MỞ ĐẦU Phần 1: Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm 1.1. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta; là người sáng lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Để Đảng được vững mạnh, Nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, ngày 17101945, trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, luyện và làng, Người nhắc nhở: “Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Quý I năm 1947, Người lại gửi hai bức thư: Gửi các đồng chí Bắc Bộ và Gửi các đồng chí Trung Bộ, nội dung hai bức thư đó phê bình nghiêm khắc một số cơ quan Đảng, Nhà nước mắc bệnh: làm trái phép nước, cậy thế hủ hóa, tư túng chia rẽ, kiêu ngạo… Tháng 101947, tại Việt Bắc với bút danh XYZ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm: Sửa đổi lối làm việc. 1.2. Mục đích của tác phẩm Nâng cao trình độ lý luận, nâng cao tư tưởng và tình cảm cách mạng, nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong công tác của người cán bộ cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo nhằm đáp ứng các yêu cầu mới của cách mạng. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán “chủ nghĩa cá nhân” vì đó là một thứ “vi trùng rất độc” nó sinh ra các khuyết điểm nghiêm trọng như bệnh tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, ham địa vị, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè, kéo cánh, bệnh cận thị không biết nhìn xa, trông rộng... Đồng thời, Hồ Chí Minh vạch ra nguyên nhân và phương hướng khắc phục. Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc không chỉ nhằm phê phán mà chủ yếu là cách mạng. Bởi vì, cách mạng mới là động lực của lịch sử. Đảng là lực lượng tiên phong, ưu tú nhất của xã hội, là đầu tàu của lịch sử. Phần 2: Tóm tắt nội dung tác phẩm Tác phẩm có sáu phần chính sau:
Trang 1MỞ ĐẦU Phần 1: Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm
1.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta; là người sáng lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Để Đảng được vững mạnh, Nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, ngày
17-10-1945, trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, luyện và làng, Người nhắc
nhở: “Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải
để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật
Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm
Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”
Quý I năm 1947, Người lại gửi hai bức thư: Gửi các đồng chí Bắc Bộ và Gửi các đồng chí Trung Bộ, nội dung hai bức thư đó phê bình nghiêm khắc một số cơ
quan Đảng, Nhà nước mắc bệnh: làm trái phép nước, cậy thế hủ hóa, tư túng chia
rẽ, kiêu ngạo…
Tháng 10-1947, tại Việt Bắc với bút danh XYZ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết
tác phẩm: Sửa đổi lối làm việc
1.2 Mục đích của tác phẩm
Nâng cao trình độ lý luận, nâng cao tư tưởng và tình cảm cách mạng, nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong công tác của người cán bộ cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo nhằm đáp ứng các yêu cầu mới của cách mạng Trong tác phẩm
Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán “chủ nghĩa cá nhân” vì đó là
một thứ “vi trùng rất độc” nó sinh ra các khuyết điểm nghiêm trọng như bệnh tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, ham địa vị, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè, kéo cánh, bệnh cận thị không biết nhìn
xa, trông rộng Đồng thời, Hồ Chí Minh vạch ra nguyên nhân và phương hướng
Trang 2khắc phục Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc không chỉ nhằm phê phán mà chủ yếu là
cách mạng Bởi vì, cách mạng mới là động lực của lịch sử Đảng là lực lượng tiên phong, ưu tú nhất của xã hội, là đầu tàu của lịch sử
Phần 2: Tóm tắt nội dung tác phẩm
Tác phẩm có sáu phần chính sau:
2.1 Phê bình và sửa chữa
Trong mục này, tác phẩm nêu rõ cán bộ, đảng viên cần phải thiết thực học tập, sửa chữa các khuyết điểm để công việc ngày càng tiến bộ Muốn vậy, mỗi cơ quan phải tổ chức ủy ban học tập, đề ra kế hoạch nghiên cứu, thảo luận, kiểm tra và thực hành, xác định thời gian tài liệu và cách thức học tập Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng nhằm khắc phục bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, hẹp hòi, bệnh ba hoa
2.2 Mấy điều kinh nghiệm
Mục này của tác phẩm trình bày và phân tích mấy điểm căn bản sau đây:
1 Có cán bộ tốt việc gì cũng xong
2 Chính sách khẩu hiệu thì đúng, nhưng cách làm, thực hành chưa đúng vì thế kết quả chưa đạt được mỹ mãn
3 Phải biết nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc Bất kỳ công việc gì thành công hoặc thất bại cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tích thật rõ ràng rồi kết luận
“Đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”
4 Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái : “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái”, ba điều đó rất quan hệ với nhau Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần
chúng đề ra sáng kiến Sáng kiến được khen ngợi thì người thêm hăng hái, bất kỳ
việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi, trừ điều hại cho dân chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng hiệu quả của việc làm, tăng sức sản xuất của xã hội, đánh đổ sức áp bức của quân thù, có điều là sáng kiến”
5 Bất cứ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm với nhân dân
Trang 36 Cần khắc phục hai chứng bệnh ở cán bộ là:
- Bệnh khai hội: khai hội không có kế hoạch, không chuẩn bị kỹ lưỡng, không thiết thực, khai hội lâu, khai hội nhiều mà không có hiệu quả thiết thực;
- Bệnh nể nang không thiết thực phê bình, sợ mất lòng
2.3 Tư cách và đạo đức cách mạng
Mục này gồm có các vấn đề sau:
1 Phân tích 12 điều thuộc về tư cách của Đảng chân chính cách mạng
2 Nêu rõ phận sự của đảng viên và cán bộ:
Một là, trong lợi ích của Đảng hơn hết
Hai là, coi trọng đạo đức các mạng: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm
Ba là, phải giữ kỷ luật: “bất kỳ ở hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ cần phải
luôn luôn ra sức phấn đấu, ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hóa, tri thức và chính trị của mình Luôn luôn giữ gìn kỷ luật”
Bốn là, đối với các hạng đảng viên thì số đông là vì dân, vì nước mà vào
Đảng, nhưng có một số vì lẽ khác mà vào Đảng, vì thế phải cảm hóa họ, dạy dỗ họ, nâng cao sự hiểu biết và lòng phụ trách của họ “Đối với những người không chịu nổi khó nhọc, không chịu nổi kỷ luật nghiêm khắc mà xin ra khỏi Đảng, thì Đảng vẫn bằng lòng” “Đảng viên và cán bộ cũng là người Ai cũng có tính tốt và tính xấu Song đã hiểu hết, đã tình nguyện vào Đảng vì dân, vì nước, đã là người cách mạng thì phải cổ gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ không tính xấu”
Năm là, trong Đảng vì có những người chưa học được, làm được bốn chữ
“Chí công vô tư” cho nên mắc phải chứng “Chủ nghĩa cá nhân” Đó là thứ vi trùng rất độc gây ra các bệnh: bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu bí mật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ v.v, bệnh hữu danh
vô thực, kéo bè, kéo cánh, bệnh cận thị, bệnh cá nhân (trong sách còn riêu rõ lo biểu hiện căn bệnh này), bệnh lười biếng
Trang 4Sáu là, Đảng ta không phải từ trên trời rơi xuống, Đảng ở trong xã hội mà ra.
Nói chung, đảng viên phần nhiều là tốt, nhưng vẫn còn một số chưa bỏ hết thói xấu mang từ xã hội vào Đảng Đảng phải làm công việc giải phóng dân tộc to lớn, phức tạp, vì vậy, phải cố sức sửa chữa, cho tiệt nọc các chứng bệnh để cho Đảng càng mạnh khỏe, bình an
Bảy là, những khuyết điểm sai lầm vì sao mà có và từ đâu đến? Mỗi đảng
viên, mỗi cán bộ cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp nhau sửa chữa “Thang thuốc hay
nhất “là thiết thực phê bình và tự phê bình”
Tám là, đối với các khuyết điểm cần phân tích rõ ràng, cái gì đúng, các gì sai;
ra sức tranh đấu sửa chữa những khuyết điểm; khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp đồng chí khác sửa chữa những lỗi lầm; đoàn kết Đảng bằng sự tranh đấu nội bộ; nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng
3 Tư cách và bổn phận đảng viên Hồ Chí Minh viết mục này căn cứ vào Điều
lệ Đảng Cộng sản Đông Dương
4 Phải rèn luyện tính Đảng
Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải có tính Đảng
- Đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết
- Việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn
- Lý luận và thực hành phải luôn đi đôi với nhau
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, kém tính Đảng dẫn đến 12 căn bệnh: ba hoa, địa phương, danh vị, thiếu kỷ luật, cẩu thả, xa quần chúng, chủ quan, hình thức, ích kỷ,
hủ hóa, thiếu ngăn nắp, lười biếng
Muốn khắc phục các căn bệnh cần phải thực hành những điều sau:
Kiểm tra nghiêm ngặt, kiên quyết thực hành nghị quyết có hiệu quả
Trang 5- Phê bình rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, chân thành cốt để sửa chữa chứ không phải để công kích, cốt giúp nhau tiến bộ, không làm đồng chí nản lòng, khó chịu
- Kiên quyết thi hành kỷ luật
- Thực hiện khẩu hiệu: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”
2.4 Vấn đề cán bộ
Mục này phân tích khá sâu sắc các vấn đề cơ bản sau:
1 Cần phải: Huấn luyện nghề nghiệp, huấn luyện chính trị, huấn luyện văn hóa, huấn luyện lý luận cho cán bộ
2 Biết dạy cán bộ và dùng cán bộ: Phải biết rõ cán bộ, cất nhắc cán bộ cho đúng, khéo dùng cán bộ, phân phối cán bộ cho hợp lý, giúp cán bộ cho đúng, giữ gìn cán bộ
3 Lựa chọn cán bộ: Phải chọn những người rất trung thành và hăng hái trong công việc, luôn luôn quan hệ mật thiết với dân chúng, có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn, luôn giữ đúng kỷ luật
4 Có năm cách đối với cán bộ: Chỉ đạo, nâng cao, kiểm tra, cải tạo và giúp đỡ cán bộ
5 Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ: Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ
2.5 Cách lãnh đạo
1 Lãnh đạo và kiểm soát
Lãnh đạo đúng là: quyết định mọi vấn đề cho đúng, tổ chức thi hành cho đúng, tổ chức kiểm soát cho đúng
Muốn lãnh đạo đúng, người lãnh đạo phải có mối liên hệ chặt chẽ với các tầng lớp dân chúng
2 Lãnh đạo thế nào?
Trang 6Bất kỳ công việc gì cũng phải dùng hai cách lãnh đạo; một là, liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng; hai là, liên minh người lãnh đạo với quần chúng
Sự lãnh đạo thiết thực trong mọi công việc của Đảng là: Từ trong quần chúng
ra, trở lại nơi quần chúng
3 Học hỏi quần chúng, nhưng không theo đuôi quần chúng, muốn vậy thì phải kiên quyết thực hành các nguyên tắc sau:
- Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng
Tin vào dân chúng Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết
- Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó, và lúc đó, đưa ra tranh đấu
- Khéo tập trung ý kiến của quần chúng, biến nó thành đường lối lãnh đạo, chỉ đạo quần chúng
- “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian” Kết hợp hai cách chỉ đạo là từ trên xuống và phản ánh kịp thời thông tin từ dưới lên
2.6 Chống thói ba hoa
Mục này phân tích các vấn đề:
1 Thói ba hoa biểu hiện nhiều vẻ: dài dòng, rỗng tuếch, thói “cầu kỳ, khô
khan, lúng túng, báo cáo lông bông, lụp chụp, cẩu thả, “sáo cũ”, nói không ai hiểu Thói ba hoa gắn với bệnh chủ quan và hẹp hòi
2 Cách chữa thói ba hoa
Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, chữ viết phải tỏ rõ tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng
- Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu
Trang 7- Khi viết, khi nói, phải cố gắng làm cho ai cũng hiểu được
- Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ thì chưa nói, chưa viết
Trước khi nói phải nghĩ cho chắc, phải sắp đặt ý cẩn thận sau khi viết phải xem đi, xem lại ba bốn lần, nếu là tài liệu quan trọng, phải xem đi, xem lại chín, mười lần
Phần 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và công tác lý luận trong tác phẩm
2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về lý luận và công tác lý luận
Có thể xem đây là cuốn sách gối đầu giường của mỗi cán bộ làm công tác tư tưởng của Đảng nói chung và công tác lý luận nói riêng
Tác phẩm đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất về công tác lý luận của Đảng Trước hết là cách hiểu đúng về lý luận và công tác lý luận Người chỉ ra rằng: Kém lý luận, khinh lý luận, hoặc lý luận suông là nguyên nhân của bệnh chủ
quan Từ đó đưa ra cách hiểu về lý luận: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế Đó là lý luận chân chính”.
Lý luận do kinh nghiệm cách mạng ở các nước và trong nước ta, do kinh nghiệm từ trước và kinh nghiệm hiện nay gom góp phân tích và kết luận những kinh nghiệm đó thành ra lý luận.
Người định nghĩa lý luận chân chính phải là lý luận được đúc kết từ trong lịch sử, từ trong kinh nghiệm thực tiễn được rút ra từ các cuộc đấu tranh Không phải bê nguyên những điều đó để thành lý luận mà phải có sự xem xét, so sánh và nghiên cứu thật kỹ lưỡng để làm thành những kết luận Đó là lý luận chân chính
“Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công
việc thực tế Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”.
Trang 82.2 Vai trò của lý luận và công tác lý luận
2.2.1 Vai trò của lý luận với cách mạng
Người đã từng trích câu nói nổi tiếng của VI Lênin khi mở đầu tác phẩm
“Đường cách mệnh”: "Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng Chỉ có Đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong".
Người cũng chỉ rõ “Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy Kết quả thường thất bại Đó là
chứng kém lý luận trong bệnh chủ quan”.
Có những cán bộ, những đảng viên cũ, làm được việc, có kinh nghiệm Cố nhiên, những anh em đó rất quý báu cho Đảng Nhưng họ lại mắc phải cái
bệnh khinh lý luận Họ quên rằng: nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý
luận thì công việc tốt hơn nhiều Họ quên rằng: kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi
Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ
2.2.2 Vai trò của lý luận với việc tuyển chọn và huấn luyện cán bộ
Trong việc lựa chọn cán bộ của Đảng, cần lưu ý lựa chọn những người cán bộ phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau Phải thường xuyên học tập và rèn luyện để không ngừng nâng cao trình
độ lý luận, cũng như học đi đôi với hành, phải biết đem những gì học được áp dụng vào thực tiễn hoạt động, có như vậy cán bộ của Đảng mới trưởng thành nhanh chóng Nắm chắc lý luận và hiểu biết lý luận cách mạng là yêu cầu hàng đầu trong việc lựa chọn cán bộ của Đảng ta
Trang 9Đã lựa chọn đúng cán bộ còn cần phải dạy bảo lý luận cho cán bộ Chỉ thực
hành mà không có lý luận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù Người khẳng định rằng, công tác giáo dục lý luận là khâu quan trọng nhất trong việc huấn luyện, đào tạo cán bộ cho Đảng Xuất phát từ vai trò của lý luận đối với Đảng, với cách mạng, Người chỉ rõ trong công tác huấn luyện cán bộ cho Đảng phải đề cao trước tiên là công tác giáo dục lý luận, giáo dục chính trị - tư tưởng cho họ
Người viết: “Những cán bộ cao cấp và trung cấp mà có sức nghiên cứu lý luận (trình độ văn hoá khá, ham nghiên cứu), thì ngoài việc học tập chính trị và nghề nghiệp đều cần học thêm lý luận”.
Khâu thứ hai, sau khi tuyển chọn là huấn luyện cán bộ, đào tạo bồi dưỡng
cán bộ Huấn luyện cán bộ có rất nhiều nội dung, bao gồm nhiều mặt Người đề nghị trong huấn luyện cán bộ phải chú trọng 4 mặt, trong đó Người nhắc đến việc huấn luyện trình độ tư duy lý luận cho cán bộ
Huấn luyện nghề nghiệp cán bộ, làm nghề nào thì phải huấn luyện cho họ
nghề đó Nghề nghiệp của cán bộ phải huấn luyện trên các mặt Một là, nghiên cứu; Hai là, khảo sát; Ba là, lịch sử; Bốn là, lý luận của nghề đó Người nói, trong đào tạo cán bộ chúng ta thường làm theo một thói quen Cán bộ nào cũng huấn luyện lý luận như nhau cả Như vậy là vô ích Huấn luyện cán bộ về mặt nghề nghiệp thì những cái gì mà thiết thân đến cái nghề của họ, đến công việc của họ thì
ta hướng dẫn cho họ
Huấn luyện chính trị Huấn luyện chính trị chú trọng 2 mặt: Huấn luyện thời
sự và huấn luyện đường lối chính sách Đường lối, chính sách thì người cán bộ phải biết, phải nắm Ít nhất là đường lối, chính sách mà mình đang trực tiếp chỉ đạo Đường lối chính sách là nhiều, là chung nhưng mà đường lối chính sách mà mình đang trực tiếp làm, đang trực tiếp chỉ đạo thì phải nắm cho chắc Điều thứ hai, Người yêu cầu phải huấn luyện thời sự Cán bộ là phải biết thời sự Thời sự
Trang 10chung và thời sự riêng Thời sự nhất là thời sự của ngành mình, những vấn đề bức xúc trong lĩnh vực mà mình đang phụ trách Người nói, muốn làm được như vậy thì Đảng và Nhà nước phải luôn yêu cầu và tạo điều kiện để cán bộ phải nghe thời
sự Thời sự chung, thời sự riêng đặc biệt là thời sự của ngành mình Về phần mình, Người luôn thể hiện chế độ nghe thời sự, đọc báo hàng ngày theo tinh thần như vậy
Huấn luyện văn hoá, tức là bồi dưỡng trình độ học vấn, trình độ tri thức,
hiểu biết cho cán bộ, đảng viên Đây là một vấn đề rất quan trọng Người nói rằng, thực tế đất nước ta trải qua nhiều năm chiến tranh, kháng chiến nhiều nên đội ngũ cán bộ của ta không được học hành đến nơi, đến chốn Hạn chế này là mang tính lịch sử Trong quá trình thực hiện công tác cán bộ, Đảng phải tạo điều kiện để những người nào có ham muốn, có khát vọng, có nguyện vọng được học Học để dần dần nâng cao trình độ văn hoá lên Văn hoá được nâng cao thì nghiệp vụ cũng được tăng lên và điều quan trọng đặc biệt hơn là người có văn hoá ứng xử đạo đức
sẽ khác với người không có văn hoá Người có văn hoá cao có cách ứng xử, có nhận thức, lời nói phải, gần chân lý hơn Người giải thích như vậy
Người đề nghị, Đảng huấn luyện văn hoá phải tuỳ theo từng trình độ mà huấn luyện Ai cũng ở một trình độ thì huấn luyện văn hoá ở trình độ đó Đừng có cho tất cả vào một lớp như nhau để rồi huấn luyện Như thế, người biết nhiều hơn thì người ta chán với cách dạy đó và người chưa biết thì không tiếp thu được Dù
kể cả lớp nhỏ hay lớp lớn cũng phải chia theo trình độ văn hoá mà chia lớp
Huấn luyện lý luận, dạy tư duy lý luận Người nhấn mạnh nhiều nhất là lý luận chính trị Dạy lý luận là phải dạy thiết thực, không hình thức Dạy lý luận rồi
áp dụng trong thực tế Dạy lý luận là đi vào thực chất của vấn đề để rồi dùng phương pháp, tinh thần của lý luận đó mà giải quyết các công việc thực tế Dạy lý luận không phải học thuộc lòng từng câu, từng chữ Đây cũng chính là cách học lý