1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ SỐ 5 “Đánh giá bù vô công trên lưới điện EVN SPC và định hướng giải pháp trong thời gian tới”

15 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 46,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề bù công suất phản kháng trên lưới điện hiện nay là một trong những giải pháp hiệu quả nhất nhằm giảm TTĐN và cải thiện chất lượng điện năng đã được chứng minh qua thực tiễn vận hành lưới điện của các đơn vị phân phối điện trên toàn thế giới. Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC) nhiều năm qua cũng đã áp dụng và thực hiện khá tốt vấn đề bù công suất phản kháng để mang lại hiệu quả giảm TTĐN và cải thiện chất lượng điện năng. Tuy nhiên, vấn đề bù công suất phản kháng được thực hiện và điều tiết theo phương

Trang 1

TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

TỔNG CÔNG TY

ĐIỆN LỰC MIỀN NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 11 năm 2015

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ SỐ 5

“Đánh giá bù vô công trên lưới điện EVN SPC và định hướng giải pháp

trong thời gian tới”

Vấn đề bù công suất phản kháng trên lưới điện hiện nay là một trong những giải pháp hiệu quả nhất nhằm giảm TTĐN và cải thiện chất lượng điện năng đã được chứng minh qua thực tiễn vận hành lưới điện của các đơn vị phân phối điện trên toàn thế giới Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC) nhiều năm qua cũng đã áp dụng và thực hiện khá tốt vấn đề bù công suất phản kháng để mang lại hiệu quả giảm TTĐN và cải thiện chất lượng điện năng Tuy nhiên, vấn đề bù công suất phản kháng được thực hiện và điều tiết theo phương thức như thế nào để mang lại hiệu quả tối ưu nhất về mặt kỹ thuật và kinh tế hiện vẫn là một đề tài mang tính thực tiễn cao cần được xem xét thảo luận Đó cũng chính là vấn đề chính của Báo cáo chuyên đề này

A.TỔNG QUAN

Hiện nay, TCTĐL Miền Nam đang quản lý vận hành lưới điện có quy mô:

SL

(TBA)

DL (MVA) (Km)

TSĐL (MVA)

TSKH (MVA)

Tổng (MVA) (Km) (Km)

179 11.801 4.948,86 5541,69 19.680,19 5730,72 52.912,5

242.24 8 Thông số vận hành lưới điện:

Pmax (MW) Pmin(MW) Qmax(MVAr) Qmin(MVAr)

Trong thực tế, phụ tải của lưới điện EVN SPC trừ thành phần phụ tải quản lý tiêu dùng dân cư có hệ số cosφ tương đối cao, phần lớn các phụ tải khác bao gồm các động cơ không đồng bộ đều có hệ số cosφ thấp Ngoài ra, còn có một số phụ tải khác cũng tiêu thụ nhiều công suất phản kháng như: Máy biến áp chuyên dụng, máy biến áp hàn… đây là các thiết bị tiêu thụ nhiều công suất phản kháng, hệ quả

là làm cho hệ số công suất cosφ của mạng điện giảm thấp

Như vậy, lưới điện ngoài việc phải chuyển tải một lượng công suất tác dụng

P, còn phải chuyển tải một lượng công suất phản kháng Q khá lớn để cung cấp cho

Trang 2

phụ tải Dòng điện tạo ra do phải chuyển tải lượng công suất phản kháng này làm phát sinh các vấn đề: tăng tổn thất điện năng và tổn thất điện áp trên đường dây, gây quá tải, làm giảm khả năng tải điện của đường dây

Do đó để giảm nhận một lượng lớn CSPK từ lưới truyền tải, EVN SPC đã lắp đặt và đang quản lý vận hành hệ thống bù công suất phản kháng với quy mô: Thực hiện

Dung lượng vận hành (MVAr)

Bù tại TC

110 kV

Bù tại TC

22 kV

Bù trên LĐ TT

Bù trên LĐ

Tổng công suất

bù TSĐL 115 1.363,4 1.329,02 745,41 3.552,83 Tổng công suất

bù TSKH 0,00 0,00 24,60 5.829,64 5.908,42

Thực tế lưới điện của EVN SPC đang quản lý trải dài từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đủ các thành phần kinh tế và gắn liền với nhiều nhóm phụ tải đặc trưng khác nhau Ứng với mỗi nhóm phụ tải có một biểu đồ phụ tải đặc trưng riêng biệt, đồng nghĩa với việc có biểu đồ tiêu thụ CSPK khác nhau

Do đó việc tính toán lắp đặt và vận hành đóng cắt các giàn tụ bù trên cùng một phát tuyến, một khu vực,…cấp điện cho nhiều loại phụ tải khác nhau để đảm bảo hiệu quả bù là một vấn đề tương đối khó khăn đòi hỏi các đơn vị ở cấp độ quản

lý phải ứng dụng nhuần nhuyễn lý thuyết bù kết hợp kinh nghiệm vận hành thực tế

để có bài toán bù thực tế phù hợp với lưới điện thuộc cấp quản lý

B.CÁC VẤN ĐỀ VỀ BÙ CÔNG SUẤT PHẢN KHÁNG:

I Hiện trạng bù công suất phản kháng trên lưới điện EVN SPC:

1 Bù vô công tại TBA 110kV:

1.1.Đánh giá hiện trạng, trào lưu:

i Hiện trạng bù, trào lưu:

− Hiện trạng bù tại các TBA 110kV do EVN SPC quản lý như sau:

MBA 110kV Bù tại TC 110kV Bù tại TC 22kV

SL DL (MVA) SL DL (MVAr) SL DL (MVAr)

Tổng số TC 22kV chưa có tụ bù: 10 dàn (07 dàn đã đăng ký lắp theo KH năm 2016, 02 dàn tại TBA 110kV Phát Thanh Nam Bộ và 01 giàn tại TBA 110kV Dầu Giây không lắp).

Trang 3

− Như vậy, tính đến hết năm 2016 tất cả các TBA 110kV do EVN SPC quản

lý – vận hành đều có dàn tụ bù tại TC 22kV (trừ 02 dàn tại TBA 110kV Phát Thanh Nam Bộ và 01 giàn tại TBA 110kV Dầu Giây, đính kèm Phụ lục 1).

ii Đánh giá:

− Tình hình vận hành các TBA 110kV: Có 95 TBA đang vận hành dưới 50%

tải, 124 TBA vận hành tải lớn hơn 50% và thấp hơn 75%, 44 TBA đang vận hành tải lớn hơn 75% và không có TBA vận hành lớn hơn 100% tải;

− Tình hình Q tại các TBA 110kV: Có thời điểm 250/261 TBA nhận Q từ

lưới truyền tải với dung lượng dao động từ 0 đến 13 MVAr và có thời điểm 241/261 TBA phát Q ngược lên lưới truyền tải với CSPK dao động từ -15 MVAr đến 0MVar;

− Thực hiện theo chỉ đạo của EVN về tiêu chí giảm nhận bù vô công trên lưới

điện truyền tải, EVN SPC tiến hành lắp tụ bù tại TC (thanh cái) 22kV cho đến nay tất

cả hầu như đã có dàn tụ bù (ngoại trừ 07 dàn còn lại thực hiện lắp đặt theo kế hoạch năm 2016 đã đăng ký);

− Việc lắp đặt tụ bù kịp thời, dung lượng phù hợp kết hợp việc đóng mở hợp

lý nên việc giảm nhận CSPK trên lưới 110kV đáng kể cũng như nhằm giảm TTĐN;

− Phụ tải tại các trạm 110kV trên địa bàn EVN SPC rất đa dạng, bao gồm: cấp

điện cho các khu công nghiệp, khu sản xuất tập trung, xây dựng (chiếm khoảng 63%), kinh doanh dịch vụ (chiếm khoảng 3%), chiếu sáng, nhu cầu sinh hoạt (chiếm khoảng 27%) và sản xuất nông lâm ngư nghiệp (chiếm khoảng 3%) còn lại các thành phần phụ tải khác (4%) Do đặc thù trên nên có sự dao động lớn về công suất phản kháng

cụ thể vào giờ cao điểm (đặc biệt là vào mùa khô) phụ tải tăng rất cao dẫn đến tiêu thụ công suất phản kháng tăng đột biến (Qmax=533 MVAr) Tuy nhiên, vào lúc thấp điểm phụ tải rất thấp, tiêu thụ công suất phản kháng rất nhỏ (Qmin=-339 MVar) Mặt khác, các giàn tụ bù tại thanh cái 22kV có công suất bù tương đối lớn và bù cố định nên dẫn tới việc thường xuyên quá bù vào giờ thấp điểm và thiếu bù vào giờ cao điểm (MBA 25MVA lắp giàn bù 2,4 MVAr, MBA 40MVA lắp giàn bù 4,2 MVAr, MBA 60MVA lắp giàn bù 6 MVAr)

iii Giải pháp:

− Các PC tỉnh làm việc với khách hàng KCN cần lắp bổ sung dung lượng bù

nhằm giảm nhận CSPK MBA 110kV;

− Hiện nay, các dàn tụ bù thanh cái chỉ được đóng điện một cấp và chỉ cắt tụ

ra khỏi vận hành khi bị quá bù (bù ngược) theo CSPK phía 110kV MBA, do đó cần chia nhỏ giàn tụ và triển khai bù ứng động TC 22kV để đạt được hiệu quả bù

1.2.Phương thức bù:

i Hiện trạng:

Hiện nay, ĐCTMN đang vận hành đóng cắt các giàn tụ bù TC 22kV theo phương thức thao tác bằng tay, đóng cắt căn cứ theo thông số Q phía 110kV của MBA, cụ thể như sau:

 Đối với các trạm có 01 MBA:

Trang 4

 Khi thông số Q phía 110kV của MBA lớn hơn ½ dung lượng dàn tụ bù (Q131(132)>1/2 Qdàn tụ bù 22kV), điều hành viên sẽ báo cho Điều độ Điện lực và thực hiện thao tác đóng điện dàn tụ bù trung thế;

 Ngược lại, khi thông số Q phía 110kV của MBA âm hơn ½ dung lượng dàn

tụ bù (Q131(132)<-1/2 Qdàn tụ bù 22kV), điều hành viên sẽ báo cho Điều độ Điện lực và thực hiện thao tác cắt điện dàn tụ bù trung thế;

 Trường hợp các trạm 110kV chưa có điểm đo Q131(132) thì số liệu căn cứ vào thông số Q đo được tại ngăn lộ đường dây 110kV, sau đó tính toán số liệu thông số Q trước MBA để xác định cần thao tác đóng/cắt dàn tụ bù trung hạ thế;

 Ngoài ra với kinh nghiệm vận hành thực tế tại trạm cho từng khu vực cấp điện, Điều hành viên thực hiện xem xét Q131(132) thường duy trì với gía trị cao trong khoảng thời gian bao lâu để quyết định đóng/cắt giàn tụ bù trung thế cho phù hợp, tránh trường hợp phải thao tác đóng cắt giàn tụ bù trung thế nhiều lần do biến thiên dung lượng Q

 Đối với các trạm có 02 MBA:

 Khi có tổng thông số Q131+132 lớn hơn ½ dung lượng dàn tụ bù 22kV (Q131+132

>1/2 Qdàn tụ bù 22kV), điều hành viên sẽ báo cho Điều độ Điện lực và thực hiện thao tác đóng điện dàn tụ bù 22kV Nghĩa là chấp nhận bù ngược cho MBA đã nhận đủ bù trên lưới 110kV, giảm lượng thông số Q cần thiết truyền tải trên đường dây 110kV

 Ngược lại, Khi có tổng thông số Q131+132 lớn hơn ½ dung lượng dàn tụ bù 22kV (Q131+132 <-1/2 Qdàn tụ bù 22kV), điều hành viên sẽ báo cho Điều độ Điện lực và thực hiện thao tác cắt điện dàn tụ bù 22kV

ii Đánh giá:

− Do EVN SPC quản lý lưới 110kV trên diện rộng, nên phụ tải khách hàng đa

dạng có sự dao động lớn về công suất phản kháng cụ thể vào giờ cao điểm đặc biệt là vào mùa khô, mùa chong đèn thanh long… phụ tải tăng rất cao dẫn đến vẫn còn một

số trạm 110kV nhận tiêu thụ công suất phản kháng tăng đột biến cũng như bù dư ở những thời điểm thấp điểm Đặc biệt các trạm 110kV có dàn tụ với dung lượng lớn như 9,6MVAr nhưng vẫn nhận CSPK từ lưới 110kV, lý do:

 Các trạm 110kV KCN vẫn còn nhận CSPK lớn do khách hàng bù thiếu hoặc không bù

 Vì theo phương thức vận hành của ĐCTMN, khi đóng dàn tụ bù TC 22kV theo CSPK phía 110kV phải ≥ ½ dung lượng dàn tụ nên vào lúc thấp điểm CSPK tiêu

thụ qua MBA từ 2÷3MVA nhưng dàn tụ bù vẫn chưa đóng (đối với các dàn có dung lượng 9,6MVAr).

iii Giải pháp:

− Để bù tại thanh cái 22kV hoạt động hiệu quả, đảm bảo bù đủ trong các tình

huống phụ tải, tránh tình trạng quá bù khi đóng tụ và thiếu bù khi cắt tụ, các dàn tụ bù

Trang 5

này cần được chia nhỏ và trang bị bù ứng động được vận hành đóng cắt tự động bằng dao cắt tụ và bộ điều khiển theo CSPK (VAr) chạy qua lộ tổng phía 110kV hoặc phía 22kV;

− Dự án SCADA và trạm không người trực của EVN SPC đang triển khai nên

việc trang bị bù ứng động vận hành đóng cắt tự động bằng dao cắt tụ và bộ điều khiển theo CSPK (VAr) cũng là điều cần thiết

2 Các vấn đề bù vô công trên lưới điện trung thế:

2.1.Đánh giá hiện trạng, trào lưu công suất:

i Hiện trạng, trào lưu:

− Hiện trạng bù trên lưới trung thế hiện nay:

Tổng DL bù trung thế

(MVAr)

Cố định (MVAr)

Ứng động (MVar)

Đính kèm Phụ lục 2

Hầu hết các phát tuyến trung thế có hệ số cosφ ≥ 0,95 Tuy nhiên, tình trạng công suất phản kháng nhận > 1,0MVAr vẫn còn và xảy ra và ở hầu hết các phát tuyến, chỉ xảy ra ở một số thời điểm mang tính chất tức thời vì phụ tải luôn thay đổi, nếu tính bình quân trong một khoảng thời gian (1 tuần, 1 tháng) cho từng phát tuyến thì đa số các phát tuyến vẫn đảm bảo yêu cầu công suất phản kháng nhận ≤ 1,0MVAr;

ii Đánh giá:

− Việc lắp các trạm bù ứng động mang lại hiệu quả cao, góp phần đảm bảo

chất lượng điện áp cho khách hàng sử dụng điện và giảm tổn thất điện năng đặc biệt

là các khu vực tập trung phụ tải công nghiệp có phụ tải thường xuyên thay đổi;

− Tuy nhiên, để công tác bù đạt được yêu cầu công suất phản kháng nhận ≤

1,0MVAr sẽ xảy ra tình trạng bù dư ở một số giờ thấp điểm trong ngày;

− Ở các TP tập trung nhiều khu công nghiệp, gồm nhiều ngành nghề, sử dụng

một lượng lớn CSPK từ các trạm 110/22kV và tính chất phụ tải thay đổi liên tục, điều

đó đã gây nên sự chênh lệch dung lượng CSPK rất lớn giữa các ngày trong tuần, giữa

các tháng trong năm gây khó khăn trong công tác vận hành tụ bù;

− Còn tồn tại tình trạng các tuyến cung cấp cho nhiều khách hàng công

nghiệp lớn có lắp đặt lượng bù hạ thế dung lượng lớn nên trong trường hợp khách hàng đóng cắt giàn tụ bù đột ngột thì dẫn đến dao động lớn về dòng CSPK của tuyến Mặt khác, các tuyến này thường được lắp các giàn tụ bù trung thế cố định dung lượng lớn nên khi xảy ra dao động lớn về dòng CSPK do khách hàng đóng cắt tụ bù thì có thể dẫn đến trường hợp quá điện áp cục bộ trên tuyến;

Trang 6

− Ngoài ra, một số khu vực cấp điện cho vùng nuôi tôm, khách hàng sử dụng

động cơ 01 pha để quạt do đó chênh lệch công suất phản kháng giữa cao điểm và thấp điểm rất lớn

iii Giải pháp:

− Lập phương án tái bố trí trạm bù cho phù hợp với phụ tải từng khu vực, kết

cấu lưới mới;

− Hoán chuyển các bộ tụ bù của các phát tuyến bù dư sang phát tuyến thiếu

bù và các bộ tụ bù cố định sang ứng động ở các phát tuyến bù âm;

− Thường xuyên kiểm tra tình hình vận hành các bộ tụ bù và thay thế kịp thời

các bộ tụ bù bị hỏng;

− Giải pháp đưa ra để khắc phục tình trạng quá điện áp cục bộ do đóng các

giàn bù là sử dụng các giàn tụ bù ứng động trên lưới và phối hợp cài đặt đóng cắt theo “VAr”;

− Liên quan đến các khu vực cấp điện cho tải theo mùa vụ như chong đèn

thanh long, nuôi tôm,… có đặc điểm không ổn định do hoạt động theo mùa vụ, thời điểm và số ngày hoạt động phụ thuộc vào kinh nghiệm cũng như tình hình giá cả thị trường Các đơn vị chú ý theo dõi thường xuyên để điều chỉnh phương thức bù cho phù hợp;

2.2.Phương thức bù:

i Hiện trạng:

− Phương thức bù trên các phát tuyến trung thế hiện nay là phối hợp giữa các

giàn bù cố định và ứng động, theo phương thức:

 Đối với 1 phát tuyến chỉ có 1 nhóm phụ tải thì căn cứ vào giờ thấp điểm để

bù nền cho đủ lượng kháng thiếu, sau đó đặt thêm giàn bù ứng động theo thời gian hoặc bù theo công suất kháng hoặc cosφ

 Đối với 1 phát tuyến có nhiều nhóm phụ tải khác nhau và hoạt động không theo thời gian nhất định Khi đó cần xác định dung lượng bù nền trước, thứ 2 là xác định phụ tải có thời gian hoạt động tương đối ổn định về thời gian, thứ 3 là phần phụ tải còn lại

− Hiện nay trên lưới điện trung thế, bù ứng động chiếm 45% và bù cố định

chiếm 55% trên tổng số dung lượng bù Thống kê các phương thức điều khiển theo

Phụ lục 3 đính kèm.

− Hiện tại theo đánh giá của các đơn vị thì có 745 vị trí bù được đánh giá là

đạt hiệu quả và 103 vị trí chưa đạt hiệu quả bù do một số nguyên nhân như: cần chuyển từ bù cố định sang bù ứng động, do thiếu cảm biến dòng nên không thể điều khiển theo VAr, điều khiển theo time chạy sai giờ, do điện áp thanh cái ổn định nên

bù theo Volt không hiệu quả,…

− Ứng với đặc thù phụ tải khác nhau của từng phát tuyến, có thể lựa chọn

phương thức bù cho phù hợp:

Trang 7

 Nhóm Tiêu dùng – Dân cư: Tải cao điểm vào giờ hành chính từ 7h đến 11h

và từ 13h đến 17h và từ 19h đến 21h Vào thời điểm trên thường là thiếu kháng Chính

vì vậy, ngoài việc bù nền còn phải bù ứng động theo thời gian cho phụ tải trên

 Nhóm Kinh Doanh – Dịch vụ: Tải cao điểm vào thời điểm từ 19h đến 23h Đối với nhóm phụ tải này phải sử dụng bù ứng động theo thời gian

 Nhóm Nông lâm – Thủy sản: Đây là nhóm phụ tải rất khó khăn trong việc chọn thời điểm bù và phương thức bù Vì nông lâm thủy sản có thể sản xuất rải rác trong năm như xay xát, chế biến nông lâm thủy sản…Chính vì vậy đối với nhóm phụ tải này phải lắp đặt giàn tụ bù ứng động điều khiển theo công suất phản kháng hoặc Cosφ

 Nhóm phụ tải công nghiệp: Có phụ tải không ổn định, thường xuyên thay đổi tại nhiều thời điểm trong ngày, do đó giải pháp bù ứng động tối ưu hiện nay là điều khiển đóng cắt tụ bù theo cosφ hoặc VAr

ii Đánh giá:

 Hiệu quả của các giàn bù cố định:

− Các giàn tụ bù cố định (bù nền) được tính toán căn cứ vào công suất phản

kháng giờ thấp điểm và được tính toán lắp đặt ở vị trí phù hợp để tránh bù dư, các giàn tụ bù ứng động được tính toán lắp đặt để bù phần công suất phản kháng tăng thêm vào giờ cao điểm so với thấp điểm Hiện nay, các bộ tụ bù trung thế cố định và ứng động đã có sự phối hợp tốt trong vận hành, đảm bảo cosφ đầu tuyến 22kV luôn đạt từ 0.96 – 0.99 vào mọi thời điểm

 Hiệu quả các phương thức bù ứng động:

− Các bộ điều khiển đóng cắt tụ bù trung thế vận hành theo kiểu điều khiển

điện áp chưa mang lại hiệu quả cao nhất (đặc biệt là đối với những tuyến đường dây ngắn), khó tính toán giá trị cài đặt điện áp phù hợp cho bộ điều khiển trong thời gian dài Tuy nhiên, điều khiển theo điện áp lại phù hợp đối với các tuyến đường dây dài nhằm đảm bảo điện áp cho các phụ tải tại cuối đường dây;

− Các vị trí bù ứng động theo kiểu điều khiển đóng cắt theo thời gian có ưu

điểm là chủ động được thời gian đóng cắt, tuy nhiên chỉ có thể áp dụng cho các khu vực có phụ tải ổn định và phải theo dõi thường xuyên và cập nhật thông số cài đặt thường xuyên cho phù hợp với sự thay đổi của biểu đồ phụ tải;

− Việc điều khiển đóng cắt các giàn tụ bù ứng động theo cosφ hoặc VAr rất

phù hợp cho các phát tuyến thường thay đổi lớn về CSPK (đặc biệt là đối với các phát tuyến có nhiều phụ tải công nghiệp) Tuy nhiên việc sử dụng nhiều vị trí bù ứng động điều khiển theo cách này trên cùng một phát tuyến thường khó phối hợp và làm giảm tuổi thọ của máy cắt do đóng cắt nhiều lần trong ngày;

Nhìn chung, phương thức bù hiệu quả nhất hiện nay theo các đơn vị nhận định

là bù ứng động điều khiển theo CSPK, đạt được hiệu quả cao trên tất cả các loại hình phụ tải

 Hiệu quả phối hợp giữa các giàn bù:

Trang 8

− Đối với các khu vực phụ tải ít biến động việc phối hợp giữa bù cố định và

ứng động tương đối dễ dàng: Sử dụng các bộ tụ bù cố định làm bù nền kết hợp với bù ứng động theo chế độ thời gian hoặc theo Var, cosφ;

− Trường hợp các phát tuyến cung cấp cho các phụ tải sản xuất thường xuyên

biến động trong ngày, có thời điểm phụ tải rất thấp nên các bộ tụ bù cố định chỉ đáp ứng vào giờ cao điểm, giờ thấp điểm thường xuyên dư bù Đối với trường hợp này chỉ nên lắp đặt tụ bù ứng động và ưu tiên vận hành theo chế độ Var hoặc Cos

iii Giải pháp:

− Thường xuyên theo dõi trào lưu công suất trên phần mềm AppMeter và

AMISS_EVNSPC để cài đặt lại chế độ điều khiển các giàn tụ bù đóng cắt theo thời gian (Time) cho phù hợp thực tế;

− Chuyển các bộ tụ bù có tủ điều khiển theo thời gian đến các khu vực có biểu

đồ phụ tải mang tính lặp lại ít biến động (sau khi tủ điều khiển dao cắt tụ theo công suất phản kháng được cấp mới)

− Thay các bộ điều khiển dao cắt tụ theo thời gian và điện áp bằng các bộ

điều khiển theo công suất phản kháng tại các vị trí có phụ tải thay đổi thường xuyên (khu công nghiệp và các khu vực có phụ tải hoạt động theo mùa vụ);

− Xem xét đưa vào sử dụng rộng rãi các bộ điều khiển MCAP2, với ưu điểm

là có nhiều tính năng để người dùng lựa chọn, đặc biệt là tính năng ghi lại nhật ký đóng cắt, đồ thị phụ tải để người dùng có cơ sở phân tích đánh giá để hỗ trợ cho đơn

vị trong công tác bù vô công

− Để giải quyết các khó khăn trong việc tính toán cài đặt và phối hợp giữa các

giàn tụ bù trung thế, PC Đồng Nai đã xây dựng và đưa vào thí điểm phần mềm: “Tính toán bù tối ưu cho phát tuyến 22kV SW Capacitor 1.0” dựa trên thông số CSPK 24h thu thập từ chương trình đo ghi xa

 Phần mềm có một số ưu điểm: Đưa ra được phương án bù trung thế tối ưu cho phát tuyến dựa trên đồ thị phụ tải (Việc tính toán này có thể tối ưu hơn so với tính toán trên chương trình PSS/Adept chỉ sử dụng thông số vận hành tức thời); Phối hợp cài đặt các giàn tụ bù ứng động trên cùng một tuyến theo “Times” và “VAr”; Đưa ra bảng trị số cài đặt cho từng giàn tụ bù phù hợp với phần mềm cấu hình của bộ điều khiển tụ bù ứng động “Smart Ware II” Trong thời gian tới, PC Đồng Nai sẽ xem xét, đánh giá lại và đưa phần mềm vào sử dụng, nếu việc ứng dụng có hiệu quả tại PC Đồng Nai, EVN SPC sẽ xem xét đưa vào áp dụng rộng rãi tại các đơn vị

3 Các vấn đề bù vô công trên lưới điện hạ thế:

3.1 Đánh giá hiện trạng, trào lưu công suất:

i Hiện trạng, trào lưu:

− Hiện trạng bù hạ thế:

Tổng CSLĐ Tổng CSLĐ Bù cố định Bù ứng động

Trang 9

TBA PP Tụ bù

ii Đánh giá:

− Tổng công suất lắp đặt tụ bù hạ thế nói riêng và trung hạ thế nói chung

tương đối đáp ứng được nhu cầu bù CSPK trên lưới điện phân phối (Tổng công suất

bù chiếm 39% Tổng CS lắp đặt TBA phân phối)

iii Giải pháp:

− Tiếp tục triển khai thực hiện bù hạ thế tại các TBA phân phối, tuy nhiên sẽ

kết hợp bù hạ thế ứng động để phát huy hiệu quả bù trên lưới điện hạ thế

3.2 Phương thức bù:

i Hiện trạng: Bù trên lưới điện hạ thế chủ yếu là bù cố định chiếm khoảng

92% và tụ bù hạ thế ứng động chiếm khoảng 8%

ii Đánh giá:

− Trong thời gian qua Tổng công ty chủ yếu cấp phát tụ bù hạ thế gắn cố định

trên lưới hạ thế, đã mang lại hiệu quả đáp ứng bù nền vào giờ thấp điểm Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ CSPK của phụ tải vào cao điểm

iii Giải pháp:

− Nhằm nâng cao chất lượng công tác bù vô công, Tổng công ty sẽ xem xét

và sớm triển khai lắp đặt tụ bù hạ thế ứng động theo thời gian theo đề nghị của một số đơn vị

4 Bù vô công của khách hàng:

4.1 Hiện trạng, trào lưu công suất:

− Hiện trạng bù hạ thế tài sản khách hàng:

Tổng CSLĐ TBA KH Tổng CSLĐ TB KH Tổng DL bù KH/giờ

− Tổng công suất lắp đặt các giàn bù hạ thế TSKH chiếm 30% Tổng CS lắp

đặt TBA khách hàng, chi tiết theo Phụ lục 4 đính kèm

4.2 Đánh giá:

− Hiện nay theo quy định của Thông tư 15/2014/TT-BCT về mua, bán công

suất phản kháng đối với khách hàng có công suất sử dụng ≥ 40kW và hệ số cosφ < 0,9 thì phải mua công suất phản kháng Tuy nhiên, những trạm chuyên dùng có công suất lắp đặt ≤ 37,5KVA vẫn tiêu thụ công suất phản kháng với hệ số cosφ < 0,9 không chịu lắp bù;

− Một số khách hàng không chịu khắc phục tình trạng cosφ < 0,9 (lắp tụ bù,

chuyển cố định sang ứng động) hoặc thay thế giàn tụ bị hư hỏng;

Trang 10

− Tồn tại các doanh nghiệp vì tránh phải trả tiền công suất phản kháng cho

ngành điện; các doanh nghiệp chọn giải pháp bù với dung lượng lớn, chính vì vậy thường xảy ra hiện tượng quá bù và bù dư ra lưới điện Việc bù dư này cũng gây ra tác hại như thiếu bù cho hệ thống điện

4.3 Giải pháp:

− Thường xuyên theo dõi, rà soát tình trạng vận hành của các giàn tụ bù hạ

thế của Khách hàng và tư vấn các giải pháp khắc phục nhằm giảm chi phí mua CSPK

và giảm tổn thất điện năng cho Khách hàng;

− Thực hiện kiểm soát chất lượng VTTB trước khi lắp đặt để tránh tình trạng

các giàn tụ bù hạ thế của Khách hàng dễ hư hỏng, tuổi thọ kém, hoạt động không hiệu quả;

Trong công tác thiết kế trạm chuyên dùng, dung lượng bù nền, bù ứng động được thiết kế phù hợp với công suất đặt của TBA (khoảng từ 30 – 40% dung lượng MBA và chưa tính toán đến tính chất của phụ tải dẫn đến việc cùng một công suất tác dụng nhưng có phụ tải thiếu CSPK, có phụ tải thừa CSPK Trong quá trình vận hành thực tế thì các TBA này đa số vận hành non tải dẫn đến tình trạng

có một số thời điểm sẽ phát ngược CSPK lên lưới, đặc biệt là những khách hàng công nghiệp lớn… Việc này làm ảnh hưởng tới quá tình tính toán lắp đặt tụ bù của các đơn vị Vì thế cần phải hạn chế dung lượng bù nền quá lớn, không phù hợp với thực tế vận hành khi TBA khách hàng non tải Đề xuất không sử dụng cấp bù nền hoặc cô lập cấp bù nền, chỉ sử dụng các cấp bù ứng động;

Làm việc với khách hàng để thuyết phục KH có gắn tụ bù thực hiện các giải pháp như: Ngắt bộ tụ bù nền khi không hoạt động, đấu nối bộ tụ bù nền khi đóng cùng với công tắc mở nguồn của một hệ thống máy móc Có biện pháp chế tài đối với các khách hàng có dòng công suất phản kháng phát ngược lên hệ thống, gây mất cân bằng hệ thống;

Đề xuất khách hàng sử dụng bộ điều khiển tụ bù có bộ nhớ (bộ điều khiển Mikro…) để nâng cao tính ổn định và thuận tiện trong việc kiểm tra, vận hành và tối ưu công suất phản kháng;

Xem xét xây dựng hướng dẫn việc thực hiện việc theo dõi bù hạ thế khách hàng để có sự thống nhất giữa các Đơn vị

II Tình hình triền khai KH bù 2015:

1 Tình hình triển khai: Năm 2015, EVN giao Tổng công ty lắp đặt 883,65

MVAr tụ bù theo các Công văn số 2073/EVN-KH-KTSX, ngày 28/5/2014 và Công văn số 4508/EVN-KTSX ngày 10/11/2014 của EVN, cụ thể như sau

EVN giao SPC Lần 1 (cv 2073)(MVAr) Lần 2 (cv 4508)(MVAr) Tổng dung lượng2015 (MVAr)

Ngày đăng: 07/08/2018, 20:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w