Thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã là một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước ta để giải quyết những vấn đề bức xúc liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Xác định đúng đắn tầm quan trọng của thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề này và có nhiều chủ trương, chính sách, quy chế để phát huy dân chủ trong đời sống xã hội. Mở rộng và phát huy dân chủ là xu hướng khách quan của tiến bộ xã hội, nhất là hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã là một chủ trương quan trọngcủa Đảng và Nhà nước ta để giải quyết những vấn đề bức xúc liên quan đếnquyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sởvững mạnh Xác định đúng đắn tầm quan trọng của thực hiện pháp luật dânchủ ở cấp xã, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề này và có nhiều chủtrương, chính sách, quy chế để phát huy dân chủ trong đời sống xã hội Mởrộng và phát huy dân chủ là xu hướng khách quan của tiến bộ xã hội, nhất làhiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế Đại hội XI của Đảng
đã chỉ rõ:
….Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và pháp lệnhthực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Phát huy dân chủ, đề caotrách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêmtrị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành
vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội; chốngtập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức… [19, tr 239] Việc thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã thời gian qua đã chứng tỏ đây
là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, đáp ứng nhu cầu bức thiết và lợiích to lớn trực tiếp của đông đảo nhân dân, được nhân dân phấn khởi đónnhận, tích cực thực hiện, thể hiện tính ưu việt của chế độ dân chủ xã hội chủnghĩa (XHCN) Từ đó, người dân đã hiểu rõ hơn về quyền lợi, trách nhiệm vànghĩa vụ của mình Hệ thống chính trị cơ sở, nhất là Hội đồng nhân dân(HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cótrách nhiệm ở cơ sở ý thức hơn về dân chủ và tôn trọng quyền làm chủ củanhân dân
Quá trình thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã không chỉ góp phầncủng cố, kiện toàn tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân ở cơ sở,
Trang 2không chỉ là giải pháp để hạn chế sự tha hóa quyền lực, chống lại tệ quan liêu,tham nhũng trong bộ máy nhà nước, mà còn khơi dậy sức mạnh tiềm tàng củaquần chúng lao động, phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của toàn thể nhândân trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.
Tìm hiểu việc thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã có ý nghĩa quantrọng trong việc đề ra những giải pháp thiết thực, hiệu quả, nhằm nâng cao ýthức thực hiện pháp luật của người dân trong quá trình thực hiện dân chủ ở cơ
sở Thực hiện tốt phương châm "Sống và làm việc theo Hiến pháp và phápluật", phát huy mạnh mẽ dân chủ ở cơ sở với quyền tham gia ngày một rộngrãi, bình đẳng và thiết thực của nhân dân vào việc quản lý xã hội của Nhànước; là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cũng như tiến bộ côngbằng xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạnmới Nhất là hiện nay cả nước đang quyết tâm thực hiện thắng lợi các mụctiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới
Bên cạnh những cố gắng và thành tựu đã đạt được, việc thực hiệnpháp luật về dân chủ cấp xã trên từng địa phương còn có những hạn chế, thiếusót, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau Có nơi, cólúc, quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự được tôn trọng và phát huymột cách tối đa Các chủ thể thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã chưa thựclàm tròn vai trò, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ trong thực hiện pháp luật vềdân chủ ở cơ sở Thiếu những chế tài cụ thể đối với những hành vi cản trởhoặc không thực hiện các nội dung của pháp luật dân chủ cấp xã Thực tế chothấy, ở những địa phương thực hiện tốt pháp luật dân chủ cấp xã nhân dânhăng hái tham gia vào các công việc của nhà nước và xã hội; kinh tế - xã hộiphát triển, phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, tình hình
an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, hệ thống chính trị cơ
sở vững mạnh Ngược lại, ở nơi nào không thực hiện tốt pháp luật dân chủcấp xã thì kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn, trật tự an toàn xã hội nảy sinhnhiều vấn đề phức tạp, nhất là trong đền bù giải phóng mặt bằng, tranh chấp
Trang 3đất đai, xây dựng cơ bản, thực hiện chế độ chính sách, dẫn đến đơn thư khiếukiện, tố cáo vượt cấp kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ trở thành "điểm nóng".
Là một cán bộ công tác tại Ban Dân vận Tỉnh ủy Hà Nam, cơ quanđược Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao là bộ phận thường trực Ban Chỉ đạo thựchiện Quy chế dân chủ cơ sở của tỉnh, trong đó có nội dung theo dõi và chỉ đạoviệc thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã; trên cơ sở những lý luận và thực tiễn,
học viên xin chọn đề tài "Thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở tỉnh Hà Nam hiện nay" làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà
nước và pháp luật, với mong muốn góp phần thực hiện pháp luật dân chủ cấp
xã ở Hà Nam ngày càng tốt hơn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
* Pháp luật về dân chủ và dân chủ cơ sở
- "Thực hiện dân chủ trong thời kỳ đổi mới ở nước ta", của ThS Hoàng
Văn Nghĩa, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8, năm 2002
- "Quan hệ giữa thực thi Quy chế dân chủ ở cơ sở với xây dựng chính
quyền cơ sở nông thôn", của TS Nguyễn Văn Sáu, Tạp chí Lý luận chính trị,
số 11-2002
- "Khâu đột phá của quá trình phát huy dân chủ ở nước ta trong thời
kỳ đổi mới", của Tòng Thị Phóng, Tạp chí Cộng sản, số 21, tháng 11/2003.
- "Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt
Nam", của Trần Bạch Đằng, Tạp chí Cộng sản, số 35, tháng 12/2003.
- "Về dân chủ ở cơ sở", của PGS Nguyễn Huy Quý, Tạp chí Cộng
sản, số 4, tháng 2/2004
- GS.TS Hoàng Chí Bảo: "Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn
trong tiến trình đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2010.
- PGS.TS Lê Minh Quân: "Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam hiện nay", Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011.
Trang 4Những tác phẩm này đã nêu rõ giá trị nền tảng của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh về dân chủ, dân chủ XHCN; tìm hiểu cácquan niệm và khái niệm, lý thuyết về mô hình dân chủ hóa, những yếu tố tácđộng và quá trình dân chủ hóa trên thế giới; đánh giá khách quan những thànhquả, tiến bộ mà chủ nghĩa tư bản có được cũng như chỉ ra hạn chế do bản chấtgiai cấp tư sản quy định Đồng thời, nêu bật tầm quan trọng của dân chủ vàdân chủ cơ sở, chỉ rõ những thành công, hạn chế và giải pháp khắc phục trongxây dựng và thực hiện nền dân chủ ở Việt Nam
-* Thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở và cấp xã
- "Đưa cuộc vận động thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở lên một bước
mới, rộng rãi hơn, hiệu quả hơn, thiết thực hơn", của Tổng Bí thư Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Nông Đức Mạnh, Tạp chí Cộng sản, số 20, tháng 10/2004
- Trần Quốc Huy: Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở
Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật, Hà Nội, 2005;
- Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước
ta hiện nay, của tác giả TS Nguyễn Văn Sáu- GS Hồ Văn Thông(2005) Nxb
Chính trị quốc gia, HN
- Luận văn thạc sĩ (2006), Nâng cao chất lượng thực hiện quy chế dân
chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay, của Ngô
Thị Hòa, thuộc chuyên ngành luật
- Luận văn thạc sĩ (2010) "Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã
trên địa bàn thành phố Hải Phòng", của Trần Phú Vương chuyên ngành luật.
- Luận văn thạc sĩ (2010) "Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội" của Vương Ngọc Thịnh, thuộc chuyên
ngành luật
Có thể thấy, đã có nhiều công trình nhiên cứu về Quy chế dân chủ ở
cơ sở và thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở, tuy nhiên chủ yếu các bài viết,công trình tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc triển khai quy
Trang 5chế dân chủ ở cấp xã, đánh giá tổng kết những thành tựu, hạn chế đề ra một sốgiải pháp chung cho việc thực hiện thời gian tới Tùy thuộc vào phạm vinghiên cứu khác nhau một số công trình đã nghiên cứu vấn đề thực hiện dânchủ ở cấp xã trên địa bàn cụ thể của một địa phương cấp tỉnh hoặc cấp huyện.Song, số lượng các công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về thực hiệnpháp luật dân chủ cấp xã trên cơ sở lý luận và thực tiễn còn hạn chế; mặt khácviệc đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả phápluật về dân chủ ở cấp xã, đáp ứng nhu cầu dân chủ của người dân thời kỳ đẩymạnh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế còn nhiều ý kiến khácnhau Tuy nhiên, những tài liệu nêu trên có giá trị tham khảo tốt cho tác giảtrong quá trình nghiên cứu và viết luận văn.
Với đề tài nghiên cứu "Thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã ở tỉnh
Hà Nam hiện nay", luận văn đi vào nghiên cứu những vấn đề dân chủ ở cấp
xã dưới góc độ thực hiện pháp luật trên địa bàn tỉnh Hà Nam, để làm rõ quanđiểm của Đảng và Nhà nước về dân chủ ở cấp xã; khảo sát thực trạng thựchiện pháp luật dân chủ cấp xã ở tỉnh Hà Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề xuấtphương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật dân chủ cấp xãcủa tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu, tìm
hiểu những vấn đề lý luận và đánh giá đúng thực trạng thực hiện pháp luậtdân chủ cấp xã ở tỉnh Hà Nam, mục đích nghiên cứu luận văn đề xuất phươnghướng và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở tỉnh
Hà Nam
* Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Phân tích những vấn đề lý luận thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã;
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã trên địa bàntỉnh Hà Nam hiện nay
Trang 6- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luậtdân chủ cấp xã ở tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã,phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Nam
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường,thị trấn từ năm 1998 và Pháp lệnh 34 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
từ 01/7/2007 trên địa bàn tỉnh Hà Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, trong đó sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: phân tíchtổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, phương pháp lịch sử và logic
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và thựchiện pháp luật dân chủ cấp xã
- Đánh giá toàn diện tình hình thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ởtỉnh Hà Nam
Trang 7- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp có tính khả thi nhằmbảo đảm thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở tỉnh Hà Nam trong giai đoạnhiện nay.
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiệnpháp luật dân chủ ở cấp xã
- Luận văn góp phần đánh giá thực trạng, nâng cao nhận thức và tráchnhiệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của các cơ quan Đảng, Nhànước và các đoàn thể khác trong thực hiện quyền dân chủ ở tỉnh Hà Namtrong giai đoạn hiện nay
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho Ban Chỉ đạo thực hiệnQuy chế dân chủ cơ sở tỉnh Hà Nam trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiệnpháp luật dân chủ cấp xã trên địa bàn tỉnh Hà Nam
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 7 tiết
Trang 81.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã
1.1.1.1 Khái niệm dân chủ, khái niệm dân chủ ở cấp xã
* Khái niệm dân chủ
Dân chủ từ bao đời nay luôn là đề tài hấp dẫn đối với các học giảtrong và ngoài nước, bởi dân chủ liên quan mật thiết tới cuộc sống của conngười và sự phát triển của xã hội Nhân loại đang trong quá trình phát triển sẽngày càng nhận thức, phát triển về lý luận cũng như thực tiễn vấn đề dân chủ.Những khái niệm mới về dân chủ cũng như cách thức thể hiện nó sẽ ngày
càng sinh động, hoàn thiện hơn Thuật ngữ "dân chủ" ra đời từ thời Hy Lạp cổ
đại (khoảng thế kỷ thứ VII-VI trước công nguyên) Theo tiếng Hy Lạp cổ, dânchủ là do hai từ hợp thành, "demos" là nhân dân và "kratos" là quyền lực haychính quyền Như vậy có thể hiểu dân chủ là chính quyền thuộc về nhân dân,nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước Nhà nước dân chủ là nhà nước thừanhận và bảo đảm các quyền tự do và bình đẳng của công dân
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa:
Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hộidựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừanhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụngvào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hộinhất định [68, tr 653]
Trang 9Dân chủ là khát vọng vươn tới và là mục tiêu đấu tranh của xã hội loàingười Trong đó, dân chủ XHCN là đỉnh cao của nền dân chủ, vì các nền dânchủ trước đó đều là dân chủ cho giai cấp thiểu số trong xã hội Chỉ đến khinền dân chủ vô sản - dân chủ XHCN ra đời, thì đó mới là chế độ dân chủ thực
sự, dân chủ của đa số nhân dân với sự đảm bảo thực hiện của pháp luật, củaNhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ XHCN
Dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là một hiện tượnglịch sử gắn liền với xã hội có giai cấp và được biến đổi dưới nhiều hình thứckhác nhau trong điều kiện tương ứng của các hình thái kinh tế - xã hội Trong
xã hội XHCN, "dân chủ" có một chất lượng mới do được phát triển đầy đủtrên cơ sở một nền kinh tế phát triển cao, nhờ đó con người được giải phóng
và phát triển toàn diện Trong đó, "sự phát triển tự do của mỗi người là điềukiện phát triển tự do của tất cả mọi người" [43, tr 569]
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ trước hết là một hình thức Nhànước V.I Lênin viết: "Chế độ dân chủ, đó là một Nhà nước thừa nhận việcthiểu số phục tùng đa số, nghĩa là sự tổ chức đảm bảo cho một giai cấp thihành bạo lực một cách có hệ thống chống lại giai cấp khác" [42, tr 101] Vìvậy, dân chủ luôn mang tính giai cấp, nó tồn tại và biến đổi cùng với sự biếnđổi của cuộc đấu tranh giai cấp và sự thay đổi của phương thức sản xuất chủyếu của xã hội Dân chủ XHCN là một hiện tượng hợp quy luật, là bước pháttriển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ khác và bản chất của dân chủXHCN là giải phóng con người, để con người có thể thực hiện được nhữngquyền tự nhiên của mình, tự làm chủ vận mệnh và quyết định những vấn đề
xã hội Theo C Mác, dân chủ XHCN thực chất là chế độ "do nhân dân tự quyđịnh Nhà nước", nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước Nhândân tự tổ chức quyền lực nhà nước qua bầu cử, tham gia quản lý và quyếtđịnh những vấn đề quan trọng, kiểm tra giám sát hoạt động của Nhà nướcthông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Trình độ phát triển
Trang 10hơn hẳn của XHCN so với tư bản chủ nghĩa là ở chỗ dân chủ được thực hiệnđầy đủ Lênin đã khái quát quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị của nhândân thành ba nội dung lớn: quyền bầu cử, quyền tham gia quản lý các côngviệc của Nhà nước và quyền bãi miễn Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủXHCN có những đặc điểm cơ bản sau:
+ Dân chủ cho nhân dân lao động;
+ Dân chủ thực sự;
+ Dân chủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng,văn hóa Thực chất của dân chủ XHCN là sự tham gia một cách thực sự bìnhđẳng và ngày càng rộng rãi của những người lao động vào quản lý công việccủa Nhà nước và xã hội Thống nhất được quyền và nghĩa vụ của công dântrong mối quan hệ với Nhà nước Vì vậy nó trở thành mục tiêu và động lựccủa sự phát triển xã hội
- Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ
Tiếp thu và kế thừa các quan điểm về "dân chủ" của nhân loại, Hồ ChíMinh lý giải khái niệm "dân chủ" một cách đơn giản, hết sức cô đọng và dễ hiểu,
dễ thực hiện Bản chất của nền dân chủ XHCN đã được Chủ tịch Hồ Chí Minhkhẳng định: "Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân làm chủ" [45, tr 151],
"Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ" [46, tr 525].Người viết:
Nước ta là nước dân chủBao nhiêu lợi ích đều vì dânBao nhiêu quyền hạn đều của dânCông việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dânChính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử raĐoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nênNói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [47, tr 698]
Trang 11Như vậy, "dân là chủ" và "dân làm chủ" là cốt lõi trong khái niệm
"dân chủ" của Hồ Chí Minh
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản ViệtNam luôn luôn xác định dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực pháttriển xã hội Trong thời kỳ đổi mới, dân chủ XHCN ngày càng được mở rộng
về nội dung, dân chủ cả trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và ở các cấp
từ Trung ương đến cơ sở, đến từng người dân bằng các hình thức dân chủ đạidiện và dân chủ trực tiếp Dân chủ ngày càng được thể hiện trong tất cả mốiquan hệ xã hội Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướngXHCN, mở cửa hội nhập với thế giới, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNcủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân cũng là nhằm xây dựng nền dân chủXHCN, với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
- Khái niệm dân chủ ở cấp xã
Hệ thống chính trị của nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyêntắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ XHCN, được tổchức thành 4 cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọichung là cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấphuyện); xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) Cấp xã là cấp cuối cùngtrong hệ thống chính trị 4 cấp, nên thường được gọi là cấp cơ sở
Dân chủ ở cấp xã là một nội dung quan trọng, chủ yếu, đề cập đếnviệc thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở nước
ta theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Dân chủ cấp
xã là việc thừa nhận thường xuyên các quyền làm chủ của công dân; tăngcường tính cộng đồng trách nhiệm giữa nhà nước và công dân nhằm bảo vệquyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân ở cơ sở Như vậy, dân chủcấp xã là khâu quan trọng và cấp bách trước mắt cũng như lâu dài ở nước ta
Từ Đại hội VI, Đảng ta đã chủ trương thực hiện có nề nếp phương châm "dânbiết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và chủ trương đó ngày càng được thực
Trang 12tế kiểm nghiệm tính cần thiết khách quan, và để quá trình dân chủ hóa thực sự
đi vào cuộc sống, chúng ta cần cụ thể hóa phương châm này Nghị quyết Hộinghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6/1997)khẳng định khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủcủa nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ củanhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất
1.1.1.2 Khái niệm pháp luật dân chủ và pháp luật dân chủ ở cấp xã
- Khái niệm pháp luật về dân chủ
Pháp luật giữ vai trò quan trọng, là phương tiện để nhân dân phát huyquyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Pháp luật là nhân tốđiều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động, ảnh hưởng rất mạnh mẽ tớicác quan hệ xã hội; trong đó có các quan hệ giữa cá nhân công dân với Nhànước, giữa công dân với nhau trong đời sống xã hội Các quyền tự do dân chủcủa nhân dân được ghi nhận đầy đủ bao nhiêu trong pháp luật thì pháp luật tựchuyển hóa thành pháp quyền ở mức độ tương ứng Quá trình mở rộng dânchủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân đồng thời phải luật hóa các quyền
tự do dân chủ ấy Dân chủ và pháp luật ràng buộc chi phối nhau Pháp luậtphản ánh mức độ của nền dân chủ, dân chủ là thước đo giá trị của pháp luật
Pháp luật đảm bảo thực hiện nền dân chủ XHCN, phát huy quyền lựccủa nhân dân, đảm bảo công bằng xã hội Dân chủ là thuộc tính của Nhà nướcXHCN, việc tăng cường hiệu lực và phát huy vai trò của Nhà nước trong quản
lý mọi mặt của đời sống xã hội luôn gắn liền với quá trình thực hiện, mở rộngdân chủ XHCN Những quyền tự do dân chủ của công dân phải được quyđịnh cụ thể trong pháp luật, Nhà nước phải đảm bảo cho công dân thực hiệncác quyền đó trong khuôn khổ luật định Đồng thời, pháp luật cũng quy địnhnhững nghĩa vụ tương ứng mà công dân phải thực hiện để đảm bảo trật tự, kỷ
cương xã hội Như vậy, pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà
Trang 13nước ban hành và đảm bảo thực hiện; điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa Nhà nước; các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế và công dân nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Do đó, pháp luật về dân chủ có
phạm vi và nội dung điều chỉnh rất rộng lớn
- Khái niệm pháp luật dân chủ cấp xã
Khái niệm pháp luật dân chủ cấp xã có thể thấy trong Pháp lệnh 34,quy định tại Điều 1 "Phạm vi điều chỉnh":
Pháp lệnh này quy định những nội dung phải công khai đểnhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; nhữngnội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyềnquyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm củachính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọichung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc (sau đâygọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọichung là tổ dân phố), của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ cấp xã [50, tr 1]
Từ những nội dung trên có thể định nghĩa pháp luật dân chủ cấp xã
như sau: Pháp luật dân chủ cấp xã bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật
điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế và công dân bảo đảm cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn Các quy phạm pháp luật đó được thể hiện ở nhiều văn bản pháp luật
bao gồm: Hiến pháp, Luật bầu cử đại biểu quốc hội, Luật Bầu cử đại biểuHĐND, Luật Tổ chức HĐND và UBND, Luật Đất đai, Luật Thương mại,Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Phòng chống tham nhũng Nghị định 29, Nghịđịnh 79, Pháp lệnh số 34 về thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn.Các văn bản pháp luật này nhằm thể chế phương châm "dân biết, dân bàn, dân
Trang 14làm, dân kiểm tra" trên các lĩnh vực đời sống xã hội diễn ra ở cơ sở, nơi mỗicông dân đều gắn bó, sinh sống, lao động, học tập, nơi họ có quyền làm chủ.Trong đó Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là văn bản phápluật quy định cụ thể những việc HĐND và UBND cấp xã phải thông tin kịpthời và công khai để dân biết, những việc dân bàn và quyết định trực tiếp,những việc nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan nhà nước quyết định,những việc dân giám sát, kiểm tra và các phương thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn.
1.1.1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã
- Khái niệm về thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thểpháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dựliệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử
sự chung mà nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể đó thông qua hành
vi thực tế hợp pháp của mình Nói cách khác, những đòi hỏi, cấm đoán haycho phép của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân đã được biểu hiện thànhhành vi thực tế thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật Dưới góc
độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc khônghành động) hợp pháp, nghĩa là nó được tiến hành phù hợp với những yêu cầu,đòi hỏi trong phạm vi các quy định của pháp luật
Thực hiện pháp luật là nghĩa vụ của tất cả các tổ chức và cá nhân, mọi
tổ chức và cá nhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật.Đối với Nhà nước thì thực hiện pháp luật là một trong những hình thức đểthực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, quản lý và bảo vệ xã hội,còn đối với các tổ chức phi nhà nước hoặc các cá nhân thì thực hiện pháp luật
là hoạt động sử dụng các quyền, tự do pháp lý và thi hành các nghĩa vụ pháp
lý mà pháp luật quy định cho họ Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục
Trang 15đích nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật Do vậy, đây là quá trình hoạtđộng có lý trí và có ý chí của các chủ thể pháp luật làm cho những quy địnhcủa pháp luật đi vào cuộc sống nhằm đạt được những mục đích nhất định vìlợi ích của mỗi thành viên, cũng như của cả cộng đồng xã hội Thực hiện phápluật còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thựcđịnh để từ đó có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sửa đổi, bổsung hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và cơ chế đưa pháp luật vàocuộc sống Pháp luật được thực hiện nghiêm minh sẽ tạo ra trật tự cần thiết đểcác quan hệ xã hội tồn tại và phát triển theo những định hướng mong muốn cólợi cho xã hội, cho nhà nước cũng như cho các cá nhân.
Thực hiện pháp luật được tiến hành thông qua nhiều hình thức vànhững quy trình khác nhau Pháp luật gồm rất nhiều loại quy phạm pháp luậtkhác nhau, với mỗi loại quy phạm pháp luật có cách thức và quy trình thựchiện khác nhau Việc thực hiện pháp luật có thể phụ thuộc ý chí của Nhànước Hành vi thực hiện pháp luật có thể được chủ thể tiến hành trên cơ sởnhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải làm như vậy và do vậy chủ thể đã tựgiác thực hiện Cũng có thể hành vi thực hiện pháp luật được chủ thể tiếnhành do ảnh hưởng của những người khác, do bị áp dụng những biện phápcưỡng chế nhà nước hoặc do sợ bị áp dụng những biện pháp đó Một số quyphạm pháp luật có thể được thực hiện thông qua những quy trình giản đơn;song cũng có nhiều quy phạm pháp luật để thực hiện đòi hỏi phải thông quanhững quy trình phức tạp với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân theo
những trình tự, thủ tục chặt chẽ mà pháp luật quy định Như vậy, thực hiện
pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
- Thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân,
vì dân Pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền làm chủ của
Trang 16nhân dân và có vị trí tối cao trong cách ứng xử của cả công dân, các tổ chức
và Nhà nước Song, mục đích đó có đạt được hay không, pháp luật có triểnkhai thực hiện trong thực tế cuộc sống hay không phụ thuộc vào hiệu quả thựchiện pháp luật của các chủ thể
Như đã phân tích ở trên, pháp luật về dân chủ cấp xã được hiểu baogồm Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cấp xã, các văn bản hướng dẫn thực hiện
và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến dân chủ cấp xã Quá trình thựchiện pháp luật về dân chủ là một quá trình phức tạp, lâu dài Muốn phát huyvai trò của pháp luật về dân chủ trong đời sống xã hội ở cấp xã, đòi hỏi phảixác lập một cơ chế, một quy trình hợp lý, nhờ đó tác động lên ý thức, hành vicủa các chủ thể pháp luật ở cấp xã Do đó, có thể định nghĩa thực hiện pháp
luật về dân chủ ở cấp xã như sau: Thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã là
hoạt động có mục đích, có một cơ chế và quy trình chặt chẽ nhờ đó chủ thể pháp luật thực hiện hành vi của mình phù hợp với yêu cầu của quy phạm pháp luật về dân chủ, bảo đảm các quy định của pháp luật về dân chủ ở cấp
xã trở thành hành vi thực tế hợp pháp trong đời sống xã hội Như vậy, việc
thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã làm cho những quy định của pháp luật vềdân chủ cấp xã đi vào cuộc sống, nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ, sứcsáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội đáp ứng yêucầu xây dựng xã hội giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng hệthống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, thực hiện pháp luật về dânchủ cấp xã chủ yếu là tập trung thực hiện những nội dung quy định của Pháplệnh 34 Chủ thể thực hiện là nhân dân, các tổ chức, đơn vị ở cấp xã TheoĐiều 2, Pháp lệnh 34 thì thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã được thựchiện theo 5 nguyên tắc:
1 Bảo đảm trật tự, kỷ cương, trong khuôn khổ Hiến pháp vàpháp luật 2 Bảo đảm quyền của nhân dân được biết, tham gia ýkiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp
Trang 17xã 3 Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân 4 Công khai, minh bạch trong quá trình thực hiệndân chủ ở cấp xã 5 Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý củaNhà nước [50, tr 8]
1.1.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã
Thứ nhất, thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã thực chất là bảo đảm
quyền làm chủ của nhân dân theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,nhân dân làm chủ" và cụ thể hóa phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm,dân kiểm tra" ở xã, phường, thị trấn
Thứ hai, thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã có sự tham gia của cả hệ
thống chính trị cơ sở, các cá nhân và nhân dân nhằm phát huy mạnh mẽ quyềnlàm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở cấp xã, động viên khơi dậy sức mạnhvật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, cảithiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xâydựng Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thể ở cấp xã trong sạch, vững mạnh
Thứ ba, thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã vừa phát huy chế độ dân
chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địaphương, quy định những nghĩa vụ cụ thể của chính quyền trong việc đảm bảoquyền làm chủ của người dân ở cơ sở Đồng thời, thực hiện chế độ dân chủtrực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việcquan trọng, thiết thực, gắn với quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân
Thứ tư, thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã không chỉ là công cụ để
quản lý nhà nước, mà còn là công cụ để nhân dân xây dựng nếp sống tự quảntrong cộng đồng dân cư
Thứ năm, thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã là thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, khác với thực hiện pháp luậttrong các lĩnh vực, các ngành luật khác ở các chủ thể, phạm vi, nội dung vàcác hình thức thực hiện
Trang 18+ Chủ thể thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã trước hết là chính quyền
(HĐND, UBND) cấp xã, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã vàcác cơ quan nhà nước có liên quan đến việc thực hiện quyền dân chủ ở cấp xã,các công dân sinh sống trong địa bàn xã
+ Phạm vi thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã diễn ra giữa các
chủ thể mà một bên bao giờ cũng là công dân sống trong một đơn vị hànhchính xã, phường, thị trấn Chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thểtrong thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã vừa mang tính chất quản lý hànhchính vừa mang tính chất tự quản
+ Nội dung thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã rất rộng lớn, có liên
quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nơi cư trú, được thực hiệntheo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", trong đó cácviệc biết, bàn, làm, kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ và chất lượng thực hiệnnội dung này ảnh hưởng quyết định đối với việc thực hiện nội dung tiếp theo
1.1.3 Các hình thức thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã
Hình thức thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã thể hiện đầy đủ bốn hìnhthức thực hiện pháp luật đó là: chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, tuânthủ pháp luật và áp dụng pháp luật:
* Hình thức chấp hành pháp luật về dân chủ cấp xã
- Đối với chủ thể là chính quyền cấp xã: Chính quyền cấp xã phải thực
hiện nghĩa vụ của mình bằng những hành vi tích cực, đó là nghĩa vụ công
khai những điều nhân dân được biết, bằng những hình thức cụ thể: niêm yết
công khai tại trụ sở UBND, thời gian niêm yết; công khai trên hệ thống loa
truyền thanh; công khai qua thôn xóm, tổ dân phố Đây là những hình thức rất
cụ thể, chính quyền cấp xã phải thực hiện để công khai hóa các nội dung quyđịnh tại Điều 5 của Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã Công khai, minh bạch vừa làđòi hỏi khách quan vừa là hình thức thi hành quyền lực nhà nước, vừa tạođiều kiện cho nhân dân giám sát nhà nước Thực hiện tốt công khai sẽ khắc
Trang 19phục tình trạng bưng bít thông tin, tăng cường khả năng giám sát, phản biện
xã hội, hạn chế quan liêu, cửa quyền, hách dịch và tham nhũng ở địa phương
Để thực hiện nghĩa vụ công khai, chính quyền địa phương phải thực hiện mộtloạt các công việc phức tạp từ lựa chọn, bố trí cán bộ, công chức, xây dựng kếhoạch, chuẩn bị nguồn lực, đây không phải là việc đơn giản
- Đối với chủ thể là nhân dân: hình thức chấp hành pháp luật về dân
chủ cấp xã thể hiện trong việc tích cực thực hiện các nghĩa vụ của mình đãđược chính quyền cấp xã công khai như nghĩa vụ đóng góp các khoản phí, lệphí và các nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền xã trực tiếp thu; nghĩa vụgiải phóng mặt bằng theo phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩmquyền phê duyệt
* Hình thức tuân theo pháp luật về dân chủ cấp xã
Đây là hình thức thực hiện pháp luật yêu cầu các chủ thể kiềm chếkhông thực hiện những điều mà pháp luật cấm đoán
- Đối với chủ thể là chính quyền cấp xã: Chính quyền cấp xã trongquan hệ với nhân dân không được giải quyết các vụ việc vượt quá thẩmquyền; không được bao che, dung túng cho các hành vi vi phạm pháp luật;không được cản trở hoặc vi phạm các quyền tự do, dân chủ công dân
- Đối với nhân dân: tuân thủ pháp luật dân chủ thể hiện thông qua cáchành vi như không được lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân đểgây rối trật tự; không nghe các phần tử xấu kích động chống đối chính quyền
* Hình thức sử dụng pháp luật về dân chủ ở cấp xã
Đây là hình thức quan trọng của nhân dân được pháp luật về dân chủ ởcấp xã quy định rất cụ thể, chính quyền xã phải tôn trọng và tạo điều kiện chonhân dân sử dụng các quyền dân chủ của mình, như các quyền được bàn về chủtrương đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, công trình phúc lợi ở địa phương;đóng góp vào quy hoạch, kế hoạch xây dựng nông thôn mới và phát triển đô thị;quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; bàn và xây dựng hương ước của thôn, của
Trang 20tổ dân phố; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn, tổ trưởng dân phố; bầu,bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng.
* Hình thức áp dụng pháp luật về dân chủ ở cấp xã
Đây là hình thức mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện thôngqua chính quyền cấp xã hoặc cán bộ công chức xã nhằm cá biệt hóa quy phạm
pháp luật vào các trường hợp cụ thể Áp dụng pháp luật về dân chủ cấp xã được
thể hiện trong các trường hợp như căn cứ vào thẩm quyền của cấp xã đượcquy định trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ cấp xã, ra quyết định công nhậnhương ước; quyết định kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn, quyếtđịnh kỷ luật công chức xã vi phạm, cản trở các quyền dân chủ của công dân,…
1.2 YÊU CẦU VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ
1.2.1 Yêu cầu thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã
Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã chính là thực hiện các quyđịnh của pháp luật về các quyền dân chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn.Các nội dung quy định của pháp luật nhằm thể chế hóa đường lối của Đảngtheo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Đây cũng làyêu cầu và nội dung cơ bản của thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã Các quyđịnh của pháp luật XHCN ngày càng được hoàn thiện và đảm bảo thực hiệnđầy đủ nội dung yêu cầu để Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của dân, dodân, vì dân Nội dung thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã ngày càng được
bổ sung, hoàn thiện, ngày 20-4-2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 đãban hành pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn, Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 01-07-2007 Những nội dungquy định của Pháp lệnh 34 là những nội dung chủ yếu, cơ bản của thực hiệnpháp luật về dân chủ ở cấp xã, Pháp lệnh gồm 6 chương, 28 điều, quy địnhnhững nội dung phải công khai để dân biết, những nội dung nhân dân bàn vàquyết định, những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền,
Trang 21cán bộ, công chức cấp xã, cán bộ thôn, tổ dân phố, của cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã; nguyêntắc trách nhiệm thực hiện dân chủ ở cấp xã và các hành vi bị nghiêm cấm
* Dân biết
Là khâu đầu tiên để thực hiện công khai, dân chủ với nhân dân; nhândân biết để nâng cao trình độ mọi mặt, biết để góp ý xây dựng, bổ sung, sửađổi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, dânbiết để tạo dư luận, hiến kế, đề xuất chủ trương biện pháp, dân yêu cầu đượcbiết cặn kẽ cái gì đang diễn ra trong đời sống cộng đồng, họ được bàn vàquyết định việc gì, vì sao Các nội dung dân biết có quan hệ chặt chẽ và bổsung cho nhau, trình độ dân trí ngày càng cao thì nhận thức, góp ý càng đúngđắn, tránh được sai lầm Thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã đòi hỏi vấn đề
"dân biết" là hết sức cấp bách, khách quan, nhân dân có quyền được thông tin
và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước là phải cung cấp thông tin Về nộidung yêu cầu dân biết, Pháp lệnh 34 quy định các hình thức công khai, tráchnhiệm phải công khai tổ dân phố biết bao gồm:
+ Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấukinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hàng năm ở cấp xã
+ Dự án công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương
án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, côngtrình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương
án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã
+ Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giảiquyết các công việc của nhân dân
+ Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theochương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp
+ Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất,xóa đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn
Trang 22phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảohiểm y tế
+ Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địagiới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã
+ Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũngcủa cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tínnhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND cấp xã
+ Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn
đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy
ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh
+ Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác dochính quyền cấp xã trực tiếp thu
+ Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết cáccông việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện
+ Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
* Dân bàn
Về thực chất là quyền tự do ngôn luận, quyền được thảo luận, chất vấncủa nhân dân Dân bàn để hiểu thêm những vấn đề về kinh tế - xã hội, an ninhquốc phòng, bàn để làm, để quyết định Dân có thể bàn ở nhiều nơi, trênnhiều diễn đàn Để chuẩn bị kỹ và nâng cao chất lượng cung cấp thông tincũng như kết quả bàn của dân thì chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hộiphải: thông báo để nhân dân biết những nội dung sẽ bàn và cung cấp đầy đủthông tin, phổ biến những hình thức để dân chuẩn bị tham gia bàn bạc, tránhbệnh hình thức trong việc tổ chức lấy ý kiến của nhân dân; tiếp thu, chắt lọc,
bổ sung những vấn đề dân bàn bạc, những sáng kiến, biện pháp hay để giảiquyết những vấn đề bức xúc trong thực tiễn Về nội dung dân bàn, có ba loại:công việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp; công việc nhân dân bàn, biểu
Trang 23quyết để cấp có thẩm quyền quyết định; nhân dân tham gia ý kiến trước khi
cơ quan có thẩm quyền quyết định Pháp lệnh 34 cũng quy định hình thức bàn
và trách nhiệm của các tổ chức trong thực hiện những nội dung dân bàn
- Những nội dung dân bàn và quyết định trực tiếp: là những chủtrương và mức đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng, các công trình phúc lợicông cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn
bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân
cư phù hợp với quy định của pháp luật
- Nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định: hươngước, quy ước của thôn, tổ dân phố; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn,
tổ trưởng tổ dân phố; bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Bangiám sát đầu tư của cộng đồng
- Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyếtđịnh những nội dung sau:
+ Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương ánchuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùngkinh tế mới và phương án phát triển ngành, nghề của cấp xã
+ Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điềuchỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã
+ Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấpxã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ
sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư
+ Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điềuchỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã
+ Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy địnhcủa pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chínhquyền cấp xã thấy cần thiết
Trang 24là nghĩa vụ, là đòi hỏi của mỗi tổ chức đối với thành viên của mình Vấn đề làcác tổ chức phải biết khơi dậy, phát huy, khai thác trí tuệ, sức lực của nhândân để tạo ra tổng lực cho sự phát triển, phát động và tạo ra những phong tràohành động rộng rãi của nhân dân.
* Dân kiểm tra
Là nội dung yêu cầu của dân chủ nhằm đảm bảo cho các hoạt động củaĐảng, Nhà nước, các tổ chức thực sự đúng đắn, hiệu quả Nhằm xây dựng hệthống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh, bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápchính đáng của nhân dân Nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát những gì có liênquan đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ của họ Trong đó, trọng tâm là kiểm tra việcthực hiện những quy định về kinh tế, tài chính, chính sách xã hội và giải quyếtkhiếu nại, tố cáo của công dân, giám sát việc thực thi nhiệm vụ của các cơ quanquản lý nhà nước và cán bô, công chức Dân có thể kiểm tra, giám sát bằng cáchtrực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân hoặc cơ chế kiểm tra thông quacác tổ chức đại diện được pháp luật thừa nhận Các cơ quan nhà nước phải tổchức cho nhân dân tham gia phát hiện, cung cấp thông tin và tham gia xác minh
những vụ việc cần thiết tại cơ sở Về nội dung dân kiểm tra, giám sát Pháp lệnh
34 quy định nhân dân có quyền giám sát việc thực hiện các nội dung quy định
về dân biết, dân bàn đã nêu trên; hình thức và trách nhiệm của các tổ chức và
cá nhân trong việc thực hiện giám sát của dân
Trang 251.2.2 Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã
Việc thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã có hiệu quả hay không phụthuộc vào các yếu tố và những điều kiện pháp lý cụ thể: sự hoàn thiện hệthống pháp luật, trong đó có văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện dânchủ cấp xã; hiệu quả hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã, ýthức pháp luật của các chủ thể trong điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội nhấtđịnh Do vậy, các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luậtdân chủ cấp xã bao gồm các nội dung sau:
Thứ nhất, bảo đảm về sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, trong đó
có các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ cấp xã
Để thực hiện có hiệu quả pháp luật dân chủ cấp xã đòi hỏi các văn bảnquy phạm pháp luật có liên quan phải ban hành đồng bộ, hoàn thiện về nộidung, phải đạt tiêu chuẩn, yêu cầu nhất định cả về quy trình ban hành và kỹthuật văn bản Một hệ thống pháp luật trong đó có một bộ phận pháp luật vềdân chủ cấp xã chỉ có thể phát huy tốt hiệu quả của nó trên thực tế khi nó bảođảm các yêu cầu sau:
- Pháp luật phải có tính ổn định: đây là yêu cầu cần thiết, bởi không thểthường xuyên làm đảo lộn các quan hệ xã hội bằng việc thay đổi pháp luật
- Pháp luật phải bảo đảm tính chuẩn mực, tức là tính quy phạm củapháp luật: bản thân pháp luật là hệ thống các quy phạm, tức là tính khuônmẫu, mẫu mực Giá trị của pháp luật chính là tạo ra tính chuẩn mực cho cácchủ thể khác nhau trong xã hội Nếu pháp luật không chứa đựng tính chuẩnmực thì ý nghĩa của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội sẽ không lớn
- Pháp luật phải nhất quán, hệ thống: Pháp luật phải có tính nhất quán,thể hiện ở chỗ các văn bản trong lĩnh vực thực hiện dân chủ cấp xã cùng vớiquy phạm pháp luật trong nhiều lĩnh vực khác đều phải bảo đảm thực hiệnquyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Tính hệ thống cũng có những khíacạnh tương đồng với tính nhất quán Tuy nhiên, tính nhất quán của pháp luật
Trang 26hàm chứa nội dung và chính sách trong lúc đó tính hệ thống được thể hiệntrong cấu trúc, cách sắp xếp, phân loại thứ bậc, hiệu lực của quy phạm phápluật Tính nhất quán, hệ thống của pháp luật đòi hỏi sự thống nhất khôngchồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật với nhau và giữa các quyphạm pháp luật với nhau Sự không đồng bộ của hệ thống pháp luật sẽ gâycản trở lớn đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đến các hoạt động kinh tế -
xã hội
- Pháp luật phải bảo đảm tính phù hợp: Một trong những yêu cầu quantrọng nhất đối với hệ thống pháp luật là tính khả thi cao Bảo đảm được yêucầu này mới thực sự phát huy được vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnhcác quan hệ kinh tế - xã hội Tính khả thi trước hết đòi hỏi hệ thống pháp luậtphải phù hợp với thực tiễn kinh tế xã hội, với pháp luật và thông lệ quốc tế
Để bảo đảm sự phù hợp này, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật vớikinh tế, chính trị, đạo đức, tập quán xã hội, với các quy phạm xã hội khác vàthông lệ quốc tế Sự phù hợp của pháp luật sẽ bảo đảm cho pháp luật có khảnăng điều chỉnh một cách có hiệu quả và dễ dàng các quan hệ kinh tế, xã hộibởi khi đó pháp luật sẽ không chỉ bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhànước mà còn bảo đảm bằng sức mạnh từ các quy tắc đạo đức, tôn giáo, tậpquán, từ niềm tin pháp luật của chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật
- Pháp luật bảo đảm không hồi tố: bảo đảm không hồi tố là một trong
những đòi hỏi của pháp luật trong nhà nước pháp quyền Giá trị nhân đạo củayêu cầu không hồi tố thể hiện ở chỗ không bắt một cá nhân phải chịu tráchnhiệm pháp lý về hành vi mà khi thực hiện người đó không thể biết rằng trongtương lai đó sẽ là hành vi vi phạm pháp luật Do vậy, về cơ bản, nguyên tắcpháp luật trong nhà nước pháp quyền không có giá trị hồi tố Một số quyphạm pháp luật có thể có giá trị hồi tố, những chỉ trong trường hợp hồi tố đó
có thể có lợi cho những chủ thể có liên quan
- Xây dựng hệ thống pháp luật ở trình độ kỹ thuật cao Để nâng cao kỹthuật lập pháp cần chú ý cách biểu đạt ngôn ngữ, phải chính xác, cô đọng,
Trang 27lôgic và rõ ràng, tránh sử dụng ngôn ngữ đa nghĩa dẫn đến nhiều cách giảithích khác nhau về cùng một điều luật Đồng thời chú trọng công tác giảithích pháp luật, đặc biệt là thuật ngữ pháp lý mới, nhằm đạt được sự hiểuthống nhất về các quy phạm pháp luật.
Thứ hai, bảo đảm hiệu quả các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật
và bảo vệ pháp luật dân chủ cấp xã.
Có pháp luật tốt nhưng việc tổ chức thực hiện không tốt, hành vi viphạm pháp luật không được xử lý hoặc xử lý không nghiêm thì việc thực hiệnpháp luật khó mà bảo đảm Đối với thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã cũngvậy Để bảo đảm hiệu quả các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật nóichung, thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã nói riêng trong điều kiện hiện nayphải đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính có liên quanđến công dân Đề cao các quyền tự do dân chủ công dân, đẩy mạnh hoạt độngphòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là các hành vi vi phạm cácquyền tự do dân chủ công dân, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ củacán bộ cơ sở
Thứ ba, bảo đảm sự hoàn thiện của quy trình thực hiện pháp luật.
Cũng như xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật dưới hình thức nàocũng phải theo một quy trình nhất định; quy trình tốt, hoàn thiện thì thức hiệnpháp luật sẽ tốt, có hiệu quả Trong quy trình thực hiện pháp luật, quy trình ápdụng pháp luật là một trật tự các bước, các giai đoạn kế tiếp nhau; mỗi bước
ẩn chứa những công việc nhất định mà chủ thể áp dụng pháp luật phải thựchiện Vì thế, chất lượng, tính hoàn thiện của quy trình là cái quyết định đếnchất lượng thực hiện pháp luật Mặt khác, cũng cần chú ý, khác với quy trìnhxây dựng pháp luật có tính ổn định, quy trình áp dụng pháp luật có tính linhhoạt, không cứng nhắc, việc áp dụng pháp luật phải phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh tính chất, đặc điểm của từng loại vụ việc, từng lĩnh vực pháp luậtđược áp dụng Thực hiện tốt điều này là hết sức quan trọng trong thực hiện
Trang 28pháp luật dân chủ ở cấp xã Bên cạnh có một quy trình phù hợp, linh hoạttrong áp dụng pháp luật, về thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã cũng đòi hỏiđội ngũ cán bộ, công chức phải tinh thông nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệmvới công việc, có phương pháp khoa học và tác phong sâu sát cụ thể.
Thứ tư, bảo đảm ý thức tự giác chấp hành pháp luật của các chủ thể.
Hành vi xử sự của các chủ thể thực hiện pháp luật là yếu tố quyết địnhtính hiệu quả trong việc thực hiện pháp luật Hành vi đó phụ thuộc vào nhiềuyếu tố, trong đó ý thức pháp luật, thể hiện những tri thức pháp luật mà conngười có được, ở ý chí, thái độ, tình cảm của họ đối với pháp luật Với quanniệm đó, ý thức pháp luật là một bộ phận của cơ chế tự điều chỉnh hành vi củamình một cách hợp lý, hợp pháp Vì thế, trong quá trình thực hiện pháp luật,quy phạm pháp luật chỉ được thực hiện đúng đắn, chính xác, kịp thời khi chủthể hiểu được chính xác nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật, khi màchủ thể có ý thức pháp luật Thực tiễn cho chúng ta nhiều bài học quý giárằng, mặc dù hệ thống pháp luật với những quy định khá hoàn thiện, nhưngtrình độ chuyên môn của cán bộ, công chức và nhân dân còn hạn chế, phẩmchất đạo đức của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa cao thì những quyđịnh của pháp luật khó thực hiện, khó kiểm tra, thanh tra dẫn đến tình trạnghiểu sai, làm sai hoặc lợi dụng những kẽ hở đó để trục lợi tạo ra sự bất bìnhđẳng trong xã hội Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nhà nướcpháp quyền, cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, thì việc nângcao ý thức pháp luật sẽ là điều kiện quan trọng để tổ chức thực hiện pháp luật
có hiệu quả, trong đó có việc thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã
1.2.3 Vai trò của thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã
1.2.3.1 Thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã góp phần mở rộng dân chủ, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã góp phần hiện thực
hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về dân
Trang 29chủ trong thực tiễn đời sống nhân dân ở cơ sở Tổng kết 20 năm đổi mới, Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ những yếu kém, khuyếtđiểm của bộ máy nhà nước:
Dân chủ ở nhiều nơi bị vi phạm, kỷ cương phép nước chưanghiêm Quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, đặcbiệt là tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm của bộphận không nhỏ cán bộ, công chức, nhất là ở các cơ quan giải quyếtcông việc cho dân và doanh nghiệp Bộ máy chính quyền ở cơ sởnhiều nơi yếu kém [31, tr 175]
Như vậy, việc thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã có vai trò trongviệc mở rộng dân chủ, đảm bảo dân chủ ở cơ sở được thực thi nghiêm túc.Pháp luật, với vai trò là công cụ để giai cấp thống trị thực hiện quyền lực củamình đối với việc quản lý xã hội và đấu tranh giai cấp; việc thực hiện phápluật có ý nghĩa quyết định đảm bảo cho quyền lực thực sự thuộc về giai cấp
đó Nhà nước XHCN là Nhà nước "nửa Nhà nước" với quyền lực thuộc về đa
số nhân dân lao động, Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân với trình
độ dân chủ cao hơn hẳn các chế độ chính trị trước đó Do đó, việc thực hiệnpháp luật về dân chủ là điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền lực thực sự củanhân dân
Thứ hai, thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã là phương thức quản lý
đảm bảo trên thực tế các quyền dân chủ của nhân dân Nhân dân được hưởngquyền chính trị cơ bản nhất của người công dân, đó là quyền bầu cử Theoquy định của pháp luật về chế độ bầu cử các cơ quan đại diện cho nhân dân:bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp thì công dân được thực hiệnquyền bầu cử của mình tại cơ sở xã, phường nơi cư trú Đây là bước khởi đầu
để thực hiện Nhà nước của dân Nhân dân thiết lập nên bộ máy quản lý Nhànước của mình để ủy quyền quản lý, thực hiện quyền dân chủ đại diện thôngqua hoạt động của đại biểu các cơ quan dân cử Nhân dân có quyền bầu, bãimiễn các đại biểu dân cử nếu họ không được dân tín nhiệm và thực hiện cơ
Trang 30chế giám sát thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổchức thành viên Cũng tại cấp xã nhân dân thực hiện các quyền cơ bản nhấtđược Hiến pháp quy định đó là: quyền có nhà ở, quyền tự do tín ngưỡng,quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, quyền được làm tất cả những gì màpháp luật không cấm trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội.
Thứ ba, thông qua thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã giúp Đảng và
Nhà nước hoàn thiện đường lối, chính sách về dân chủ nói chung, thực hiệnpháp luật dân chủ ở cấp xã nói riêng Yêu cầu xây dựng Nhà nước Việt Nampháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân đặt ra đòi hỏi tính tối cao củaHiến pháp và pháp luật Nhà nước được làm những gì mà pháp luật quy định,còn công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm Việc thực hiệnpháp luật về dân chủ trên tất cả các lĩnh vực diễn ra ở cơ sở không chỉ giúpcho pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, nhân dân tự mình làm chủ trong quản
lý xã hội mà còn giúp cho Đảng, Nhà nước ngày càng có cơ sở thực tiễn hơntrong việc hoạch định đường lối chính sách, hoàn thiện pháp luật
1.2.3.2 Vai trò của thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã đối với việc củng cố, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở
- Đối với tổ chức Đảng: Thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã góp
phần quan trọng vào đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, các tổ chứcĐảng đều coi việc thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã là dịp để tăng cườngcủng cố các tổ chức Đảng và là một phương tiện để đưa quan điểm chính trịcủa Đảng về dân chủ vào cuộc sống thực tế Để thực hiện tốt sự lãnh đạo củamình, các tổ chức Đảng và đảng viên không ngừng học tập, rèn luyện để nângcao nhận thức của mình về dân chủ ở cấp xã Trên cơ sở nâng cao nhận thức
về dân chủ ở cấp xã các đảng viên phải gương mẫu tiên phong trong việc thựchiện pháp luật dân chủ ở cấp xã, tích cực giúp đỡ tạo điều kiện cho nhân dânthực hiện, lắng nghe ý kiến của nhân dân hơn Đồng thời, tiếp thu phê bìnhcủa dân, nhiều tổ chức cơ sở Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình kiểm điểm
Trang 31trước dân, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng mắcsai lầm khuyết điểm, xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.
- Đối với tổ chức và hoạt động của chính quyền: Về tổ chức xây dựng
chính quyền: thực hiện pháp luật về dân chủ nhân dân hăng hái tham gia bầu
cử, phát huy quyền làm chủ sáng suốt lựa chọn người xứng đáng vào trong cơquan chính quyền cấp xã thông qua hình thức dân chủ trực tiếp Về hoạt độngchính quyền: thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã đã làm đổi mới hoạt độngquản lý chính quyền địa phương theo hướng hiệu quả hơn, năng động hơn,phù hợp với nền kinh tế thị trường Thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã chínhquyền cấp xã đã lắng nghe ý kiến nhân dân hơn, gần dân hơn Tác phong lềlối làm việc của cán bộ, công chức cấp xã có nhiều đổi mới, thái độ, cử chỉtiếp dân văn minh chuyên nghiệp hơn, giảm bớt sự quan liêu, hách dịch đốivới nhân dân Thông qua thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã, nhân dân có cơhội rèn luyện và nâng cao ý thức làm chủ, tinh thần làm chủ trên mọi lĩnh vực
ở địa phương, trong quá trình tham gia vào các công việc của nhà nước, tựgiác phát huy trí tuệ của mình để kiểm tra, giám sát hoạt động của chínhquyền Chính quyền đã chuyển sang hoạt động dân chủ, công khai hơn, đãkhắc phục được tính tùy tiện, tập trung, cứng nhắc của thời bao cấp Do vậynhân dân tham gia quản lý nhà nước ngày càng tích cực hơn, góp phần đắclực vào việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương
Nâng cao vai trò, trách nhiệm của MTTQ và các tổ chức chính trị
-xã hội ở cơ sở: MTTQ và các tổ chức chính trị - -xã hội ở cơ sở tích cực tham
gia thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã, thường xuyên đổi mới nội dung,phương thức hoạt động, tập hợp đoàn viên, hội viên, điều hòa và gắn kết cácnhóm lợi ích, tăng cường giám sát và phản biện xã hội, quan tâm chăm lo đếnquyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, những vấn đề nảy sinhđược phát hiện kịp thời, các khó khăn được tháo gỡ, qua đó ngày càng thu hútđược sự tham gia rộng rãi của người dân vào các công việc quản lý nhà nước,quản lý xã hội
Trang 321.2.3.3 Thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã góp phần phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã đã huy động được
sự quan tâm của nhân dân tham gia Nhân dân được biết, được bàn, đượckiểm tra theo nội dung của pháp luật thực hiện dân chủ ở cấp xã như: quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quyết toán ngânsách, xây dựng hạ tầng, điện, đường, trường, trạm, các thiết chế văn hóa, côngkhai mức thuế, phí và lệ phí, vốn vay xóa đói, giảm nghèo, bình xét gia đìnhvăn hóa, kế hoạch và phương án đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng triểnkhai các dự án trên địa bàn, đây là những nội dung có ảnh hưởng trực tiếp đếnviệc phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở Do đó, thực hiện pháp luật dân chủ cấp
xã góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong phong trào xây dựngnông thôn mới Đã có nhiều công trình mới về điện, đường, trường, trạm,kênh mương được bê tông hóa, mọi người trong xóm được bàn bạc, góp công,góp sức xây dựng quê hương đem lại kết quả thiết thực, đời sống vật chất vàtinh thần người dân được cải thiện đáng kể
Thứ hai, thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã cũng là cơ sở để giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Pháp luật về dân chủ ở cấp xã làmột bộ phận của pháp luật thực định, góp phần thực hiện chức năng duy trìtrật tự xã hội Thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã, nhân dân được bàn vàquyết định trực tiếp những vấn đề an ninh trật tự, xây dựng và tổ chức tự quảnđời sống cộng đồng, chính quyền có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết đơn thưcủa nhân dân, đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân Thực tế chứng minh, ởđịa phương nào thực hiện tốt pháp luật dân chủ ở cơ sở thì ở đó tình hình anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT DÂN CHỦ CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH HÀ NAM CÓ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT DÂN CHỦ CẤP XÃ
Hà Nam là tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Nam Thủ đô Hà Nội, thuộc châuthổ sông Hồng, phía Bắc giáp Hà Nội, phía Nam giáp Nam Định, Ninh Bình,phía Đông qua sông Hồng là Hưng Yên và Thái Bình, phía Tây giáp HòaBình; diện tích tự nhiên là 860.5km2, dân số gần 800.000 người (nữ chiếm51.56%) với 243.787 hộ, có khoảng 25% dân số ở thành phố, thị trấn; côngnhân lao động là 48 ngàn người, lao động nông nghiệp 432 ngàn người, độingũ trí thức gần 10 ngàn người, thanh niên 218 ngàn người Có 6 đơn vị hànhchính gồm 5 huyện và 1 thành phố, trong đó có 2 huyện miền núi là huyệnKim Bảng và huyện Thanh Liêm Toàn tỉnh có 116 xã, phường và thị trấn (98
xã, 11 phường, 7 thị trấn), 1240 thôn, tổ dân phố Đảng bộ tỉnh có gần 45.700đảng viên, 571 tổ chức cơ sở đảng và 2.596 chi bộ trực thuộc Đảng ủy
Hà Nam là tỉnh có bề dày truyền thống lịch sử văn hiến lâu đời, nhândân Hà Nam cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động, xây dựng quêhương, đất nước, có truyền thống yêu nước, anh dũng trong đấu tranh cáchmạng, bảo vệ Tổ quốc Đảng bộ Hà Nam tự hào là một trong những Đảng bộđược thành lập rất sớm, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và liềnsau đó đã lãnh đạo quần chúng nông dân đứng lên "Nổi trống Bồ Đề" vàongày 20/10/1930
Từ khi tỉnh Hà Nam tái lập năm 1997, mặc dù còn gặp nhiều khókhăn, song Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã nỗ lực vượt bậc, năng động,sáng tạo, tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, khẳng định được vị thế củamình trong khu vực và cả nước Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững;
Trang 34cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị đượcđầu tư ngày càng đồng bộ và hiện đại hơn; nông thôn được đầu tư và có nhiềuđổi mới Tỉnh đã tập trung quy hoạch, xây dựng nhiều khu, cụm công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ để hướng công nghiệp - dịch vụ phát triển cóhiệu quả cao Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm đầu
tư, bám sát vào yêu cầu phục vụ nhân dân Cùng với phát triển nhanh về quy
mô, chất lượng giáo dục toàn diện của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực,những năm gần đây trong các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, đại học,cao đẳng, học sinh giỏi quốc gia Hà Nam luôn đứng trong 10 tỉnh dẫn đầu của
cả nước Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao được đầu tư bằng nhiềunguồn lực và phát triển rộng khắp Công tác xây dựng Đảng vững mạnh vềchính trị, tư tưởng và tổ chức được quan tâm chú trọng; hệ thống chính trịđược củng cố ngày càng vững mạnh Hoạt động của MTTQ và đoàn thể nhândân ngày càng đa dạng về phương thức, nội dung thiết thực, phát động nhiềuphong trào thi đua trên các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội; công tác quốc phòng- an ninh được bảo đảm Bước vào thời kỳ mới,Đảng bộ và nhân dân Hà Nam tiếp tục phát huy dân chủ, sức mạnh đoàn kết,nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, xây dựngĐảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển kinh tế nhanh
và bền vững, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Về mặt bằng dân trí và kinh tế, xã hội có thể kết luận: Hà Nam có
truyền thống văn hóa, có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp; trình độkinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của dân cư phát triển khá cao, trình
độ học vấn khá đồng đều, thu nhập và đời sống của đa số dân cư đã được cảithiện và nâng cao đáng kể Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực conngười Hà Nam là truyền thống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn đểphát triển sản xuất, là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết và giàu sức sángtạo trong phát triển kinh tế, mở mang văn hóa xã hội Đây là một nguồn lựcđặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, vì
Trang 35đặc điểm thuần nông lâu năm, nên có khoảng trên 70% dân cư làm nghề nôngnghiệp, còn công nghiệp hiện mới đang trên đà khởi sắc Dấu ấn và thói quencủa phong tục, tập quán nông thôn cũng còn khá đậm nét, trình độ văn hóachung so với các tỉnh, thành lân cận không phải là thấp, nhưng trình độ vănhóa pháp lý còn nhiều mặt hạn chế, chưa cao
Về trình độ văn hóa pháp lý thì người nông dân Hà Nam ít được tiếpxúc với thông tin, tri thức pháp luật mới, nhất là ở vùng nông thôn Đây là đặcđiểm nổi bật về dân trí pháp lý cần được khắc phục Từ sau tái lập tỉnh đếnnay (1997) một số khu công nghiệp mới đang bắt đầu hình thành và đi vàohoạt động, nên việc hình thành thói quen công nghiệp phù hợp với những đòihỏi hiện tại và nhu cầu của pháp luật trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa còn hạn chế Một bộ phận dân cư ở các khu công nghiệp vẫn chưa quenvới việc chuyển hóa từ nông dân thành công nhân, nên rất khó cho công táctuyên truyền, phổ biến, giáo dục về kiến thức pháp luật, về thực hiện phápluật dân chủ ở cơ sở
2.2 TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT DÂN CHỦ CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
2.2.1 Tình hình triển khai thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Sau khi tiếp thu Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18 tháng 2 năm 1998 của
Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (Chỉ thị 30)
và Nghị định 29/1998/NĐ/CP, ngày 11/5/1998 của Chính phủ về Quy chế dânchủ ở xã, áp dụng cho cả phường, thị trấn (Nghị định 29); Ban Thường vụTỉnh ủy Hà Nam thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ cấp tỉnh
do đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy làm trưởng ban, đồng chíTrưởng Ban Dân vận và 1 đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh làm Phó ban;Ban Tổ chức chính quyền tỉnh (nay là Sở Nội vụ) và một số các ngành, đoànthể tham gia làm thành viên Ban Chỉ đạo tập trung xây dựng kế hoạch triển
Trang 36khai trên địa bàn toàn tỉnh, chuẩn bị in ấn tài liệu, mở hội nghị triển khai,quán triệt tinh thần Chỉ thị số 30 và Nghị định 29 đến cán bộ chủ chốt cácphòng, ban, đoàn thể từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn Đồng thời, tổ chức cáclớp tập huấn báo cáo viên, tuyên truyền viên về thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở
Trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện Ban Thường vụ Tỉnh ủyyêu cầu phải thực hiện đúng các bước và quy trình theo kế hoạch; trước khichỉ đạo điểm phải tổ chức khảo sát, đánh giá tình hình, cấp ủy ra Nghị quyết,UBND xây dựng kế hoạch, thành lập Ban Chỉ đạo Ban chỉ đạo của tỉnh,huyện, thành phố và cấp xã đã xây dựng quy chế hoạt động, phân công tráchnhiệm cho từng thành viên, phối hợp với các đồng chí cấp ủy phụ trách cơ sởkiểm tra việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; quan tâm công tác tổ chứctập huấn cho các thành viên Ban chỉ đạo tỉnh, các huyện, thành phố và cơ sở
Kế hoạch thực hiện Chỉ thị 30 và Nghị định 29 được tiến hành được chia làm
2 đợt: Đợt 1: Từ tháng 10/1998 đến tháng 12/1998 triển khai điểm ở 23 xã,phường thị trấn Đợt 2: Từ tháng 12/1998 đến tháng 3/1999 triển khai ở các
xã, phường, thị trấn còn lại trong tỉnh Đến hết quý I năm 1999 toàn tỉnh triểnkhai xong ở 116/116 xã, phường, thị trấn
Về tài liệu, hệ thống văn bản bao gồm: Chỉ thị 30, Nghị định 29, các
kế hoạch, hướng dẫn, các văn bản chỉ đạo của Trung ương, tỉnh và các huyện,thành phố được in ấn, cung cấp đầy đủ cho cơ sở xã, phường, thị trấn, thôn, tổdân phố tạo điều kiện giúp cán bộ và nhân dân nghiên cứu, học tập chỉ thị vàquy chế Do chuẩn bị chu đáo về kế hoạch, tài liệu nên việc quán triệt quy chếdân chủ ở cơ sở xã, phường đảm bảo yêu cầu để ra 100% xã, phường, thị trấn
và thôn, tổ dân phố đã quán triệt triển khai, có trên 85% số hộ dân được tiếpthu, 95% đảng viên trong Đảng bộ được tham gia học tập, quán triệt Trongquá trình thực hiện các cấp ủy đảng, chính quyền của tỉnh Hà Nam đã kịp thờitriển khai thực hiện các văn bản liên quan đến thực hiện pháp luật dân chủ cấp
xã như: Chỉ thị số 10/CT/TW, ngày 28/3/2002 của Ban Bí thư Trung ương
Trang 37Đảng về việc tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ
cơ sở; Nghị định 79-NĐ/CP ngày 7/7/2003 của Chính phủ về Quy chế dânchủ ở xã, thay thế Nghị định 29/CP của Chính phủ, Thông báo số 159 -TB/TW ngày 15/11/2004 của Ban Bí thư Trung ương về tiếp tục chỉ đạo xâydựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh số 34; Kết luận số 65-KL/TW của Ban Bí thư, ngày 04/3/2010 tiếp tục thực hiện Chỉ thị số30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chếdân chủ cơ sở tới cán bộ, đảng viên và nhân dân
Ban Thường vụ Tỉnh ủy phân công Ban Dân vận Tỉnh ủy bộ phậnthường trực của Ban Chỉ đạo QCDC cơ sở ở tỉnh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy theodõi việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các tổ chức cơ sởĐảng, gắn với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng Ban Tổ chức Chính quyền (SởNội vụ) tỉnh theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện các Nghị định củaChính phủ, gắn với việc thực hiện cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản
lý trong các cơ quan nhà nước Hàng năm, Công an tỉnh và Thanh tra tỉnh có
kế hoạch cụ thể chỉ đạo về công tác an ninh, giải quyết những vấn đề nổi cộm;
Sở Văn hóa - Thông tin hướng dẫn xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóakết hợp với nội dung thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã; Ủy ban MTTQtỉnh phối hợp với các đoàn thể quần chúng triển khai, tuyên truyền vận độnghội viên, đoàn viên, nhân dân tham gia xây dựng và giám sát thực hiện Quychế dân chủ ở cơ sở, kiện toàn Ban Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn
Ban Chỉ đạo QCDC cơ sở từ tỉnh đến cơ sở hằng năm tổ chức kiểmtra, đôn đốc cơ sở và tự kiểm tra việc thực hiện Quy chế dân chủ, đánh giácông tác lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, điều hành của chính quyền và vai tròcủa MTTQ, các đoàn thể, ý thức làm chủ của nhân dân trong việc phát huydân chủ ở cấp xã Rà soát bổ sung hương ước, quy ước của các thôn, tổ dânphố Qua kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở xã,phường, các Ban chỉ đạo đã tham mưu cho cấp ủy đề ra các nhiệm vụ và giảipháp nhằm thực hiện quy chế tốt hơn, phát hiện những điểm còn bất cập trong
Trang 38nội dung quy định của quy chế và trong tổ chức triển khai từ đó làm cơ sởthực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã.
Công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã đượcchỉ đạo theo từng giai đoạn, như: Sơ kết 3 năm (1998 - 2001), sơ kết 5 năm(1998 - 2003), tổng kết 10 năm (1998 - 2008) từ cơ sở đến tỉnh Sơ kết 5 năm(2007 - 2012) Pháp lệnh 34 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Qua
đó, đánh giá đúng kết quả thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã, rút ra các kinhnghiệm thực tiễn và định hướng các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiệntrong giai đoạn tiếp theo
Sau 15 năm quán triệt và tổ chức thực hiện Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị,quá trình thực hiện Nghị định 29, Nghị định 79 và nay là Pháp lệnh 34 thựchiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn, nhận thức của các cấp ủy đảng,chính quyền, đoàn thể và nhân dân thành phố trong việc phát huy quyền làmchủ của nhân dân đã có chuyển biến tích cực, Chỉ thị của Đảng và những quyđịnh của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã là một nội dung hợp lòngdân, đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân nên được nhân dân đồng tình vàhưởng ứng rộng rãi, quá trình tổ chức thực hiện có nhiều thuận lợi và đạtđược những thành tích đáng phấn khởi
2.2.2 Kết quả thực hiện pháp luật dân chủ cấp xã ở tỉnh Hà Nam
2.2.2.1 Kết quả thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"
* Về những nội dung công khai để nhân dân biết
Với 11 nội dung cần công khai trước nhân dân theo quy định của
Pháp lệnh 34, cơ bản được các địa phương thực hiện bằng nhiều hình thứckhá phong phú, trong đó đa số thực hiện thông qua hình thức công khai bằngniêm yết tại trụ sở HĐND, UBND, hoặc thông báo trên hệ thống truyền thanhcủa xã, phường, thị trấn Ngoài ra, còn có các hình thức khác như: thông quacác kỳ họp HĐND, thông qua các hội nghị tiếp xúc cử tri, thông qua các hội
Trang 39nghị đoàn thể và các cuộc họp dân Các nội dung đã được chính quyền thựchiện khá tốt là những vấn đề liên quan thiết thực đến đời sống nhân dân:những dự án đầu tư, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định
cư, quản lý, sử dụng các loại quỹ, các khoản huy động trong nhân dân Đây là
những vấn đề nhạy cảm, khó khăn, phức tạp, dễ phát sinh khiếu kiện Quá
trình thực hiện những nội dung công khai để nhân dân biết, đã có 6 huyện,thành phố xây dựng Quy chế thực hiện dân chủ trong công tác giải phóng mặtbằng Những địa phương thực hiện tốt là các đơn vị: huyện Kim Bảng, ThanhLiêm, Duy Tiên Về thực hiện những nội dung khác như: Kế hoạch vay vốn
để nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo; trợ cấp xã hội; cấp thẻbảo hiểm y tế; các quy định về thủ tục hành chính; kết quả lấy phiếu tín nhiệmChủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, UBND cũng được các địa phương côngkhai kịp thời để nhân dân kiểm tra, giám sát Qua khảo sát đánh giá có: 70 xã,phường, thị trấn thực hiện tốt công khai 11 nội dung (60,3%); 29 xã, phường,thị trấn thực hiện tốt 10 nội dung (25%) và 17 xã, phường, thị trấn thực hiệntốt 9 nội dung (14,7%) Có 65% địa phương cấp xã thực hiện công khai thôngqua họp dân ở thôn hoặc tổ dân phố, gần 40% số xã, phường, thị trấn gửi vănbản thông báo tới từng hộ gia đình Nhờ làm tốt những nội dung công khaicho dân biết, qua đó để nhân dân nắm bắt được tình hình phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương, đồng thời góp ý kiến với cấp ủy Đảng, chính quyềncác cấp về những vấn đề mà nhân dân quan tâm
* Về những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
Những việc, những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp đãđược thực hiện công khai dân chủ tại các cộng đồng dân cư, được nhân dântham gia hưởng ứng nhiệt tình và trách nhiệm cao, về cơ bản tỷ lệ tham gia
họp bàn thường đạt trên 80% số đại biểu mời họp Có thể khẳng định, đây là
những nội dung được thực hiện thành công trên địa bàn tỉnh Hà Nam, đạt kếtquả tích cực Trong đó, thể hiện rõ nhất trên lĩnh vực xây dựng kết cấu hạtầng và các công trình phúc lợi ở các xã, phường, thị trấn; việc nhân dân hiến
Trang 40đất để xây dựng đường làng, ngõ xóm trong chương trình xây dựng nông thônmới trong 5 năm (2007 - 2012) nhân dân tỉnh Hà Nam đã đóng góp hàngnghìn tỷ đồng để xây dựng đầu tư kết cấu hạ tầng và phát triển sản xuất, kiên
cố hóa kênh mương và các công trình phúc lợi khác như trường học, trạm y
tế, nhà văn hóa thôn, nhà tình nghĩa, quỹ khuyến học Các xã, phường, thị trấntrong tỉnh đều thành lập Ban giám sát đầu tư cộng đồng Nhiều công trình xâydựng do dân trực tiếp đóng góp công sức đã tiết kiệm được hàng tỷ đồng.Tiêu biểu trong chương trình phát triển giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh
Hà Nam 2 năm (2011 - 2013): số lượng đường giao thông nông thôn toàn tỉnh
đã làm được 1.656 km trong đó đường thôn xóm 1.603 km và đường trụcchính nội đồng 53 km, với tổng kinh phí 1.295 tỷ đồng, trong đó nhân dân HàNam đã đóng góp 887 tỷ đồng bằng 68,5% [70, tr 5]
Hình thức để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp chủ yếu thông quahọp nhân dân ở từng thôn, tổ dân phố hoặc đại diện chủ hộ gia đình bàn biểuquyết bằng giơ tay hoặc bỏ phiếu kín, số người tán thành đạt tỷ lệ từ 80% trởlên; sau cuộc họp được thiết lập bằng văn bản gửi UBND xã, phường, thị trấnphê duyệt Việc sử dụng đầu tư bằng tiền do nhân dân đóng góp hiệu quả,đúng mục đích, góp phần làm cho kết cấu hạ tầng và đời sống vật chất, tinhthần của nhân dân ở cơ sở ngày càng được cải thiện, nâng cao
Kết quả bầu cử HĐND 3 cấp các năm: 1999, năm 2004, năm 2011HĐND, Ủy ban MTTQ đã tổ chức tốt công tác hiệp thương, lựa chọn giớithiệu người tham gia ứng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, huyện, xã vừa đảm bảođúng luật vừa đảm bảo dân chủ, công khai Từ đó, nhân dân đã tích cực thamgia đi bầu cử để thực hiện quyền và trách nhiệm của mình, tỷ lệ cử tri đi bỏphiếu của toàn tỉnh cả hai đợt đạt trên 99,6%
* Về thực hiện những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định
Việc xây dựng hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố được nhândân rất quan tâm Đây là những nội dung thiết thực trong đời sống, làm cho