Cuốn sách giới thiệu về huyện Mai Sơn trong chặng đường 35 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Mai Sơn, thành tích lãnh đạo của Đảng bộ trên các lĩnh vực kin
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
CẦM THỊ OANH
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI
HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA GIAI ĐOẠN 2000 - 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
CẦM THỊ OANH
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI
HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA GIAI ĐOẠN 2000 - 2015
Thuộc nhóm ngành: Lịch sử địa phương
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS Hoàng Xuân Thành
Sơn La, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, Thạc sĩ Hoàng Xuân Thành – giảng viên môn lịch sử Việt Nam, các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa đã tận tình, hướng dẫn giúp đỡ chúng em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Em xin cảm ơn các sở, phòng ban thuộc UBND huyện Mai Sơn, UBND tỉnh Sơn
La, thư viện huyện Mai Sơn, thư viện tỉnh Sơn La đã cung cấp cho tôi những tài liệu cần thiết cho khóa luận này Cảm ơn gia đình, tập thể sinh viên lớp K55 ĐHSP lịch sử
đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận
Để khóa luận được hoàn thiện kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên
Sơn La, ngày 10 tháng 05 năm 2018
Sinh viên Oanh Cầm Thị Oanh
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và đóng góp của khóa luận 3
4 Nguồn tư liệu, cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận 4
5 Đóng góp về mặt khoa học của khóa luận 4
6 Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA TRƯỚC NĂM 2000 6
1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 6
1.1.1 Vị trí đia lí 6
1.1.2 Khí hậu, thủy văn, sông ngòi 8
1.1.3 Đất đai 8
1.2 Đặc điểm dân cư lao động 10
1.3 Tình hình kinh tế - xã hội từ thời kì đổi mới đến trước năm 2000 10
1.3.1 Tình hình kinh tế 11
1.3.2 Tình hình xã hội 14
CHƯƠNG 2:CHUYỂN BIẾN TRONG KINH TẾ HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA GIAI ĐOẠN 2000 – 2015 18
2.1 Sự chỉ đạo của Đảng và chính quyền giai đoạn 2000 - 2015 18
2.2 Chuyển biến trong cơ cấu kinh tế 21
2.3 Chuyển biến trong nông nghiệp – lâm nghiệp 23
2.3.1 Nông nghiệp 23
2.3.2 Lâm ngiệp 26
2.4 Chuyển biến trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 26
2.5 Chuyển biến trong thương mại và dịch vụ 27
2.6 Chuyển biến trong xây dựng cơ sở hạ tầng 29
CHƯƠNG 3: CHUYỂN BIẾN Về XÃ HỘI HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA GIAI ĐOẠN 2000 - 2015 32
Trang 53.1.1 Chuyển biến về dân số 32
3.1.2 Chuyển biến về lao động - việc làm 33
3.2 Chuyển biến trong văn hóa - giáo dục - y tế 34
3.2.1 Văn hóa 34
3.2.2 Giáo dục 35
3.2.3 Y tế 37
KẾT LUẬN 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Kinh tế được coi là thước đo trình độ phát triển của mọi quốc gia trên thế giới chính vì thế mà tất cả các quốc gia dù đi theo thể chế xã hội nào cũng đều có những chiến lược để phát triển đất nước
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) nước ta chuyển sang giai đoạn đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, trong mười năm đầu (1976-1986) đi lên chủ nghĩa xã hội qua hai kế hoạch nhà nước 5 năm
do Đại hội IV (12/1976) và Đại hội V (3/1982) của Đảng đề ra , bên cạnh những thành tựu ưu điểm chúng ta gặp phải không ít khó khăn, yếu kém, cả sai lầm, khuyết điểm khó khăn của ta ngày càng lớn, sai lầm chậm sửa chữa đưa đến khủng hoảng trước hết
về kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải đổi mới
Đường lối đổi mới của Đảng đề ra lần đầu tiên tại Đại hôi VI (12-1986), đổi mới phải toàn diện và đồng bộ, từ kinh tế và chính trị đến tổ chức, tư tưởng, văn hóa Đổi mới kinh tế phải gắn liền với đổi mới chính trị, nhưng trọng tâm là đổi mới kinh tế Đường lối đổi mới được điều chỉnh bổ sung phát triển tại Đại hội VII (6-1991), Đại hội VIII (6-1996) , Đại hội IX (4-2001) Sau 15 năm thực hiện đổi mới, đất nước đã thu được nhiều thành tựu to lớn, thoát khỏi khủng hoảng kinh tế bước vào thời kì mới, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Mai Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Sơn La có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế đa dạng, cách Hà Nội hơn 200km về phía Tây Bắc, dọc theo quốc lộ số 6 Nằm trên cao nguyên đá vôi, huyện Mai Sơn có rất nhiều thế mạnh về đất đai, khí hậu, nguồn thiên nhiên ưu đãi Bên cạnh thế mạnh về điều kiện tự nhiên một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội đó là con người rất cần cù, ham học hỏi
Trải qua gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng huyện Mai sơn đã có những chuyển biến quan trọng về kinh tế, xã hội Điều đó đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, cũng sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh địa phương của nhân dân Mai Sơn Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu cũng còn tồn tại nhiều hạn chế và khó khăn Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu sự chuyển đổi kinh tế -
xã hội huyện Mai Sơn trong giai đoạn (2000 - 2015) không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà cả về mặt thực tiễn
Trang 7Thông qua các nguồn tài liệu, luận văn dựng lên bức tranh về kinh tế - xã hội huyện Mai Sơn từ 2000 đến 2015 Trên cơ sở đó rút ra những bài học thành công cũng như hạn chế chủ quan và khách quan Đồng thời mong muốn góp ý kiến nhỏ bé vào việc gợi mở một số giải pháp và phương hướng để phát triển huyện Mai Sơn trong tương lai
Nghiên cứu đề tài này để còn làm rõ hơn truyền thống lịch sử, văn hóa của nhân dân huyện Mai Sơn trong quá khứ và trong hiện tại Từ đó, giáo dục thế hệ trẻ thêm trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu đó Một số nội dung của luận văn
có thể sử dụng để làm tài liệu giảng dạy lịch sử địa phương
Từ lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Bước đầu tìm hiểu về Sự chuyển đổi kinh tế - xã hội huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La giai đoạn 2000 – 2015” làm khóa luận tốt nghiệp
“phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2010 - 2015”
Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm của các nhà lãnh đạo của Đảng và Nhà nước viết
về vấn đề đổi mới như: “Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và thời đại” của Trường Chinh, Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội 1987 Cuốn “Sự nghiệp đổi mới của chủ nghĩa xã hội” của Đỗ Mười, Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội 1992; hai cuốn của Nguyễn Văn Linh là “Đổi mới sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực”, Nhà xuất bản sự thật,
Hà Nội 1987 và “Đổi mới để tiến lên” Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội 1991 Những tài liệu nêu lên yêu cầu và định hướng đổi mới kinh tế - xã hội cho cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Mai Sơn (1976 - 2010)” của Ban Chấp hành Đảng
bộ huyện Mai Sơn – Sơn La, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia - sự thật, Hà Nội Cuốn sách giới thiệu về huyện Mai Sơn trong chặng đường 35 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Mai Sơn, thành tích lãnh đạo của Đảng bộ trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hóa - an ninh - quốc phòng trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới của huyện Mai Sơn
Trang 8Báo cáo tổng kết hàng năm của UBND huyện Mai Sơn nêu lên kết quả đạt được
về công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, lâm nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hóa, giáo dục, y tế Trên cơ sở đó có những đánh giá chung về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm trước, đề ra nhiệm vụ mục tiêu trong năm mới
Hệ thống niên giám thống kê của phòng thống kê huyện Mai Sơn cũng phản ánh tình hình kinh tế - xã hội trong năm của huyện Đó là những tài liệu nghiên cứu kinh
tế - xã hội thời kì đổi mới của huyện Mai Sơn Tuy nhiên, những tài liệu này mới nghiên cứu ở mức độ khái quát chưa đi sâu vào vấn đề cũng có tài liệu chỉ là những con số chưa có sự so sánh phân tích, mà mới ở một khía cạnh nhất định nào đó chưa có tài liệu nghiên cứu cụ thể và trình bày đầy đủ, hệ thống để biết sự thay đổi, phát triển của huyện Mai Sơn Chính vì vậy khóa luận này xin đi sâu hơn nghiên cứu tìm hiểu sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mai Sơn thời kì 2000 – 2015
3 Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và đóng góp của khóa luận 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về sự chuyển biến về kinh tế - xã hội của huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2000 – 2015
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: nghiên cứu từ 2000 – 2015, khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa Tuy nhiên, để làm sáng tỏ sự chuyển biến kinh tế của huyện, luận văn còn đề cập khái quát tình hình kinh tế - hội trước năm 2000
Về không gian: khóa luận nghiên cúu sự chuyển biến về kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Mai sơn, tỉnh Sơn La
3.3 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ sự chuyển biến của tình hình kinh tế - xã hội huyện Mai Sơn từ năm
2000 đến năm 2015, trên cơ sở đó khóa luận đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của chính quyền đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm tới
3.4 Đóng góp của khóa luận
- Luận văn trình bày hệ thống, sinh động quá trình phát triển, chuyển biến kinh tế
- xã hội của huyện Mai Sơn trong giai đoạn (2000 – 2015)
Trang 9- Đánh giá những thành công của công cuộc đổi mới của huyện Mai Sơn, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế và nêu lên một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mai Sơn, với những đóng góp đó, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho Đảng bộ huyện Mai Sơn trong việc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đồng thời, có thể làm tư liệu giảng dạy lịch sử địa phương
4 Nguồn tư liệu, cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
4.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Mai Sơn tập II”
- Các báo cáo tổng kết của Đảng bộ huyện Mai Sơn, đặc biệt là báo cáo tình hình kinh tế của Uy ban Nhân dân huyện Mai Sơn từ 2000 – 2015
- Nguồn bảng biểu thống kê của các ngành: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng Văn hóa thông tin, Phòng Giáo dục đào tạo, Phòng Thống kê huyện Mai Sơn và các bài viết đề cập đến tình hình phát triển kinhtế của tỉnh Sơn La nói chung và huyện Mai Sơn nói riêng
Tất cả các tài liệu nghiên cứu trên đều là những nguồn tài liệu quý báu cho việc nghiên cứu các vấn đề đặt ra trong khóa luận của tôi
4.2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, đường lối đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp lịch sử và lôgic, tổng hợp, so sánh, điều tra điền dã, thống kê, đối chiếu, phân tích v.v…để thực hiện đề tài này
5 Đóng góp về mặt khoa học của khóa luận
Là công trình nghiên cứu một cách khá toàn diện, cụ thể sự chuyển biến của kinh
tế - xã hội huyện Mai Sơn (Sơn La) từ năm 2000 đến 2015
Luận văn dựa vào nguồn tài liệu phong phú để làm sáng tỏ sự chuyển biến kinh
tế - xã hội huyện Mai Sơn từ năm 2000 đến năm 2015
Luận văn là nguồn tài liệu cho những ai quan tâm đến sự phát triển của nền kinh
tế huyện Mai Sơn trong thời kỳ đổi mới
Trang 10Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc biên soạn lịch sử huyện Mai Sơn
6 Cấu trúc của khóa luận
Luận văn gồm phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương
Chương 1 khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội huyện Mai Sơn tỉnh Sơn
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA TRƯỚC NĂM 2000
1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí
Mai Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Sơn La, là huyện trọng điểm kinh tế của Tỉnh nằm trong cụm tam giác kinh tế Thành phố Sơn La - Mai Sơn - Mường La Nhân dân các dân tộc Mai Sơn có một bề dày truyền thống văn hoá hết sức phong phú và đa dạng, với truyền thống đoàn kết, truyền thống lịch sử đấu tranh anh dũng gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Tiếp nối truyền thống đấu tranh anh dũng, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương, sau hơn 35 năm xây dựng và phát triển từ ngày giải phóng đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, đây là thời kỳ cùng với nhân dân cả nước tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế; đồng thời là thời
kỳ thực hiện công cuộc đổi mới và cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự đe doạ của kẻ thù xâm lược và các thế lực thù địch, nhưng với tình yêu quê hương, đất nước nồng nàn, truyền thống cần cù lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Sơn La, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Mai Sơn đã cùng kề vai sát cánh với nhân dân cả nước vượt qua những biến động phức tạp của tình hình thế giới cùng với những khó khăn trong nước của những thập niên cuối thế kỷ XX, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Mai Sơn đã đoàn kết một lòng, phát huy tiềm năng, thế mạnh, đã giành được những thành tựu về kinh tế, xã hội hết sức quan trọng, đem lại nhiều đổi thay trên quê hương Mai Sơn, tạo ra thế và lực mới, những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi sướng và lãnh đạo, đã được khẳng định về những thành tựu sau 25 năm thực hiện
Phía Bắc giáp huyện Mường La, thành phố Sơn La,phía Đông giáp huyện Yên Châu,huyện Bắc Yên ,Phía Tây giáp huyện Sông Mã, huyện Thuận Châu, phía Nam giáp huyện Sông Mã, tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Làovới chiều dài dường biên giới 6,4 km) Ranh giới chủ yếu là đồi núi, sông, khe suối,
Trang 12Huyện lỵ đóng tại thị trấn Hát Lót Từ thành phố Sơn La đến huyện lỵ đi theo đường Quốc lộ 6, dài khoảng 30 km Từ Hà Nội đến huyện lỵ có hai tuyến đường: Tuyến Quốc lộ 6 (đường 41 ngày xưa) dài khoảng 270 km, hướng về Hà Nội qua các huyện Yên Châu, Mộc Châu ; tuyến đường 113A (tức đường 13) đi qua huyện Bắc yên, Phù Yên sang tỉnh Yên Bái về Hà Nội dài khoảng 370 km
Tổng diện tích tự nhiên là 143.247,0 ha, (Lược đồ, phụ lục)
Địa hình Mai Sơn bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao, tạo thành nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau, Mai Sơn có cao nguyên Nà Sản trải dài theo quốc lộ 6, Nà Sản và các vùng phụ cận rất thuận lợi cho phát triển chăn nuôi và các loại cây công nghiệp
Độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 800 – 850m, với hai hệ thống núi chính là dãy núi Đông chính chạy dọc teo hướng Tây Bắc – Tây Nam, tạo ra nhiều tiểu vùng với các ưu thế khác nhau cho phép phát triển nền kinh tế đa dạng, khu vực
có nhiều núi cao, dốc bị chia cắt bởi các con sông, con suối lớn và các dãy núi cao, độ cao trung bình khu vực này là 1000m – 1200m so với mực nước biển, phân bố ở phía Đông Bắc và Tây Nam của huyện bao gồm các khu vực thuộc xã Tà Hộc, Chiềng Chăn, Phiêng Pằn, Nà Ớt, Phiêng Cằm, Chiêng Nơi, địa hình đồi núi có độ cao trung bình từ 500m – 700m, núi Chom Mai có đỉnh cao hơn 1.500 m so với mực nước biển,các dãy núi cao trung binh xen kẽ các phiêng bãi, lòng chảo, rất thuân lợi để phát triển nông nghiệp và xây dựng các khu công nghiệp, phân bố chủ yếu dọc trục quốc
lộ 6, xã Cò Nòi thị trấn Hát Lót, xã Hát Lót, xã Chiềng Mung, Nà Bó, Chiềng Sung
Có 6,4 km giáp huyện Xiềng Khọ - tỉnh Hủa Phăn nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, tại địa phận bản Đen và bản Pẻn thuộc xã Phiêng Pằn
Cao nguyên Nà Sản: Thuộc địa phận của xã Chiềng Mung, độ cao trung bình 750m so với mực nước biển, cao nguyên tương đối bằng phẳng, tầng đất mặt là tầng đất tích tụ các chất màu bị rửa trôi từ các dãy núi bao quanh cao nguyên, do đó đất ở đây rất màu mỡ, mặt khác khí hậu ở đây mạng tính chất chung của khí hậu vùng Tây Bắc, rất thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi Cao nguyên kéo dài theo đường Quốc lộ 6 và có cảng hàng không rất thuận lợi cho việc giao lưu và giao thương với các vùng trong huyện, trong tỉnh và với các tỉnh Miền Bắc
Tuy là huyện còn nhiều khó khăn, nhưng kể từ ngày đầu thực dân Pháp độc chiếm Sơn La cho đến khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, huyện Mai Sơn luôn được xác định là huyện có vị trí địa – chính trị và vị trí chiến lược trong
Trang 13khu vực phòng thủ hết sức quan trọng của tỉnh Sơn La nói riêng và của khu vực Tây Bắc nói chung
1.1.2 Khí hậu, thủy văn, sông ngòi
Huyện Mai Sơn mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền núi Tây Bắc, các khí hậu thời tiết đo được như sau: Nhiệt độ trung bình trong năm là 21 độ C, thường nóng nhiều vào tháng 4 đến tháng 8 tổng số giờ nắng là 1940h/năm, Lạnh nhiều vào tháng 11 kéo dài đến tháng 3 năm sau
Thường mưa nhiều vào tháng 5 đến tháng 9, tổng lượng mưa bình quân 1410mm/năm
- Độ ẩm không khí: Trung bình năm là 80,5%, Thấp nhất là 23,5%
- Nhiệt độ không khí: Trung bình: 22độ, Cao nhất: 38độ,thấp nhất: 0,5độ
- Nắng: Tổng số giờ nắng: 1935
- Mưa: Lượng mưa bình quân: 116.66 mm và số ngày mưa: 125 ngày
Là huyện thuộc vùng miền núi có hệ thống sông, suối khá phong phú, song phân
bố không đều Vùng địa hình bậc thang dốc đứng mật độ 0,72km/km2, phần lớn là các nhánh suối nhỏ và dốc Vùng địa hình bát úp, thấp thoải mật độ 0,52km/km2
, ngoài dòng sông Đà chảy qua huyện với chiều dài 24km, Mai Sơn còn có hệ thống suối thuộc lưu vực sông Đà và Sông Mã có 4 hệ thống sông suối chính: Nậm Quét, Nậm
Lẹ, Nậm Pàn và một số suối khác Lòng suối khe lạch diện tích hẹp, độ dốc lớn, mực nước so với bề mặt diện tích đất canh tác thấp hơn 10 – 15m gây nhiều khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
- Hồ, đập: (Bảng 1, phụ lục)
Nguồn nước tự nhiên cho sản xuất và đời sống: Chủ yếu là đập dâng trên các con suối để cung cấp nước tưới cho cây trồng Nước sinh hoạt của nhân dân chủ yếu được khai thác thông qua hệ thống cấp nước tự chảy, nước ngầm Nhìn chung nước sông, suối là nguồn nước chính dùng cho sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của nhân dân hiện nay
Trang 14Tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp đến 01 tháng 01 năm 2010 là 93.687,01 ha chiếm 65,40% so với tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện
Tổng diện tích đất lâm nghiệp đến 01 tháng 01 năm 2010 là: 56.379,6 ha chiếm 39,36% so với tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện
Tổng diện tích nhóm đất phi nông nghiệp của toàn huyệnđến 01 tháng 01 năm
2010 của toàn huyện đến 01 tháng 01 năm 2010 là: 5.367,65 ha chiếm 3,75% so với tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Được phân bố như sau:
Đất ở: Tổng diện tích toàn huyện là 825,96 ha chiếm 15,39% so với tổng số đất phi nông nghiệp Trong đó đất ở nông thôn: 769,3 ha chiếm 93,14% so với tổng diện tích đất ở được phân bố đều trên các xã trên địa bàn huyện; đất ở đô thị 56,66 ha chiếm chiếm 6,86% so với tổng số diện tích đất ở
Tổng diện tích đất chuyên dùng là đến ngày 01 tháng 01 năm 2010 là: 3.021,19
ha chiếm 56,28% so với tổng diện tích đất phi nông nghiệp
Đất phi nông nghiệp khác: có diện tích là 1,49 ha chiếm 0,14% so với tổng diện tích nhóm đất phi nông nghiệp
Đất chưa sử dụng: tổng diện tích nhóm đất chưa sử dụng là 44.192,34 ha chiếm 30,85% so với tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện, bao gồm đất đồi núi chưa sử dụng và đất núi đá không có rừng cây
Tiềm năng đất đai:Theo kết quả tổng hợp từ bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Sơn La, tài nguyên đất của huyện Mai Sơn có các loại đất chính sau:
Đất Feralit mùn đỏ vàng trên đá biến chất (FHj): bao gồm hầu hết ở vùng đồi núi, có màu vàng đỏ Với loại đất này thích hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp, cây
ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, loại đất này chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng quỹ đất với 43,50%
Đất phù sa ngòi suối (P'): phân bố chủ yếu ven các suối Nậm Pàn, Nậm Quét, Nậm Lẹ, loại đất này rất thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và các loại cây ăn quả
Có diện tích khoảng 2.541 ha, chiếm 1,80% tổng quỹ đất
Đất dốc tụ (Ld): phân bố chủ yếu ở các phiêng bãi bằng phẳng, loại đất này thích hợp cho việc trồng cây ăn quả, cây công nghiệp,…Có diện tích khoảng 9.526 ha, chiếm 6,67% tổng quỹ đất
Hầu hết các loại đất trên địa bàn huyện có độ dày tầng đất trung bình đến khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Các chất dinh dưỡng trong đất, như: Đạm,
Trang 15Lân, Kali, Canxi, Manhê… có hàm lượng trung bình Do đa phần đất đai nằm trên độ dốc lớn, độ che phủ của thảm thực vật thấp nên cần chú trọng các biện pháp bảo vệ đất, hạn chế rửa trôi, xói mòn làm nghèo dinh dưỡng đất
1.2 Đặc điểm dân cư lao động
Ngày 13 tháng 3 năm 1979, sáp nhập xã Mường Sai vào huyện Sông Mã; sáp nhập các xã Chiềng Sung và Mường Bằng của huyện Mường La vào huyện Mai Sơn.Tổng dân số toàn huyện theo số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 1999 toàn huyện Mai Sơn có hộ với nhân khẩu 118,1 (nghìn người) Trong đó nam 63,0 (nghìn
người), nữ 55,1 (nghìn người) [24]
Tổng dân số toàn huyện: Theo số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 2009 toàn huyện Mai Sơn có 31.113 hộ với 137.341 nhân khẩu Trong đó nam 69.227 người, nữ 68.114 người.[25]
Năm 2010: Tổng số có 31.271 hộ, 142.063 nhân khẩu Trong đó: Nam 12.707; nữ: 69.356 người.[25]
Năm 2011: Tổng số có 32.210 hộ, 145.470 nhân khẩu Trong đó: Nam 72.182,
nữ 73.288 người.[25]
Năm 2015: Tổng số có 154.001 nhân khẩu, 34.123 hộ Trong đó nam 78.132 người, nữ 75.869người [26]
Huyện Mai Sơn có nhiều dân tộc cộng cư sinh sống, trong đó 6 dân tộc chủ yếu
là người Thái (Việt Nam) chiếm 55,62%, người Kinh chiếm 30,53%, người Mông chiếm 7,42%, người Xinh Mun chiếm 3,23%, người Khơ Mú 2,49%, người Mường chiếm 0,65%
Bảng 2,3,4, phụ lục)
1.3 Tình hình kinh tế - xã hội từ thời kì đổi mới đến trước năm 2000
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Đảng bộ và nhân dân huyện Mai Sơn bước vào giai đoạn cách mạng mới: Xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện thuận lợi chung là đất nước thống nhất, nhân dân phấn khởi tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng
Mười năm (1976 – 1985),thực hiện 2 kế hoạch nhà nước 5 năm trong hoàn cảnh nhiều khó khăn, thách thức nhưng được sự quan tâm lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh, sự chỉ đạo sát sao của ban chấp hành Đảng bộ huyện, các cấp ủy Đảng nhân dân các dân tộc huyện Mai Sơn đã nêu cao tinh thần xây dựng đoàn kết, tích cực phấn đấu
Trang 16thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, giữ gìn an ninh, quốc phòng Đời sống của nhân dân các dân tộc cơ bản ổn định An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Nhiều mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêu về phát triển kinh tế, xã hội mà Đảng bộ đề ra đạt kết quả quan trọng, tạo cơ sở để trong các chặng đường tiếp theo tiếp tục phát huy Kết quả đó đã khẳng định bước trưởng thành, sự lớn mạnh của Đảng
bộ về năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị Song tròn mười năm ấy, sự lãnh đạo của Đảng bộ cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định: Trong cơ chế quan liêu bao cấp, hành chính hóa và thực hiện theo kế hoạch, chỉ tiêu của nhà nước giao việc chỉ đạo phát triển kinh tế còn nhiều lúng túng, nhất là để giải quyết đúng đắn quan hệ giữa lợi ích kinh tế trước mắt và lâu dài, giữa kinh tế tập thể và gia đình, giữa chăn nuôi và trồng trọt, giữa tích lũy và tiêu dùng xã hội Việc tổ chức lại sản xuất phân công lại lao động, việc phân vùng và các tiểu vùng kinh tế nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của địa phương chưa được tập trung nghiên cứu kỹ trên cả phương diện, lý luận và thực tiễn ở địa phương Vì vậy quá trình triển khai, thực hiện tổ chức sản xuất chưa đạt được như yêu cầu đề ra Vai trò tiên phong gương mẫu, trình độ năng lực của một số cán bộ, Đảng viên chưa thực sự ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới Do vậy để giải quyết những khó khăn đó Đảng ta tiếp tục thực hiện các kế hoạch nhà nước 5 năm (1986 – 1995) và (1996 – 2000), Đảng bộ và nhân dân huyện Mai Sơn đã đạt được những thành tựu nhất định trong lĩnh vực kinh tế - xã hội
1.3.1 Tình hình kinh tế
- Nông nhiệp
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Mai Sơn đã hoàn thành mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII với những thành tựu mới
Thực hiện 3 vụ/năm đối với diện tích có điều kiện, làm tăng diện tích theo mùa
vụ, vì vậy tuy không đạt 100% chỉ tiêu là 20.000 tấn lương thực như kế hoạch, song về
cơ bản vẫn đẩy mạnh và đa dạng hóa các loại cây trồng trong nông nghiệp, cây công nghiệp và cây màu, làm tăng sản phẩm lương thực và thực phẩm, góp phần khắc phục tình trạng thiếu lương thực trầm trọng những năm trước đó Riêng năm 1990, toàn huyện đã tích cực chỉ đạo sản xuất cây lương thực, tập trung vào các loại lúa, ngô, sắn, đại mạch và đậu đỗ các loại Diện tích lúa chiêm xuân đạt 360 ha, lúa mùa 1.500 ha, lúa nương 3.500 – 3.800 ha, ngô 2.000 ha, đại mạch làm thử 50 ha, đậu đỗ 800 ha
Trang 17Tổng sản lượng lương thực quy thóc 19.500 tấn, các cây này được sản xuất tập trung ở các vùng kinh tế mới Nà Sản, vùng lúa Nhiều biện pháp chỉ đạo và kỹ thuật được áp dụng là tập trung vào 24 hợp tác xã với 30% diện tích ruộng cao sản, trồng giống ngô mới có năng suất cao 70% diện tích, tăng cường thâm canh tăng
vụ, đưa việc sử dụng đất lên 1,1 vòng, đổi ngô hạt và các sản phẩm khác lấy gạo, tậm rụng khai hoang ruộng nước Do đó sản xuất lương thực cơ bản đạt kế hoạch
để ra bên cạnh cây lương thực và cây màu các loại, cây công nghiệp cũng được chú trọng, mỗi năm trồng được 60 ha chè, 100 ha Hương Nhu, 50 ha Trúc, 150 ha Trẩu Nhận thức được lợi ích lâu dài của rừng , Đảng bộ đã chỉ đạo nhân dân tích cực bảo
vệ vốn rừng và hưởng ứng tết trồng cây năm 1990 kết hợp tranh thủ vốn dự án nước ngoài khoanh nuôi bảo vệ rừng vượt 4.2%, trồng cây phân tán vượt 5% và trồng rừng phòng hộ sông Đà đạt 86%.[2,tr 104]
Sang giai đoạn (1996 – 2000) sau những chủ trương biện pháp của Đảng bộ huyện thì vùng cây công nghiệp và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, đã được doanh nghiệp và hộ gia đình đầu tư và phát triển dọc quốc lộ 6, chiếm 59% tổng diện tích gieo trồng trên toàn huyện, trong đó mía 3.088 ha, sản lượng đạt 100.000 tấn, cà phê 1.049 ha, sản lượng đạt 500 tấn nhân, cây chè 398,9 ha, sản lượng 1.776,7 tấn búp, cây quế trồng thí điểm được 30 ha, đậu tương 1.852 ha, sản lượng 3080 tấn, cây ăn quả 3.252 ha, sản lượng hơn 5.000 tấn quả.[2, tr 142]
Với biện pháp thâm canh tăng vụ đưa giống mới vào sản xuất, nên mặc dù giảm mạnh diện tích lúa nương và các loại cây lương thực trên đất dốc nhưng sản lượng lương thục tiếp tục tăng cao, bình quân trong 3 năm đạt 16,49%, tổng sản lượng lương thực, năm 1998 đạt 29.777 tấn quy thóc, vượt chỉ tiêu đại hội đề ra 4.777 tấn Lương thục bình quân đầu người từ 193,8kg (năm 1995) lên 288,7 (năm 1998) [2,tr143] Tỷ trọng lương thực hàng hóa (ngô hạt) ngày càng tăng, trở thành một trong những thế mạnh của địa phương
- Chăn nuôi
Chỉ tiêu kế hoạch đề ra trong đại hội lần thứ XIII đàn trâu 7.500 con, bò 17.000
con, lợn 25.000 con đàn gà công nghiệp tăng nhanh có 10.000 con [2, tr 105] việc
chăn nuôi gia súc gia cầm đã được chuyển từ chăn nuôi tập thể sang chăn nuôi hộ gia đình, do đó phát huy được tính tự chủ và năng động của nhân dân
Trang 18Sang giai đoạn (1996 – 2000), đàn gia súc, gia cầm, nuôi thả cá và nuôi ong được chú trọng phát triển Số lượng đầu con tăng đều qua các năm, đàn trâu 8.900 con (1996) lên 9.409 con (1998), lợn 30.200 con (năm 1996) lên 40.200 con (năm 1998), Sản lượng cá 150 tấn (1996) lên 498 tấn (năm 1998), dê 3.051 con (năm 1996) lên 3.200 con (năm 1998) Riêng đàn bò từ 17.200 con (năm 19960 xuống 14.035 con (năm 1998) Thực hiện chương trình Sin hóa đàn bò, qua 3 năm, số bò cái nền địa phương được lựa chọn để lai sin là 1.400 con và cho ra đời 638 bê lai sin.[2, tr 143]
- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Song song với sản xuất nông lâm nghiệp, Mai Sơn được tỉnh xác định là huyện
có ưu thế về phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Thực nhiện nghị quyết số
07 của tỉnh ủy, huyện đã chỉ đạo và cung cố lại các xí nghiệp, chuyển hướng cho phù họp với chủ trương và điều kiện kinh doanh mới, khuyến khích vùng nông thôn phát triển các nghành thủ công sản xuất vật liệu và nghề thủ công khác như: gạch, ngói, dệt,
tơ tằm, chế biến đường mía và chế biến thức ăn gia súc Nhiều lò gạch thủ công ra đời, nhân dân chủ động chế biến đường phên, xây lò chưng cất dầu Hương Nhu tại Nà Sản Bước sang giai đoạn (1996 – 2000) công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp từng bước được đổi mới về tổ chức, cơ chế quản lí, chính sách đầu tư dần phát huy hiệu quả trong việc thúc đẩy kinh tế của địa phương phát triển, tiêu biểu như nhà máy đường công suất 1.000 tấn mía cây/ngày và sản xuất phân vi sinh, nhà máy chế biến thức ăn gia súc, các lò sấy nông sản Giá trị sản xuất công nghiệp, tăng nhanh từ 9.268 triệu đồng (1995) lên 94.604 triệu đồng (1998), tốc độ bình quân trong 3 năm (1996 – 1998)
là 128,4%.[2,tr 144]
Các nguồn đầu tư phát triển trên địa bàn huyện tăng nhanh Trong 3 năm đạt 99.700 triệu đồng, trong đó nguồn vốn tập trung là 94.715 triệu đồng Nhiều công trình quan trọng đã phát huy hiệu quả, hệ thống giao thông được đầu tư nâng cấp, duy tu bảo dưỡng, mở mới công trình thủy lợi, trụ sở làm việc, trường học lớp học, cơ sở bệnh viện, trạm xá Hoạt động thương mại dịch vụ có chuyển biến tích cực, phục vụ tốt cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế có bước chuyển biến căn bản sang sản xuất hàng hóa
- Giao thông vận tải
Năm 1989 bên cạnh việc xây dựng và củng cố thủy lợi huyện Mai Sơn cũng đã chú trọng phát triển giao thông vận tải, tập trung mở các tuyến đường dân sinh nông
Trang 19thôn được sửa chữa thuận lợi hơn cho việc đi lại và giao lưu giữa nông thôn và thị trấn, mở đường ô tô đi Tà Hộc, hoàn thiện thông đường đi Phiêng Pằn, nâng cấp đường bản Dôm và xây dựng bến xe Hát Lót
- Tài chính
Năm 1990, cấp ủy, chính quyền đã chỉ đạo và thực hiện xây dựng ngân sách huyện, củng cố tổ chức hệ thống tài chính và quản lí ngân sách, hình thành kho bạc và chi cục thu, thành lập các đoàn thanh tra, thu hồi thuế công nợ, gắn chặt với cuộc vận động chống tham nhũng Thu thuế nông nghiệp vượt 38% kế hoạch, tổng chi ngân sách đạt 1,34 tỷ đồng Nghành ngân hàng thu đạt 112% số dư tiết kiệm lên 2,4 tỷ đồng, đầu tư tín dụng cho nông nghiệp quốc doanh 1 tỷ đồng, đầu tư cho thương nghiệp đạt 6%, song các hợp tác xã, vay tín dụng để sản xuất còn thấp [2, tr106] Nguồn vốn đầu
tư cho vay phát triển sản xuất từ 109 triệu (1991) đã tăng lên 2.753 triệu (1995) Thu hút nguồn vốn đầu tư của nước ngoài đạt 9.643 triệu đồng Từ nguồn vốn đầu tư của chính phủ và của tỉnh cũng như nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiêp nước ngoài được sử dụng hiệu quả đã tạo công ăn việc làm cho người lao động, mở rộng sản xuất Tổng thu ngân sách của toàn huyện tăng từ 1,38 tỷ (1991) lên 7,75 tỷ 9 1995) [2, tr125], góp phần to lớn vào việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và công tác xóa đói giảm nghèo
Trang 20Trong nhiệm kỳ XIV, Mai Sơn đã giải quyết công ăn việc làm cho trên 4.000 lao động thông qua việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng
- Giáo dục, văn hóa, y tế
Giáo dục:
sự nghiệp giáo dục được các cấp ủy Đảng, chính quyền chăm lo xây dựng Nghành giáo dục đã chủ động và nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập trong nhà trường Hệ thống giáo dục bổ túc, các lớp mẫu giáo được củng cố Năm học 1985 –
1986 toàn huyện có 40 trường học với 17.390 học sinh.Sắp xếp lại tổ chức biên chế cán bộ, quản lí và bồi dưỡng giáo viên, tiếp tục đầu tư xây dựng trường lớp ở các năm tiếp theo, bổ sung gần 100 bộ bàn ghế học sinh và xây dựng 77 phòng học mới ở xã Chiềng Ban, thị trấn Hát Lót và nông trường quốc doanh Tô Hiệu Số học sinh huy động đến trường chiếm 15% dân số, với tổng số 16.838 học sinh và 653 học viên dự học các lớp xóa mùa chữ.[2, tr107]
Tạo điều kiện ăn ở học tập tại trường, đặc biệt các con em dân tộc ít người được quan tâm, đã cuốn hút đông đảo học sinh vùng cao, vùng xa tới học tập, rèn luyện Tỷ
lệ học sinh đến trường từ 16.782 năm học 1990 – 1991 đã tăng lên 24.608 em năm học
2004 – 2005 Nghành giáo dục Mai Sơn tăng cương công tác xóa mù chữ và chống tái
mù chữ đã đem lại kết quả đáng trân trọng, toàn huyện có 4.203/6.261 người thoát mù chữ, đẩy mạnh đầu tư xây dựng và tạo nguồn cán bộ cho một số trường trọng điểm của huyện nhằm ươm mầm tài năng như trường THCS thị trấn, trường THPT Mai Sơn, đồng thời mở rộng trường bổ túc văn hóa, trường dân tộc nội trú của huyện nhằm tạo điều kiện cho con em các dân tộc thiểu số của huyện được theo học Nhờ có sự quan tâm đầu tư của huyện và các ban, nghành, giáo dục Mai Sơn đã có những thành tựu nổi
Trang 21bật: 2 em đạt giải ba và 4 em đạt giải khuyến khích các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia trên tổng số chín giải của cả tỉnh Điều này đã khích lệ thầy và trò các nghành giáo dục
Mai Sơn thi đua đẩy mạnh phong trào “Thầy dạy tốt, trò học tốt”
Tuy nhiên sự nghiệp giáo dục còn những yếu kém đáng lo ngại, cơ sở trường lớp thuộc các xã vùng cao, vùng xa xuống cấp chưa được đầu tư xây dựng, còn 34 bản vùng cao chưa có trường lớp cho con em học tập, tỷ lệ học sinh bỏ học còn cao, diện tái mù chữ ngày một tăng
Y tế:
Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố (14 trạm xá), đảm bảo thực hiện tốt chức năng theo dõi tình hình sức khỏe ở cơ sở Năm 1985, qua phân loại công tác vệ sinh phòng bệnh, có 9 xã khá, 9 xã trung bình và 3 xã yếu
Sang đến giao đoạn 1991 – 1995 cơ sở y tế được củng cố ở tất cả các xã, thị trấn Mai Sơn thực hiện hiệu quả chương trình y tế quốc gia, các loại dịch bệnh được ngăn chặn 50% trạm xã có điều kiện để hoạt động khá
Văn hóa:
Tăng cường giáo dục, tuyên truyền, thực hiện tăng cường quy ước xây dựng nếp sống văn hóa mới, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, các hủ tục lạc hậu tệ nạn cờ bạc, trộm cắp Đảm bảo vệ sinh nơi cư trú, đảm bảo ăn chín, uống sôi, đảm bảo nguồn nước sạch Xây dựng các mô hình văn hóa mới ở từng xã, thị trấn Mở mang phát triển
về nhiều mặt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, đội văn nghệ
ở các xã bản dần hình thành và phát triển
Truyền thống và bản sắc văn hoá tốt đẹp của đồng bào các dân tộc được gìn giữ
và phát huy; nhiều lễ hội truyền thống được phục dựng gắn với phát triển du lịch;
phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” phát triển cả về bề rộng và
chiều sâu; các thiết chế văn hoá, thể thao, sinh hoạt cộng đồng được đầu tư và phát huy hiệu quả tích cực Mức hưởng thụ văn hoá, tinh thần của nhân dân được cải thiện mạnh mẽ Sự nghiệp thể dục - thể thao tiếp tục phát triển, có những tiến bộ mới; cuộc
vận động “toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” phát triển sâu rộng
ở mọi địa bàn và đạt kết quả tốt
Tuy nhiên hoạt động văn hóa, thể dục thể thao của huyện thời gian nàychưa đồng đều ở các địa phương, việc xây dựng mô hình văn hóa ở nông thôn chuyển biến còn chậm, những tập tục cũ, lạc hậu chưa được ngăn chặn có hiệu quả
Trang 22Tiểu kết
Mai Sơn là một huyện miền núi có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế Đảng bộ và chính quyền các cấp trong huyện đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn tạo ra sự ổn định về kinh tế - xã hội và đạt được những thành tựu trong các lĩnh vực Đây là thời kỳ phát triển kinh tế gắn với cơ chế thị trường, chú trọng sản xuất hàng hóa.Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: Về kinh tế chuyển nhanh, chuyển mạnh nền kinh tế bao cấp sang phát triển hàng hóa, phá thế độc canh, tự cấp,
tự túc mang lại sự chuyển dịch tích cực, rõ nét về chuyển hướng sản xuất, thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, cơ cấu mùa vụ và đẩy mạnh các tiễn bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Trình độ dân trí vẫn còn thấp nhưng cũng ngày càng được khắc phục, nâng cao, đẩy mạnh xóa bỏ nạn mù chữ, nhiều cơ sở hạ tầng được xây dựng, nâng cao.Tuy nhiên do cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, sự chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền còn
có những hạn chế nên kinh tế - xã hội còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn
có của huyện Nền nông nghiệp mang tính chất manh mún, bao cấp, công cụ sản xuất lạc hậu, năng suất thấp Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mang tính chất nhỏ lẻ, sản xuất cầm chừng, chưa có thị trường xuất khẩu lớn Số người trong độ tuổi lao động không có việc làm chiếm tỷ lệ cao Giáo dục, y tế còn nhiều bất cập, trình độ dân trí ở
18 vùng sâu xa thấp, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân còn nhiều hạn chế, đội ngũ lao động có tay nghề kĩ thuật còn thiếu Những thách thức trên, đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Mai Sơn phải chủ động sáng tạo, đoàn kết, vận dụng linh hoạt đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, để nâng cao đời sống của nhân dân trong huyện, đưa Mai Sơn sớm trở thành một trong những vùng kinh tế phát triển chủ lực của tỉnh Sơn La
Trang 23CHƯƠNG 2:CHUYỂN BIẾN TRONG KINH TẾ HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA GIAI ĐOẠN 2000 – 2015
2.1 Sự chỉ đạo của Đảng và chính quyền giai đoạn 2000 - 2015
Công cuộc đổi mới đất nước đã trải qua gần 20 năm và thu được những thành tựu
to lớn, có ý nghĩa quan trọng về mọi mặt, tạo ra những tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nước giai đoạn tiếp theo Tuy nhiên, nước ta đang phải đối mặt với những thách thức lớn: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ về diễn biễn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch Vì vậy Đảng ta tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi sướng và lãnh đạo, trực tiếp là sự lãnh đạo của Đảng bộ để xây dựng Mai Sơn giàu mạnh tiến bước vững chắc trên con đường mà Đảng đã lựa chọn Đảng bộ và nhân dân Mai Sơn đã vượt quanhiều khó khăn để có được những thành tựu, chuyển biển lớn trên rất nhiều lĩnh vực
Để đưa huyện Mai Sơn phát triển kinh tế, xã hội theo con đường CNH – HĐH thì các cấp Đảng chính quyền tỉnh ủy, huyện ủy cũng như ở các địa phương đã đưa ra những chỉ thị, nghị quyết cụ thể để chỉ đạo nhân dân các dân tộc huyện Mai Sơn, cụ thể như sau:
Ngày 28 tháng 8 năm 2003 Ban Thường vụ tỉnh ủy Sơn La ban hành chỉ thị số
33-CT/TU về “Lãnh đạo một số nhiệm vụ cấp bách về quốc phòng an ninh về trật tự
an toàn xã hội”
Ngày 10 tháng 2 năm 2006 Ban Thường vụ tỉnh ủy ra nghị quyết số 03-NQ/TU
về công tác phát triển Đảng ở các bản, trường học, trạm y tế chưa có tổ chức Đảng và Đảng viên
Ban thường vụ tỉnh ủy ban hành kế hoạch số 87 –KH/TU ngày 30/04/2008 về việc sơ kết giữ nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứu XII, điều chỉnh, bổ sung một
số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong nửa nhiệm kỳ tiếp
Về văn hóa xã - xã hội, Tỉnh ta đã ban hành Nghị quyết 370 về hỗ trợ phát triển sản xuất, văn hóa, xã hội, y tế, an sinh xã hội và cơ sở vật chất hạ tầng
Ngày 14 tháng 12 năm 2014 HĐND tỉnh Sơn La ban hành Nghị quyết số94/2014/NQ-HĐNDvề mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2015
Trang 24Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Sơn La khóa XIII, kỳ họp thứ 9: 26/11/2003; luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND ngày 03/12/2004; xét tờ trình
số 254/TTR-UBND ngày 21/11/2014 của ubnd tỉnh sơn la về việc ban hành nghị quyết
về mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2015; báo cáo thẩm tra số 462/BC-HĐND ngày 30/11/2014 của ban kinh tế-ngân sách của hđnd tỉnh và tổng hợp ý kiến thảo luận tại kỳ họp,
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Chính phủvề những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Ngày 22 tháng 4 năm 2014 đã quyết định ban hành kế hoạch cải thiện môi trường kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Sơn La, với các nội dung chủ yếu sau: Kịp thời cụ thể hóa, triển khai thực hiện các cơ chế chính sách tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh; phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ trong đó tập trung vào hệ thống giao thông, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, thông tin trong các ngành, lĩnh vực; thực hiện đồng bộ các giải pháp
để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng điều hành kinh tế đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính , rút ngắn quy trình
xử lý, giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, giảm chi phí hành chính, đảm bảo công khai minh bạch và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước.Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh (PCI), phấn đấu đến năm 2015 đứng trong nhóm 25 tỉnh có chỉ số PCI xếp hạng cao nhất Trước mắt trong năm 2014 khắc phục và cải thiện những chỉ số thành phần còn thấp và giảm điểm trong năm
2013, phấn đấu xếp hạng trong nhóm các tỉnh có PCI ở mức khá
Ngày 4 tháng 6 năm 2014, UBND tỉnh Sơn La ban hành Nghị quyết số QĐ/UBND phê duyệt kế hoạchtriển khai thực hiện năm 2014 dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa chủ lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2011 – 2020”
1390-Bám sát chủ trương lãnh đạo của Trung ương Đảng, của Đảng bộ tỉnh Sơn La, Đại hội lần thứ XVI xác định rõ quan điểm chỉ đạo, định hướng mục tiêu phát triển là:
“Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác
Trang 25– Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tiếp tục dồn lực phát triển vùng động lực trước một bước, đồng thời xây dựng một số điểm động lực ở cả 3 vùng knh tế - xã hội; gắn phát triển kinh tế đô thị vớ phát triển kinh tế nông thôn, tạo bước đột phá mới mạnh
mẽ vững chắc, cho vùng khác cùng phát triển, thu hẹp dần khoảng cách giữa các tầng lớp dân cư, các vùng” (2, Tr154)
Để từng bước khắc phục có hiệu quả những nhược điểm nêu ra trong Đại hội lần thứ XVI, ngày 15 tháng 7 năm 2002, Ban Chấp hành Đảng bộ ban hành Nghị quyết số
24 –NQ/HU về “Phát triển rừng kinh tế”
Ngày14 tháng 5 năm 2008 Ban Thường vụ huyện ủy đã xây dựng và ban hành kế hoạch số 69-KH/HU về vệc sơ kết giữa nhiệm kỳ (2005 – 2010) , trên cơ sở đánh giá những thành tựu, tồn tại hạn chế trong tổ chức trển khai thực hiện nghị quyết Đại hội XVII trong hơn 2 năm qua và dự báo tình hình, Hội nghị đã thống nhất ra nghị quyết điều chỉnh, bổ sung một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế xã hội, công tác xây dựng Đảng trong nửa nhiệm kỳ tiếp theo
Ban Thường vụ huyện ủy ban hành kế hoạch số 115-KH/HU ngày 12 tháng 11 năm 2009 về tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ
XVIII Với chủ đề “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức mạnh chiến đấu của
Đảng bộ, phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng Mai Sơn trở thành huyện phát triển của tỉnh Sơn La”,(2, tr213)
Ngày 16 tháng 12 năm 2011, HĐND huyện Mai Sơn ban hành Nghị quyết số 17/2011/NQ-HĐND về việc phê chuẩn mục tiêu nhiệm vụ và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2012 với mục tiêu chung là: Phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững; đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; tiếp tục ổn định đời sống nhân dân cư thuỷ điện Sơn
La và tái định cư nội bộ Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, tăng cường công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao; cải thiện đời sống nhân dân đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm, đảm bảo an sinh
xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại và đề ra các chỉ tiêu cụ thể
5 năm qua (2010 - 2014), phong trào phát triển giao thông nông thôn của huyện Mai Sơn vừa phát huy được nguồn lực đầu tư của Nhà nước, vừa huy động được sự
Trang 26tham gia đóng góp tích cực của nhân dân Tổng kinh phí đầu tư cho xây dựng phát triển giao thông nông thôn lên tới gần 290 tỷ đồng Trong đó, ngân sách Trung ương 9
tỷ 635 triệu đồng; ngân sách địa phương 58,95 tỷ đồng; vốn ODA hơn 52,5 tỷ và vốn đóng góp của nhân dân trên 48 tỷ đồng 1.314 km đường các loại được cải tạo nâng cấp; 78 cầu các loại trên tuyến đường huyện, xã được xây dựng mới và sửa chữa Chỉ tính giai đoạn 2013 - 2014, thực hiện Nghị quyết 40 và 63 của HĐND tỉnh, toàn huyện
đã nâng cấp hơn 43 km đường, tổng mức đầu tư trên 50,6 tỷ đồng (huy động đóng góp của nhân dân được 34,2 tỷ đồng); thực hiện theo Nghị quyết 41 đã nâng cấp 16,3km với tổng mức kinh phí trên 9,3 tỷ đồng (nhân dân đóng góp gần 5,3 tỷ đồng) Bên cạnh
đó, Mai Sơn còn làm tốt công tác quản lý, bảo trì đường giao thông nông thôn, tập trung sửa chữa, nâng cấp cầu treo và tu sửa đường; toàn huyện đã tu sửa được trên 23,3km đường và làm 3 cầu treo với kinh phí của Nhà nước hỗ trợ hơn 1,5 tỷ đồng và nhân dân đóng góp gần 600 triệu đồng
Ngày 3 tháng 7 năm 2015, HĐND huyện Mai Sơn , ban hành Nghị quyết số 80/2015/NQ-HĐND, bổ sung nhiệm vụ trọng tâm và một số giải pháp chủ yếu thực hiện nhiệm vụ phát triển knh tế xã hôi, quốc phòng – an ninh 6 tháng cuối năm 2015
vớ các nội dung sau: Các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn tập trung khắc phục khó khăn, tiếp tục cụ thể hóa và quyết tâm thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu, các giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2015 mà HĐND huyện
đã quyết nghị tại Nghị quyết số 68/2014/NQ-HĐND ngày 18 tháng 12 năm 2014; đồng thời tập trung triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp cụ thể về các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng – an ninh, v.v
2.2 Chuyển biến trong cơ cấu kinh tế
Sau khi tiến hành công cuộc đổi mới cơcấu kinh tế toàn huyện đã có bước chuyểndịch quan trọng, đúng hướng, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đất nước trong xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi cơ cấu mùa vụ có chuyển biến quan trọng theo hướng sản xuất, hàng hóa, tạo vùng nguyên liệu tập trung, khối lượng sản phẩm nhiều, phục vụ tích cực cho công nghiệp chế biến trên địa bàn Vùng cây công nghiệp và cây ăn quả có giá trị kinh
tế cao đã được các doanh nghiệp và các hộ gia đình đầu tư và phát triển nhanh ở dọc trục quốc lộ 6 chiếm 59% tổng diện tích gieo trồng trên toàn huyện