Giáo dục pháp luật là một trong những nội dung quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động của Nhà nước và xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn chúng ta đang tiến hành xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân với mục đích thực hiện quyền làm chủ của nhân dân theo chủ trương, đường lối của Đảng. Nhà nước pháp quyền XHCN với đặc trưng cơ bản là Nhà nước sử dụng pháp luật làm căn cứ điều chỉnh các hành vi cá nhân khi tham gia vào các quan hệ xã hội với mục đích bảo đảm cho xã hội ổn định, phát triển bền vững và thể hiện bản chất nhà nước. Xuất phát từ yêu cầu tăng cường đổi mới hoạt động GDPL, qua đó nâng cao hơn nữa nhận thức và hiểu biết pháp luật cho lao động nữ ở các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giúp lao động nữ hiểu hơn về chính sách, pháp luật cho người lao động đặc biệt là những chính sách dành riêng cho lao động nữ để họ có khả năng tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình theo đúng pháp cũng như đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, đặc biệt là đáp ứng yêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đẩy mạnh CNHHĐH đất nước và hội nhập quốc tế. Với những lý do như trên, việc chọn đề tài: “Giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận văn tốt nghiệp là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận và vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO LAO
ĐỘNG NỮ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 91.1 Khái niệm, đặc điểm giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong
1.2 Nội dung, hình thức, phương pháp của giáo dục pháp luật cho
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục pháp luật cho lao
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở TỈNH TUYÊN QUANG (GIAI ĐOẠN TỪ
2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội của Tỉnh Tuyên Quang và
đặc điểm lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên
2.2 Đánh giá thực trạng lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh
Tuyên Quang và hoạt động giáo dục pháp luật cho lao động
nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang 402.3 Nguyên nhân của thực trạng hoạt động giáo dục pháp luật cho
lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang 50
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở TỈNH TUYÊN QUANG 57
3.1 Quan điểm tăng cường giáo dục pháp luật cho lao động nữ
trong các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang 573.2 Giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóaCNVCLĐ : Công nhân, viên chức, lao động DBHB : Diễn biến hòa bình
GDPL : Giáo dục pháp luật
PBGDPL : Phổ biến giáo dục pháp luật TNBP : Thanh niên Bình Phước
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Trang 3Bảng 2.1: Cơ cấu lao động tỉnh Tuyên Quang năm 2012 33
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Tuyên Quang qua các năm
Bảng 2.3: Trình độ lao động nữ của tỉnh Tuyên Quang 41
Bảng 2.4: Tỷ lệ lao động phân theo giới tính và trình độ chuyên
Bảng 2.5: Tình trạng việc làm của lao động nữ 43
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục pháp luật là một trong những nội dung quan trọng và không thểthiếu trong hoạt động của Nhà nước và xã hội Đặc biệt trong giai đoạn chúng tađang tiến hành xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân với mục đích thực hiện quyền làm chủ của nhân dân theo chủ trương, đườnglối của Đảng Nhà nước pháp quyền XHCN với đặc trưng cơ bản là Nhà nước sửdụng pháp luật làm căn cứ điều chỉnh các hành vi cá nhân khi tham gia vào cácquan hệ xã hội với mục đích bảo đảm cho xã hội ổn định, phát triển bền vững vàthể hiện bản chất nhà nước
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản ViệtNam tại mục 1 phần IX của Báo cáo Chính trị đã ghi: "Nhà nước là công cụ chủyếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, dodân, vì dân", "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan tổ chức, cán
bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật" vàVăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam trongCương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển2011) được nêu tại nội dung IV về Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng
đã khẳng định “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì nhândân”, “Nhà nước ban hành pháp luật ; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật vàkhông ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Để có được nhà nước phápquyền như vậy, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như phải xây dựng hệ thống luậtpháp hoàn chỉnh, có hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước từ Trung ương xuống cơ sởvững chắc, trình độ văn hóa pháp luật và ý thức của người dân đạt tới sự hiểu biết,
tự giác cao, các cơ quan giám sát thi hành pháp luật nghiêm minh Trong sốnhững yếu tố trên, yếu tố nào cũng có vai trò đặc biệt quan trọng Nhưng suy chocùng, hệ thống luật pháp ấy hoàn thiện có đến được với người dân hay không, nhân
Trang 5dân có hiểu biết và tự giác thực hiện pháp luật đến đâu là vấn đề có tính quyếtđịnh Nếu luật pháp vẫn chỉ là luật pháp cho dù luật pháp ấy có hoàn chỉnh đếnmấy; nếu người dân cứ tự do sống theo kiểu của mình không cần biết đến luậtpháp, thì không những xã hội không phát triển mà còn rất tồi tệ và bất ổn nữa,thậm chí còn đe dọa đến sự an nguy của chế độ Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ phápluật phải đi vào cuộc sống, nhân dân thấy cần pháp luật như cần không khí để hítthở vậy Vì vậy, hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật giữ một vaitrò vô cùng quan trọng và cũng không thể làm một, hai lần và làm trong một thờigian ngắn là xong mà phải rất kiên trì, sáng tạo, linh hoạt, được toàn xã hội thamgia và hưởng ứng Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V đến nay, Đảng ta đãliên tục khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phổ biến giáo dụcpháp luật Quan điểm coi trọng hoạt động giáo dục pháp luật được thể hiện nhấtquán và ngày càng rõ nét Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳngđịnh:
Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật, huyđộng các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thôngtin đại chúng tham gia vào đợt vận động thiết lập trật tự kỷ cương và cáccông tác thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trongcác cơ quan nhà nước và trong xã hội [13, tr.241]
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định việc xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải đi đôi với công tác tuyên truyền và giáodục pháp luật đó là: "Đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng luật, ban hành và thựcthi pháp luật, trong đó chú trọng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật và tổ chức thihành pháp luật một cách nghiêm minh" [14, tr.239]
Thể chế hóa quan điểm do Đảng đề ra, nhiều văn bản pháp luật về giáo dụcpháp luật đã được Nhà nước ban hành Ngày 17-1-2003,Thủ tướng Chính phủ banhành Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục
Trang 6pháp luật từ 2003 đến 2007 Ngày 16-12-2004 Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuyết định số 214/2004/QĐ-TTg phê duyệt chương trình hành động quốc gia vềphổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộnhân dân ở xã phường thị trấn từ năm 2005 đến 2010 Ngày 24-02-2009 Thủ tướngChính phủ ban hành Quyết định số 31/2009/QĐ-TTg phê duyệt đề án tuyên truyền,phổ biến giáo dục pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trongcác loại hình doanh nghiệp từ năm 2009 - 2012…
Trên cơ sở đó, thời gian qua hoạt động giáo dục pháp luật nói chung, giáodục pháp luật cho người lao động ở các doanh nghiệp đã đạt được nhiều kết quảđáng kể, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật, nâng cao văn hóa pháp
lý trong nhân dân, bước đầu tạo dựng sự ổn định trong lối sống, làm việc theo Hiếnpháp và pháp luật ở các đối tượng cụ thể Tuy nhiên, cho đến nay, so với nhu cầuthực tiễn, hoạt động giáo dục pháp luật vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, nhất làgiáo dục pháp luật cho các đối tượng là công nhân lao động ở các doanh nghiệp
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nghèo, nằm ở giữa Tây Bắc và Đông Bắccủa Tổ quốc; phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía Đông giáp tỉnh Bắc Cạn, CaoBằng và Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ vàVĩnh Phúc Tuyên Quang có diện tích đất tự nhiên là: 587.038,5 ha, dân số tính đến31-12-2011 là: 747.505 người với 22 dân tộc cùng sinh sống phần nào đã ảnhhưởng đến công tác phổ biến giáo dục pháp luật nói riêng và tình hình phát triểnkinh tế - xã hội nói chung Mặc dù là một tỉnh miền núi, được tái lập từ ngày 01-01-1997, còn gặp nhiều khó khăn, nhưng trong những năm qua Tỉnh ủy, Ủy bannhân dân tỉnh đã có những quan tâm đầu tư cho hoạt động giáo dục pháp luật, nângcao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ công nhân viên chức lao động nóichung và lao động nữ ở các doanh nghiệp nói riêng Tuy nhiên, việc giáo dục phápluật cán bộ công nhân viên chức lao động, đặc biệt là lao động nữ ở các doanhnghiệp ở trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập và
Trang 7hạn chế, chưa phù hợp với đặc thù của một tỉnh miền núi Vẫn còn tình trạng laođộng nữ ở các doanh nghiệp thiếu hiểu biết về pháp luật, làm trái pháp luật; chấtlượng, nội dung và hình thức tuyên truyền, GDPL chưa phù hợp, thiếu sinh động,thiếu hấp dẫn, dẫn đến việc chấp hành pháp luật chưa thật nghiêm, hiệu quả GDPLchưa cao
Xuất phát từ yêu cầu tăng cường đổi mới hoạt động GDPL, qua đó nâng caohơn nữa nhận thức và hiểu biết pháp luật cho lao động nữ ở các doanh nghiệp trênđịa bàn tỉnh Tuyên Quang giúp lao động nữ hiểu hơn về chính sách, pháp luật chongười lao động đặc biệt là những chính sách dành riêng cho lao động nữ để họ cókhả năng tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình theo đúng pháp cũng như đápứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, đặc biệt là đáp ứng yêuxây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước
và hội nhập quốc tế Với những lý do như trên, việc chọn đề tài: “Giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận và vừa có ý nghĩa thựctiễn cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ngày nay trong công cuộc đổi mới của đất nước thực hiện CNH-HĐH, hộinhập quốc tế ngày trở nên sâu rộng hơn trên mọi lĩnh vực Vì thế, vấn đề giáo dụcpháp luật là một trong những vấn đề mang tính cấp thiết Mặt khác, GDPL với tưcách là một phạm trù pháp lý, là một công tác có tổ chức có định hướng, có mụcđích do các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế- xã hội… tiếnhành với mục đích xây dựng tri thức pháp luật và là biện pháp tăng cường phápchế XHCN Do vậy, vấn đề này từ trước đến nay luôn thu hút sự quan tâm của cácnhà khoa học pháp lý, nhất là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân
Trang 8Các công trình đã được nghiên cứu đề cập những khía cạnh khác nhau vềgiáo dục pháp luật bao gồm:
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp, 1994.
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ, MS 92-98-223-ĐT của Viện Nghiên cứu khoa học
- Giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay,
Luận văn thạc sĩ Luật học của Hoàng Trung Thành, 2004
- Thực hiện chương trình giáo dục pháp luật cho cán bộ, chính quyền cấp xã
ở các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay, Luận văn
thạc sĩ Luật học của Ngô Quốc Dụng, 2006
- Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Thị Nụ, 2007.
- Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức ngành thể dục, thể thao ở tỉnh
Hà tĩnh hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học của Bùi Xuân Thập, 2008.
- Giáo dục pháp luật cho phụ nữ nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên,
Luận văn thạc sĩ Luật học của Đinh Thị Hương, 2008
- Giáo dục pháp luật về quốc phòng cho cán bộ, chiến sỹ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Hoàng Huy, 2008.
Trang 9- Giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên, Luận văn thạc sĩ Luật học Hoàng Thị Ngọc Anh, 2009.
- Giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Bình Phước, Luận văn thạc sĩ Luật học Ngô Quốc Huy, 2011.
- Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ Luật học Vi Thi Thu Hiền, 2011.
- Giáo dục pháp luật cho học viên trường cán bộ Phụ nữ Trung ương, Luận
văn thạc sĩ Luật của Hoàng Thị Thúy Quỳnh, 2011
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học nói trên của tập thể hay cánhân của các tác giả đã nêu ra nhiều vấn đề rất cơ bản cả về lý luận và thực tiễn tronghoạt động GDPL ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, có thể nói rằng, cho đến naychưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về GDPL cho laođộng nữ trong các doanh nghiệp nói chung và lao động nữ trong các doanh nghiệptrên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng Do vậy, Luận văn này là công trình nghiêncứu một cách cơ bản, có hệ thống về nội dung và hình thức GDPL đối với lao động
nữ trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Mặc dù vậy, các công trìnhnghiên cứu trên vẫn là nguồn tài liệu quý giá được tham khảo trong suốt quá trìnhthực hiện nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Tăng cường hoạt động giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh
nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Trên cơ sở khái quát những vấn đề có tính lý luận về giáo dục pháp luật, luậnvăn phân tích và làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và vai trò của giáo dục pháp luậtcho lao động nữ trong các doanh nghiệp
Trang 10- Nghiên cứu, đánh giá chính xác, khoa học về thực trạng và phân tíchnguyên nhân của thực trạng hoạt động giáo dục pháp luật cho lao động nữ trongcác doanh nghiệp ở các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất luận cứ các quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường hoạt động giáodục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang và củađất nước
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Luận văn này tập trung vào nghiên cứu trên cơ sở thực trạng hoạt động giáodục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang
- Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2012
5 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàndiện về giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh TuyênQuang
- Luận văn đã phân tích, đánh giá khá toàn diện về thực trạng hoạt động giáodục pháp luật để trên cơ sở đó phát hiện những điểm chưa hợp lý và đề xuấtphương hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường hoạt động giáo dụcpháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang trong thờigian tới
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm, đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyềnXHCN Việt Nam; đề cao nhân tố con người, đào tạo con người phát triển toàn diệnphục vụ sự nghiệp công nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 11Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, phương pháp duy vật lịch sử cụ thể, phân tích, tổng hợp, kết hợp với cácphương pháp nghiên cứu khác như phương pháp khảo sát thực tế, phương phápthống kê, phân tích, so sánh
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ tính chất đặc thù của hoạt động giáo dục phápluật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnh Tuyên Quang và các địaphương có những điểm tương đồng về lịch sử, kinh tế, văn hóa , trên cơ sở đó gópphần thúc đẩy công tác giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệptại tỉnh Tuyên Quang
- Luận văn góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thựccủa các cơ quan trong hệ thống chính trị tỉnh Tuyên Quang trong việc giáo dục phápluật cho người lao động nói chung và cho lao động nữ trong các doanh nghiệp ở tỉnhTuyên Quang nói riêng Đồng thời, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảocho việc hoạch định chính sách, giáo dục pháp luật trong trường Chính Trị tỉnh TuyênQuang, các Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thị và Hội đồng giáo dục phápluật ở các cấp trong tỉnh Tuyên Quang
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dungcủa luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO LAO ĐỘNG NỮ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của lao động nữ
1.1.1.1 Khái niệm lao động nữ
Trước khi đưa ra khái niệm về lao động nữ, cần đề cập một số khái niệm:
Nữ giới: là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay
toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểmgiới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họhoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường Nữ giới, phân biệt vớinam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loàingười Nhìn theo khía cạnh sinh học, nữ giới chỉ những người thuộc giống cái
Lao động nữ: là từ chỉ những người lao động là nữ giới Lao động nữ là lực
lượng lao động chiếm đa số trong cỏc nhà mỏy, xớ nghiệp hiện nay Nữ cụng nhõnlao động là bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam, là hội viên của Hội liên hiệpphụ nữ Việt Nam, là lực lượng nòng cốt trong phong trào phụ nữ cả nước, vì vậy
nữ CNVC sinh hoạt và hoạt động trong tổ chức Công đoàn để thực hiện nhiệm vụ
và quyền lợi của giai cấp, đồng thời tham gia sinh hoạt trong tổ chức nữ công đểthể hiện quyền và nhiệm vụ đối với tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
1.1.1.2 Đặc điểm của lao động nữ
Phụ nữ Việt Nam đóng vai trò to lớn trong hoạt động sản xuất và phát triểnkinh tế với tỷ lệ tham gia lao động là 68,5%, thuộc vào loại cao nhất thế giới Tuynhiên, thực trạng lao động nữ của Việt Nam hiện đang tồn tại hàng loạt nghịch lý
về tỷ lệ lao động nữ trong khu vực kinh tế chính thức, tỷ lệ lãnhh đạo nữ hay tỷ lệlượng mà phụ nữ nhận được cho cùng một công việc so với nam giới…
Trang 13Về tỷ lệ lao động nữ trong các khu vực kinh tế, theo Bộ Lao động - Thương
binh và xã hội, ở khu vực kinh tế chính thức, phụ nữ chỉ chiếm 40% số việc làmđược trả lương và chiếm tỷ lệ thấp trong nhóm ngành nghề bậc cao (quản lý,chuyên môn kỹ thuật…) đồng thời chiếm tỷ lệ cao ở nhóm nghề bậc trung, nghề có
kỹ năng thấp (trong nhóm người làm công việc không đòi hỏi chuyên môn kỹthuật, 67% là nữ) Xu hướng nữ hóa lao động ở một số hoạt động kinh tế phi chínhthức, dịch vụ, thương mại, nhóm nghề truyền thống đặc trưng hoặc nghề mới (giúpviệc gia đình, dịch vụ nhà hàng, chăm sóc trẻ em…) đã tạo thêm cơ hội việc làmmới cho phụ nữ song trong nhiều trường hợp, mức độ rủi ro của loại công việc nàykhá cao
Về thời gian lao động, so với nam giới, lao động nữ thường phải đảm nhận
những công việc, vị trí kém cạnh tranh hơn, thời gian làm việc nhiều hơn, thu nhậpthấp hơn Theo quy định của Bộ luật Lao động, người lao động làm việc40giờ/tuần nhưng trên thực tế, đa số lao động nữ phải làm việc vượt quá thời giannói trên Theo số liệu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, khoảng 60% số laođộng nữ làm việc thêm giờ với thời lượng quá 4h/ngày, trong những cơ sở sản xuấtnhỏ thì con số này còn cao hơn nhiều
Về mức lương, kết quả điều tra 505 doanh nghiệp với 2.696 lao động, do
Trường Đại học Kinh tế quốc dân và Viện Nghiên cứu xã hội HAGUE (Hà Lan)thực hiện, cho thấy tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp của nữ thấp hơn namgiới 15% Khoảng cách này thể hiện ở tất cả các ngành kinh tế, các doanh nghiệpthuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau, các khu vực, vị trí công việc, nhóm tuổi vàloại hợp đồng
Về tỷ lệ lãnh đạo nữ giới, Báo cáo mới nhất của Ngân hàng thế giới cho biết,
tỷ lệ nữ trong các vị trí quản lý, lãnh đạo khá thấp và dù là ở cấp độ và lĩnh vựccông tác nào, tỷ lệ nam giới tham gia quản lý, lãnh đạo vẫn cao hơn nữ giới với độchênh lệch ít nhất là hai lần Trên thực tế, kể cả trong những khu vực phụ nữ chiếm
Trang 14ưu thế thì họ cũng hiếm khi được giao những vị trí quan trọng Ví dụ, mặc dù nữgiới nắm giữ tới 71% số việc làm trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nhưng các đơn vịgiáo dục thường do nam giới lãnh đạo Số liệu thống kê cũng cho thấy nam giớinắm giữ hầu hết các vị trí quản lý cao nhất, họ có mặt trong nhiều cơ cấu ngànhnghề hơn, có nhiều sự lựa chọn và không gian nghề nghiệp mở rộng hơn phụ nữ.
1.1.1.3 Vai trò của lao động nữ
Phụ nữ Việt Nam chiếm hơn 50% số dân và gần 50% lực lượng lao động xãhội Hiện có tới 33,1% đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) - cao nhất ở châu Á
và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới; số phụ
nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20% Trình độ học vấn của phụ nữngày nay cũng được nâng lên đáng kể Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc
sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69% Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ướctính tới gần 30% Lao động nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế,
và dịch vụ Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm tỷ lệ cao trong các bộ mônvăn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế
Hiện nay, trong các doanh nghiệp ở nước ta, lao động nữ đóng vai trò rấtquan trọng, nhất là trong những ngành đòi hỏi sự khéo léo và linh hoạt Trongnhóm các ngành nghề như may mặc, giày da hay lắp ráp linh kiện điện tử, lao động
nữ chiếm tỷ lệ áp đảo Trong nhóm các ngành công nghiệp nặng thì tỷ lệ lao động
nữ có thấp hơn Số liệu thống kê của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy
có khoảng 56,2% lao động nữ làm việc trong môi trường tiếng ồn, rung; 55% trongmôi trường nóng, bụi; 24,6% trong môi trường có chất độc; 12,9% làm công việcnặng nhọc Nhìn chung, tỷ lệ lao động nữ trong các doanh nghiệp từ năm 2005 đếnnay là cân đối so với nam giới, thậm chí đôi lúc còn cao hơn Điều này cho thấytrong các doanh nghiệp, lao động nữ đóng vai trò quan trọng như nam giới và ngàycàng trở nên bình đẳng so với nam giới
Trang 15Ở Tuyên Quang, lao động nữ chiếm hơn một nửa lực lượng lao động củatỉnh Phụ nữ giữ vai trò rất quan trọng trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, pháttriển kinh tế Trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, vai trò của phụ nữ ngàycàng rõ nét Họ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thực hiện chuyển đổi cơ cấu câytrồng vật nuôi, góp phần hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, vùng nguyênliệu gắn với thị trường hàng hóa Trong công nghiệp, xây dựng, lực lượng lao động
nữ tích cực học tập nâng cao trình độ để tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến,không ngừng sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, rèn luyện tác phongcông nghiệp Không chỉ làm giàu cho bản thân, nhiều chị em đã trở thành những chủdoanh nghiệp, tham gia tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm chocộng đồng xã hội Mạnh dạn và mạnh mẽ, chị em đã đóng góp tích cực vào sự nghiệpphát triển kinh tế của tỉnh với mức tăng trưởng năm 2012 đạt 13,56%/năm; tỷ lệ hộnghèo giảm xuống còn 24,29% vào năm 2012 (năm 2008 tỷ lệ này là 35,64%)
Hưởng ứng phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo,xây dựng gia đình hạnh phúc”, trong 5 năm qua, đã có 438 chị em tham gia đào tạotrình độ đại học, 145 chị được đào tạo trên đại học, 1.218 chị được học tập nângcao tay nghề Số chị em tham gia cấp ủy Đảng các cấp và HĐND các cấp đã chiếmmột tỷ lệ đáng kể Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy tỉnh nhiệm kỳ 2010 - 2015 đạt 29,09%(cao nhất cả nước); cấp ủy huyện, thành phố đạt 20,6%; cấp ủy xã, phường, thị trấnđạt 22,2% Đại biểu nữ HĐND nhiệm kỳ 2011 - 2016 cấp tỉnh đạt 46,55%; cấphuyện 33,98%; cấp xã 26,32% Cũng từ phong trào thi đua này, đã có 91.015 hộiviên phụ nữ đạt 3 tiêu chuẩn của phong trào; 16.251 nữ công nhân viên chức laođộng đạt danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”
1.1.2 Khái niệm giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong doanh nghiệp
Có nhiều quan niệm khác nhau về GDPL Có quan niệm cho rằng vì phápluật là các quy tắc có tính bắt buộc chung, mọi người phải có nghĩa vụ tuân thủ.Theo quan niệm này, tự bản thân pháp luật đã có tính giáo dục bởi những giá trị tốt
Trang 16đẹp của nó và thông qua những chế tài của nó Quan niệm thứ hai đồng nhất hoặccoi GDPL là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức Chỉcần thực hiện tốt quá trình giáo dục này là mọi người đã có ý thức pháp luật cao,biết tôn trọng và tuân thủ pháp luật Theo quan niệm này, không có co quanchuyên trách về tuyên truyền giáo dục pháp luật Quan niệm thứ ba đồng nhấtGDPL với việc tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến các văn bản pháp luật Theo đó,việc GDPL thực chất chỉ là các đợt tuyên truyền, cổ động khi có văn bản pháp luậtquan trọng mới ban hành như Hiến pháp, các bộ luật hoặc trước các kỳ bầu cửQuốc hội, bầu cử Hội đồng Nhân dân các cấp Hậu quả là việc GDPL chỉ còn làmột công việc của cơ quan chuyên trách hay các phương tiện thông tin đại chúng.
Từ đó làm mất tính tổ chức, tính hệ thống của hoạt động GDPL
Các quan niệm nói trên đều phiến diện và chưa thể hiện được đặc thù, sự tácđộng của GDPL, nên đã vô tình hoặc cố ý hạ thấp vai trò, giá trị xã hội của GDPL.Bởi vì bản thân pháp luật mới chỉ là văn bản quy phạm pháp luật, là mô hình ởdạng "tiềm năng" Pháp luật chỉ thực sự đi vào cuộc sống thông qua cơ chế điềuchỉnh bao gồm các giai đoạn: ban hành, tuyên truyền giáo dục, tổ chức thực hiện,kiểm tra giám sát Trong cơ chế đó yếu tố con người là cơ bản Khi tham gia vàocác quan hệ pháp luật, con người phải suy nghĩ, lựa chọn cách xử sự thể hiện quahành vi Đây là một quá trình tâm lý phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủquan và khách quan Việc phổ biến văn bản pháp luật mới chỉ là điều kiện cầnnhưng chưa đủ để cá nhân hành động phù hợp theo yêu cầu của pháp luật Điềukiện đủ ở đây là cá nhân phải có ý thức pháp luật đúng đắn, ý thức đó phải đượchình thành dưới sự tác động liên tục, thường xuyên của các điều kiện khách quan
và nhân tố chủ quan dẫn đến hành vi hợp pháp của cá nhân Quá trình tác động đến
ý thức cũng như hiểu biết của con người chính là quá trình giáo dục pháp luật
Để hiểu rõ về khái niệm GDPL, nhiều nhà khoa học thường xuất phát từkhái niệm giáo dục trong khoa học sư phạm
Trang 17Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình ảnh hưởng của nhiều điều kiện khách
quan như: môi trường sống, chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa,phong tục tập quán và sự tác động của nhân tố chủ quan như: sự tác động có ýthức, có mục đích, có kế hoạch và định hướng của con người lên việc hình thànhnhững phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch,
có định hướng của chủ thể giáo dục tác động lên khách thể giáo dục, nhằm đạtđược các mục tiêu nhất định như: Truyền bá những kinh nghiệm và tri thức về tựnhiên, xã hội và tư duy để khách thể (hay đối tượng) có đủ khả năng tham gia vàođời sống xã hội
Từ đó, có thể hiểu GDPL là quá trình các điều kiện khách quan và nhân tố chủquan tác động lên con người (khách thể, hay đối tượng) để hình thành nên ý thức, tìnhcảm và hành vi pháp luật của họ Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay, nhiều nhà khoahọc thường xây dựng khái niệm GDPL theo nghĩa hẹp của giáo dục, tức là loại bỏ sựtác động của các yếu tố khách quan trong GDPL Đó là do sự tác động của các điềukiện khách quan nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, còn nhân tố chủ quan lànhân tố tác động có chủ đích, có định hướng, có nội dung và phạm vi nhất định) cáchhiểu này có ý nghĩa trong việc phân biệt phạm trù GDPL với phạm trù ý thức phápluật GDPL là hoạt động có chủ đích Còn sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩmcủa điều kiện khách quan Sự phân biệt hai phạm trù này có ý nghĩa quan trọng ở chỗtạo ra khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn của hoạt động GDPL) xây dựng kháiniệm GDPL theo nghĩa hẹp nhằm làm nổi bật mối quan hệ giữa cái riêng, cái đặc thùcủa GDPL với cái chung, cái phổ biến của giáo dục
Như vậy, giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp có thể hiểu là tổng hợp các hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau do chủ thể giáo dục pháp luật tiến hành nhằm tác động lên đội ngũ lao động nữ trong các doanh
Trang 18nghiệp nhằm hình thành ở họ tri thức pháp luật, thái độ và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành.
1.1.3 Đặc điểm của việc giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp
Thứ nhất, đặc điểm về mục đích của giáo dục pháp luật cho lao động nữ
trong các doanh nghiệp
Dưới góc độ giáo dục học thì đối tượng giáo dục là những cá nhân hoặc tậpthể học sinh, người học Trong lĩnh vực GDPL, đối tượng GDPL là các cá nhâncông dân hay các nhóm, cộng đồng công dân tiếp nhận trực tiếp hoặc gián tiếp tácđộng của các hoạt động GDPL do các chủ thể giáo dục tiến hành nhằm đạt được cácmục đích đặt ra Mỗi nhóm đối tượng GDPL được chủ thể tác động bằng hình thức,phương pháp khác nhau, điều này phụ thuộc vào đặc điểm tâm lý, nghề nghiệp, lứatuổi, giới tính, nhu cầu và khả năng nhận thức của từng loại đối tượng Trong giaiđoạn đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước hiện nay, ngoài đối tượng chung là mọi côngdân cần ưu tiên nghiên cứu đối tượng là các tầng lớp nhân dân lao động đặc biệt là laođộng nữ trong các doanh nghiệp
Thứ hai, giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp có đối
tượng giáo dục đặc thù
Thực tế cho thấy ở nước ta hiện nay mặc dù kết quả của các hoạt động bìnhđẳng giới đã giúp cho lao động nữ có nhiều cơ hội thuận lợi, nhưng lao động nữvẫn bị xem là đối tượng yếu thế hơn nam giới, và trên thực tế, chất lượng lao động
nữ trong các doanh nghiệp còn hạn chế Hiện nay, có 69,3% người lao động cótrình độ từ trung học phổ thông trở lên, 23,7% có trình độ trung học cơ sở, 2,4% cótrình độ tiểu học Về trình độ tay nghề, mới có gần 30% người lao động được quađào tạo Trình độ học vấn thấp dẫn đến nhận thức về pháp luật và ý thức tuân thủpháp luật lao động của công nhân hiện nay chưa cao, khả năng nắm bắt chậm Đại
bộ phận người lao động ở khu công nghiệp là dân nhập cư, điều kiện ăn ở và sinh
Trang 19hoạt không ổn định khiến công tác tuyên truyền gặp rất nhiều khó khăn Các DNđưa ra rất nhiều lý do để tránh các hội nghị triển khai pháp luật lao động.
Người lao động, nhất là lao động nữ trong các doanh nghiệp là đối tượng ít
có điều kiện để tiếp cận các thông tin để có những tư tưởng, quan điểm về vai tròpháp luật trong đời sống, cũng như kỹ năng vận dụng pháp luật vào cuộc sống.Một thực tế là 80% người lao động được phổ biến pháp luật lao động tại các doanhnghiệp nhưng hiệu quả rất thấp Thậm chí, các DN cũng tuyên truyền theo hướng
có lợi cho mình còn quyền lợi người lao động thì “bỏ ngỏ” Điều này rất đến việcngười lao động thiếu kiến thức pháp luật nghiêm trọng về các quyền và nghĩa vụcủa mình đối với chủ doanh nghiệp nói riêng và với xã hội nói chung
Thứ ba, GDPL cho lao động nữ trong các doanh nghiệp có yêu cầu giáo dục
đặc biệt
GDPL cho lao động nữ trong các doanh nghiệp cần phải nhấn mạnh mốiquan hệ giữa giáo dục và nâng cao về trình độ văn hóa pháp lý trong xu thế toàncầu hóa hội nhập hiện nay, giúp họ có ý thức đầy đủ hơn về trách nhiệm của mìnhtrong bối cảnh quốc tế mới Giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanhnghiệp hiện nay phải đảm bảo chương trình tương ứng với trình độ văn hóa, dântộc, nhận thức của lao động nữ
1.1.4 Mối quan hệ giáo dục pháp luật với các dạng giáo dục khác
GDPL tuy có những nét đặc thù nhưng phải được đặt trong hệ thống giáodục nói chung Vì vậy, GDPL có mối quan hệ mật thiết với giáo dục chính trị, đạođức, lao động, kinh tế Về cơ bản, GDPL có quan hệ mật thiết nhất với các dạng giáodục sau:
- Trước hết, GDPL tác động tương hỗ một cách sâu sắc với giáo dục chính trị tư tưởng V.I Lênin đã chỉ rõ rằng: "Luật là biện pháp chính trị, là chính trị".
Hiện nay, đường lối chính trị của Đảng ta về chính trị, kinh tế, xã hội đã đi vào tất
cả các mặt hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Có thể nói rằng, mỗi mộtquy phạm pháp luật đều là phương tiện để củng cố, ghi nhận, một quy tắc mà xã
Trang 20hội cần, xã hội ủng hộ nhằm bảo vệ không chỉ những lợi ích của Nhà nước mà còn
là của mỗi công dân Bởi vậy, khi thực hiện GDPL sẽ tạo ra khả năng cho việc giáodục chính trị tư tưởng, góp phần hình thành ở đối tượng giáo dục những quan hệgiá trị xác định với chính trị tư tưởng Ngược lại, trong giáo dục chính trị tư tưởng
có chức năng đan xen trong nội dung của mình những hiện tượng của pháp luật,củng cố những quan hệ tích cực đối với những đòi hỏi của pháp luật, kích thích lợiích điều chỉnh bằng pháp luật Mối quan hệ mật thiết qua lại chặt chẽ giữa GDPL
và giáo dục chính trị tư tưởng đòi hỏi các chủ thể GDPL phải biết kết hợp và bổsung cho nhau trong quá trình giáo dục
Thứ hai, GDPL có quan hệ chặt chẽ với giáo dục đạo đức Trong Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định:
"Tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Quản lý
xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức" [13, tr.45].Giữa pháp luật và đạo đức không có sự đối lập nhau, pháp luật là chỗ dựa và là cơ
sở của việc hình thành đạo đức; các nguyên tắc căn bản của đạo đức được thể chếhóa thành các quy phạm pháp luật Do đó, pháp luật bảo vệ và phát triển đạo đức,bảo vệ tính công bằng, nhân đạo, tự do, lòng tin và lương tâm con người Vì vậy,giáo dục đạo đức tạo nên những tiền đề cần thiết để hình thành ở công dân sự tôntrọng sâu sắc đối với pháp luật Ngược lại, GDPL tạo ra khả năng thiết lập trênthực tế những nguyên tắc đạo đức mới Quy phạm pháp luật và quy phạm đạo đứcđều hướng tới điều chỉnh hành vi của con người, giữa chúng có một số điểm chung
là cùng tác động lên con người, qua đó tạo ra lòng tin và thói quen xử sự theo cácchuẩn mực đạo đức và pháp luật
Như vậy, sự thống nhất giữa GDPL và giáo dục đạo đức thể hiện ở hành vicủa con người Sự thống nhất đó đòi hỏi sự tác động tổng hợp của cả hai dạng giáodục Do đó, trong thực tiễn, các tổ chức chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổchức chính trị xã hội phải sử dụng đồng bộ các hình thức, các biện pháp của cả hai
Trang 21dạng giáo dục để bổ sung cho nhau, tác động lẫn nhau với mục đích hình thành cáchành vi hợp pháp, hợp tình (đạo đức) ở các đối tượng được giáo dục.
Thứ ba, GDPL có quan hệ chặt chẽ với giáo dục kinh tế Hiện nay, "Đảng và
Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tếhàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước, theo định hướng XHCN" [14, tr.23] Để thực hiện đường lối kinh tế nói trêncủa Đảng và Nhà nước, cần đẩy mạnh hoạt động giáo dục kinh tế trong mối quan
hệ với sự nghiệp đổi mới Tất nhiên, giáo dục kinh tế trong giai đoạn hiện nay lànhững tư duy và phương pháp của "cơ chế thị trường theo định hướng XHCN".Các quan hệ kinh tế ở nước ta diễn ra ở mức độ này hay mức độ khác được thểhiện thành các hình thức pháp lý Thiếu các hình thức pháp lý thích hợp, các quan
hệ kinh tế đó khó có thể thực hiện Điều đó có nghĩa rằng, bên cạnh giáo dục kinh
tế, cần phải tiến hành GDPL bao gồm việc giải thích, phổ biến, học tập, nghiên cứunhững văn kiện liên quan trực tiếp đến việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế
Trong điều kiện đổi mới hiện nay của đất nước, việc nghiên cứu mối quan
hệ tổng hợp, đan xen giữa các dạng giáo dục có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấpbách Việc GDPL chỉ có thể đạt được mục đích và hiệu quả trong mối quan hệthống nhất của cả hệ thống các hình thức giáo dục Tất cả các dạng giáo dục phảiđược phối hợp và tiến hành thường xuyên trong mối quan hệ tác động qua lại lẫnnhau
1.2 NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.2.1 Nội dung của giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp
Cùng với mục đích, hình thức, phương pháp GDPL một trong những yếu tốquan trọng của quá trình GDPL đó là nội dung giáo dục pháp luật được xác địnhtrên cơ sở mục đích, nhiệm vụ, đối tượng của GDPL Nội dung GDPL bao gồmmột hệ thống các thông tin về pháp luật thực định, những thông tin về pháp luậtchuyên ngành, những thông tin về thực tiễn thi hành, áp dụng và bảo vệ pháp luật
Trang 22Nội dung GDPL được hiểu là một hệ thống tri thức cần thiết cho đối tượnggiáo dục sử dụng để phân tích, lý giải một cách khoa học toàn bộ những vấn đềthực tế mà họ thường gặp để từ đó định hướng cho hành vi của mình Việc lựachọn nội dung GDPL sao cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể trong giai đoạnhiện nay ở Việt Nam theo quan điểm của các nhà khoa học pháp lý thường dựa vàomột số đặc điểm nhất định cụ thể là:
Dựa vào trạng thái động của các thông tin trong nội dung của GDPL: sở dĩcần dựa vào đặc điểm này là vì sự thiếu ổn định của chính hệ thống pháp luật thựcđịnh và sự tác động của các biến đổi xã hội kéo theo nó là sự thay đổi chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử Song yêu cầu củaGDPL là tính hệ thống khoa học và tính cập nhật, do đó đòi hỏi chủ thể GDPL phảithiết kế được nội dung tổng thể sao cho có sự phù hợp giữa phần chung (bao gồmcác nội dung tương đối ổn định) và phần cụ thể (bao gồm các nội dung mới)
Để pháp luật, nhất là pháp luật lao động và công đoàn được thực thi và pháthuy hiệu quả, một trong những công tác quan trọng là phổ biến kịp thời, đầy đủnhững nội dung pháp luật liên quan trực tiếp đến các quyền, lợi ích hợp pháp củacông nhân, viên chức, người lao động Những nội dung cơ bản của giáo dục phápluật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp là các văn bản, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước đối với người lao động đặc biệt là những chính sách được quy địnhriêng cho lao động nữ
Trên thực tế tồn tại sự mâu thuẫn giữa các thông tin trong nội dung GDPL,giữa pháp luật trên văn bản và thực tiễn thi hành pháp luật Vì vậy, khi tiến hànhGDPL các chủ thể GDPL phải biết lựa chọn phương pháp GDPL giúp cho ngườiđược giáo dục có sự nhìn nhận đúng đắn, biện chứng về quá trình đổi mới, hoànthiện pháp luật và đưa pháp luật vào đời sống
Trang 231.2.2 Hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp
1.2.2.1 Hình thức giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp
Hình thức giáo dục là những hoạt động cụ thể do chủ thể GDPL sử dụngnhằm chuyển tải nội dung GDPL đến từng đối tượng GDPL Hiệu quả của hoạtđộng GDPL không chỉ phụ thuộc vào nội dung GDPL mà còn phụ thuộc vào hìnhthức giáo dục Bởi vì, đây là yếu tố quan trọng để chuyển tải được nội dung GDPLđến từng đối tượng giáo dục Căn cứ vào đặc điểm của đối tượng GDPL về trình
độ nhận thức, điều kiện sống, độ tuổi, mức độ quan tâm đến pháp luật, nhu cầu tìmhiểu pháp luật của đối tượng mà sử dụng hình thức và phương pháp phổ biến,GDPL phù hợp Bên cạnh đó, cần chú ý gắn GDPL với việc thực hiện nhiệm vụkinh tế, chính trị của địa phương Điều này nếu thực hiện tốt không những pháthuy được tác dụng của GDPL mà còn làm tăng thêm hiệu quả của công tác này
Đối với phụ nữ nói chung và lao động nữ trong các doanh nghiệp nói riêng,
do đặc điểm của đối tượng như đã nêu ở trên, khả năng tiếp thu kiến thức cònnhiều hạn chế và còn gặp nhiều khó khăn nên việc GDPL phải được thực hiệnthông qua nhiều hình thức khác nhau Hình thức GDPL phải phù hợp với từng đốitượng, hình thức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật phải phù hợp với hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của từng doanh nghiệp Do vậy xác định đúng đắn hìnhthức GDPL là vấn đề hết sức quan trọng và người ta có thể chia hình thức GDPLthành hai loại:
- Hình thức GDPL mang tính phổ biến, truyền thống được thể hiện trongnhiều loại hình giáo dục như môn pháp luật đưa vào giảng dạy ở các cơ sở đào tạo,qua phương tiện thông tin đại chúng, các sách pháp luật, nói chuyện pháp luật, cáccuộc thi tìm hiểu pháp luật, hướng dẫn pháp luật
Trang 24- Hình thức đặc thù của GDPL là hình thức thực hiện thực tiễn pháp luật cótác động lên ý thức và hành vi của công dân, như qua các hoạt động lập pháp, hànhpháp, tư pháp của các cơ quan Nhà nước hoặc qua thực thi công cụ của công chức
và qua các hoạt động của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ hoà giải, qua các dịch
vụ pháp lý Đồng thời, GDPL linh hoạt cần được chú trọng là lồng ghép hoạt độngGDPL với các loại hình văn nghệ dân gian, thực hiện dân chủ cơ sở, hoà giải, tưvấn pháp luật
Để đưa các văn bản pháp luật đến với người lao động, công tác PBGDPLphải được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau, bằng nhiều phươngpháp, cách làm khác nhau Tuy nhiên, không phải tất cả các hình thức đều phù hợpvới mọi đối tượng và có thể thực hiện được ở mọi địa bàn, trong mọi điều kiện Vìvậy, để công tác PBGDPL thực sự có hiệu quả, để các văn bản pháp luật đến vớivới người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng thì một trong những yêucầu quan trọng là phải lựa chọn hình thức và biện pháp cho phù hợp như: tổ chứctập huấn, toạ đàm, thi tìm hiểu… đây là những hình thức PBGDPL thu hút đượcđông đảo người lao động trong các doanh nghiệp tham gia, đạt hiệu quả thiết thực
Thi tìm hiểu pháp luật là một hình thức PBGDPL sinh động, hấp dẫn thu hútđược sự tham gia đông đảo của CNVCLĐ trong các ngành nghề và địa bàn côngtác Các cuộc thi tìm hiểu pháp luật được tổ chức ở trung ương cũng như ở địaphương với nhiều hình thức như thi “hái hoa dân chủ”; thi viết, qua các hình thứcvăn hoá, văn nghệ… với quy mô tổ chức khác nhau phụ thuộc vào điều kiện, hoàncảnh ở từng cơ sở Điển hình là các cuộc thi: tìm hiểu Bộ luật Dân sự, Bộ luật Laođộng; thi An toàn, vệ sinh viên; tìm hiểu pháp luật về lao động nữ, chọn hòa giảiviên lao động giỏi, tìm hiểu Chương trình tổng thể cải cách hành chính, tuyêntruyền viên pháp luật giỏi, tìm hiểu Luật giao thông…
Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Hệ thống các phương tiệnthông tin đại chúng của Công đoàn đă trở thành công cụ PBGDPL được thực hiện
Trang 25thường xuyên và hiệu quả từ nhiều năm nay với đặc trưng là tính phổ cập, thườngngày, kịp thời đưa pháp luật đến với CNVCLĐ Tổng Liên đoàn tiếp tục phát huythế mạnh của các tờ báo và tạp chí, nhà xuất bản của hệ thống Các chương trìnhcông đoàn trên các phương tiện thông tin từ trung ương đến địa phương qua mỗinăm đều được nâng cao chất lượng nội dung, cải tiến về hình thức thể hiện, tăngthời lượng phát sóng, số trang, mục
Thông qua các chuyên mục, các báo, tạp chí trong hệ thống công đoànkhông chỉ tập trung, phổ biến, giới thiệu chủ trương chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước tới CNVCLĐ, về hoạt động của các cấp công đoàn trong côngtác xây dựng, thi hành pháp luật mà nhiều bài báo đă phản ánh việc chủ doanhnghiệp vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động kịp thời kiến nghịvới các cơ quan Nhà nước bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các văn bản pháp luật chophù hợp với thực tế
Biên soạn, phát hành tài liệu phổ biến giáo dục pháp luật: Công tác biênsoạn, phát hành tài liệu phổ biến giáo dục pháp luật mới liên quan đến CNVCLĐđược các cấp công đoàn đặc biệt quan tâm đẩy mạnh như Hiến pháp, Bộ luật Laođộng, Luật công đoàn, Luật cán bộ, công chức, các sách cẩm nang pháp luật sáchphổ biến, sách hướng dẫn nghiệp vụ công đoàn Nội dung các văn bản pháp luậtđược biên soạn ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu với nhiều hình thức đa dạng như cácsách hỏi - đáp, sổ tay pháp luật, tài liệu thông tin pháp luật, các loại tờ gấp, pa- nô,
áp phích, sách báo Các loại hình tài liệu trên đă thực sự tạo điều kiện thuận lợicho CNVCLĐ, cán bộ CĐ, góp phần không nhỏ vào việc đưa pháp luật vào cuộcsống
Tủ sách pháp luật có tác dụng rất thiết thực, nhất là trong giai đoạn hiệnnay, khi sự nghiệp đổi mới đất nước ngày càng phát triển, đời sống dân trí ngàymột cao, việc giao lưu văn hoá pháp luật trong nước và ngoài nước được mở rộngthì tủ sách pháp luật là phương tiện hữu hiệu để CNVCLĐ nghiên cứu, tìm hiểu và
Trang 26vận dụng các quy định của pháp luật vào thực tế cuộc sống một cách đầy đủ, chínhxác và có hệ thống Sách pháp luật phổ thông bao gồm: sách hỏi - đáp, bình luận,giải thích pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người lao động trong quan hệ lao động.Các văn bản nội bộ tại doanh nghiệp như Thỏa ước lao động tập thể, Nội quy laođộng, Quy chế dân chủ, Quy chế mối quan hệ phối hợp giữa công đoàn và giámđốc doanh nghiệp…
Thông qua công tác trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật: Nội dung hoạt độngcủa các cơ sở tư vấn pháp luật công đoàn bao gồm hầu hết các lĩnh vực pháp luật
và các dịch vụ pháp lý khác, trong đó, chủ yếu là lĩnh vực lao động và công đoàn,
hỗ trợ các công đoàn cơ sở xây dựng, tham gia soạn thảo thỏa ước lao động, nộiquy lao động, quy chế phối hợp hoạt động giữa đơn vị và công đoàn cơ sở; Thamgia xây dựng các quy chế về chuyển xếp lương, sử dụng quỹ phúc lợi, quỹ thưởngtại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp…
Thông qua công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật: Các cấp công đoàncũng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan trong việc kiểm tra thi hành phápluật, nhất là việc thực hiện Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn và các chế độ bảohiểm xă hội, bảo hiểm y tế trong các cơ quan, doanh nghiệp Qua kiểm tra phát hiệnnhững lệnh lạc, hướng dẫn thực hiện theo đúng pháp luật, đồng thời có kiến nghị sửađổi, bổ sung chính sách cho phù hợp với thực tiễn
Hoạt động PBGDPL được thực hiện thông qua việc lấy ý kiến tham gia xâydựng pháp luật Việc tham gia xây dựng pháp luật đă tập trung trí tuệ của đông đảoCNVCLĐ trong các cơ quan, doanh nghiệp Thông qua đó, đă góp phần đưa nộidung của các văn bản pháp luật đến CNVCLĐ
Thông qua hệ thống các câu lạc bộ của công đoàn: Câu lạc bộ pháp luật làmột hình thức PBGDPL có hiệu quả, phù hợp với nhiều đối tượng Câu lạc bộpháp luật là nơi tập hợp các hội viên của câu lạc bộ và nhiều người khác tham gia,tạo điều kiện giao lưu, học tập, trao đổi kiến thức pháp luật cần thiết cho hội viên
Trang 27và những người tham gia câu lạc bộ; giúp hội viên câu lạc bộ nắm vững pháp luật,tạo điều kiện để họ đề đạt và kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyềnnhững vấn đề có liên quan đến công tác xây dựng và thi hành pháp luật Hệ thốngcác câu lạc bộ của công đoàn đă đóng góp tích cực cho công tác PBGDPL.
Thông qua hoạt động hoà giải của hội đồng hoà giải lao động cơ sở: Hoàgiải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thoả thuận,
tự giải quyết với nhau mâu thuẫn, tranh chấp, xích mích, những việc vi phạm phápluật có tính chất nội bộ nhằm khôi phục, giữ gìn tính đoàn kết, phòng ngừa, hạnchế vi phạm pháp luật, bảo đảm sự ổn định, hài hoà trong quan hệ lao động
Hoà giải là một hình thức PBGDPL gắn với từng vụ việc cụ thể và vì vậy
có hiệu quả trực tiếp, gần gũi với CNVC- LĐ Thông qua từng vụ việc cụ thểphát sinh trong cuộc sống, việc hoà giải trở thành hình thức truyền tải, đưa phápluật đến với người lao động một cách tự nhiên Có thể nói, đẩy mạnh công táchoà giải của hội đồng hoà giải lao động cơ sở là một trong những hình thức, giảipháp trực tiếp góp phần công tác PBGDPL có hiệu quả
Qua phổ biến, giáo dục pháp luật CNVCLĐ được nâng cao hiểu biết và ýthức chấp hành pháp luật, biết sử dụng các quy định pháp luật để bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước và của xă hội; góp phần ổn định, pháttriển quan hệ lao động hài hoà, lành mạnh
1.2.2.2 Phương pháp giáo dục pháp luật cho lao động nữ trong các doanh nghiệp
Phương pháp GDPL là hệ thống các cách thức sử dụng để tiến hành hoạtđộng GDPL Để pháp luật đến với lao động nữ một cách dễ hiểu, dễ tiếp nhận đếnnay vẫn chưa có phương pháp nào là tối ưu mà vẫn đang trong giai đoạn tìm tòi,thử nghiệm Tuy nhiên, để có phương pháp GDPL đúng đắn cần phải hiểu rõ đốitượng cần GDPL, họ là ai, trình độ nhận thức đến đâu, điều kiện, hoàn cảnh sốngcủa họ như thế nào, mức độ quan tâm đến pháp luật Do đó, việc lựa chọn phương
Trang 28pháp GDPL cho lao động nữ là rất cần thiết và có thể phân chia phương phápGDPL thành 2 nhóm:
Thứ nhất, các phương pháp áp dụng trong hoạt động GDPL cụ thể như:
phương pháp giải thích thuyết phục; phương pháp thực hành trực quan; kết hợp lýluận và thực tế;
Thứ hai, các phương pháp tổ chức GDPL như: các mô hình và phương pháp
tổ chức phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai GDPL ở từng cấp, từng địaphương và từng ngành nhằm thực hiện các chương trình kế hoạch GDPL dài hạn,ngắn hạn, tổng thể hay chuyên đề
Tóm lại, phương pháp GDPL là yếu tố quan trọng bảo đảm chất lượng giáo
dục Do đó vấn đề đặt ra ở đây là làm sao chủ thể GDPL phải lựa chọn được nhữngphương pháp phù hợp nhất với khả năng tiếp nhận kiến thức của từng đối tượng vàđiều kiện cụ thể từng vùng gắn với nhu cầu thiết thực phù hợp với vụ mùa, kết hợptiếng dân tộc thiểu số và tiếng Việt Việc áp dụng một phương pháp giáo dục duynhất cho nhiều đối tượng khác nhau sẽ là không phù hợp, thậm chí là phản tácdụng trong GDPL
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.3.1 Yếu tố chính trị, tư tưởng
Sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cáchmạng Việt Nam Đó là vấn đề có tính nguyên lý và quy luật đã được thực tiễn kiểmnghiệm Ngay từ khi khởi sướng công cuộc đổi mới cũng là quá trình phát triển,hoàn thiện các chủ trương, biện pháp giáo dục, tại Đại hội lần thứ VI của Đảng(1986) Đại hội chính thức mở ra công cuộc đổi mới, Nghị quyết đại hội đã nhấnmạnh: Coi trong công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật Đưa việcgiảng dạy pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước (kể cả phổthông và đại học), của các đoàn thể nhân dân Các cán bộ quản lý từ Trung ươngđến cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết pháp luật Cần sử
Trang 29dụng nhiều hình thức và phương pháp để giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật vàlàm tư vấn pháp luật cho nhân dân [11, tr.24].
Đến đại hội VII của Đảng (1991) - Đại hội đã xác định nhiệm vụ của côngtác GDPL là:
Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và GDPL; huy động lực lượngcủa các đoàn thể chính trị - xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tinđại chúng tham gia các đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạtđộng thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong các
cơ quan nhà nước và trong xã hội [12, tr.241]
Đại hội IX của Đảng (2001) Đảng ta tiếp tục xác định "Đổi mới và hoànthiện quy trình xây dựng Luật ban hành và thực thi pháp luật, trong đó chú trọngviệc tuyên truyền GDPL và tổ chức thực thi luật một cách nghiêm chỉnh" Đại hộilần thứ X (2006) Đảng đều nhất trí với chủ trương trên Đặc biệt trong nhiệm kỳ khoá
IX, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị số 32 - CT/TW về tăng cường sự lãnhđạo của Đảng trong hoạt động GDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán
bộ và nhân dân Chỉ thị đã xác định "Phổ biến GDPL là một bộ phận của công tácgiáo dục chính trị tư tưởng, là nhiệm vụ của hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạocủa Đảng" [1, tr.01]
Chỉ thị nhấn mạnh trong những năm tới "Cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thựchiện tốt hoạt động GDPL để góp phần tạo sự chuyển biến căn bản về ý thức tôntrọng pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân"
Xác định nhiệm vụ cụ thể của các cấp uỷ Đảng trong lãnh đạo chính quyềncác cấp tổ chức công tác GDPL với nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp vớiđịa bàn và đối tượng khác nhau; xây dựng kế hoạch, chương trình phổ biến GDPLthiết thực cho các cấp, các ngành, các cơ quan, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu củatừng thời kỳ Nghị quyết 48 - NQ/TW (khoá IX) đã chủ trương "Xây dựng và triểnkhai chương trình quốc gia về phổ biến GDPL dài hạn" [2, tr.11]
Trang 30- Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác tuyên truyền phổ biến phápluật cho người lao động và người sử dụng lao động
Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trungương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến,giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, xácđịnh rõ: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chínhtrị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo củaĐảng”
Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ
về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 củaBan Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trongcông tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán
bộ, nhân dân, trong đó nhấn mạnh: “Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần phảiđược tiến hành một cách thường xuyên, liên tục và ở tầm cao hơn nhằm làm chocán bộ và nhân dân hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật đáp ứng yêucầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân”
Tại Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 03 năm 2008 phê duyệtChương trình phổ biến giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến 2012, Thủ tướng Chínhphủ đã giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: “Chỉ đạo, hướng dẫn công tácphổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực: việc làm, dạy nghề, lao động, tiềnlương, tiền công, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động cho các doanh nghiệp và cácchính sách, pháp luật đối với người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ
em, bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội; chủ trì xây dựng và triển khai thựchiện có hiệu quả Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động vàngười sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp”
Trang 31Ngày 24 tháng 6 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số31/2009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người laođộng và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp giai đoạn 2009 -
2012, với mục tiêu chung là tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôntrọng và chấp hành pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng đối với ngườilao động và người sử dụng lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa tại cácdoanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định xã hội, xây dựng vàhoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân Đề án cũng đặt ra mục tiêu cụ thể là đến hết năm 2012, phấn đấu đạt95% người sử dụng lao động được tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động vàcác quy định pháp luật liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp và 70% người laođộng được tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động và các quy định pháp luật liênquan tới quyền và nghĩa vụ của công dân và người lao động
Như vậy, với những chủ trương và biện pháp trên, sự lãnh đạo của Đảng,trực tiếp là các cấp uỷ Đảng Tỉnh Tuyên Quang trở thành điều kiện tiên quyết bảođảm hoạt động GDPL cho lao động nữ ở tỉnh Tuyên Quang
1.3.2 Yếu tố văn hóa, xã hội
Văn hoá - xã hội là yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động giáo dụcpháp luật Văn hoá quyết định giá trị, niềm tin, thái độ, hành vi… của con người, làyếu tố tác động trực tiếp đến quan niệm của con người về cái đúng, cái sai, về điềunên làm cũng như điều không nên làm Kết cấu xã hội có tác động mạnh mẽ đến ýthức pháp luật của con người Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, nơi có nền vănhoá là sự pha trộn giữ văn hoá của người Kinh và các dân tộc khác như Kinh,Nùng, Dao , vì vậy, văn hoá - xã hội nơi đây có nhiều điểm khác biệt so với cácvùng miền khác trong cả nước Người Tuyên Quang bản chất thật thà, các mốiquan hệ xã hội được xây dựng và duy trì trên cơ sở thứ bậc và lòng tin; người dântrong cộng đồng kết nối và ràng buộc lẫn nhau bởi những phong tục, tập quán lâu
Trang 32đời và chặt chẽ Chính vì vậy, hệ thống thức bậc và lòng tin mới là yếu tố cơ bảnduy trì trật tự xã hội chứ không phải pháp luật Do đó, ở Tuyên Quang, trong nhậnthức của mọi người, pháp luật không phải là điều tối quan trọng Thực tế này gây
ra những khó khăn nhất định cho việc tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho laođộng nữ ở Tuyên Quang Sẽ có nhiều việc cần phải làm để giúp người lao độngnhận thức đúng về tầm quan trọng của luật pháp Ngoài ra, những hành động viphạm trật tự xã hội và sự an toàn của cộng đồng cũng thường bị trừng phạt hoặc xử
lý theo các quy ước của cộng đồng chứ không theo các quy định pháp luật, vì vậy
sẽ không đơn giản trong việc thuyết phục người dân tuân thủ pháp luật và áp dụngpháp luật thường xuyên trong đời sống hàng ngày
1.3.3 Yếu tố kinh tế
Điều kiện bảo đảm GDPL cho lao động nữ không thể thiếu được là kinh phí,phương tiện vật chất tiến hành các hoạt động giáo dục cụ thể Để có được điều này,vấn đề không phải chỉ dựa vào chế độ của Nhà nước Điều đó có nghĩa, các chủ thểGDPL cho lao động nữ đặc biệt là chính quyền địa phương, Công đoàn các cấp,sáng tạo trong việc phát huy sự đóng góp của xã hội, tận dụng vai trò của truyềnthông đại chúng, tác động giáo dục của các hoạt động tư pháp và phát huy vai tròcủa đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên tình nguyện của các cán bộ đã nghỉhưu
Trong những năm qua, do khó khăn về kinh phí nên công tác GDPL chongười lao động nói chung và lao động nữ nói riêng còn hạn chế, số cuộc tuyêntruyền pháp luật chưa nhiều, tài liệu phục vụ cho GDPL chưa phong phú, chưa đadạng, chế độ đãi ngộ cho báo cáo viên, tuyên truyền viên còn quá thấp thậm trí cónơi không có chế độ đãi ngộ Do vậy, muốn nâng cao được hiệu quả của công tácnày thì việc đầu tư kinh phí và các trang thiết bị cho công tác này là yếu tố rất quantrọng
1.3.4 Yếu tố pháp luật
Trang 33Một là, Nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tuyên truyền phổ
biến, giáo dục pháp luật
- Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật, đẩymạnh công tác tuyên truyền GDPL.Chỉ thị số 01/1998/CT-BTP ngày 01-01-1998
về Một số biện pháp trước mắt để triển khai chỉ thị số 02/1998/CT-TTg và Quyếtđịnh số 03/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch triểnkhai hoạt động GDPL từ 1998 đến năm 2002; ngày 17-01-2003 của Thủ tướng Chínhphủ ký Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phổ biến GDPL từnăm 2003 đến năm 2007; ngày 16-12-2004 Thủ tướng Chính phủ Quyết định số214/2004/QĐ-TTg phê duyệt chương trình hành động Quốc gia phổ biến GDPL vànâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từnăm 2005 đến 2010 Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số31/2009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người laođộng và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp giai đoạn 2009 -
2012 Đề án cũng đặt ra mục tiêu cụ thể là đến hết năm 2012, phấn đấu đạt 95% người
sử dụng lao động được tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động và các quy địnhpháp luật liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp và 70% người lao động đượctuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động và các quy định pháp luật liên quan tớiquyền và nghĩa vụ của công dân và người lao động
Nhà nước tổ chức triển khai thực hiện chương trình GDPL ở tất cả các cấp,các ngành, xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức quản lý và thực hiệnGDPL Nhà nước đảm bảo kinh phí, cơ sở vật chất cho GDPL, tổ chức hệ thốngthông tin, tuyên truyền pháp luật, cung cấp các dịch vụ pháp lý
Hai là, quy định cơ sở pháp lý cho cơ chế phối hợp trong GDPL cho lao
động nữ
Công tác tuyên truyền GDPL cho nhân dân có một vị trí hết sức quan trọng,
nó không chỉ giúp hiểu biết pháp luật, đấu tranh chống mọi hành vi vi phạm phápluật mà còn tạo điều kiện để mọi người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật,
Trang 34góp phần xây dựng một xã hội dân sự Công tác này lại càng có ý nghĩa quan trọngđối với người lao động trong các doanh nghiệp Việc GDPL cho lao động nữ trongcác doanh nghiệp để giúp họ nâng cao nhận thức, hiểu biết về pháp luật có một vai tròhết sức quan trọng, chính vì vậy việc GDPL cho người lao động và người sử dụng laođộng trong các loại hình doanh nghiệp không phải là trách nhiệm của một ngành, một
cơ quan nào mà trách nhiệm chung của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các đoàn thể
xã hội "Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội lãnhđạo đoàn thể, tổ chức của mình chủ động và tích cực phối hợp với các cơ quan nhànước thực hiện phổ biến GDPL cho các đoàn viên, hội viên" [1, tr.3]
Bảo đảm cơ chế trên là bảo đảm phát huy được sức mạnh tổng hợp và cóhiệu quả trong công tác GDPL cho lao động nữ trong các doanh nghiệp cần phải có
sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, đoàn thể, trong đó chú trọng đến việc phâncông nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể, rõ ràng với sự tham gia của cơ quan nhànước, các tổ chức chính trị xã hội, của các cấp, các ngành để trách sự chồng chéocũng như đùn đẩy trách nhiệm
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng khác đến giáo dục pháp luật cho lao động nữ tại doanh nghiệp
Chủ thể GDPL: Chủ thể GDPL là những người có vai trò rất quan trọng
trong việc chuyển tải những nội dung, những quy định của pháp luật đến mọi tầnglớp nhân dân, góp phần đưa pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống Chính vì vậyGDPL là một trong những điều kiện bảo đảm hoạt động GDPL cho lao động nữ
Để pháp luật đến với lao động nữ một cách dễ hiểu, có hiệu quả thì đòi hỏi chủ thểcủa việc GDPL phải có trình độ, năng lực pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ, có tâmhuyết, nhiệt tình, tận tuỵ với nhân dân và chia sẻ khó khăn với nhân dân thì việcGDPL sẽ được bảo đảm Tuy nhiên, những điều kiện nêu trên chỉ là điều kiện cầnnhưng chưa đủ Điều kiện đủ là phải hình thành được đội ngũ những người thựchiện giáo dục có sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ thể chuyên nghiệp với các chủ thể
Trang 35khác được tổ chức chặt chẽ, trong đó có vai trò của các cấp uỷ Đảng, chính quyền
cơ sở và vai trò của các cấp hội, tổ chức đoàn thể là quan trọng
Về nội dung GDPL cho lao động nữ: Nội dung GDPL cho lao động nữ là
phải đầy đủ những vấn đề như phần đặc điểm đã phân tích Dưới góc độ coi nộidung GDPL cho lao động nữ là điều kiện bảo đảm, chỉ khi những nội dung đóđược biên tập thành những bộ tài liệu để phục vụ cho những nhóm đối tượng đặcthù này một cách cụ thể, kết hợp với các hình thức tuyên truyền, phổ biến sinhđộng như: tờ rơi, tờ gấp, đồng thời bằng nhiều biện pháp để các bộ tài liệu đó đếnđược với tất cả lao động nữ
Điều kiện về hình thức: Trong GDPL giữa nội dung giáo dục với hình thức,
phương pháp giáo dục quan hệ chặt chẽ với nhau Nội dung tốt mà hình thức,phương pháp không phù hợp thì hiệu quả giáo dục không bảo dảm Vì thế GDPLcho lao động nữ phải phù hợp với đặc điểm chủ thể và nội dung giáo dục, các hìnhthức, phương pháp giáo dục phải đa dạng, linh hoạt, có sự đan xen, lồng ghép, gắnvới công việc, nhu cầu pháp luật cụ thể
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Ở TỈNH TUYÊN QUANG
2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH TUYÊN QUANG VÀ ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở TỈNH TUYÊN QUANG
2.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Đông Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng
165 km, phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía Đông giáp tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên,phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ Toàn tỉnh
có 6 huyện và 1 thành phố, với 141 xã, phường, thị trấn Tổng số dân toàn tỉnh
(ước tính 2012) khoảng 740.000 người, số người trong độ tuổi lao động 448.056
người, chiếm 60,5% Phần lớn lực lượng lao động của tỉnh là lao động nôngnghiệp, chiếm 60,6%, Công nghiệp xây dựng chiếm 18,05%, Dịch vụ thương mạichiếm 21,89%
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động tỉnh Tuyên Quang năm 2012
lộ 2 và quốc lộ 37 Hệ thống sông suối của Tuyên Quang khá dày đặc, phân phốitương đối đều giữa các vùng, có thể chia làm ba vùng trong đó sông Lô có khả
Trang 37năng vận tải tốt, đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông đường thuỷcủa tỉnh.
Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có haimùa rõ rệt: mùa đông lạnh - khô hanh; mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Nhiệt độ trungbình trong năm từ 22 - 240C, lượng mưa trung bình từ 1.500 mm - 1.800 mm; độ
ẩm trung bình là 85% Đặc điểm khí hậu này thích ứng cho sự sinh trưởng, pháttriển của các loại cây trồng nhiệt đới
Do điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều làm lớp vỏ phong hoá của đất TuyênQuang tương đối dày, cộng với thảm thực vật còn khá có tác dụng bảo vệ mặt đấtnên sự thoái hoá của đất ở mức độ nhẹ Đất Tuyên Quang có các nhóm chính: đất
đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất, diện tích 389.834 ha, chiếm 67,2% diện tích tựnhiên; đất vàng nhạt trên đá cát, có diện tích 66.986 ha, chiếm 11,55%; đất đỏ vàngtrên đá macma, diện tích 24.168 ha, chiếm 4,17% diện tích; đất vàng đỏ trên đábiến chất, diện tích 22.602 ha, chiếm 3,89%; đất phù sa ven suối, diện tích 9.621
ha, chiếm 1,66%; đất dốc tụ - thung lũng, diện tích 8.002 ha, chiếm 1,38%; ngoài
ra còn có một số loại đất khác chiếm diện tích nhỏ: đất nâu vàng, đất mun vàngnhạt, đất nâu đỏ; đất phù sa không được bồi đắp… Tóm lại, tài nguyên đất củaTuyên Quang hết sức phong phú về chủng loại, chất lượng tương đối tốt, đặc biệt
là các huyện phía nam, thích ứng với nhiều loại cây trồng khác nhau
Tổng diện tích rừng Tuyên Quang có khoảng 357.354 ha, trong đó rừng tựnhiên là 287.606 ha và rừng trồng là 69.737 ha Độ che phủ của rừng đạt trên 51%.Rừng tự nhiên đại bộ phận giữ vai trò phòng hộ 213.849 ha, chiếm 74,4% diện tíchrừng hiện có Rừng đặc dụng 44.840 ha, chiếm 15,6%, còn lại là rừng sản xuất28.917 ha, chiếm 10,05% Có thể nói, về cơ bản rừng tự nhiên Tuyên Quang có trữlượng gỗ còn rất thấp, việc hạn chế khai thác lâm sản sẽ hợp với thực trạng tàinguyên rừng Tuy nhiên, Tuyên Quang vẫn còn hơn 15.378 ha rừng tre, nứa tựnhiên Trong tổng diện tích rừng trồng có 44.057 ha rừng trồng cho mục đích
Trang 38sản xuất với các loại như: thông, mỡ, bạch đàn, keo, bồ đề… Tuyên Quang cókhả năng phát triển kinh tế lâm nghiệp, đồng thời phát triển rừng trên diện tíchđồi, núi chưa sử dụng khoảng 120.965 ha.
Tuyên Quang cũng có tiềm năng phát triền ngành du lịch Tỉnh có căn cứ địacách mạng mà ngày nay vẫn còn ghi đậm dấu ấn từ mái lán Nà Lừa, mái đìnhHồng Thái, cây đa Tân Trào, nơi ngọn lửa cách mạng đã được Đảng và Bác Hồlãnh đạo Trong cách mạng Tháng Tám, Tuyên Quang vinh dự là Thủ đô Khu giảiphóng, được Trung ương Đảng và Bác Hồ chọn làm trung tâm của cách mạng cảnước Tại Tân Trào-Sơn Dương-Tuyên Quang đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử gắnliền với vận mệnh dân tộc: Hội nghị toàn quốc của Đảng quyết định chủ trươnglãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và cử ra Uỷ ban khởi nghĩatoàn quốc; Quốc dân Đại hội họp tại đình Tân Trào thành lập Uỷ ban dân tộc giảiphóng tức Chính phủ lâm thời do Bác Hồ làm Chủ tịch Trong những năm trường
kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Tuyên Quang là Thủ đô Khángchiến, nơi đồng bào cả nước " trông về Việt bắc mà nuôi chí bền Bình Ca, Cầu Cả,Khe Lau , là những địa danh lịch sử làm rạng rỡ tinh thần chiến đấu quả cảm,mưu trí, sáng tạo của quân, dân Tuyên Quang trong chiến dịch Việt Bắc (Thu-Đông 1947) Bên cạnh đó, Tuyên Quang còn có khu du lịch sinh thái Na Hang,Hàm Yên, Núi Dùm, suối khoáng Mỹ Lâm…
Theo báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang năm 2012 về tình hìnhthực hiện nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng của tỉnh, trong năm 2012, tuy còn nhiềukhó khăn nhưng kinh tế Tuyên Quang đã đạt được một số thành tựu rất đáng khích
lệ
Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tiếp tục phát triển; đề án quy hoạch xâydựng nông thôn mới được hoàn thành Sản lượng lương thực có hạt đạt trên 33,4vạn tấn, bằng 101,9% kế hoạch Phát triển ổn định các vùng chuyên canh với trên
Trang 398.068 ha chè, 9.577 ha mía và trên 5.441 cây ăn quả Sản lượng thuỷ sản đạt trên5.400 tấn 15.086 ha rừng được trồng mới, tỷ lệ che phủ rừng đạt 64,3%
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Tuyên Quang qua các năm
(2001 - 2011)
Đơn vị: %
Nguồn: Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang 2012.
Tỉnh cũng đã thực hiện có hiệu quả các biện pháp kiểm soát thị trường, giá
cả, tăng cường thu hút khách du lịch Dịch vụ thông tin và truyền thông phát triểnnhanh Dịch vụ vận tải hàng hoá đáp ứng được nhu cầu vận chuyển của khách vàphục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân Tuyên Quang cũng tiến hành sắp xếp, cổphần hoá các doanh nghiệp theo kế hoạch và tăng cường thu hút đầu tư Hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư tăng lên rõ rệt
Về xã hội
Trong những năm qua, công tác giáo dục ở Tuyên Quang được củng cố và
phát triển toàn diện ở các cấp học ngành học với nhiều loại hình theo hướng xã hộihoá, quy mô phát triển mạnh, chất lượng giáo dục từng bước được củng cố và nângcao Đẩy mạnh phổ cập giáo dục, tăng cường cơ sở vật chất, nhất là chương trìnhkiên cố hóa trường lớp học Đến nay tỉnh đã có hệ thống giáo dục - đào tạo tươngđối hoàn chỉnh, từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông và giáo dục chuyênnghiệp, dạy nghề Mạng lưới trường lớp bố trí tương đối rộng khắp, đáp ứng nhucầu học tập của nhân dân, toàn tỉnh không còn thôn bản nào không có trường lớphọc
Trang 40Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, giáo dục đào tạo vẫn còn một
số khó khăn: Chương trình và trang thiết bị còn lạc hậu, mạng lưới trường cần mởrộng để đáp ứng cho nhu cầu học tập ngày càng tăng, đặc biệt là con em của đồngbào mới di dân tái định cư Đối với địa hình các xã phía Bắc tỉnh, khoảng cách đếntrường của học sinh còn xa, cần xem xét lại quy mô, địa điểm trường lớp cho phùhợp
Công tác y tế được quan tâm đầu tư, đến năm 2009 toàn tỉnh có 166 cơ sởkhám chữa bệnh, trong đó có 4 bệnh viện cấp tỉnh, 8 bệnh viện huyện, 1 trung tâmphục hồi chức năng, 13 phòng khám đa khoa khu vực, 140 trạm y tế phường, với2.080 giường bệnh Tổng số cán bộ y tế trên địa bàn tỉnh năm 2009 là 1.756 cán
bộ Đến nay tất cả các xã đều có cán bộ y tế hoạt động Các trạm y tế xã vùng sâu,vùng xa, vùng cao đã được cấp vốn mua thuốc luân chuyển Công tác y tế dựphòng đã đẩy mạnh, bệnh sốt rét và bướu cổ đã bị đẩy lùi Nhìn chung các dịch vụkhám chữa bệnh được mở rộng, đảm bảo thuốc chữa bệnh thông thường cho nhândân, đã điều tra và tổ chức cai nghiện ma tuý trong phạm vi toàn tỉnh
Sự nghiệp văn hoá thông tin Tuyên Quang có bước phát triển tích cực gópphần nâng cao dân trí thông qua công tác giáo dục đào tạo truyền thông đại chúng,văn hoá Toàn tỉnh có: Bảo tàng tỉnh và bảo tàng Tân Trào - ATK, có thư viện tỉnh
và các thư viện huyện Tuy nhiên, cơ sở vật chất của ngành văn hoá còn thiếu về
số lượng và kém chất lượng Vùng sâu, vùng xa đời sống văn hoá tinh thần củanhân dân còn kém, thiếu thông tin, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế
Tuyên Quang cũng rất quan tâm đến công tác giải quyết việc làm, bảo đảm
an sinh xã hội và các vấn đề xã hội Tỉnh đã đề ra Chương trình lao động - việc làmvới mục tiêu tạo nhiều việc làm mới, đưa người lao động đi làm việc tại các tỉnhkhác trong nước và ra nước ngoài cũng như tăng cường công tác đào tạo nghề Đề
án nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách cũng được coi trọng Các hộ