Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến nghiên cứu thời gian sinh trưởng và phát triển của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 .... Đánh giá thời gi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
QUÀNG VĂN SƠN
SO SÁNH MỘT SỐ MẪU GIỐNG NGÔ NẾP BẢN ĐỊA VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM, TRONG VỤ HÈ - THU, NĂM 2017 TẠI XÃ BÓ MƯỜI, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
QUÀNG VĂN SƠN
SO SÁNH MỘT SỐ MẪU GIỐNG NGÔ NẾP BẢN ĐỊA VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM, TRONG VỤ HÈ - THU, NĂM 2017 TẠI XÃ BÓ MƯỜI, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Nông học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Khoa
SƠN LA, NĂM 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thiện bản báo cáo chuyên đề tốt nghiệp tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm, các thầy cô giáo trong khoa Nông Lâm Trường Đại học Tây Bắc, gia đình và bạn bè
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầygiáo TS Nguyễn Văn Khoa, Phó trưởng khoa Nông – Lâm, trường Đại Học Tây Bắc người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp của tôi Người đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho nhóm tôi những kiến thức bổ ích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành bản báo cáo này
Cháu xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các gia đình ông (bà): Quàng Văn Điện, Cầm Văn Niên, Lò Thị Dươi, Quàng Văn Hặc, Lò Văn Binh, Lừ Văn Hồi, Lừ Thị Sai
đã cung cấp nguồn giống ngô nếp bản địa quý báu và tận tình giúp đỡ cho cháu thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Bên cạnh đó tôi còn nhận được sự giúp đỡ của chính quyền và nhân dân xã
Bó Mười, huyện Thuận Châu, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trồng, chăm sóc, hướng dẫn kỹ thuật thực tế và thu thập số liệu thí nghiệm để hoàn thành chuyên đề này
Nhân dịp này tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân trong gia đình trong thời gian vừa qua đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Quàng Văn Sơn
Trang 410 CĐB/CC Chiều cao đóng bắp/ Chiềucao cây
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học 3
1.5 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Một số đặc điểm về cây ngô nếp 4
2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp trên thế giới và ở Việt Nam 5
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp trên thế giới 5
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp tại Việt Nam 7
2.3 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 14
2.3.1 Vị trí địa lý 14
2.3.2 Địa hình 14
2.3.3.Khí hậu, thủy văn 15
2.3.4 Kinh tế, xã hội 15
2.4 Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến nghiên cứu thời gian sinh trưởng và phát triển của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 16
PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1.Vật liệu nghiên cứu 18
3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 19
3.3.Nội dung nghiên cứu 19
3.4.Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
3.4.2 Quy trình tiến hành thí nghiệm 20
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 21
3.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 27
Trang 6PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Đánh giá thời gian sinh trưởng và phát triển của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 28 4.2 Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển thân của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 31 4.2.1 Động thái tăng trưởng chiều cao thân của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 31 4.2.2 Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 34 4.3.Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển bộ lá của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 37 4.3.1 Số lá của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong
vụ Hè – Thu, năm 2017 37 4.3.2 Tổng số lá và chỉ số diện tích lá của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 39 4.4 Đánh giá trạng thái cây và độ bao bắp của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 42 4.5 Đánh giá mức độ bị hại bởi các điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 43 4.5.1 Nghiên cứu khả năng chống đổ rễ, đổ gãy thân và chịu hạn của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 43 4.5.2 Nghiên cứu khả năng chống chịu sâu bệnh của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 45 4.6 Các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 48 4.7 Đánh giá khối lượng bắp, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 50
Trang 74.8 Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng nếm thử của các mẫu giống Ngô nếp
bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 53
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến nghiên cứu thời gian sinh trưởng
và phát triển của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong
vụ Hè – Thu, năm 2017 17 Bảng 4.1: Kết quả thời gian sinh trưởng của mẫu giống ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 29 Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều cao thân của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 33 Bảng 4.3: Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 36 Bảng 4.4: Số lá của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 38 Bảng 4.5: Tổng số lá và chỉ số diện tích lá của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 40 Bảng 4.6: Trạng thái cây và độ bao bắp của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 42 Bảng 4.7: Khả năng chống đổ rễ, đổ gãy thân và chịu hạn của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 44 Bảng 4.8: Khả năng chống chịu một số sâu bệnh hại chủ yếu của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 46 Bảng 4.9: Các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 49 Bảng 4.10: Khối lượng bắp, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, 51 năm 2017 51 Bảng 4.11: Một số chỉ tiêu chất lượng nếm thử của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 55
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 36 Hình 4.2: Biểu đồ Tổng số lá và chỉ số diện tích lá của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 41 Hình 4.3: Khối lượng bắp, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 52
Trang 10PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Mặc dù chỉ đứng thứ ba về diện tích (sau lúa nước và lúa mỳ), ngô đã có năng suất và sản lượng cao nhất trong các cây cốc Lượng ngô sử dụng làm thức ăn chăn nuôi chiếm (66%), nguyên liệu cho ngành công nghiệp (5%) và xuất khẩu trên 10% Với vai trò làm lương thực cho người (17% tổng sản lượng), ngô được sử dụng
để nuôi sống 1/3 dân số toàn cầu, trong đó các nước ở Trung Mỹ, Nam Mỹ và Châu Phi ngô được dùng làm lương thực chính [16]
Ngô nếp (Zea mays L.subsp Ceratina Kalesh), có nội nhũ chứa gần 100%
amylopectin là dạng tinh bột có cấu trúc mạch nhánh, ngô thường chỉ chứa 75% amylopectin số còn lại là amyloza Hạt ngô nếp khi nấu chín có độ dẻo, mùi vị thơm ngon Ngoài nhu cầu sử dụng ăn tươi thì tinh bột ngô nếp còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm Trong ngô nếp có hàm lượng tinh bột cao hơn so với các giống khác nên được sử dụng trong hỗn hợp làm bánh kẹo, hồ, và phục vụ cho một số ngành công nghiệp khác Hạt ngô nếp rất dễ tiêu hóa, nó có chứa một số acid amin quan trọng như: Triptophan, Lysin, Leusin, Tyrosin… Do vậy, ngô nếp thích hợp cho việc chế biến thức ăn dinh dưỡng, bột ngũ cốc cho trẻ em và người lớn [7]
Ở Việt Nam hiện nay, nhu cầu sử dụng các giống ngô thực phẩm, đặc biệt
là giống ngô nếp (Zea mays L.subsp Ceratina Kulesh) đang tăng lên rất nhanh
Ở nước ta, ngô nếp ước tính chiếm khoảng 12% diện tích ngô của cả nước Chủ yếu vẫn là các giống thụ phấn tự do (TPTD), các giống ngô nếp lai được sản xuất chưa nhiều, sảnlượng ngô nếp lai cũng đang ở mức rất khiêm tốn [5]
Sơn La là một trong những vùng trồng ngô có diện tích lớn nhất Miền núi phía Bắc với diện tích đầu năm 2016 là 71.860 ha (tổng cục thống kê Sơn La tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2016) Đối với tỉnh Sơn La ngô
là nguồn lương thực quan trọng cho đồng bào các dân tộc Mông, Thái ở vùng sâu vùng xa, vùng biên giới trong những mùa đói trong năm đặc biệt là ngô nếp Ngoài ra cây ngô còn là nguồn thức ăn cho chăn nuôi, là nguyên liệu cho sản
Trang 11xuất các loại thực phẩm như bánh, kẹo, thức uống như rượi cho nên việc sản xuất ngô ở Tỉnh chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp Với địa hình chia cắt mạnh tạo thành các tiểu khí hậu đặc trưng cho mỗi vùng, đa dạng
về thành phần dân tộc và tập quán canh tác ngô lâu đời… Sơn La là một trong những vùng đa dạng về giống ngô nếp bản địa với chất lượng dẻo thơm ngon đang được thị trường tiêu dung ưa chuộng trong chế biến và làm thực phẩm [19] Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của các loại giồng ngô nếp lai đã đang làm mất dần các loại giống bản địa này, chính vì vậy việc nghiên cứu, bảo tồn nguồn giống ngô nếp bản địa đang là vấn đề cấp thiết phải thực hiện
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài:”So sánh một số mẫu giống ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm
2017 tại xã Bó Mười, Huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La”
Trang 121.4 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô nếp địa phương phục vụ công tác nghiên cứu và học tập cho sinh viên ngành Nông học
Trang 13PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Một số đặc điểm về cây ngô nếp
Ngô nếp (Zea mays L.subsp Ceratina Kulesh) là một trong những loài phụ chính của loài Zea mays L Hạt ngô nếp nhìn bề ngoài tương tự như hạt ngô
đá, nhưng bề mặt bóng hơn Lớp ngoài cùng của mặt cắt nội nhũ không có lớp sừng như ở ngô tẻ, có tính chất quang học giống như lớp sáp Do vậy, ngô nếp còn có tên gọi khác là ngô sáp [17]
Ngô nếp là dạng ngô tẻ do biến đổi tinh bột mà thành Tinh bột của ngô nếp chứa gần như 100% amylopectintrong khi ngô thường chỉ chứa 75% amylopectin và 25% amyloza Amylopectin là dạng tinh bột có cấu trúc phân tử gluco phân nhánh dựa trên liên kết α 1-4 và α 1-6, ngược lại amyloza có cấu trúc phân tử gluco không phân nhánh trọng lượng phân tử của chúng từ 1 đến 3 triệu Khi cho tinh bột ngô nếp vào dung dịch KL thì nó chuyển thành màu cà phê đỏ, trong khi tinh bột của ngô thường chuyển thành màu xanh tím Đặc tính của ngô nếp được quy định bởi đơn gen lặn đó là gen wx Gen wx là gen lấn át gen khác để tạo thành tinh bột dạng nhỏ [27]
Theo Fergason, 1994 thì gen wx nằm ở locus 5S- 56 có biểu hiện của gen opaque, do vậy hạt ngô nếp cũng giàu lyzin, triptophan và protein [24]
Có giả thuyết cho rằng, ngô nếp có nguồn góc từ Đông Nam Á mà Trung Quốc, Miến Điện, Philipin là quê hương đầu tiên của nó Nhưng sau đó người ta thấy rằng đó là kết quả của một đọt biến thông thường của các giống ngô rang ngựa biểu hiện gen Wx và gắn với điều kiện trồng trọt không bình thường đột biến thành gen lặn wx, chúng có thể xuất hiện ở các vùng khác nhau của trái đất [6]
Theo James L Brewbaker: quá trình chọn lọc tự nhiên đã tạo ra những đột biến như Sugaryl (với phytoglycogen) ở dãy núi Andes và đông bắc nước Mỹ, đọt biến 2 là waxyl (tinh bột của hạt cỏ cấu tạo bởi amylopectin) ở châu Á với các giống được chọn lọc có vỏ mềm [25] Những giống ngô nếp lai và giống ngô nếp thường, với đặc điểm dẻo, thơm ngon rất thông dụng ở châu  như: Hàn Quốc, Philipin, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều quốc gia khác [17]
Trang 142.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp trên thế giới
Theo Tomob, để chọn giống ngô nếp người ta dung vật liệu ban đầu từ các giống ngô nếp địa phương của Trung Quốc, ngô nếp Cracnoda hoặc nguồn ngô nếp đọt biến tự nhiên hoặc đột biến nhân tạo như là donor Từ nguồn vật liệu chọn lọc ban đầu, thông qua tự phối và chọn lọc cá thể dựa vào nội nhũ nếp
và các đặc tính nông học học khác để tạo dòng nếp thuần Còn tạo các đồng đẳng ngô nếp từ các nguồn ngô thường thì người ta cho lai ngô nếp và ngô thường với nhausau đó tiến hành lai lại và kiểm tra bằng phân tích hạt phấn qua phản ứng với dung dịch KL Bằng các này người ta đã tạo ra khá nhiều dòng và ngô nếp lai mới, chúng được trồng cách ly với các loại ngô khác [17]
Ngô nếp được trồng nhiều nhất ở Mỹ, nhưng phần lớn diện tích được trồng ở miền trung Illino is và Indian, phía bắc của Iowa, phía nam của Minnesota và Nebraka [17] Diện tích ngô nếp của Mỹ hàng năm đạt khoảng 290.000 ha Hầu hết diện tích này được trồng là ngô nếp vàng, nhưng gần đây có một số diện tích nhỏ được trồng ngô nếp trắng Theo Alexander và Creech, mặc
dù đã trải qua một thời gian khá dài nhưng vẫn gặp rất nhiều vấn đề trong việc tạo các dòng ngô nếp thương mại [17] Ở bang Ohio việc chọn lọc giống lai của những dạng ngô đặc biệt phức tạp vì thiếu những dạng ngô làm đối chứng Cả 2 dạng giống lai có hàm lượng lizin cao và ngô nếp đã được dưa ra những năm qua nhưng không có số liệu về amyloza và dầu cao Tiềm năng năng suất hạt của những giống ngô nếp lai đặc biệt này nhìn chung là thấp hơn so với ngô tẻ Những giống nếp lai mới được báo cáo là có khả năng cạnh tranh hơn so với giống răng ngựa về năng suất Theo Thompson, năng suất của ngô có hàm lượng amyloza cao biến động tùy thuộc vào đất trồng, nhưng trung bình cũng đạt từ 65-75% so với ngô tẻ thường [17] Ngô nếp có thể cho năng suất thấp hơn ở điều kiện bất thuận Theo thông báo của trường Đại học Illiois, gần đây đã có môt số giống ngô nếp lai điển hình cho năng suất cao những giống ngô thông thường [23]
Trang 15Theo thông tin từ hội nghị ngô châu Á lần thứ 9 tại Bắc Kinh (tháng 9/ 2005), trung quốc đã tạo ra nhiều giống ngô nếp lai cho năng suất cao và chất lượng tốt Ví dụ: giống nếp lai đơn màu trắng JYF 101, cho năng suất trung bình
150 tạ bắp tươi/ ha; giống ngô nếp lai đơn màu tím Jingenou 218, năng suất khoảng 120 tạ bắp tươi/ha; giống ngô nếp trắng Jingenou năng suất trung bình trên 130 tạ bắp tươi/ha; giống ngô nếp lai đơn tím trắng Jingtianzihuanuo và giống ngô nếp trắng lai đơn Yahejin 2006, cho năng suất tới 200 tạ bắp tươi/ ha [22]
Theo Kyung – Joo Park, ở Hàn Quốc có một số tỉnh người ta trồng ngô nếp bán bắp tươi thu được 7925 USD/ha, sau đó trồng bắp cải, tổng thu nhập đến trên 16.228 USD/ha Nếu thu hoạch vào cuối tháng 6, bán được 0,39 USD/ bắp Còn vào giữa tháng 7 đến 0,47 USD/ bắp, còn những bắp chất lượng thấp người ta bán cho khách du lịch một túi 3 bắp với 1,18 USD/ túi Cũng theo Kyung – Joo Park tại tỉnh Chombuk có hợp tác xã đã xây dựng một kho lạnh bảo quản được 1,5 triệu bắp ngô tươi 1 năm [26]
Một số thực nghiệm ở Mỹ chỉ ra rằng, sử dụng ngô nếp trong chăn nuôi
bò sữa thì sản lượng sữa và chất béo tăng lên gấp 2 lần Nguyên nhân dẫn đến hiệu quả trên là do trong ngô nếp có chứa axit amin không thay thế như lxin và tryptophan cao khi dùng ngô nếp trong chăn nuôi làm tăng lượng sữa tiết ra Đối với cừu vỗ béo tăng gấp 20% trọng lượng trung bình ngày [17]
Ngô nếp được dùng vào mục đích khác nhau như ăn tươi, đóng hộp, chế biến tinh bột… Ở Mỹ và các nước đang phát triển phần lớn sản lượng ngô nếp được sử dụng để chế biến tinh bột Người ta chế biến tinh bột bằng cách xay ướt
để dùng trong công nghiệp chế biến thực phẩm, sữa ngô, kẹo dán, chất hồ dính, công nghiệp dệt, công nghiệp giấy, chế siro… Phạm vi sửu dụng tinh bột ngô nếp ngày một phát triển nhờ những tính chất đặc biệt của nó [25] Tại Mỹ ngô nếp ưu thế lai được trồng khoảng 700.000 mẫu Anh (1 mẫu = 0,4 ha) chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tinh bột dạng amylopectin thay thế cho sản phẩm này ở sắn, xuất khẩu, làm thuốc, chế biến nước hoa… [21]
Trang 162.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp tại Việt Nam
Các nghiên cứu về chọn giống
Cũng như tình trạng chung của thế giới, các nghiên cứu về ngô ở Việt Nam cũng tập trung chủ yếu về ngô tẻ Còn với ngô nếp hiện nay chỉ cố một số công trình được công bố, tuy nhiên các nghiên cứu về ngô nếp hiện nay đang dần được chú trọng và tập chung chủ yếu vào các nghiên cứu về giống lai
Theo các nghiên cứu phân loại ngô địa phương ở Việt Nam từ những năm
1960 cho thấy, ngô ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào 2 loại phụ chính là đá rắn
và nếp Ngô nếp được phân bố rộng khắp các vùng miền cả nước, với nhiều dạng mày hạt khác nhau: trắng, vàng, tím, nâu, đỏ… [16]
Năm 1989, các tác giả Ngô Hữu Tình và Nguyễn Thị Lưu đã chọn tạo thành công giống nếp trắng tổng hợp, được công nhận thành giống quốc gia năm
1989 Từ vốn gen gồm một tổng hợp các dòng thuần nếp trắng (làm nền) được
bổ sung thêm 12 nguồn gen của các ngô nếp địa phương và chọn lọc bằng phương pháp bắp trên hàng cải tiến Kết quả việc đưa thêm nguồn nguyên liệu mới vào nguồn nền nhằm làm tăng độ thích ứng nhưng không làm giảm năng suất của vốn gen Nền tổng hợp là giống nếp ngắn ngày, có thời gian sinh trưởng
vụ xuân 110 - 120 ngày, vụ hè 95 – 100 ngày, vụ đông 105 – 115 ngày, năng suất trung bình 25 – 30 tạ/ha, có khả năng thích ứng rộng và trồng phổ biến ở miền Bắc [16]
Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam dùng phương pháp chọn lọc chu kỳ từ tổ hợp lai giữa giống ngô nếp tổng hợp Glut – 22 và Glut – 41 nhập nội từ philipin để tạo ra giống nếp trằng S-2 Đây là giống ngô nếp ngắn ngày, vụ xuân 90 – 95 ngày, vụ hè 80 – 90 ngày, vụ đông 95 – 100 ngày, năng suất trung bình 20 – 25 tạ/ha, được công nhận năm 1989 [16]
Các tác giả Nguyễn Hữu Đồng, phạm Đức Trực, Nguyễn Văn Cương và các cộng sự ở Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam và Ngô Hữu Tình cùng các cộng sự ở Viện Nghiên cứu ngô đã nghiên cứu gây tạo đột biến bằng tia gramma kết hợp xử lý Diethylusphat ở ngô nếp đã thu được một số dòng biến dị
có các đặc tính nông học quý so với giống ban đầu [4]
Trang 17Năm 1997, các tác giả Nguyễn Thị Lâm và Trần Hồng Uy đã tiến hành phân loài phụ cho 72 giống ngô nếp địa phương Trong số 72 mẫu giống các tác giả nghiên cứu thuộc 3 biến chứng: nếp trắng 48 mẫu, nếp vàng 8 mẫu, nếp tím
16 mẫu Kết quả cho thấy, biến chứng nếp tím có thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, chiều cao đóng bắp và số lá lớn hơn cả [6]
Từ các giống ngô nếp ngắn ngày, năng suất khá, chất lượng tốt, có nguồn gốc khác nhau: Nếp Tây Ninh, Nếp Quảng Nam – Đà Nẵng, Nếp Thanh Sơn – Phú Thọ và nếp S – 2 từ Philipin, Ngô Xuần Hào và cộng sự đã chọn tạo thành công giống ngô nếp trắng VN2 và được công nhận là giống quốc gia năm 1997 Đây là giống nếp trắng ngắn ngày có thời gian sinh trưởng vụ Xuân 100 – 105 ngày, vụ hè 80 – 85 ngày Năng suất bình quân 30 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt năng suất 40 tạ/ha Ngô nếp VN2 cũng là giống có chất lượng dinh dưỡng cao Qua phân tích 43 giống ngô, trong đó có 24 giống ngô nếp tại Viện công nghệ sau thu hoạch cho thây, VN2 có hàm lượng protein rất cao trên 10%, đặc biệt là hàm lượng Lizin đến 4,86%, chỉ đứng sau 2 giống opaque là sữa Di An và sữa Phát Ngân VN2 là một trong những giống có khả năng thích ứng rộng được trồng nhiều vùng trong cả nước [17]
Theo điều tra của trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng trung ương trong 2 năm 2003 và 2004 diện tích trồng ngô nếp ở nước ta chiếm 10% tổng diện tích trồng ngô [9]
Năm 2004, Phạm Thị Rịnh và cộng sự ở Phòng nghiên cứu Ngô viện KHKTNN miền Nam đã tạo được giống ngô nếp dạng nú TPTD cải tiến từ N -1
từ 2 quần thể ngô nếp địa phương ở An Giang và Đồng Nai bằng phương pháp chọn lọc bắp trên hàng cải tiến, N -1 đã được công nhận giống quốc gia năm
2004 Đây là giống ngô nếp ngắn ngày ở phía Nam từ gieo đến thu bắp tươi là
60 – 65 ngày còn thu hạt khô là 83 – 85 ngày N – 1 có tiềm năng năng suất khá cao 40 – 50 tạ hạt khô/ha Cùng với giống N – 1, hiện nay các giống nếp dạng
nủ đang được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam và cả các tỉnh phía Bắc [12]
Theo Phạm Quang Triều, năm 2008 ở Viện nghiên cứu ngô đã thu thập và lưu giữ được 148 mẫu ngô nếp địa phương trong đó có: 111 nguồn ngô nếp
Trang 18trắng, 15 nguồn nếp vàng, và 22 nguồn nếp tím, nâu, đỏ Cũng trong những năm gần đây, các nhà tạo giống Việt Nam đã bắt đầu chuyển hướng tạo giống nếp lai
và đã tạo được một vài giống nếp lai không quy ước có triển vọng như giống lai MX2, MX4 của công ty cổ phầm giống cây trồng Miền Nam, Bạch Ngọc của công ty Lương Nông Từ vài năm nay, một số giống ngô nếp lai quy ước từ nước ngoài cũng đã được trồng ở Việt Nam, chủ yếu là các tỉnh phía Nam Nguồn giống nếp lai này chủ yếu là từ Đài Loan, Thái Lan, thông qua một số công ty giống như Nông Hữu, Thần Nông, Lương Nông, Trang Nông, Long Hoàng Gia, An Điền… Có điều những giống từ các công ty này bán ra với giá rất cao Chẳng hạn giống lai đơn của công ty Đông tây có giá bán là 140.000đ/kg, giống Wax – 44 của Syngenta Thái Lan là 160.000đ/kg [17]
Theo Nguyễn Thị Yến, 2007 khi so sánh một số tổ hợp ngô nếp lai N2 x N7, N2 x N10, N2 x N11, N2 x N12, N7 x N10, N7 x N11, N7 x N12, N10 x N11, N10 x N12, N11 x N12 của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, ở vụ đông và các tổ hợp lai HN1 x HN6, HN6 x HN17, HN6 x HN8, của Viện nghiên cứu ngô; N7 x N11, N7 x N12, N12 x N11 của Đại học Nông nghiệp Hà Nội; MX2 của công ty GCT miền Nam tại Gia Lâm – Hà Nội Kết quả cho thấy: tại
vụ đông, thời gian sinh trưởng của các THL tham gia thí nghiệm thuộc nhóm chín sớm và chín trung bình là từ 103 – 107 ngày Chiều cao đóng bắp của các THL N2 x N12, N7 x N10, N7 x N12, N10 x N11 rất hợp lý, một số THL có thế cây đẹp là N2 x N7, N2 x N11, N2 x N12, N7 x N11, N7 x N12 Năng suất các
tổ hợp laidao động từ 26,0 tạ/ha – 42,2 tạ/ha Có 3 THL có năng suất thực thu sai khác có ý nghĩa so với đối chứng VN2 ở độ tin cậy P = 95% là N2 x N7 (40,2 tạ/ha) và N7 x N12 (42,2 tạ/ha) Các giống có chất lượng tương đối tốt là: N2 x N7, N7 x N12, N10 x N11 Ở vụ xuân, thời gian sinh trưởng trung bình của các THL là 105 – 110 ngày, chiều cao cây dao trong khoảng 180,3 – 219,4
cm Có 3 THL có năng suất thực thu sai khác có ý nghĩa so với đối chứng MX2
ở độ tin cậy P = 95% là: HN1 x HN6 (38,0 tạ/ha), HN6 x HN8 (48,8 tạ/ha) và N7 x N12 (44,0 tạ/ha) Đánh giá về chất lượng các THL HN6 x HN8, HN1 x HN6, N7 x N12, là các THL có chất lượng tương đối tốt [21]
Trang 19Theo Phạm Quang Triều, năm 2008 khi ông nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số giống ngô lai nếp ngắn ngày như: VN2, NL – 1, NL- 2, NL – 4, NL – 6, NL – 7, NL – 8, LSB4 của Viện nghiên cứu ngô và giống MX – 10 của Công ty GCT miền Nam, tại tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả cho thấy: thời gian sinh trưởng của các giống tham gia thí nghiệm dao động
từ 95 – 103 ngày ở vụ xuân và 99 – 109 ngày ở vụ động, các giống đều có khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ gãy từ tốt đến khá, trong đó giống LN –
1 và giống NL – 2 có khả năng chống chịu tốt tương đương với đối chứng Năng suất giống NL – 1 và NL – 2 đều cho năng suất cao hơn giống đối chứng VN2
từ 5,9 – 7,6 tạ/ha và cũng là 2 giống có chất lượng nổi trội so với các giống khác
về độ dẻo hương, hương thơm, vị đậm, hàm lượn protein đạt từ 8,19 – 8, 87%, các giống còn lại có hàm lượng tương đương với đối chứng VN2 [17]
Theo Huỳnh Nhật Vũ, 2011, khi khảo sát sự sinh trưởng - phát triển, năng suất của 7 giống bắp nếp Nù ĐP (đối chứng), MX6, Nù58, TN177, MX10, PN-
100, SD268 trong vụ xuân năm 2011 tại huyện Phù Mỹ - tỉnh Bình Định, tác giả nhận thấy, các giống bắp nếp thí nghiệm thuộc nhóm ngắn ngày (81 – 85 NSG), hai giống có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là giống SD268 (81 ngày) và MX10 (82 ngày) Các giống có sức sinh trưởng khá tốt, khả năng chống đổ ngã của các giống trong vụ xuân đều tốt Năng suất thực thu bắp tươi có lá bi của các giống thí nghiệm biến động từ 9,7 – 13,0 tấn/ha Năng suất thực thu bắp tươi không có lá bi của các giống thí nghiệm biến động từ 6,2 – 8,2 tấn/ha Năng suất thực thu hạt khô của các giống thí nghiệm biến động từ 4,0 – 5,9 tấn/ha và sự khác biệt của các giống có ý nghĩa trong thống kê, trong đó giống MX10 có năng suất cao nhất 5,9 tấn/ha Giống có phẩm chất hạt ngon nhất là giống MX10
kế đến là giống SD268, MX6 Giống Nù ĐP (ĐC) và giống PN-100 có phẩm chất kém nhất [20]
Theo Phạm Quang Tuân và các cộng sự, 2015, khi nghiên cứu đánh giá khả năng kết hợp một số tính trạng chất lượng của các dòng ngô nếp tự phối, đã kết luận: Sáu dòng ngô tự phối và 15 tổ hợp lai sinh trưởng, phát triển tốt trong
vụ Xuân 2014 có các đặc điểm nông học phù hợp, thời gian sinh trưởng từ 98 -
Trang 20104 ngày, thuộc nhóm ngô nếp chín sớm Bốn dòng D1, D2, D5, D6 và ba tổ hợp lai THL2, THL9 và THL11 có chất lượng cảm quan tốt nhất, vỏ hạt mỏng, hàm lượng các chất dinh dưỡng phù hợp Sáu dòng có năng suất đạt mức khá, THL2 có năng suất bắp tươi đạt 125,2 tạ/ha (cao hơn đối chứng), bảy tổ hợp lai
có năng suất bắp tươi tương đương đối chứng là THL1, THL2, THL4, THL8, THL9, THL14 và THL15 Bốn dòng có KNKH chung về năng suất bắp tươi là D1, D2, D5, D6, 5 dòng có khả năng kết hợp riêng là D1, D2, D3, D4 và D6 Kết quả phân tích khả năng kết hợp về các tính trạng chất lượng xác định 5 dòng
có khả năng kết hợp về tính trạng vỏ hạt mỏng là D1, D2, D3, D5 và D6; 3 dòng
có khả năng kết hợp chung về hàm lượng protein và đường là D1, D2 và D3; 2 dòng có KNKH chung về hàm lượng tinh bột là D4 và D5; 2 dòng có KNKH chung về hàm lượng xơ thô là D1 và D6, 2 dòng có KNKH chung về hàm lượng dầu là D1 và D4 Kết quả phân tích khả năng kết hợp về năng suất bắp tươi và các tính trạng chất lượng đã xác định các dòng ưu tú nhất là D1, D2, D5, D6, phù hợp sử dụng cho chương trình chọn giống ngô nếp lai chất lượng cao và 3 tổ hợp lai triển vọng là THL2, THL9 và THL11 [18]
Từ năm 2011 đến năm 2013, Phạm Văn Ngọc, Nguyễn Thị Bích Chi, La Đức Vực, khi tiến hành lai tạo, chọn lọc các tổ hợp lai đã chọn tạo được một số dòng ngô nếp triển vọng, có độ thuần cao, khả năng kết hợp cao và có một số đặc điểm nông học tốt, đa dạng về mặt di truyền, phân thành nhiều nhóm ưu thế lai, xác định được các dòng ngô nếp có khả năng kết hợp chung cao là: NN31; IL1; MX2 và MX3, Xác định được 6 tổ hợp lai cho năng suất bắp tươi đạt trên
12 tấn/ha, các tổ hợp lai có thời gian sinh trưởng 76- 79 ngày tương đương với đối chứng MX10 và Tím dẻo 926; Các tổ hợp lai này đều có hương vị thơm ngon và độ dẻo tương đương đối chứng MX10 Các tổ hợp lai đạt năng suất cao
là VK4; VK6; VK 8; VK10; VK11 và VK14 [7]
Các nghiên cứu về kỹ thuật canh tác
Theo Phạm Văn Ba, 2009, khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của các mức độ phân bón đến sự sinh trưởng phát triển của một số giống ngô nếp: NL6 lai đơn của Viện nghiên cứu ngô và MX4 lai đơn quy ước của Công ty GCT miền Nam,
Trang 21ở 3 mức bón phân khác nhau cho thấy: các giống ngô nếp lai tham thí nghiệm đều có khả năng sinh trưởng tốt, khả năng sinh trưởng tốt, thời gian sinh trưởng ngắn từ gieo đến thu hoạch hạt khô là 98-104 ngày, thời gian tung phấn đến phun râu nhỏ là, chỉ từ 2 – 4 ngày Chiều cao của các giống từ 196,1 đến 211,8
cm, giống NL6 cao hơn giống MX4 ở các mức phân bón tương ứng mức phân bón tăng thì chiều cao cây cũng tăng Ở mức phân bón 140kg N + 90kg P2O5 + 80kg K2O thì cả 2 giống đều cho năng suất cao nhất [1]
Theo Lê Thị Kiều Oanh, và các cộng sự, 2014 khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống ngô nếp lai HN88 vụ Xuân 2014 tại Thái Nguyên, các tác giả kết luận: Thời gian sinh trưởng của giống ngô nếp lai HN88 biến động không nhiều (103 - 106 ngày) Các công thức phân bón khác nhau không ảnh hưởng nhiều đến đặc điểm hình thái (chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá) của giống ngô nếp HN88 Vụ Xuân 2014 xuất hiện 3 loại sâu bệnh hại chính là sâu đục thân, sâu cắn râu, bệnh khô vằn Mức độ nhiễm sâu, bệnh có xu hướng tăng nhẹ theo lượng phân bón Năng suất bắp tươi của giống ngô nếp HN88 ở các công thức phân bón biến động từ 7,08 – 9,21 tấn/ha Công thức 4 (140 N + 80 P2O5 + 90
K2O /ha) cho năng suất bắp tươi cao nhất và năng suất giảm dần ở các mức bón cao hơn hoặc thấp hơn công thức này Năng suất hạt khô đạt cao nhất ở công thức 4 (140 N + 80 P2O5 + 90 K2O/ha) - 37,8 tạ/ha Hiệu quả kinh tế cao nhất ở công thức 4 (140 N + 80 P2O5 + 90 K2O/ha) đạt lãi thuần 176.936.100 đồng/ha Chất lượng thử nếm tốt nhất ở CT 5: 150 N + 90 P2O5 + 100 K2O và CT 6: 160
N + 100 P2O5 + 110 K2O đánh giá mức điểm 1, các công thức còn lại đánh giá chất lượng mức điểm 2 và 3 [8]
Theo Trần Trung Kiên và các cộng sự, 2014 khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và khoảng cách trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống ngô nếp lai HN88 vụ Xuân 2014 tại Thái Nguyên, tác giả khẳng định: Thời gian sinh trưởng của giống ngô nếp lai HN88 qua các mật độ khoảng cách biến động từ 105 - 107 ngày Như vậy, mật độ khoảng cách trồng khác nhau không ảnh hưởng tới thời gian sinh trưởng của giống ngô nếp lai HN88
Trang 22Khoảng cách mật độ khác nhau không ảnh hưởng nhiều đến hình thái (chiều cao cây, chiều cao đóng bắp và số lá trên cây) của giống ngô nếp lai HN88 Tất cả các mật độ đều bị sâu bệnh hại, trong đó công thức 1 (50 cm x 30 cm; 6,7 vạn cây/ha) và công thức 4 (60 cm x 25 cm; 6,7 vạn cây/ha) có tỷ lệ nhiễm sâu bệnh nhẹ nhất và khả năng chống đổ tốt nhất Năng suất lý thuy ết của giống ngô nếp lai HN88 qua các mật độ khoảng cách biến động từ 49,6 – 78,2 tạ/ha Trong đó, công thức 1 và công thức 4 đạt năng suất cao nhất lần lượt là 78,2 tạ/ha; 67,1 tạ/ha cao hơn so vói công thức đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95% Các công thức còn lại tương đương với đối chứng Năng suất thực thu của giống ngô nếp lai HN88 qua các mật độ khoảng cách biến động từ 27,9- 32,5 tạ/ha Trong
đó, công thức 1 và công thức 4 đạt năng suất cao nhất lần lượt là 32,5 tạ/ha; 30,8 tạ/ha cao hơn so với công thức đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95% Về chất lượng nếm thử: Công thức 1 có chất lượng thử nếm tốt nhất, tiếp theo là công thức 4 [5]
Năm 2015, khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sinh trưởng phát triển của giống ngô nếp lai MX10 trên đất cát ven biển huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị Bích Thủy nhận thấy: Đạm là yếu tố dinh dưỡng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây ngô Ảnh hưởng đến chiều cao cây dao động trong khoảng 151,91 - 187,11cm, nhưng đạm lại không làm thay đổi sốl á/cây Bón đạm có ảnh hưởng đến sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh Công thức có bón đạm với liều lượng cao 180kg N/ha mang tỷ lệ sâu đục thân, đục bắp cao nhất Năng suất ngô tăng tỷ lệ thuận với côngt hức bón đạm đến một chừng mực nào đó, nếu vượt quá 160 N sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
tỷ lệ bắp thương phẩm và tỷ lệ phi thương phẩm sẽ tăng lên Lợi nhuận thu được
ở các công thức bón đạm khác nhau là khác nhau, dao động từ 1,8-2 ,6 triệu/sào [14]
Tình hình sử dụng ngô nếp tại Việt Nam và Sơn La
Tại Việt Nam, ở các vùng cao, vùng sâu vùng xa, ngô nếp được sử dụng làm lương thực chính, dưới dạng xôi ngô hoặc dưới dạng nướng hoặc luộc, còn
ở các địa phương khác trong cả nước ngô nếp được xem như là loại thực phẩm
Trang 23ăn quà và chế biến đơn giản Những năm gần đây cây ngô nếp là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao vừa có thể làm lương thực, làm quà do vậy taị nhiều vùng sản xuất ngô được ưu tiên phát triển cùng với ngô rau, ngô ngọt Thực tế cho thấy các loại ngô nếp, ngô thực phẩm là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, có thể trồng gối vụ, rải vụ và không chịu á lực của thời vụ, hiệu quả cao và nhu cầu của xã hội còn nhiều Diện tích trồng ngô nếp không ngừng tăng trong thời gian qua đặc biệt là vùng đồng bằng ven đô thị Nguyên nhân chính là
do các giống ngô nếp đáp ứng được nhu cầu luân canh tăng vụ trong cơ cấu nông nghiệp hiện nay, nhưng quan trọng hơn là nhu cầu của xã hội ngày càng tăng về sản phẩm này Hiện nay ngô nếp được trồng ở tất cả vùng trồng ngô ở Việt Nam [21]
Ở Sơn La song song với sự phát triển của các giống ngô tẻ, hiện nay diện tích trồng ngô nếp đang dần tăng lên đáp ứng nhu cầu làm thực phẩm, thức ăn quà của con người Đặc biệt với truyền thống canh tác lâu đời, sự đa dạng về thành phần dân tộc với kinh nghiệm canh tác, địa hình chia cắt tạo thành các vũng tiểu khí hậu đặc trưng đã giúp cho Sơn La trở thành một nơi lưu giữ các nguồn gen cây trồng nói chung và các giống ngô bản địa (đặc biệt là ngô nếp) đa dạng và phong phú chưa được nghiên cứu và khai thác triệt để
2.3 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
2.3.1 Vị trí địa lý
Bó Mười xã vùng II của huyện Thuận Châu, xã cách Trung tâm huyện Thuận Châu 21 km Tổng diện tích tự nhiên của toàn xã là 6.230 ha:
Tọa độ: 21°27′48″B 103°49′25″Đ
Phía Đông giáp xã Mường Bú huyện Mường La
Phía Tây giáp xã Tông Cọ
Phía Bắc và Tây Bắc giáp xã Chiềng Ngàm và xã Mường Khiêng
Phiá Nam giáp xã Chiềng Đen và xã Chiềng Xôm, thành phố Sơn La [2]
2.3.2 Địa hình
Xã Bó Mười nằm trong vùng địa hình phân hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi thung lũng lòng chảo Diện tích đất canh tác
Trang 24nhỏ hẹp, thế đất dốc dưới 250 m chiếm tỉ lệ thấp.Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp [2]
2.3.3 Khí hậu, thủy văn
Khí hậu chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng ẩm,
mưa nhiều; mùa đông khô lạnh, ít mưa
Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9.Lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 7, 8, 9.Do địa hình nghiêng dốc, nên vào các tháng này thường có lũlụt, đất bị rửa trôi mạnh, bạc màu nhanh
Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cộng với gió Tây khô nóng gây thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế đặc biệt sản xuất nông - lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn
Nhiệt độ không khí: Trung bình 220C Cao nhất 370C.Thấp nhất 20
C
Độ ẩm không khí: Trung bình: 81% Thấp nhất: 25%
Nắng: Tổng số giờ nắng là 1885 giờ
Lượng bốc hơi bình quân 800 mm/năm
Mưa: Lượng mưa bình quân: 1.299 mm/năm, số ngày mưa: 137 ngày Gió thịnh hành theo 2 hướng gió chính: gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; gió tây nam từ tháng 3 đến tháng 9 Từ tháng 3 đến tháng 4 còn chịu ảnh hưởng của gió Tây (nóng và khô).Một số khu vực của xã còn bị ảnh hưởng của sương muối từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau [2]
2.3.4 Kinh tế, xã hội
Bó Mười là một xã có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, trong đó việc sản xuất cây lương thực đặc biệt là cây ngô đang chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế, đặc biệt sản xuất ngô nếp theo hướng hàng hóa đang ngày càng được chú trọng và phát triển
Về tình hình an ninh chính trị: xã Bó mười là một xã có tình hình chính trị
xã hội ổn định
Kết luận: Với vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên khí hâu thủy văn, địa chất thuận lợi phù hợp cho phát triển nông nghiệp và tình hình kinh tế, xã hội ngày càng được nâng cao một lần nữa khẳng đinh đề tài: “So sánh một số giống ngô
Trang 25nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017, tại xã Bó Mười, Huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ” là hoàn toàn đúng đắn
2.4 Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến nghiên cứu thời gian sinh trưởng và phát triển của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017
Bên cạnh yếu tố hạt giống, các yếu tố khí hậu là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến sự sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng nông sản của cây trồng Trong đó có các yếu tớ cơ bản của khí hậu như nhiệt độ, mưa, độ ẩm không khí… từ quá trình tham khảo số liệu của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Sơn La chúng tôi thu được bảng số liệu về nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm không khí trong thời gian thực hiện thí nghiệm, được thể hiện trong bảng 2.1 như sau:
Ngô là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới thường được trồng nhiều ở các vùng khí hậu ấm hư vùng nhiệt đới hoặc khí hậu ôn đới… nhiệt độ thấp hay cao đều có ảnh hưởng đến qáu trình sinh trưởng và phát triển của cây ngô đặc biệt cây ngô ở thời kỳ trỗ cờ rất mẫn cảm với nhiệt độ cao Nhiệt độ thích hợp cho quá trình trổ bông là 18 – 20 oC Từ bảng 4.1 ta nhận thấy nhiệt độ trung bình trong thời gian thực hiện thí nghiệm tương đối ổn định dao động từ 25,07 đến 26,17 oC Nhiệt độ tối thấp trong tháng là 21oC, nhiệt độ tối cao trong tháng là
35oC Đây là khoảng nhiệt độ thuận lợi cho cây ngô phát triển thuận lợi từ khi quá trình gieo đến thu hoạch
Nước là yếu tố đóng vai trò quan trọng đối với đời sống thực vật, với cây ngô nước có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng thân lá và quá trình ra hoa thụ phấn thụ tinh và phát triển của bắp ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng của bắp ngô, trung bình trong một chu kỳ sống của một cây ngô cần khoảng 100 lít nước, 1 ha ngô cần 3000 – 4000 m3 nước Đối với vùng Tây Bắc Việt Nam việc canh tác ngô chủ yếu dựa vào nước trời do đó lượng mưa đóng vai trò quan trong đối với sự sinh trưởng phát triển của cây ngô Ở các thời kỳ sinh trưởng khác nhau, nhu cầu về nước ở cây ngô cũng khác nhau trong đó nhu cầu về nước của cây ngô tăng dần từ khi gieo trồng đến lúc trỗ cơ, và từ sau thời
Trang 26kỳ chín sữa nhu cầu về nước trên cây giảm dần Từ bảng 2.1 chúng tôi nhận thấy tổng lượng mưa tại Sơn La trong quá trình thực hiên thí nghiệm dao động từ 105 đến 309 mm trong đó lượng mưa tăng dần từ tháng 6 đến tháng 8, đây là một nhân tố quan trọng và phù hợp với sự phát triển của cây ngô thí nghiệm khi nhu cầu về nước của cây ngô tăng lên Từ tháng 8 – 9 số ngày mưa và lượng mưa cũng giảm dần lúc này nhu cầu về nước của cây ngô cũng giảm
Bảng 2.1: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến nghiên cứu thời gian sinh trưởng và phát triển của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt
Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017
Nhiệt độ trung
Tổng lượng mưa (mm)
Số ngày mưa (ngày)
Độ ẩm trung bình (%)
Độ ẩm thấp nhất (%)
(Nguồn số liệu từ Đài khí tượng thủy văn tỉnh Sơn La năm 2017)
Ẩm độ không khí: ẩm độ không khí ảnh hưởng đến quá trình thoát hơi nước ở lá, ẩm độ càng cao thì quá trình mất nước của cây ngô càng giảm và ngược lại ẩm độ không khí càng thấp thì quá trình mất nước của ngô càng tăng
Từ bảng 2.1 chúng tôi nhận thấy ẩm độ không khí trong thời gian thực hiên nghiên cứu tương đối cao trung bình dao động 78,33 đến 84,65 % Trong đó ẩm
độ không khí cũng tăng dần từ tháng 6 đến tháng 8 cũng là lúc cây cần nhiều nước và hạn chế sự thoát nước
Trang 27PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu
Mẫu giống 1 BM – TC
Gia đình ông Quàng Văn Điện, bản Mười, xã Bó Mười, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Ngô nếp trắng
Gia đình ông Cầm Văn Niên, bản Nam, xã Chiềng Chung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Ngô nếp tím bắp
bé
Mẫu giống 3 CC2 - MS
Gia đình ông Cầm Văn Niên, bản Nam, xã Chiềng Chung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Ngô nếp tím bắp
lớn
Mẫu giống 4 CC3 - MS
Gia đình bà Lò Thị Dươi bản May, xã Chiềng Chung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Ngô nếp trắng
Mẫu giống 5 CP1 – TC
Gia đình ông Quàng Văn Hặc, bản Ngà, xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Ngô nếp trắng
Trang 28Mẫu giống 6 CP2 – TC
Gia đình ông Lò Văn Binh, bản Tạm Phát, xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Ngô nếp tím
Mẫu giống 7 TN1 – YC
Gia đình ông Lừ Văn Hồi, bản Cốc Đứa, xã Tố Nang, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La
Ngô nếp tím
Mẫu giống 8 TN2 – YC
Gia đình bà Lừ Thị Sai, bản Cốc Đứa, xã Tố Nang, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La
Ngô nếp trắng
3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: gieo ngô từ ngày 15/06/2017
Địa điểm nghiên cứu: tại bản Mười, xã Bó Mười, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Đặc điểm đất trồng: là đất dốc có độ nghiêng khoảng 10 độ, vụ trước trồng ngô
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thời gian sinh trưởng, đánh giá đặc điểm sinh trưởng thân, lá của các mẫu giống ngô nếp bản địa
- Đánh giá mức độ chống chịu với điều kiện bất thuận của tự nhiên và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các mẫu giống ngô nếp bản địa
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của các mẫu giống ngô nếp bản địa
- Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của các mẫu giống ngô nếp bản địa
Trang 293.4 Phương pháp nghiên cứu
Phân bón và cách bón cho các thí nghiệm:
- Lượng phân bón cho 1 ha là 150 kg N+ 80 kg P2O5 + 80 kg K2O
- Bón lót: Toàn bộ phân lân + 1/4 lượng đạm
- Bón thúc lần 1: Khi ngô 4 - 5 lá: 1/4 lượng đạm + 1/2 lượng kali
- Bón thúc lần 2: Khi ngô 8 - 9 lá: 1/2 lượng đạm + 1/2 lượng kali
3.4.2 Quy trình tiến hành thí nghiệm
Xử lý hạt trước khi trồng: Bắp được đem ra phơi trong nắng nhẹ khoảng 3
tiếng, sau đó tách hạt, xử lý trong nước ấm (tỉ lệ 2 sôi 3 lạnh) trong 1 giờ sau đó vớt ra và ủ qua đêm, buổi sáng hôm sau thì tiến hành gieo hạt
Trang 30Làm đất: Đất được phát quang cỏ và dọn sạch tàn dư trên bề mặt, cuốc hố
trồng
Thời vụ trồng: Trồng vào ngày 15 tháng 06 năm 2017
Mật độ khoảng cách: Mật độ trồng là 70 cm x 30 cm khoảng ( 47 nghìn
cây)
Cách trồng: Cuốc hố tra hạt theo mật độ đã xác định, tiến hành bón lót
,lấp một lớp đất mỏng lên trên phân lót sau đó cho hạt vào hố và lấp đất lại, mật
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi
Các chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô (QCVN 01-
56 - 2011) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [11]
3.4.3.1 Chọn cây theo dõi
Cây theo dõi được xác định khi ngô có từ 3 đến 4 lá Theo dõi 10 cây/ô ở mỗi lần nhắc lại, theo dõi ở hàng thứ 2 và hàng thứ 3 của ô; mỗi hàng chọn 5 cây liên tiếp nhau từ cây thứ 5 đến cây thứ 9 tính từ đầu hàng ngô Tổng số cây theo dõi 30 cây/giống (3 lần nhắc lại)
Trang 313.4.3.2 Chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển
* Chỉ tiêu thời gian sinh trưởng:
- Thời gian gieo - mọc (ngày): Tính từ ngày gieo hạt đến ngày có 50% số cây có bao lá mầm lên khỏi mặt đất (mũi chông) Quan sát toàn bộ cây trên mỗi
- Thời gian từ gieo - trỗ cờ (ngày): Được tính từ gieo đến khi có trên 50%
số cây trong công thức xuất hiện nhánh cuối cùng của bông cờ Quan sát toàn bộ cây trên mỗi ô
- Thời gian từ gieo - tung phấn: Được tính từ gieo đến khi trên 50% số cây trong công thức có hoa nở ở 1/3 trục chính Quan sát toàn bộ cây trên mỗi ô
- Thời gian từ gieo -phun râu (ngày): Được tính từ gieo đến khi trên 50%
số cây trong công thức có râu dài 2 - 3 cm ngoài lá bi.Quan sát toàn bộ cây trên mỗi ô
- Thời gian từ gieo – thương phẩm (ngày): Được tính từ gieo đến khi có trên 75% số cây trong công thức thí nghiệm chín sữa có thể thu hoạch làm thực phẩm Quan sát toàn bộ cây trên mỗi ô
* Chỉ tiêu về hình thái, sinh lý
- Chiều cao cuối cùng của cây (cm): Được tính từ mặt đất đến đỉnh bông
cờ Đo 10 cây/ ô, khi cây ngô đã trỗ cờ
- Chiều cao đóng bắp (cm): Đo từ mặt đất đến vị trí ra bắp trên cùng của cây Đo 10 cây/ ô, khi ngô chín sữa
- Số lá cuối cùng (lá): Tổng số lá trên cây ngô khi cây ngô đã trỗ cờ Đo
10 cây/ ô
- Chỉ số diện tích lá (m2 lá /m2đất ): Theo dõi 10 cây/ô ở mỗi công thức với 3 lần nhắc lại, tiến hành đo ở thời kỳ chín sữa Đo chiều dài từ gốc lá đến
Trang 32đỉnh lá, chiều rộng đo ở phần rộng nhất của phiến lá, sau đó áp dụng công thức diện tích lá của Moltgomery, 1960
DTL 1 cây = Tổng diện tích các lá trên cây
- Trạng thái cây: Quan sát lúc ngô chín sữa Quan sát đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và mức độ chống chịu với các điều kiện bất thuận của tự nhiên và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của toàn bộ cá thể trong ô thí nghiệm Đánh giá theo thang điểm 1 – 5 điểm:
+ Điểm 1: Tốt, các cá thể phát triển đồng đều ít bị sâu bệnh hại, mức độ
+ Điểm 2: Tốt, lá bi dài che đầu bắp và kéo dài khỏi bắp
+ Điểm 3: Trung bình, lá bi không che kín đầu bắp, hở đầu bắp
+ Điểm 4: Lá bi không che kín đầu bắp, hở hạt
+ Điểm 5: Bao bắp rất kém, hở hạt nhiều
* Chỉ tiêu về sinh trưởng
Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm/ ngày): Bắt đầu đo lần 1 sau trồng 20 ngày đến khi cây trỗ cờ, các lần đo sau cách lần đo trước 7 ngày Đo từ mặt đất đến mút lá
Động thái tăng trưởng chiều cao cây sau trồng 20 ngày = H1/T1
Trang 33Động tháităng trưởng chiều cao cây sau trồng 27 ngày = (H2 – H1)/7
H1: Chiều cao cây sau trồng 20 ngày
H2: Chiều cao cây sau trồng 27 ngày
T1: Thời gian sau trồng 20 ngày Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây ở các lần đo sau được tính tương tự như 27 ngày
- Chiều cao cây(cm): Đo từ mặt đất đến mút lá Đo 10 cây/ ô
- Số lá/cây (lá):Bắt đầu đếm lần 1 sau trồng 20 ngày đến khi cây trỗ cờ, các lần đo sau cách lần đo trước 7 ngày Để xác định chính xác đánh dấu các lá thứ 3, 6, 10 của cây/ô Đếm số lá 10 cây/ ô
3.4.3.3 Chỉ tiêu đánh giá mức độ bị hại bởi điều kiện bất thuận và mức độ nhiễm sâu bệnh hại
Chỉ tiêu đánh giá mức độ bị hại bởi điều kiện bất thuận: Theo dõi tất cả các cây
ở các lần các ô thí nghiệm
- Đổ rễ (%): Đếm các cây bị nghiêng một góc bằng hoặc lớn hơn 30 độ so với chiều thẳng đứng của cây (giai đoạn chín sữa)
+ Điểm 1: Tốt: < 5% cây bị nghiêng
+ Điểm 2: Khá: 5 - 15% cây bị nghiêng
+ Điểm 3: Trung bình: 15 - 30% cây bị nghiêng
+ Điểm 4: Kém: 30 - 50% cây bị nghiêng
+ Điểm 5: Rất kém: > 50 cây bị nghiêng
- Đổ gãy thân (điểm): Đếm các cây bị gẫy ở đoạn thân phía dưới bắp khi thu hoạch, theo thang điểm:
+ Điểm 1: Tốt: < 5% cây gãy
+ Điểm 2: Khá: 5 - 15% cây gãy
+ Điểm 3: Trung bình: 15 - 30% cây gãy
+ Điểm 4: Kém: 30 - 50% cây gãy
+ Điểm 5: Rất kém: > 50 cây gãy
- Mức độ bị hạn: Đánh giá dựa vào khả năng kết hạt của các giống Quan sát khả năng kết hạt của 10 cây/ô vào lúc thu hoạch, theo thang điểm:
+ Điểm 1: Tốt kết hạt kín bắp
Trang 34+ Điểm 2: Khá kết hạt 70 - 80% bắp
+ Điểm 3: TB kết hạt 50 - 60% bắp
+ Điểm 4: Kém kết hạt 30 - 40% bắp
+ Điểm 5: Rất kém: kết hạt 10 - 20% bắp
Chỉ tiêu mức độ nhiễm sâu bệnh hại:
Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính được đánh giá hoặc đếm các cây bị sâu bệnh/ô vào giai đoạn chín sáp
- Sâu đục thân: Theo dõi vào giai đoạn cây 2 – 3 lá, đếm tất cả các cây bị sâu đục thân hại ở các ô
Tỉ lệ cây bị hại (%) = (số cây bị hại/ tổng số cây) x 100
- Rệp: Theo dõi lúc cây giai đoạn trỗ cờ, đếm tất cả các cây bị rệp hại ở các ô
Tỉ lệ cây bị hại (%) = (số cây bị hại/ tổng số cây) x 100
Bệnh đốm lá (Helminthoprium turcicum), bệnh đốm lá nhỏ
(Helminthoprium maydis): theo dõi lúc cây vào giai đoạn chín sữa, đếm tát cả các cây có lá bị đốm lá nhỏ
Tỉ lệ cây bị hại (%) = (số cây bị hại/ tổng số cây) x 100
3.4.3.4 Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất
- Số bắp/cây (bắp): Đếm tổng số bắp hữu hiệu/tổng số cây hữu hiệu của ô (khi thu hoạch)
- Chiều dài bắp (cm): Đo từ đáy bắp đến mút bắp của 30 cây mẫu (khi thu hoạch) Chỉ đo bắp thứ nhất của 30 cây mẫu
- Đường kính bắp (cm): Đo ở giữa bắp của 30 cây mẫu (khi thu hoạch) Chỉ đo bắp thứ nhất của cây mẫu
- Số hàng hạt/bắp (hàng): Đếm số hàng hạt ở giữa bắp (khi thu hoạch) Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu Hàng hạt được tính khi có > 5 hạt
- Số hạt/hàng (hạt): Đếm số hạt của hàng có chiều dài trung bình của bắp của 30 cây mẫu (khi thu hoạch) Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu
Chỉ tiêunăng suất
Trang 35- Năng suất cá thể (kg/cây): Là năng suất của mỗi các thể cây ngô đạt được
- Năng suất thực thu (tạ/ha): Là năng suất thu được thực tế của mỗi ô thí nghiệm
- Năng suất lí thuyết (tạ/ha): Là năng suất mà các giống ngô có thể đạt được khi trong điều kiện tối ưu
NSLT = Năng suất cá thể x mật độ cây trồng (tạ/ha)
3.4.3.5 Chỉ tiêu về đánh giá chất lượng nếm thử
- Độ dẻo: đánh giá lúc thu hoạch (chín sữa), lấy 10 bắp luộc chín, cho 10 người
nếm thử và cho điểm:
+ Điểm 1: Rất dẻo
+ Điểm 2: Dẻo trung bình
+ Điểm 3: Hơi dẻo
+ Điểm 4: Ít dẻo
+ Điểm 5: Không dẻo
- Hương thơm: đánh giá lúc thu hoạch (chín sữa), lấy 10 bắp luộc chín, cho 10 người nếm thử và cho điểm:
+ Điểm 1: Rất thơm
+ Điểm 2: Thơm
+ Điểm 3: Thơm trung bình
+ Điểm 4: Hơi thơm
+ Điểm 5: Không có mùi thơm
Trang 37PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đánh giá thời gian sinh trưởng và phát triển của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017
Sinh trưởng và phát triển là hai quá trình gắn bó mật thiết và không thể tách rời nhau đối với cây trông nói chung và cây ngô nếp nói riêng Sinh trưởng
là quá trình làm tăng lên về kích thước chiều cao, số lá, diện tích… lá trên cây
Phát triển là quá trình làm thay đổi về chất lượng và sinh lý trong các tế bào, mô, cơ quan dẫn đến sự thay đổi về cấu trúc và chức năng của cơ quan bộ phận trên cây
Trên các loại cây trồng nói chung và cây ngô nếp nói riêng gồm 2 quá trình chính là quá trình sinh trưởng sinh thực và quá trình sinh trưởng sinh dưỡng Hai quá trình này có thể diễn ra theo tuần tự (đối với các cây ngắn ngày như ngô, lúa…) hoặc xen kẽ nhau (như các loại cây lâu năm, cây ăn quả) Tuy nhiên do mỗi giai đoạn của cây trồng yêu cầu các điều kiện ngoại cảnh khác nhau do đó quá trình sỉnh trưởng và phát triển của cây có thể sảy ra không đồng nhất với nhau và thường xảy ra 3 trường hợp: sinh trưởng tốt, phát triển chậm; sinh trưởng chậm, phát triển sớm; sinh trưởng, phát triển cân đối
Ở cây ngô nếp, sinh trưởng sinh dưỡng là giai đoạn đầu tiên của cây ngô Khởi đầu của giai đoạn này là thời kỳ nảy mầm và kết thúc ở thời kỳ trỗ cờ
Quá trình sinh trưởng sinh thực của cây ngô nếp bắt đầu từ thời kỳ phân hóa cờ và bắp, kết thúc ở thời kỳ chin sinh lý Tuy nhiên hầu hết các loại ngô nếp hiện nay được sử dụng chủ yếu làm thương phẩm và thường kết thúc quá trình phát triển ở thời kỳ chín sữa Do đó trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài chúng tôi đánh giá quá trình phát triển của các mẫu giống ngô nếp bản địa đến thời kỳ chín sữa
Từ quá trình nghiên cứu chúng tôi thu được kết quả thời gian sinh trưởng của mẫu giống ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017 tại xã Bó Mười, Huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, được thể hiện trong bảng 4.1 như sau:
Trang 38Bảng 4.1: Kết quả thời gian sinh trưởng của mẫu giống ngô nếp bản địa vùng
Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017
Gieo- tung phấn
Gieo- phun râu
Gieo- chín sữa
Tổng thời gian sinh trưởng
* Giai đoạn từ gieo đến mọc: Được tính từ khi gieo hạt đến lúc hạt nảy
mầm và vươn lên khỏi mặt đất Thời kỳ này phụ thuộc vào chất lượng hạt giống,
kỹ thuật canh tác, thời vụ gieo trồng, điều kiện ngoại cảnh… Đây là giai đoạn rất quan trọng của cây ngô, nó quyết định đến mật độ trồng và tỷ lệ đồng đều của cây ngô sau này Từ bảng 4.1 cho thấy các mẫu giống ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam đều có thời gian mọc là 5 ngày
* Giai đoạn từ gieo đến 3 lá: Ở giai đoạn này sự sinh trưởng phát triển
của cây ngô non phụ thuộc vào lượng dinh dưỡng trong hạt, lúc này bộ rễ chỉ làm nhiệm vụ hút nước, cây ngô sinh trưởng phát triển chậm và chịu ảnh hưởng rất lớn sự tác động của điều kiện ngoại cảnh Qua bảng 4.1 cho thấy thời gian từ khi gieo đến khi cây đạt được 3 lá thật của các mẫu giống ngô
Trang 39nếp bản địa trong thí nghiệm dao động từ 14 – 17 ngày trong đó mẫu giống CC2 - MS và mẫu giống CP1 - TC là có thời gian để hình thành 3 lá dài nhất đạt 17 ngày Các mẫu giống BM – TC, CC3 – MS và TN1 – YC là các mẫu giống có thời hình thành 3 lá thật ngắn nhất mất 14 ngày
* Giai đoạn từ gieo đến 7 lá: Đây là giai đoạn cây ngô phát mạnh với bộ
rễ khỏe, sự sinh trưởng phát triển của cây phụ thuộc vào dinh dưỡng và chế độ nước trong đất, các biểu hiện đặc điểm hình thái như chiều cao, số lá diện tích lá được biểu hiện rõ các đặc tính của giống từ bảng 4 1 cho thấy, thời gian hình thành 7 lá thật của các mẫu giống ngô nếp bản địa trong thí nghiệm dao động từ
31 đến 34 ngày Trong đó giống ngắn nhất là mẫu giống BM – TC và mẫu giống CC1- MS (31 ngày), các mẫu giống CC2- MS và CP1 – TC là dài ngày nhất (34 ngày)
* Giai đoạn từ gieo đến trỗ cờ - tung phấn: Ở giai đoạn này cây ngô
bước vào quá trình sinh trưởng sinh thực, quá trình sinh trưởng thân lá của cây ngô giảm dần và hầu hết là dừng lại Qua thí nghiệm cho thấy thời gian từ gieo đến trỗ cờ của các mẫu giống ngô nếp bản địa vùng Tây bắc Việt Nam dao động
từ 54 đến 69 ngày Trong đó mẫu giống CC1 – MS trỗ sớm nhất khoảng 54 ngày Mẫu giống CC2 – MS là mẫu giống trỗ muộn nhất khoảng 69 ngày
* Giai đoạn từ gieo đến phun râu: Là giai đoạn gắn liền với sự hình thành
và phát triển hạt ngô Râu ngô nhận hạt phấn để thụ tinh hình thành hạt Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận thấy thời gian từ gieo đến phun râu ở các mẫu giống ngô nếp trong thí nghiêm dao động từ 55 đến 71 ngày Trong đó mẫu giống CC1 – MS là mẫu giống có thời gian ngắn nhất khoảng 55 ngày, mẫu giống CC2 – MS có thời gian dài nhất khoảng 71 ngày
* Giai đoạn từ gieo đến chín sữa: Đây là giai đoạn chín thương phẩm đối
với cây ngô nếp sử dụng làm thực phẩm, là giai đoạn kết thúc quá trình sinh trưởng phát triển của cây ngô nếp, thể hiện các đặc tính giống và thời gian sinh trưởng của các giống từ bảng 4.1 cho thấy, mẫu giống CC1 – MS và mẫu giống TN1 – YC là 2 mẫu giống ngắn ngày nhất khoảng 81 ngày, mẫu giống CC2 – MS
là mẫu giống dài ngày nhất khoảng 96 ngày – tính từ ngày gieo đến chín sữa
Trang 404.2 Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển thân của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017
4.2.1 Động thái tăng trưởng chiều cao thân của các mẫu giống Ngô nếp bản địa vùng Tây Bắc Việt Nam, trong vụ Hè – Thu, năm 2017
Động thái tăng trưởng chiều cao cây là một chỉ tiêu theo dõi quan trọng đối với các loài cây trồng nói chung và cây ngô nếp nói riêng nó thể hiện sự sinh trưởng tốt hay xấu của cây ngô, động thái tăng trưởng chiều cao cây phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, kỹ thuật gieo trồng, kỹ thuật chăm sóc, điều kiện thời tiết… Động thái tăng trưởng chiều cao cây được đo theo một chu kỳ 7 ngày/lần
Trong quá trình thực hiện và theo dõi thí nghiệm chúng tôi thu được kết quả thể hiện trong bảng 4.2:
* Giai đoạn 20 ngày sau trồng: Ở giai đoạn này chiều cao phụ thuộc chủ
yếu vào dinh dưỡng trong hạt là chính, bộ rễ cây còn non thực hiện chức năng chủ yếu là hút nước, chiều cao cây lúc này mang đặc tính của giống là chủ yếu Từ bảng 4.2 ta thấy động thái tăng trưởng chiều cao của các mẫu giống ngô nếp bản địa trong thí nghiệm dao động từ: 1,43 đến 1,86 cm/ ngày Trong giai đoạn này ở
độ tin cậy 95% tốc độ tăng trưởng chiều cao thân của các mẫu giống ngô nếp bản địa là không sai khác nhau
* Giai đoạn 27 ngày sau trồng: Động thái tăng trưởng chiều cao của các
giống ngô nếp bản địa trong thí nghiệm dao động từ: 1,92 đến 3,85 cm/ngày Ở độ tin cậy 95%, mẫu giống CC2 – MS là mẫu giống có động thái tăng trưởng cao nhất đạt 3,85 cm/ngày Hai mẫu giống CC1 – MS và TN – YC là các mẫu giống có động thái tăng trưởng thấp nhất dao động từ 1,92 đến 2,09 cm/ ngày Các mẫu giống còn lại 2,72 đến 2,92 cm/ ngày
* Giai đoạn 34 ngày sau trồng: Động thái tăng trưởng của các mẫu giống
ngô nếp bản địa trong thí nghiệm dao động từ 2,86 đến 4,42 cm/ngày Ở độ tin cậy 95%, mẫu giống CC2 –MS là mẫu giống có động thái tăng trưởng chiều cao lớn nhất đạt 4,42 cm/ngày Mẫu giống TN1 – YC là mẫu giống có động thái tăng trưởng chiều cao thấp nhất đạt 2,86 cm/ngày Các mẫu giống còn lại tăng trưởng