Trái Đất, từ khoảng 920

Nhưng những điều kiện riêng của tự nhiên lại tạo nên và đem tới cho Đông Nam Á những ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa Gió mùa đã điều hòa bớt những điều kiện thông thường, giảm bớt sự gay gắt về khí hậu đáng lẽ phải có và tạo nên đại thể hai mùa, mùa khô tương đối lạnh mát và mùa mưa tương đối nóng

Vì thế, tìm hiểu về Đông Nam Á phải đặt nó trong bối cảnh riêng của khu vực

để có được cái nhìn toàn cảnh và có được những đánh giá, nhìn nhận chính xác, khoa học Ngày nay, thông qua những đóng góp to lớn của các nhà khảo cổ học, các phát hiện khảo cổ học và các nghiên cứu chuyên ngành, đa ngành đã cho phép các nhà nghiên cứu có những nhận thức chính xác hơn về tính khu vực của Đông Nam Á, nhìn nhận nó với tư cách là một chỉnh thể hoàn chỉnh, một khu vực địa lí - lịch sử - văn hóa.Do đó, người ta không gọi vùng này là khu vực Đông Nam Á mà dùng nhiều từ

khác để gọi như: Nam Dương (các nước ở vùng biển phía Nam – Trung Quốc); Nam

Yo (Nhật Bản); Suvarna bhumi (Đất vàng); Suvarna dvipa (Đảo vàng) (Ấn Độ)…

Khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược khu vực này thì khái niệm Đông Nam Á được đưa ra nhưng tới cuối thế kỷ XIX thì Đông Nam Á vẫn chưa được nhìn nhận rõ rệt và đầy đủ là một khu vực địa lý - chính trị - lịch sử - văn hóa riêng biệt.Đến đại chiến thế giới II khái niệm “khu vực Đông Nam Á” chính thức đi vào văn kiện quốc tế với sự kiện thực dân Anh lập ra “Bộ chỉ huy quân sự khu vực Đông Nam

1

Lương Ninh (cb) (2005), Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.10

Trang 10

Á”.Xét về tổng thể, Đông Nam Á về mặt địa lý tự nhiên rộng hơn rất nhiều so với Đông Nam Á về địa lý hành chính Phía Bắc bao gồm cả vùng đất phía Nam Tây Giang của Trung Quốc và một phần cực nam Nhật Bản.Phía Tây gồm cả Đông Bắc Ấn

Độ và 11 nước Đông Nam Á hiện nay

Có sự phân biệt như vậy là vì: Toàn bộ khu vực này đều có điểm giống nhau cơ bản về điều kiện tự nhiên đó là đều chịu ảnh hưởng của gió mùa.Về văn hóa vật chất đều là nông nghiệp trồng lúa nước Do đó, Đông Nam Á về mặt địa lý tự nhiên còn được gọi là “khu vực Châu Á gió mùa” Về mặt văn hóa vật chất còn được gọi là “khu

vực văn hóa lúa nước” Đây chính là khu vực trồng lúa nước từ thưở xa xưa, bao gồm

miền Nam Trường Giang (Trung Quốc), miền Nam Nhật Bản, miền Đông Ấn Độ và các nước Đông Nam Á ngày nay Nhưng quá trình phát triển cùng với sự can thiệp của con người làm cho bản đồ của các nước Đông Nam Á không bao gồm toàn bộ “Châu

Á gió mùa” mà chỉ có phần chủ yếu và tiêu biểu của “Châu Á gió mùa” Một phần khác đã gắn với lãnh thổ và do đó với những nền văn hóa Nam Á và Đông Á.2 Về địa

lý hành chính: Đông Nam Á hiện nay gồm 11 nước nằm trên bán đảo Trung Ấn và quần đảo Mã Lai Diện tích khỏang 4,5 triệu km2 trải dài từ 28 độ Bắc đến 11 độ Nam; 95 độ Đông đến 141 độ Đông: Bán đảo Trung Ấn còn được gọi là Đông Nam Á lục địa gồm hai bán đảo: Bán đảo Đông Dương và bán đảo Malacca; Quần đảo Mã Lai (quần đảo Nam Dương) còn gọi là Đông Nam Á hải đảo có khoảng hơn 20.000 hòn đảo lớn nhỏ, diện tích khoảng 2 triệu km2

riêng Inđônêsia có 17.504 hòn đảo (13.677) trong đó có 7000 đảo có tên Quần đảo có 5 hòn đảo lớn: Kali Mantan: 734.000 km2

(Boocnêô); Sumatra: 1219.000 km2; Giava: 126.000 km2; Ludông: 175.000 km2; Minđanao: 95.000 km2

Đông Nam Á là một khu vực có vị trí địa lý độc đáo.Nằm gần như hoàn toàn trong vành đai nóng của địa cầu do đó phần lớn lãnh thổ Đông Nam Á quanh năm nóng, trừ miền Bắc Đông Nam Á lục địa (Việt Nam, Lào) Nằm trên bán đảo và hàng vạn đảo, biển, đất liền xen kẽ làm cho điều kiện tự nhiên và cuộc sống của con người chịu ảnh hưởng của biển rất mạnh Đông Nam Á nằm ở vị trí bản lề giữa một bên là khối lục địa Á - Ấn rộng lớn còn một bên là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Đông Nam Á chính là cầu nối giữa lục địa Á - Âu với Châu Úc và là phần ngăn cách Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương Với vị trí địa lý này Đông Nam Á nằm giữa các đơn

Trang 11

vị địa lý tự nhiên đối lập nhau: Lục địa với đại dương; Lục địa bán cầu bắc với lục địa bán cầu nam; Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương Vì nằm giữa nên nó là nơi diễn ra các quá trình địa lý tự nhiên rất phức tạp, nhờ đó mà hình thành nên một thiên nhiên phong phú, đa dạng bậc nhất của địa cầu

Về địa hình, toàn khu vực bị chia cắt, đan xen sông, suối, ruộng, núi Địa hình

bị chia cắt là đặc điểm quan trọng của điều kiện tự nhiên Đông Nam Á, đó là sự chia cắt lớn giữa lục địa và hải đảo Sự chia cắt và đan xen về địa hình ở Đông Nam Á đã tạo ra những cảnh quan sinh động, những vùng sinh thái nhỏ, những địa bàn sinh tụ nhỏ rất phù hợp với những bước đi ban đầu của con người khi mà dân cư còn ít, nhu cầu cuộc sống còn thấp, quan hệ với cuộc sống bên ngoài còn rất hạn chế

Khí hậu Đông Nam Á là khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của gió mùa Gió mùa có tác động rất lớn đến cảnh quan tự nhiên và lịch sử - văn hóa Đông Nam Á (gió mùa Đông Nam từ Nam bán cầu vào Đông Nam Á thành gió Tây Nam) Riêng khu vực Đông Nam Á hải đảo, hhí hậu chủ yếu khí hậu xích đạo Thường xuyên có bão nhiệt đới tàn phá nặng nề, trong đó, Singgapore có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm gió mùa; Inđônêsia có khí hậu nhiệt đới gió mùa; Philippin

là khí hậu nhiệt đới gió mùa; Malaysia và Brunei là khí hậu xích đạo còn Đông Timor

là khí hậu nhiệt đới

Gió mùa và biển đã làm dịu đi tính khắt khe lẽ ra phải có của khí hậu vùng xích đạo và cận xích đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống con người vì gió mùa đã tạo

ra những cơn mưa nhiệt đới với lượng mưa tương đối lớn, ổn định theo mùa, do đó cung cấp đủ nước cho con người sinh sống, làm nông nghiệp, thảm thực vật phong phú Mưa nhiệt đới và khí hậu nóng ẩm đã tạo nên trên toàn Đông Nam Á những cánh rừng rậm rạp với những loài động thực vật đặc trưng: lúa nước, hồ tiêu, hồi quế, sa nhân, trầm hương…động vật: voi, hổ, báo, khỉ, vượn, đười ươi….Vì thế, Đông Nam Á làm thành một khu vực dân tộc học thực vật và dân tộc học động vật phong phú vào loại bậc nhất trên thế giới

Toàn khu vực đều có mạng lưới sông, suối dày đặc Vùng quần đảo sông ngắn, lưu vực nhỏ, nhiều thác ghềnh nhưng nước đầy quanh năm do lượng mưa quanh năm lớn.Các nước nằm trong khu vực Đông Nam Á đều có biển (trừ Lào) bao bọc Biển chia cắt Đông Nam Á thành hai phần: lục địa và hải đảo; chia cắt đảo thành vạn đảo và

là cầu nối lục địa với hải đảo Nhờ biển bao bọc mà Đông Nam Á có độ ẩm và lượng

Trang 12

mưa cao vào loại bậc nhất thế giới.Biển là môi trường sống truyền thống của người Đông Nam Á với nguồn thủy hải sản đặc biệt phong phú đồng thời là ngã tư giao thông của Đông Nam Á với bên ngoài: buôn bán trên biển là một nghề xuất hiện sớm,

có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế Đông Nam Á

Chính vì có vị trí như trên nên Đông Nam Á trở thành một trong những khu vực chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu của thế giới Đây là một khu vực rất rộng lớn (ngang tầm một tiểu lục địa) nằm chắn ngang tất cả các con đường hàng hải từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương (Tây sang Đông và ngược lại) từ châu Á xuống châu

Úc (Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Nga xuống Úc cũng phải qua).Phần lớn hàng hóa trao đổi giữa phương Tây và Phương Đông đều phải đi qua Đông Nam Á và eo Malacca là con đường huyết mạch (eo Malacca dài 960km) Ngày nay, mỗi năm có khoảng 50.000 tàu lớn nhỏ chuyên chở khoảng1/2 lượng dầu mỏ, khoảng 1/3 trong số hàng hóa trao đổi trên thế giới đi qua Malacca Bờ biển Đông Nam Á có nhiều hải cảng thuận lợi cho phát triển buôn bán trên biển từ thời cổ đại Những thương cảng lớn như Óc Eo, Surabaya (Giava), Palembang, Sumatra, Giacacta, Hội An, Singapore, quan trọng nhất là Malacca (Melaka)

Đông Nam Á hải đảo là một vùng địa lý thuộc Đông Nam Á, gồm có 6 quốc gia là: Malaysia, Brunei, Singapore, Indonesia, Philippines và Đông Timor.Các nước này tạo nên khu vực gọi là quần đảo Mã Lai với tổng diện tích là: 2.271.574,7 km2 Tổng

số đảo của các nước thuộc vùng Đông Nam Á hải đảo là hơn 20.000 các hòn đảo lớn nhỏ Trong đó, Inđônêsia là quốc gia có nhiều đảo nhất, con số lên đến 17.500 hòn đảo.Quần đảo này được hình thành bởi nhiều cung đảo thuộc về vành đai núi lửa Thái Bình Dương và là một trong những khu vực có hoạt động núi lửa mạnh nhất trên thế giới Do đó, đây cũng là khu vực thường xuyên phải hứng chịu những hoạt động mạnh

mẽ của thiên tai, bão lụt, động đất, núi lửa, sóng thần, hạn hán, cháy rừng… ảnh hưởng lớn đến kinh tế nông nghiệp và cuộc sống của con người.Địa hình của khu vực Đông Nam Á hải đảo là hệ thống núi hướng vòng cung Đông và Tây, Đông Bắc – Tây Nam, núi lửa Có núi và đồng bằng nhỏ hẹp ven biển, ít đồng bằng lớn nên không tạo

ra những vựa lúa lớn như tại khu vực Đông Nam Á lục địa

Khác với khu vực lục địa, nguồn tài nguyên chủ yếu của khu vực Đông Nam Á hải đảo là những cánh rừng nhiệt đới và các loại khoáng sản như: dầu mỏ, khí đốt, đồng…

Trang 13

Điều kiện tự nhiên của Đông Nam Á nói chung và ĐÔng Nam Á hải đảo nói riêng đã tạo ra cho khu vực ĐÔng Nam Á sự phong phú và đa dạng, vừa có điểm tương đồng, vừa có điểm khác biệt giống như trong câu nói của người Indonesia

“thống nhất trong đa dạng” 3 Đây cũng chính là đặc điểm riêng của Đông Nam Á để phân biệt với các khu vực còn lại của châu Á như ĐÔng Bắc Á, Đông Á, Nam Á…

Khái quát về các quốc gia Đông Nam Á hải đảo:

Philippines: lấy tên từ vua Phillip II của Tây Ban Nha Philippine là thuộc địa

của Tây Ban Nha từ năm 1521 đến 1898 khi chuyển sang là thuộc địa của Mỹ cho đến năm 1946 Thủ đô là Manila Dân số gồm nhiều nhóm dân tộc, trong đó hầu hết đều liên quan đến người Malay Philippine là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á theo Công giáo do chính sách thuộc địa từ thời kì cai trị của Tây Ban Nha

Malaysia: thủ đô Kuala Lampur, dân số , trong đó có 60% là người Malay,

25% là người Hoa còn lại là các dân tộc thiểu số gốc Nam Á và các nhóm người bản địa Bócnêô Malaysia có một phần phía tây, trên bán đảo Malay và một phần phía đông, ở phía bắc đảo Borneo Bán đảo Malay là thuộc địa của Anh, độc lập năm 1957

và trở thành liên bang Malaysia Sau đó, năm 1963, các thuộc địa của Anh như Sarawak và Sabah (trên đảo Borneo) và Singapore nhập vào Malaya, trở thành Malaysia Năm 1965, Singapore tách khỏi Malaysia, trở thành quốc gia độc lập

Singapore: thủ đô Singapore, là một nước cộng hòa thành lập năm 1965 Là

một thị quốc với dân số trên Trên 75% dân số là người Hoa, số dân còn lại đa số là người Malay hoặc Nam Á

Brunei Darussalam: một quốc gia hồi giáo, quốc vương đã dùng tên của dòng

họ để đặt tên cho đất nước thuộc đảo Borneo, dân số chỉ trên 300.000 Phần lớn cư dân

là người Malay, 20% thiểu số là người Hoa Đây là xứ bảo hộ của Anh cho đến năm

1984 Thủ đô Bandar Seri Begawan

Indonesia: tuyên bố độc lập năm 1945 nhưng bốn năm sau Hà Lan mới công

nhận chủ quyền của đất nước này, bao gồm các phần lãnh thổ của thuộc địa Đông Ấn

Hà Lan trước đây Thủ đô là Jakarta (Batavia thời thuộ địa) Là quốc gia lớn nhất Đông Nam Á và là một trong số những quốc gia lớn trên thế giới, dân số khoảng trên

200 triệu người, trong khi các đảo trải rộng trên một khu vực có thể so sánh với cả châu Âu hoặc Mỹ Indonesia thuộc nhiều nhóm dân tộc, nhóm đông nhất là người

3

Tên gọi bắt nguồn từ từ “Bhineka Tungal Ika” trên quốc huy của Inđônêxia do chim thần Garuda mang theo dưới chân, Văn hóa Đông Nam Á hải đảo, Nxb Văn hóa, tr

Trang 14

Java, Sadan, Bali, Madura, Minangkabaus và Bugis, không có nhóm nào chiếm hơn một nửa dân số Ngôn ngữ đều liên quan đến tiếng Malay và ngôn ngữ dân tộc Indonesia gọi là Bahasa Indonesia

Đông Timor (Timor Lester): nguyên là thuộc địa của Bồ Đào Nha, thủ đô là

Dili, bị sáp nhập vào Indonesia năm 1975 nhưng sự sáp nhập này không được Liên minh châu Âu hoặc Liên Hiệp Quốc công nhận Trong một cuộc trưng cầu dân ý tổ chức vào tháng 7 năm 1999, 800.000 cư dân đã bỏ phiếu đòi độc lập và Đông Timor trở thành quốc gia thứ 11 tại Đông Nam Á

1.2 Dân cƣ khu vực Đông Nam Á hải đảo

Đông Nam Á là cầu nối về địa bàn phân bổ của hai đại chủng tộc Môngôlôit và Ôxtralôit Do đó, về nguồn gốc, tuyệt đại bộ phận của dân Đông Nam Á là kết quả của

sự pha trộn giữa hai đại chủng tộc này Sự pha trộn giữa hai đại chủng tộc này dần dần

đã tạo ra một tiểu chủng mang trong mình những yếu tố của cả hai đại chủng tộc đó thường gọi là Môngôlôit phương Nam (hay: tiểu chủng Đông Nam Á).Tiểu chủng này lại chia thành hai nhóm loại hình nhân chủng: Nam Á (Austro-asiatique) -vàng đậm hơn đen: da sáng, cao; Anhđônêdiêng (Indonesien)4

- đen dậm hơn vàng; tóc xoăn, tẹt

Đa số cư dân Đông Nam Á hải đảo thuộc nhóm loại hình nhân chủng Anhđônêdiêng Trên cơ sở nghiên cứu cốt sọ của người Anhđônêdiêng thời cổ, giáo sư Hà Văn Tấn đã kết luận: “Những xương sọ thời đại nguyên thủy phát hiện trên đất Việt Nam mà các học giả Pháp coi là thuộc giống Anhđônêdiêng chính là thuộc chủng tộc Mông ô lô it phương Nam, hình thành do sự hỗn chủng giữa đại chủng Mông gô lô it và đại chủng Ôxtra lô – Nê grôit”5

Nhóm này bao gồm những tộc ít người sinh sống chủ yếu ở các miền rừng núi trong lục địa và sâu giữa các đảo như người Bru – Vân Kiều, người Tà ôi, người Melanesia, ngườiJava, NgườiSunda, Malay, Madur, VisayasTagalog, Ilocos, Bicol Moro, Kapampangan,Igoro…

Về ngôn ngữ: Trong quá trình phát triển lịch sử, từ mỗi nhóm loại hình nhân chủng nói trên và sự pha trộn giữa các nhóm này lại hình thành nên những tộc người khác nhau mỗi một tộc người có một ngôn ngữ riêng.Cư dân ĐÔng Nam Á hải đảo thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Mã Lai đa đảo) bao gồm đa số người Inđô, Philippin,

Trang 15

Malaixia và một số tộc người ở lục địa như Chăm, Êđê, Gialai Bên cạnh đó còn có ngữ hệ Hán - Tạng gồm Hán, Tạng Miến6

do quá trình di cư của người Hoa trong các thế kỉ sau này tới các nước Đông Nam Á hải đảo

1.3 Khái quát tiến trình lịch sử các quốc gia Đông Nam Á hải đảo

Ở Đông Nam Á, người ta đã phát hiện được dấu vết hóa thạch của người vượn bậc cao ở Băng Đung (Pondaung - Inđônêxia) niên đại 40 triệu năm và vượn khổng lồ Meganthropus Paleojavanicus ở Java (Inđônêxia) niên đại 5 triệu năm Quá trình

Sapiens hóa đã diễn ra đặc biệt phong phú ở Đông Nam Á

Từ sau phát hiện của E ĐuyBoa (Eugéne Dubois) ở Java trong những năm

1891 đến năm 1986, người ta đã tìm thấy khoảng 21 mảnh sọ, 5 hàm dưới và 3 hàm trên hóa thạch của dạng người Pithecanthropus erectus Xưa nhất trong số đó là người Pitecantrop IV (Homo Modjokertensis) có niên đại 2 triệu năm đến

Pithecanthropus muộn hơn, niên đại 500.000 - 900.000 năm trước

Người ta còn tìm thấy di cốt, mảnh di cốt và những công cụ đồ đá của người tối

cổ của nhiều nước khác trong khu vực hải đảo như Tampan (Malaixia), Cabaloan (Philippin) có niên đại 67.000 năm trước Cn, Patgitan (Inđônêxia),

Vào thời đại trung kỳ đá cũ, xuất hiện người Homo Sapiens trên bờ sông Sôlô (Inđônêxia) thuộc giai đoạn tiền Sapiens Sự xuất hiện người HomoSapiens gắn liền với sự hình thành các chủng tộc Người ta cũng đã phát hiện xương sọ của một thiếu niên 15-17 tuổi ở Nia (Borneo), niên đại 396.000 năm và một chỏm sọ ở Tabon (Philippin) cùng niên đại, chứng tỏ quá trình chuyển biến từ vượn thành người ở Đông Nam Á diễn ra liên tục và trực tiếp Bên cạnh đó, dấu vết hóa thạch của người Homo Sapiens còn được tìm thấy ở nhiều nơi như ở Sungmas (Sumatra), Maros và Puso (Xulavexi),

Đông Nam Á là một trong những cái nôi hình thành người hiện đại (Homo Sapiêns) Tại hang Tabon (Philippin), đã phát hiện xương hóa thạch của một người Homosapiêns có niên đại cách nay 30.500 năm Tại Nial (Calimantan, thuộc Malaixia) phát hiện xương sọ của người Homosapiêns có niên đại cách nay gần 40.000 năm (39.600 + 1000)

Đây là một trong những niên đại Homorapiêns sớm nhất được phát hiện Đến nay, người ta còn nghi ngờ Đông Nam Á có phải là cái nôi của người vượn (tối cổ)

6

Lê Sĩ Giáo (cb) (2001), Dân tộc học đại cương, NXB Giáo Dục, Hà Nội, tr101

Trang 16

không? Hay là người Vượn từ nơi khác di cư đến nhưng quá trình chuyển biến từ người Vượn sang người hiện đại ở Đông Nam Á diễn ra rất phong phú Do đó, có thể kết luận rằng: Đông Nam Á là một trong những cái nôi hình thành người hiện đại

Sau giai đoạn Sapiêns hóa, cư dân tại Đông Nam Á hải đảo chủ yếu sinh sống theo các thị tộc, bộ lạc biệt lập, hạn chế giao lưu với bên ngoài cho đế khi có sự giao lưu, tiếp xúc với cư dân Ấn Độ trong những thế kỉ tiếp giáp công nguyên Trong số các quốc gia hải đảo, Inđônêxia là một trong những khu vực có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội, sớm hình thành những tiểu quốc so với các khu vực còn lại

Cư dân Nam Đảo, là cộng đồng dân cư đa số hiện tại, đã di cư tới Đông Nam Á

từ khoảng năm 2000 trước Công Nguyên, và đẩy người Melanesia bản xứ về các vùng

xa xôi phía đông khi họ mở rộng lãnh thổ Các điều kiện nông nghiệp lý tưởng, và nền văn minh lúa nước xuất hiện sớm từ thế kỷ thứ VIII trước Công Nguyên, cho phép các làng mạc, thị trấn và các vương quốc nhỏ dần phát triển từ thế kỷ thứ nhất Vị trí đường biển chiến lược của Indonesia giúp thương mại nội địa và với nước ngoài phát triển Ví dụ, các con đường thương mại nối với cả các vương quốc Ấn Độ và Trung Quốc đã được thiết lập từ nhiều thế kỷ trước Công Nguyên.Chính thương mại đã hình thành nên lịch sử Indonesia

Từ thế kỷ thứ bảy, vương quốc hàng hải Srivijaya hùng mạnh phát triển nhờ thương mại và các ảnh hưởng của Hindu giáo cùng Phật giáo được du nhập vào cùng thương mại.Từ thế kỷ thứ VIII tới thế kỷ thứ X, các triều đại nông nghiệp Phật giáo Sailendra và Hindu giáo Medang phát triển và suy tàn trong vùng nội địa Java, để lại các công trình tôn giáo lớn như Borobudur của Sailendra và Prambanan của Medang Vương quốc Hindu Majapahit được thành lập ở phía đông Java hồi cuối thế

kỷ XIII, và ở thời Gajah Mada, ảnh hưởng của nó đã lan rộng tới hầu hết Indonesia; giai đoạn này thường được coi là một "Thời kỳ Huy hoàng" trong lịch sử Indonesia

Dù các thương gia Hồi giáo đã lần đầu đi qua Đông Nam Á từ đầu thời kỳ Hồi giáo, bằng chứng sớm nhất về cộng đồng dân cư Hồi giáo tại Indonesia có niên đại từ thế kỷ XIII ở phía bắc Sumatra Các vùng khác của Indonesia dần chấp nhận Hồi giáo,

và nó đã là tôn giáo ưu thế tại Java và Sumatra từ cuối thế kỷ XVI Ở hầu hết các nơi, Hồi giáo vượt lên và pha trộn với các ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo bản địa, hình thành nên hình thức Hồi giáo hiện tại ở Indonesia, đặc biệt tại Java.[20]Những người châu Âu đầu tiên tới Indonesia năm 1512, khi các thương gia Bồ Đào Nha,

Trang 17

do Francisco Serrão dẫn đầu tìm cách thâu tóm các nguồn tài nguyên nhục đậu khấu, đinh hương, và hạt tiêu tại Maluku Các thương gia Hà Lan và Anh nhanh chóng theo chân Năm 1602, Hà Lan thành lập Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) và trở thành một quyền lực lớn của châu Âu Sau khi bị phá sản, Công ty Đông Ấn Hà Lan chính thức bị giải tán năm 1800, và chính phủ Hà Lan thành lập Đông Ấn Hà Lan như một thuộc địa được quốc hữu hóa

Trong hầu hết thời gian của thời kỳ thuộc địa, Hà Lan chỉ kiểm soát vùng đất này một cách lỏng lẻo; chỉ tới đầu thế kỷ XX Hà Lan mới thực sự kiểm soát toàn bộ vùng đất lãnh thổ Indonesia hiện tại.Cuộc xâm lược và chiếm đóng của Nhật Bản sau

đó trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã chấm dứt thời kỳ cai trị của Hà Lan, và khuyến khích phong trào độc lập từng bị đàn áp trước đó ở Indonesia Hai ngày sau khi Nhật Bản đầu hàng tháng 8 năm 1945, Sukarno, một lãnh đạo ảnh hưởng theo chủ nghĩa quốc gia, tuyên bố độc lập và được chỉ định làm tổng thống.[25]

Người Hà Lan đã tìm cách tái lập quyền cai trị, và cuộc tranh giành ngoại giao và vũ trang đã chấm dứt vào tháng 12 năm 1949, khi đối mặt với sức ép quốc tế, Hà Lan chính thức công nhận nền độc lập của Indonesia

Tại Philippin, mặc dù một số xã hội trên các hòn đảo rải rác vẫn biệt lập, song nhiều xã hội khác phát triển thành các quốc gia và phát triển hoạt động mậu dịch đáng

kể với các dân tộc khác ở Đông và Đông Nam Á Thiên niên kỉ thứ nhất Công nguyên chứng kiến sự nổi lên của các tiểu quốc hải cảng và phát triển thành các quốc gia hàng hải, bao gồm các barangay tự trị, hoặc liên minh với nhau, các quốc gia lớn nằm dưới hải quyền của người Mã Lai do các Datu trị vì, các quốc gia triều cống cho Trung Quốc do Vương cai trị, các vương quốc Ấn hóa do các Rajah cai trị Có thể kể đến Liên bang Madja-as, Vương quốc Butuan, quốc gia này nổi lên trong triều đại của Rajah Sri Bata Shaja,Vương quốc Tondovà Vương quốc Cebu…

Những năm 1300 báo trước sự xuất hiện và cuối cùng là truyền bá Hồi giáo tại quần đảo Philippines Năm 1380, Karim ul' Makdum và Shari'ful Hashem Syed Abu Bakr đi từ Malacca đến Sulu và lập nên Vương quốc Hồi giáo Sulu Đến cuối thế kỷ

XV, Shariff Mohammed Kabungsuwan của Johor đưa Hồi giáo đến đảo Mindanao Sau đó, ông ta kết hôn với Paramisuli, một công chúa người Iranun, và lập nên Vương quốc Hồi giáo Maguindanao Các vương quốc Hồi giáo mở rộng đến Lanao.[32]

Cuối cùng, Hồi giáo vượt khỏi phạm vi của đảo Mindanao và lan đến phía nam đảo Luzon

Trang 18

Thậm chí Manila cũng bị Hồi giáo hóa trong thời gian trị vì của Sultan Bolkiah từ năm

1485 đến năm 1521, khi đó Vương quốc Hồi giáo Brunei chinh phục Vương quốc Tondo bằng cách cải đạo Rajah Salalila sang Hồi giáo Tuy nhiên, các quốc gia như Igorot theo thuyết vật linh, Madja-as Mã Lai, Lequios và Butuan Ấn Độ hóa vẫn duy trì văn hóa của mình Trong một số vương quốc xuất hiện việc chống Hồi giáo gay gắt

Sự kình địch giữa các datu, raja, vương, sultan, và lakan và giữa các quốc gia của họ là điều kiện thuận lợi để Tây Ban Nha dễ dàng tấn công và thôn tính toàn bộ quần đảo

Năm 1521, nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan đến Philippines và tuyên bố chủ quyền của Tây Ban Nha đối với quần đảo, ông đã bị giết chết sau đó trong trận chiến đấu với các thổ dân Quá trình thuộc địa hóa bắt đầu khi nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Miguel López de Legazpi đến từ Mexico vào năm

1565 và thành lập các khu định cư đầu tiên của người Âu tại Cebu Người Tây Ban Nha thiết lập Manila làm thủ đô của Đông Ấn Tây Ban Nha vào năm 1571 sau khi đàn

áp sự kháng cự của người bản địa và đánh bại hải tặc người Trung Quốc Lâm A Phượng (Limahong)

Sự thống trị của người Tây Ban Nha đóng góp đáng kể vào việc thống nhất chính trị tại quần đảo Từ năm 1565 đến năm 1821, Philippines được quản lýbởi một Phó vương người Tây Ban Nha và sau đóthì được quản lý trực tiếp từ Madrid Các nhà truyền giáo của đạo Thiên chúa đã tới quần đảo và cải đạo hầu hết các cư dân vùng thấp sang đạo này và lập nên các trường học, chủng viện và các bệnh viện

Trong thời kỳ cai trị Philippines, người Tây Ban Nha phải chiến đấu chống lại các cuộc nổi dậy của người bản địa và một vài thách thức đến từ hải tặc Trung Quốc, người Hà Lan, và người Bồ Đào Nha Trong khuôn khổ Chiến tranh Bảy năm, quân đội Anh chiếm Manila từ năm 1762 đến năm 1764 Đặc biệt là sự chống đối của người Môrô (người Philippin theo Hồi giáo ở miền Nam) trong suốt hơn một thế kỉ

Ách cai trị của thực dân Tây Ban Nha đã dẫn đến những cuộc đấu tranh cách mạng bùng lên vào năm 1872 sau khi ba linh mục là Mariano Gómez, José Burgos,

và Jacinto Zamora (gọi chung là Gomburza) bị nhà cầm quyền thuộc địa buộc tội xúi giục nổi loạn và hành quyết Sự việc này truyền cảm hứng cho một phong trào tuyên truyền tại Tây Ban Nha do José Rizal tổ chức, nhằm vận động hành lang cho các cải cách chính trị tại Philippines Rizal cuối cùng bị hành quyết vào ngày 30 tháng 12 năm

1896 với tội danh nổi loạn Do các nỗ lực nhằm cải cách gặp phải cản trở, Andrés

Trang 19

Bonifacio vào năm 1892 thành lập một tổ chức bí mật gọi là Katipunan nhằm giành độc lập từ Tây Ban Nha thông qua hoạt động vũ trang Bonifacio cùng Katipunan bắt đầu cuộc Cách mạng Philippines vào năm 1896 Magdalo là một phái của Katipunan tại tỉnh Cavite, cuối cùng họ thách thức vị trí lãnh đạo của Bonifacio và người này

bị Emilio Aguinaldo thay thế Năm 1898, Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ bắt đầu

từ Cuba và lan đến Philippines Aguinaldo tuyên bố Philippines độc lập từ Tây Ban Nha tại Kawit, Cavite vào ngày 12 tháng 6 năm 1898 Sau đó, Tây Ban Nha đã nhượng quần đảo cho Hoa Kỳ để đổi lấy 20 triệu đô la theo Hiệp định Paris 1898 Tuy nhiên, sau đó Mỹ đã không thừa nhận nền Cộng hòa mới ra đời tại Philippines Điều này đã dẫn đến Chiến tranh Philippines–Mỹ bùng nổ, kết quả Đệ nhất Cộng hòa chiến bại Tuy nhiên, thay thế nó là ba nước cộng hòa: Cộng hòa Zamboanga, Cộng hòa Negros và Cộng hòa Tagalog Các chính thể này cũng bị đánh bại Trong thời kỳ này, văn hóa Philippines được phục hưng với sự phát triển của điện ảnh và văn học Philippin tuyên bố nền độc lập của mình vào năm 1946 dưới, tuy nhiên mọi chính sách

và sự phát triển đều lệ thuộc vào Mỹ Đến năm 1986, sau khi chế độ độc tài Marcos bị lật đổ, Philippin mới chính thức quay trở về với khu vực Đông Nam Á như một thực thể điak lý vốn có chứ không phải là theo lối sống và phong cách phương Tây như trong thời kì thuộc địa

Tại Malaysia là một quốc gia tại Đông Nam Á, vị trí hang hải chiến lược của nó

có những ảnh hưởng căn bản đối với lịch sử quốc gia Văn hóa Ấn Độ giáo và Phật giáo du nhập từ Ấn Độ chi phối lịch sử ban đầu của Malaysia Những văn hóa này phát triển đến đỉnh điểm trong văn minh Srivijaya có nền tảng tại Sumatra, với ảnh hưởng trải rộng suốt Sumatra, Java, bán đảo Mã Lai và phần lớn Borneo từ thế kỷ VII đến thế

kỉ XIV Hồi giáo qua Malaysia ngay từ thế kỷ X, song đến thế kỷ XIV và XV thì tôn giáo này mới lần đầu thiết lập nền tảng trên bán đảo Mã Lai Việc tiếp nhận Hồi giáo kéo theo sự xuất hiện của những vương quốc Hồi giáo, nổi bật nhất trong số đó là Malaca Văn hóa Hồi giáo có ảnh hưởng sâu sắc đối với người Mã Lai

Bồ đào nha là cường quốc thực dân châu Âu đầu tiên thiết lập căn cứ tại Malaysia, chiếm Malacca năm 1511, tiếp theo họ là người Hà Lan Anh quốc ban đầu thiết lập căm cứ tại Jesselton, Kuching, Penang, và Singapore, cuối cùng đảm bảo được quyền bá chủ của mình tại lãnh thổ Malaysia Hiệp định Anh- Hà Lan năm 1824 xác định ranh giới giữa Malaya thuộc Anh và Đông Ấn Hà Lan Giai đoạn thứ tư của

Trang 20

quá trinh tiếp nhận ảnh hưởng ngoại quốc là sự nhập cư của những công nhân người Hoa và người Ấn nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế thuộc địa do Anh Quốc thiết lập trên bán đảo Mã Lai và Borneo

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản xâm chiếm Malaysia, chấm dứt quyền thống trị của Anh Quốc Chủ nghĩa dân tộc được giả phóng trong thời gian Nhật Bản chiếm đóng Malaysia tiến hành nổi dậy vũ trang chống Anh Quốc, song bị dập tắt bằng quân sự Sau đó, Liên bang Malaya độc lập đa dân tộc được thành lập vào năm 1957 Đến ngày 31 tháng 8 năm 1963, các lãnh thổ của Anh Quốc tại miền bắc đảo Borneo và Singapore được trao quyền độc lập và cùng các bang trên Bán đảo lập nên Malaysia vào ngày 16 tháng 9 năm 1963 Hai năm sau, Quốc hội Malaysia tách Singapore khỏi liên bang Đầu thập niên 1960, Malaysia và Indonesia xảy ra đối đầu Bạo loạn dân tộc trong năm 1969 dẫn đến áp đặt luật tình trạng khẩn cấp, cắt giảm sinh hoạt chính trị và tự do dân sự Kể từ 1970, "liên minh Mặt trận Dân tộc" do Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất (UMNO) lãnh đạo là phe phái chính trị cầm quyền tại Malaysia Tăng trưởng kinh tế nâng cao đáng kể chất lượng sinh hoạt trong thập niên 1990

Tại Lenggong, khai quật được những chiếc rìu tay bằng đá của giống người ban đầu mà có thể là Homo erectus Chúng có niên đại 1,83 triệu năm, là bằng chứng sớm nhất về việc họ Người cư trú tại Đông Nam Á Bằng chứng sớm nhất về sự cư trú của người hiện đại tại Malaysia là sọ người 4.000 năm tuổi khai quật từ hang Niah tại Borneo vào năm 1958 Bộ xương hoàn chỉnh cổ nhất phát hiện được tại Malaysia là người Perak 11.000 năm tuổi khai quật vào năm 1991 Những nhóm người bản địa trên bán đảo có thể phân thành ba dân tộc, Negrito, Senoi, và Mã Lai nguyên thủy Những dân cư đầu tiên của bán đảo Mã Lai hầu như chắc chắn là người Negrito Những người săn bắn thuộc Thời đại đồ đá giữa này hầu như chắc chắn là tổ tiên của Semang, một dân tộc Negrito có lịch sử lâu dàu tại bán đảo Mã Lai

Người Senoi xuất hiện như một nhóm hỗn hợp, với khoảng một nửa ADN ti thể mẫu hệ truy nguyên tới tổ tiên của người Semang và khoảng một nửa là người di trú đến từ Đông Dương sau đó Các học giả đưa ra giả thuyết rằng họ là hậu duệ của những dân cư nông nghiệp nói tiếng Nam Á ban đầu, họ đem ngôn ngữ và kỹ thuật của mình đến phần phía nam của bán đảo vào khoảng 4.000 năm trước Họ liên hiệp và hiệp nhất với dân cư bản địa

Trang 21

Những người Mã Lai nguyên thủy có nguồn gốc đa dạng hơn và đã định cư tại Malaysia vào khoảng 1000 TCN Mặc dù họ thể hiện một số liên kết với những dân cư khác tại Đông Nam Á Hàng hải, song một số cũng có tổ tiên tại Đông Dương vào khoảng kỳ băng hà cực độ cuối khoảng 20.000 năm trước Những nhà nhân loại học ủng hộ quan điểm rằng người Mã Lai nguyên thủy có nguồn gốc từ nơi mà nay là Vân Nam, Trung Quốc Tiếp theo đó là một sự phân tán vào đầu thế Toàn Tân qua bán đảo

Mã Lai đến quần đảo Mã Lai.Khoảng 300 TCN, họ bị người Mã Lai thứ đẩy và nội lục, người Mã Lai thứ là một dân tộc thời đại đồ sắt hoặc đồ đồng và có nguồn gốc một phần từ người Chăm Người Mã Lai thứ là dân tộc đầu tiên trên bán đảo sử dụng các công cụ bằng kim loại, là tổ tiên trực tiếp của người Mã Lai Malaysia hiện nay, họ mang theo các kỹ thuật canh tác tiến bộ

Hồi quốc Brunei là một Hồi quốc Mã Lai tập trung ở Brunei trên bờ biển phía bắc đảo Borneo tại Đông Nam Á Vương quốc được thành lập vào đầu thế kỷ 7, bắt đầu như là một vương quốc thương mại đường biển nhỏ dưới sự cai trị của người ngoại giáo bản địa hoặc vua Hindu Các đời vua Brunei đã cải sang đạo Hồi vào khoảng thế kỷ 15, sau một thời gian dài phát triển và bành trướng khắp các khu vực ven biển của cả Borneo và Philippines, trước khi suy yếu vào thế kỷ 17

Lịch sử của vương quốc Brunei vấp phải khá nhiều vấn đề vì chỉ có một số ít nguồn tài liệu đề cập đến tuyên bố như vậy và cộng thêm bằng chứng quá khan hiếm Chẳng có nguồn tài liệu địa phương hoặc bản địa nào còn tồn tại để cung cấp bằng chứng cho bất kỳ điều gì Kết quả là phần lớn giới sử học đành phải sử dụng nguồn thư

tịch Trung Quốc để dựng nên lịch sử ban đầu của Brunei Boni trong thư tịch Trung Quốc nhắc đến có thể là chỉ toàn bộ vùng Borneo trong khi Poli 婆利 (Bà Lợi), có lẽ

nằm ở Sumatra như lời xác nhận của chính quyền địa phương khi đề cập đến Brunei

Quan hệ ngoại giao sớm nhất giữa Boni 渤泥 (Bột Nê) và các triều đại Trung Quốc đã được ghi nhận trong bộ Thái Bình hoàn vũ ký (太平環宇記) vào

năm 978 Năm 1225, một viên quan của nhà Tống là Triệu Nhữ Quách (趙汝适) ghi

lại trong Chư Phiên chí rằng Po-ni có 100 chiến thuyền đề bảo vệ ngành mậu dịch của

mình, và có nhiều vàng tại vương quốc này Một ghi chép vào năm 1280 mô tả

rằng Po-ni kiểm soát một diện tích lớn trên đảo Borneo

Vào thế kỷ 14, Brunei dường như phải chịu thần phục Java Bản thảo

Nagarakretagama viết bằng tiếng Java do Mpu Prapanca biên soạn vào năm 1365, có

Trang 22

đề cập đến Barune như một nước chư hầu của Majapahit và hàng năm phải cống nạp

40 tấn long não Năm 1369, người Sulu đã tấn công Po-ni cướp đoạt kho báu và vàng

bạc của xứ này Majapahit liền phái một hạm đội tàu chiến tới giúp đánh đuổi quân

Sulu nhưng Po-ni bị yếu hẳn đi kể từ sau cuộc tấn công đó Một bản tường thuật của Trung Quốc từ năm 1371 đã mô tả Po-ni trở nên nghèo nàn và hoàn toàn nằm dưới sự

kiểm soát của Majapahit

Sau cái chết của Hoàng đế Hayam Wuruk, Majapahit rơi vào tình trạng suy yếu

và khó có khả năng kiểm soát các xứ nội thuộc ở ngoài xa Điều này mở ra cơ hội cho các vị vua Brunei mở rộng ảnh hưởng của mình ra toàn khu vực Hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh sau khi lên ngôi vào năm 1403, ngay lập tức đã cử đoàn sứ thần sang các nước khác nhau mời họ phải cống nạp cho thiên triều Brunei ngay lập tức tham gia vào hệ thống triều cống béo bở với Trung Quốc Đến thế kỷ 15, đế quốc đã trở thành một nhà nước Hồi giáo, khi vua Brunei cải sang đạo Hồi được du nhập bởi giới thương nhân Hồi giáo người Ấn Độ và Ả Rập đến từ các vùng khác thuộc Đông Nam

Á hải đảo tới đây buôn bán và truyền giáo Brunei khi đó kiểm soát hầu hết miền bắc Borneo, và trở thành một trung tâm quan trọng trong hệ thống thương mại thế giới giữa phương Đông và phương Tây

Đế quốc Brunei giống như những đế quốc trong khu vực trước đây như Srivijaya, Majapahit và Malacca, có thể được coi như là một đế quốc hàng hải

(Thalassocracy) dựa trên sức mạnh hải quân Có nghĩa là ảnh hưởng của nó chỉ giới

hạn ở các thị trấn ven biển, bến cảng và cửa sông, và hiếm khi nào xâm nhập sâu vào vùng nội địa của hòn đảo Các vị vua Brunei xem chừng cố gắng liên minh với các dân tộc đi biển khu vực Orang Laut và Bajau giúp hình thành hạm đội hải quân của họ Thế nhưng, người Dayak, một bộ lạc bản xứ vùng nội địa Borneo lại không nằm dưới quyền kiểm soát của họ, cũng do ảnh hưởng của đế quốc hiếm khi nào xâm nhập sâu vào trong tận rừng rậm

Các tài liệu ghi chép sớm nhất về Brunei của phương Tây là của một người Ý gọi là Ludovico di Varthema Ludovico vào lúc đó đang trên một tuyến đường đến quần đảo Maluku khi ông đổ bộ ở Borneo và gặp gỡ với người dân Brunei Tài liệu ghi chép của ông có niên đại vào năm 1550

"Chúng tôi vừa đặt chân đến hòn đảo Bornei (Brunei hay Borneo), cách

Maluch khoảng hai trăm dặm, và chúng tôi phát hiện ra rằng đảo này lớn hơn như

Trang 23

kể trên và thấp hơn nhiều Người dân đều là những kẻ ngoại đạo và đầy thiện chí Màu da của họ trắng hơn so với giống dân khác tại hòn đảo này công lý được thực thi khá tốt "

Dưới thời trị vì của Bolkiah, Quốc vương thứ năm, đế quốc đã nắm quyền kiểm soát trên khu vực duyên hải phía tây bắc Borneo (nay là Brunei, Sarawak và Sabah) và vươn tới tận Seludong (nay là Manila), quần đảo Sulu gồm các khu vực của đảo Mindanao Vào thế kỷ 16, ảnh hưởng của Đế quốc Brunei cũng lan xa tới tận vùng đồng bằng sông Kapuas ở Tây Kalimantan Hồi quốc Sambas gốc Mã Lai ở Tây Kalimantan và Hồi quốc Sulu ở miền Nam Philippines nói riêng đã phát triển mối quan hệ vương triều với hoàng gia Brunei Các sultan Mã Lai của Pontianak, Samarinda đến tận Banjarmasin đều đối đãi với Sultan của Brunei như thể là chúa tể của họ Bản chất thực sự trong mối quan hệ của Brunei với những Vương quốc Hồi giáo

Mã Lai khác ở ven biển Borneo và quần đảo Sulu vẫn là một đề tài nghiên cứu hiện nay Cho dù là một nước chư hầu, một liên minh hay chỉ là một mối quan hệ mang tính nghi lễ

Kể từ đó xuất hiện những chính thể khác trong khu vực còn thực hiện ảnh hưởng của họ lên những vương quốc Hồi giáo Hồi quốc Banjar (nay là Banjarmasin) là một ví dụ tiêu biểu, cũng chịu nằm dưới ảnh hưởng của Demak tại Java

Đến cuối thế kỷ 17, Brunei bắt đầu bước vào một thời kỳ suy tàn bắt nguồn từ những xung đột nội bộ xung quanh vấn đề kế vị, quá trình mở rộng thuộc địa của các cường quốc châu Âu và nạn cướp biển hoành hành Đế quốc đã đánh mất nhiều lãnh thổ của mình do sự hiện diện của các cường quốc phương Tây chẳng hạn như Tây Ban Nha ở Philippines, Hà Lan ở phía nam đảo Borneo và Anh quốc ở Labuan, Sarawak và Bắc Borneo Sultan Hashim Jalilul Alam Aqamaddin về sau đã kêu gọi người Anh phải ngăn chặn sự xâm lấn hơn nữa vào năm 1888 Cùng năm đó, Anh đã ký kết "Hiệp ước Bảo hộ"

và biến Brunei trở thành xứ bảo hộ,mãi cho đến năm 1984 mới giành được độc lập

Tóm lại, qua chương 1 ta thấy, khu vực Đông Nam Á hải đảo là một khu vực có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi, đã từng nằm trên con đường buôn bán hương liệu nổi tiếng Tuy nhiên, Đông Nam Á hải đảo cũng là nơi chịu ảnh hưởng sâu sắc những biến động của điều kiện tự nhiên với động đất, núi lửa, sóng thần…gây nhiều tổn thất cho sinh hoạt cũng như cuộc sống dân cư Cư dân Đông Nam Á hải đảo cũng thuộc nhiều thành phần khác nhau làm đa dạng hơn các tộc người tại khu vực nhưng cũng rất

dễ dẫn đến những xung đột và mâu thuẫn

Trang 24

CHƯƠNG 2 NÉT ĐẶC TRƯNG VỀ VĂN HÓA CỦA KHU VỰC

ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO

2.1 Tôn giáo và tín ngưỡng

Trước thế kỉ XIII, những quan hệ thương mại giữa Ấn Độ và Đông Nam Á đã tạo điều kiện thuận lợi cho những yếu tố văn hóa và tôn giáo Ấn Độ xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á hải đảo và có ảnh hưởng mạnh mẽ từ rất sớm Đông Nam Á nói chung và Đông Nam Á hải đảo nói riêng chủ yếu theo Hindu giáo và Phật giáo

Tuy nhiên, từ thế kỉ XIII trở đi, sau những lần tiếp xúc với Đông Nam Á trước

đó thì sự hiểu biết về vùng đất giàu tài nguyên này của thương nhân Ả rập Hồi giáo ngày càng nhiều hơn Đặc biệt là sự phát hiện về hướng gió đã giúp thương nhân Ả rập nắm bắt được quy luật hoạt động của loại gió này trên Ấn Độ Dương nên các hoạt động thương mại bằng đường biển được tăng cường Khi hoạt động thương mại ở Đông Nam Á hải đảo ngày càng được mở rộng, thương nhân từ vùng Trung Đông, Bắc Phi đến buôn bán ngày càng đông thì những yếu tố văn hóa và tôn giáo Ấn Độ không còn chiếm vị trí sâu rộng ở đó nữa Một cơn gió mới thổi vào vùng Đông Nam Á hải đảo làm chao đảo kỉ nguyên Ấn Độ hóa của cư dân nơi đây Cơn gió mới đó chính là Hồi giáo do những thương nhân Hồi giáo (Ả rập, Ấn Độ, Trung Quốc, Ba Tư) mang đến khi những hoạt động thương mại ngày càng gia tăng với Đông Nam Á hải đảo

Hệ quả của sự xâm nhập một đức tin mới vào Đông Nam Á hải đảo là sự hình thành những Hồi quốc (Sultanate) đầu tiên ở nơi đây trong thế kỉ XIII Teranate (1257), là một trong những Hồi quốc lâu đời nhất ở Indonesia, được thành lập bởi Baab Mashur Malamo (1257-1277) Samudera Pasai (1267), Hồi quốc nằm ở phía Bắc đảo Sumatra đã chuyển sang Hồi giáo dưới thời trị vì của Malik ul Salih

Đến thế kỉ XV, XVI, Hồi giáo lan tỏa một cách mạnh mẽ và sâu rộng ở hầu hết Đông Nam Á hải đảo Nhiều Hồi quốc hình thành và trở thành những trung tâm Hồi giáo và thương mại quan trọng trong khu vực Sự hình thành các Hồi quốc ở Đông

Nam Á hải đảo diễn ra theo “hiệu ứng dây chuyền” Thế kỷ XV, nhà nước Hồi giáo

đầu tiên được thành lập trên đất liền Malaysia là Malacca (1400), Cirebon (1445), Demak (1475)…đây là thời kì mà hoạt động thương mại của những thương nhân Hồi giáo vẫn đang diễn ra nhộn nhịp với các trung tâm thương mại trọng yếu ở Đông Nam

Á hải đảo

Trang 25

Thế kỷ XVI, nhiều Hồi quốc liên tiếp hình thành sau khi Bồ Đào Nha-một cường quốc phương Tây tấn công Malacca vào năm 1511 Sự thất bại của Malaca trong cuộc chiến chống lại Bồ Đào Nha dẫn đến sự ra đời của các Hồi quốc: Aceh (1514), Bantam (1526), Johor (1528), Perak (1528)…

Ở Moluccas (Indonesia), Hồi giáo lan rộng trong thời gian cuối thế kỉ XV, nhà lãnh đạo Hồi giáo đầu tiên là Zain ul Abdin (1486-1500) Hồi giáo lan truyền qua phía Tây bắc đảo Borneo trong thế kỉ XV sau khi Awang Alakber Tabar-người đứng đầu chính quyền đã chấp nhận theo Hồi giáo khi ông kết hôn với công chúa Hồi giáo ở Johor Từ đó, Hồi giáo bắt đầu xâm nhập đến phía Đông Borneo trong thế kỉ XVI và sau đó là Philinpines

Vậy những nhân tố nào thúc đây quá trình Hồi giáo hóa ở khu vực Đông Nam

Á hải đảo trong thế kỉ XV, XVI? Theo chúng tôi, quá trình đó do những nhân tố chủ yếu sau:

Thứ nhất, do hoạt động thương mại giữa khu vực Đông Nam Á hải đảo với thương nhân Hồi giáo Ả Rập, Ấn Độ, Trung Quốc

Đông Nam Á hải đảo đã có những hoạt động thương mại với bên ngoài từ rất sớm Đây chính là điểm dừng chân trên con đường mậu dịch Đông-Tây của nhiều thương nhân Từ thế kỉ XIII trở đi, khi các cuộc Thập tự chinh dần chấm dứt, bên cạnh

sự tàn phá khốc liệt của cuộc chiến tranh tôn giáo này thì những “va chạm” của hai nền văn hóa Đông Tây diễn ra ngày càng mạnh Điều này dẫn đến nhu cầu trao đổi những mặt hàng mới, lạ ở phương Đông và phương Tây tăng lên Những thương nhân Hồi giáo không còn bận tâm đến cuộc chiến với người Thiên chúa giáo và thay vào đó

là sự tăng cường hoạt động thương mại đường biển nhằm vực dậy một nền kinh tế bị tàn phá bởi chiến tranh trước đó, nhất là khi họ phát hiện ra gió mùa trên Ấn Độ Dương Khi các hoạt động giao thương diễn ra ngày càng phát triển, thì nền kinh tế nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp ở Đông Nam Á hải đảo bị phá vỡ Sự xuất hiện của những thương nhân Hồi giáo làm khuấy động nền kinh tế Đông Nam Á vốn được thực hiện trên cơ sở hàng đổi hàng giữa các địa phương với nhau (ở một số vùng, sự trao đổi, buôn bán hàng hóa vẫn được trao đổi bằng kim loại nhưng chưa có hình thức tiền và giá trị được tính theo trọng lượng Các con tàu của thương nhân Hồi giáo khi đến buôn bán ở những vùng như Malacca, Palembang phải ở lại các hải cảng nằm chờ gió mùa của Ấn Độ Dương để chờ gió thuận quay về Điều này khiến họ cần tập trung hàng

Trang 26

hóa và mua một số lượng lớn Vì vậy, những nhà cầm quyền (họ là những thương nhân chính và có quyền mua trước hàng hóa) ở Đông Nam Á hải đảo đã biến những hải cảng và các thủ đô thành những trung tâm thu gom hàng hóa từ các địa phương để đáp ứng nhu cầu buôn bán rất lớn của nhưng thương nhân Hồi giáo Đồng thời, hoạt động thương mại làm phát triển những vùng đất nhất là vùng ven biển, nơi có những hải cảng thuận lợi

Tại các cảng trên bờ biển của bán đảo Malay, đông Java, bắc Sumatra, thương nhân Ả rập, Ấn Độ, Trung Quốc tham gia buôn bán với thương nhân bản địa rất tấp nập Các sản phẩm mang thương hiệu Đông Nam Á như hồ tiêu, đinh hương, nhục đậu khấu đã trở thành hàng xuất khẩu quan trọng đối với Trung Quốc, phía đông Ấn Độ và khu vực Địa Trung Hải

Từ thế kỉ VIII trở đi, thương nhân Hồi giáo ở Gujarat và miền nam Ấn Độ kiểm soát được hoạt động thương mại ven biển và vận tải đường biển, thì lúc này Hồi giáo cũng bắt đầu len lỏi vào các đảo ở Đông Nam Á Nhưng chỉ sau thế kỉ XIII, sau khi Srivijaya-đế chế thương mại tôn sùng Phật giáo bị sụp đổ thì khu vực eo biển Malacca (chịu sự kiểm soát của Srivijaya từ thế kỉ VIII) để ngõ cho thương nhân Hồi giáo hoạt động Điều này cũng giống như sự lan tỏa của Hồi giáo ở Trung Đông và Bắc Phi vào thế kỉ VII, VIII khi hai đế quốc Byzantine và Sassanian suy yếu và không còn khả năng kiểm soát khu vực này

Thương nhân Hồi giáo Ả rập, Ấn Độ, Trung Quốc…khi đến Đông Nam Á hải đảo mục đích chính không phải để truyền giáo mà là buôn bán, trao đổi và làm giàu Tuy nhiên, để đạt được mục đích đó, họ đã kết hợp với hoạt động thương mại và truyền giáo là cách thức tốt nhất để xâm nhập vào thị trường rộng lớn, giàu hương liệu, nguyên liệu và sản vật quý hiếm này Và ở hầu hết các khu vực mà Hồi giáo xâm nhập và lan rộng, yếu tố hòa bình và sự chấp nhận một cách tự nguyện của các vương quốc Đông Nam Á hải đảo chiếm ưu thế, chứ không không phải bằng con đường cưỡng bức tôn giáo

theo cách “thanh gươm-vó ngựa” mà người Hồi giáo đã làm trong những vùng đất chinh

phục trước đó ở Bắc Phi hay bán đảo Ibrique (Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha)

Yếu tố thương mại đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc Hồi giáo lan rộng trong khu vực Đông Nam Á hải đảo Những thương nhân Hồi giáo và các thủy thủ giới thiệu đến người dân bản địa những nghi lễ của một đức tin hoàn toàn mới nhưng phù hợp với văn hóa kinh doanh lúc bấy giờ

Trang 27

Việc Hồi giáo khuyến khích làm giàu đồng thời trong cách nhìn nhận của Hồi giáo, con người bình đẳng với nhau trước thánh Allah Điều này hoàn toàn khác so với

sự phân chia đẳng cấp trong xã hội của các quốc giá Đông Nam Á, nơi vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ, đặc biệt là Hindu giáo Chính vì vậy, người dân bản địa thấy mình được tôn trọng phần nào, điều mà họ chưa từng có trong xã hội trước đây Chính vì lẽ đó, khi những thương nhân Hồi giáo mang đức tin của thánh Allah đến, họ không những chống đối mà đón nhận nó một cách hân hoan

Sự lan tỏa của Hồi giáo ở Đông Nam Á hải đảo là nhờ yếu tố kinh tế thực dụng hơn là những động lực về tinh thần Người đứng đầu Malacca sớm nhận thức được rằng, người Hồi giáo ở vương quốc Pasai đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động thương mại của các thương nhân Hồi giáo Ấn Độ khi xâm nhập vùng Đông Nam Á Do đó, nhà vua Parameswara (1344-1414) đã có những phương sách linh hoạt nhằm cạnh tranh với Pasai trong việc thu hút các thương nhân Hồi giáo Ấn Độ đến buôn bán ở Malacca Các thương nhân Hồi giáo được trao những đặc quyền thương mại, được xây dựng khu định cư riêng và thánh đường, được chào đón nồng nhiệt tại hoàng cung Chính vai trò nổi bật của những thương nhân và các giáo sĩ Hồi giáo từ Ả rập, Bengal, Trung Quốc…khiến những nhà cầm quyền như Pasai, Malacca… chấp nhận Hồi giáo Và khi những thương nhân Hồi giáo đã thống trị được mạng lưới thương mại kéo dài từ châu Âu sang Moluccas, những người đứng đầu các chính quyền ở Đông Nam Á hải đảo sẽ nhận được nhiều quyền lợi khi trở thành một phần của cộng đồng người Hồi giáo Có nhiều con đường để họ chọn lựa đức tin mới này và cách mà một

số nhà cầm quyền lựa chọn là hôn nhân chính trị như vua Pasai đã cải sang Hồi giáo khi cưới một công chúa Hồi giáo lúc ông đã 72 tuổi

Trước khi các thương nhân Hồi giáo có mặt ở Đông Nam Á hải đảo thì hoạt động thương mại ở khu vực này đã từng diễn ra nhộn nhịp với các vùng lân cận như

Ấn Độ và Trung Quốc Thương nhân Hồi giáo khi đến buôn bán ở khu vực Đông Nam

Á hải đảo không chỉ làm thay đổi bộ mặt kinh tế ở đây mà còn tăng cường sự giao lưu văn hóa của khu vực này với bên ngoài và Hồi giáo là một lựa chọn mới bổ sung và thay thế vào đời sống tinh thần của cư dân Đông Nam Á hải đảo vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của Hindu giáo trong nhiều thế kỉ trước đó

Trang 28

Tiếng Melayu-ngôn ngữ thương mại và truyền giáo

Trong thế kỉ XV, Malacca được xem là điểm dừng chân, nơi án ngữ tuyến đường chính trong giao thương hàng hóa từ phương Tây đến Đông Nam Á Khu vực này dần trở thành một trung tâm thương mại sầm uất bậc nhất trong khu vực Những thương nhân từ Ả rập, Ấn Độ, Trung Quốc, phương Tây…đều tập trung buôn bán ở đây Chính vì có nhiều thương nhân đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau nên họ cần có một ngôn ngữ trung gian cho hoạt động thương mại và truyền giáo của mình Ngôn ngữ duy nhất đáp ứng được yêu cầu lúc bấy giờ chính là tiếng Melayu của người Malaya ở Malacca

Tiếng Melayu là một phương tiện truyền giáo hữu hiệu Gần như tất cả người Malaya đều theo Hồi giáo Có được sự phổ biến và bám rễ của Hồi giáo vào cộng đồng cư dân Đông Nam Á hải đảo phải kể đến vai trò to lớn của tiếng Melayu Đây không chỉ là một lựa chọn linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế là ngôn ngữ Melayu

đã phổ biến rộng rãi mà còn là sự tôn trọng, chấp nhận văn hóa bản địa của những người truyền bá Hồi giáo vốn trước đó không sử dụng ngôn ngữ này Chính vì lẽ đó

mà Hồi giáo xâm nhập vào Đông Nam Á hải đảo diễn ra một cách hòa bình và nhanh chóng được cư dân bản địa chấp nhận

Những thương nhân Hồi giáo đã dùng chính tiếng nói của dân tộc Malaya để tiến hành những hoạt động giao thương và truyền giáo Điều này tạo ra sự gần gũi và tin tưởng cho những cư dân Đông Nam Á hải đảo khi họ không gặp những rào cản về ngôn ngữ khi tiếp xúc với những thương nhân và các giáo sĩ đến từ bên ngoài Điều này hoàn toàn khác biệt so với cách thức truyền giáo của Hồi giáo trong các thế kỉ VII-XIII khi mà Hồi giáo xâm nhập vào những vùng đất mình chiếm đóng một cách áp đặt

và cưỡng bức Những nơi mà Hồi giáo chiếm đóng, người dân buộc phải lựa chọn

“Hồi giáo hay là chết” và việc họ phải đọc kinh Qu’ran bằng tiểng Ả rập đã tạo nên những khó khăn cho việc Hồi giáo được chấp nhận ở những vùng đất mới Trong khi

đó, ở Đông Nam Á hải đảo, kinh Qu’ran được dịch sang ngôn ngữ Melayu bởi một giáo sĩ có tên Shaykh Abbul Rauf al Sinkili (?-1693) Chính việc làm này đã góp phần vào việc tuyên truyền, đề cao tiếng Melayu, đưa nó trở thành một “lingua franca” có tính khu vực Trong suốt thế kỉ XV, XVI, Malacca được xem là trung tâm Hồi giáo của toàn vùng quần đảo Malaya, thu hút nhiều giáo sĩ đến đây hoạt động và truyền giáo ra những vùng xung quanh Sự bảo trợ của hoàng gia đối với Hồi giáo càng làm cho tôn giáo

Trang 29

này ngày càng phát triển và làm tăng đáng kể số lượng tín đồ Kể từ khi tiếng Melayu được sử dụng rộng rãi trong thương mại và Malacca trở thành trung tâm khu vực thì quá trình lan truyền của Hồi giáo dọc theo hành trình buôn bán trên biển của các thương nhân diễn ra là tất yếu và ngày càng tự nhiên

Thực tế, mối liên hệ giữa văn hóa Malay với Hồi giáo chặt chẽ đến mức, ở nhiều khu vực, cụm từ masuk melayu (trở thành người Malay) có nghĩa theo Hồi giáo Khi trở thành phương tiện truyền đạt các giáo lý của Hồi giáo, ngôn ngữ Melayu nắm giữ vị trí rất đặc biệt Điển hình như năm 1645, người cai trị xứ Bima đã ra lệnh toàn

bộ chiếu thư trong triều đình phải viết bằng ngôn ngữ của Melayu vì “ngôn ngữ này được đấng Allah toàn năng sử dụng”

Sự khác biệt về ngôn ngữ luôn là một rào cản để cho sự du nhập và tiếp nhận của những nền văn hóa khác nhau Nhưng những thương nhân và các giáo sĩ Hồi giáo

đã biết cách để một tôn giáo mới xâm nhập vào Đông Nam Á hải đảo một cách tự nhiên, từ từ bắt rễ vững chắc và lan truyền mạnh mẽ Việc sử dụng ngôn ngữ bản địa

để truyền giáo khiến hoạt động này nhận được sự thiện cảm từ những nhà cầm quyền

và cuối cùng họ được nhận những sự bảo trợ tối ưu từ hoàng gia Giới cầm quyền ở những tiểu quốc Đông Nam Á hải đảo tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích mạnh

mẽ các hoạt động truyền giáo và giảng đạo Hôn nhân của những tín đồ Hồi giáo và người dân bản địa được khuyến khích, sắp đặt nhằm lôi cuốn thêm những tín đồ mới, việc bỏ đạo hoàn toàn bị nghiêm cấm Các lễ cầu nguyện hàng ngày được đặc biệt quan tâm và tạo điều kiện cho những người theo Hồi giáo có bổn phận tham gia Hệ thống pháp luật cũng có sự thay đổi đáng kể theo hướng ưu ái hơn với những người theo Hồi giáo, đặc biệt là khi làm nhân chứng trước tòa Những người kế tục trị vì Malacca sau đó tiếp tục xúc tiến sự phát triển của Hồi giáo sang những khu vực kề cận

và thuyết phục những người cầm quyền ở đó chấp nhận Hồi giáo

Chủ nghĩa thực dân xâm nhập thúc đẩy tốc độ Hồi giáo hóa ở khu vực

Trong cuối thế kỉ XV, Hồi giáo đã có bước tiến dài trong quá trình chinh phục Đông Nam Á hải đảo Nhưng trong khi ở hầu hết các đảo dọc theo hành trình thương mại giữa Malacca và quần đảo Spice đều có đông thương nhân Hồi giáo, thì điều này không có nghĩa là tất cả những nhà cầm quyền đều chấp nhận đức tin mới này Những bước đột phá của Hồi giáo trong quá trình xâm nhập và phát triển ở Đông Nam Á hải

Trang 30

đảo chỉ thực sự diễn ra mạnh mẽ vào thế kỉ XVI và đầu thế kỉ XVII khi có nhiều yếu

tố tác động, đảm bảo một vị trí vững chắc của Hồi giáo tại nơi đây

Đầu tiên là cuộc chinh phục Malacca của người Bồ Đào Nha (1511) Người Bồ Đào Nha đến Malacca vào năm 1509 dưới sự chỉ huy của Diego Lopes de Sequeria Những thương nhân Hồi giáo Ấn Độ sợ rằng người Bồ Đào Nha sẽ là một mối họa đe dọa cho việc độc quyền thương mại của họ nên đã thuyết phục Sunltan Mamud Shad (1488-1528) của Malacca tấn công hạm đội của Diego Lopes de Sequeria Điều này tạo ra một duyên cớ để người Bồ Đào Nha tấn công Malacca Ngày 24 tháng 8 năm

1511, sau nhiều đợt tấn công, Alfonso de Albuquerque đã chỉ huy hạm đội của mình chiếm được Malacaca

Sau khi Malacca bị người Bồ Đào Nha chinh phục và họ đã lập ra một thuộc địa

ở đó Những người con trai của Sunltan cuối cùng của Malacca đã thành lập nên những vương quốc Hồi giáo ở nhiều địa điểm khác nhau trên bán đảo: vương quốc Hồi giáo Perak ở phía bắc và vương quốc Hồi giáo Johor (ban đầu là sự tiếp nối của vương quốc Hồi giáo ở Malacca) ở phía Nam

Việc Malacca cầu cứu nhà Minh giúp đỡ chống lại người Bồ Đào Nha không có kết quả bởi lý do nhà Minh đưa ra là họ đang bận đối phó với người Mông Cổ khiến Mamud Shad chạy trốn tới Pahang và sau đó là Kampar ở Sumatra rồi mất vào năm 1528

Người con trai thứ của Mamud Shad là Sunltan Alauddin Riayat Shad II đã kế

vị cha và xây dựng một vương quốc Hồi giáo mới-Johor (1258) Trong khi đó, người anh trai của Alauddin Riayat Shad II là Muzaffar Shar đã chạy đến Perak và thành lập

ở đó một vương quốc Hồi giáo mới

Kể từ khi Bồ Đào Nha chinh phục Malacca thành công, cánh cửa đi vào vùng đất này dần đóng lại với thương nhân Hồi giáo Sau đó, thương nhân Hồi giáo bắt đầu tìm cách xâm nhập vào những vùng đất khác, nơi môi trường tôn giáo tương đồng hơn Các thương nhân Hồi giáo đã chuyển đại bản doanh của họ sang Brunei nằm ở phía Nam đảo Borneo và Brunei trở thành trung tâm mới về truyền bá Hồi giáo

Vương quốc Hồi giáo Aceh nằm ở cực bắc của Sumatra tiếp nhận Hồi giáo từ thế kỉ XIV và nhanh chóng phát triển thành trung tâm buôn bán của người Hồi giáo Nhà cầm quyền Aceh thực hiện các chiến dịch mang đức tin Hồi giáo truyền bá đến những vùng đất dọc theo bờ biển phía đông và phía tây Sumatra Năm 1526, Aceh trở thành Hồi quốc đi đầu trong phong trào chống đối người Bồ Đào Nha Điều này khiến

Ngày đăng: 07/08/2018, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w