Nguyễn Tư Giản 阮思僴là một trong những nhân vật đáng được lưu ý trong các tác gia Hán Nôm triều Nguyễn, với hơn 40 năm làm quan, trải qua 7 đời vua1 gồm: Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Phúc Kiến, Hàm Nghi, Đồng Khánh. Trong thời gian làm quan, Nguyễn Tư Giản đã nắm giữ những chức vụ quan trọng và đồng hành cùng những thăng trầm của nhà Nguyễn. Có thể nói, sự biến động trong cuộc đời làm quan của ông phản ánh sinh động những biến cố lớn của vương triều nhà Nguyễn. Và để có thể thấy được sự biến động trong cuộc đời của Nguyễn Tư Giản, có lẽ chúng ta phải tìm hiểu thơ văn do ông trước tác, bởi 詩以言志“thi dĩ ngôn chí”, thơ văn là để nói lên tâm tư tình cảm, cũng như để ghi lại những điều đặc biệt đã kinh qua của cuộc đời. Đọc thơ văn của Nguyễn Tư Giản, chúng ta có thể thấy được điều đó. Nguyễn Tư Giản còn để lại rất nhiều thơ văn, với hàng loạt những thi tập như: Yên thiều thi thảo燕軺詩草, Yên thiều thi tập 燕軺詩集, Thạch Nông thi tập 石農詩集, Thạch Nông toàn tập石農全集, v.v… Tuy nhiên cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu cũng như phiên dịch và giới thiệu thơ văn của ông. Trong đó Thạch Nông thi tập thực sự là một tư liệu quý trong việc nghiên cứu về thân thế sự nghiệp, thơ văn của vị Hoàng giáp này và thơ văn trung đại Việt Nam. Ngoài ra, từ những thông tin trong Thạch Nông thi tập cung cấp những thông tin lịch sử khác, như việc Nguyễn Tư Giản được cử làm Đê chính tại Bắc kì cùng những sự kiện vô cùng quan trọng trong thời gian làm quan của ông, bởi 1 Ông trực tiếp làm quan dưới 3 triều vua là Thiệu Trị, Tự Đức và Đồng Khánh, 4 triều vua là Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, ông nghỉ ở quê nhà. Khi vua Đồng Khánh lên ngôi, triệu ông ra làm quan, ông ra làm làm Tổng đốc Ninh Thái được vài năm rồi xin nghỉ. chính sự kiện này là sự kiện chấm dứt 14 năm thăng quan tiến chức liên tiếp của ông. Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài Khảo cứu văn bản Thạch Nông thi tập của Nguyễn Tư Giản làm luận văn Thạc sĩ Hán Nôm, để có những đóng góp mới về tác gia Hán Nôm nổi tiếng này, cũng như giới thiệu tác phẩm Hán Nôm trong đời sống văn hóa và văn học hiện nay. 2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề Cho đến nay, việc nghiên cứu về Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu ở một số vấn đề như thân thế, sự nghiệp, trước tác. Sau đây, chúng tôi xin tổng quan tình hình nghiên cứu như sau:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
GI ẢN
HÀ N ỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Trang 4L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn này là kết quả do bản thân tôi thực hiện dưới
sự hướng dẫn và góp ý của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Trịnh Khắc Mạnh cùng các thầy cô và đồng nghiệp
Người thực hiện Luận văn
Trang 51
M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 4
1 Lý do ch ọn đề tài 4
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 5
2.1 Các công trình nghiên c ứu về Nguyễn Tư Giản 5
2.1.1 Các công trình t ừ điển, thư mục, biên mục 5
2.1.2 Các công trình nghiên c ứu, luận văn, luận án 7
2.1.3 Các bài nghiên c ứu, tạp chí, kỷ yếu hội thảo 10
2.1.4 Biên d ịch và công bố thơ văn của Nguyễn Tư Giản 12
2.2 Nghiên c ứu về văn bản, tác phẩm Thạch Nông thi tập 17
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu 17
4 Phương pháp nghiên cứu 17
5 Nh ững đóng góp mới của đề tài 18
6 B ố cục luận văn 19
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ TRƯỚC TÁC CỦA NGUY ỄN TƯ GIẢN 20
1.1 Thân th ế và sự nghiệp của Nguyễn Tư Giản 20
1.1.1 Gia th ế 20
1.1.1.1 M ột gia tộc danh vọng 20
1.1.1.2 Dòng h ọ nhà Lý? 23
1.1.1.3 Th ời niên thiếu 24
1.1.1.4 Thi c ử và đỗ đạt 26
1.1.2 Quan trường 28
1.1.2.1 Ho ạn lộ thăng trầm 28
1.1.2.2 Ưu ái của các vua Nguyễn 33
Trang 62
1.1.3 Lòng yêu nước của Nguyễn Tư Giản 37
1.2 Trước tác của Nguyễn Tư Giản 39
Ti ểu kết 43
CHƯƠNG 2: KHẢO CỨU VĂN BẢN THẠCH NÔNG THI TẬP 44
2.1 Mô t ả văn bản 44
2.1.1 Văn bản Thạch Nông thi tập, kí hiệu VHv.700 44
2.1.2 Văn bản Thạch Nông thi tập, kí hiệu VHv.28 46
2.1.3 Văn bản Thạch Nông thi tập, kí hiệu VHv.1149/2 47
2.1.4 Văn bản Nguyễn Tuân Thúc thi tập, kí hiệu VHv.32 48
2.1.5 Văn bản Thạch Nông toàn tập, kí hiệu A.376/2 49
2.2 Kh ảo dị 51
2.2.1 D ị biệt trong tiêu đề bài thơ 52
2.2.2 D ị biệt trong nội dung bài thơ 55
2.3 Niên đại của văn bản 61
2.3.1 Căn cứ vào chữ húy 62
2.3.2 Căn cứ vào nội dung 65
2.4 Xác định bản tin cậy (thiện bản) 66
Ti ểu kết 68
CHƯƠNG 3: TÌM HIỂU GIÁ TRỊ TÁC PHẨM THẠCH NÔNG THI TẬP 69
3.1 M ột số phương diện nội dung 69
3.1.1 Ph ản ánh công việc trị thủy 69
3.1.2 Ca ng ợi thiên nhiên, thắng cảnh 81
3.1.3 Tình c ảm bè bạn 87
3.2 M ột số phương diện nghệ thuật 91
3.2.1 Các th ể thơ 91
3.2.2 Đặc điểm sử dụng từ ngữ 93
3.2.3 S ử dụng điển cố điển tích 95
Ti ểu kết 98
Trang 73
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 102
PH Ụ LỤC 1 107
DANH MỤC CÁC BÀI THƠ TRONG THẠCH NÔNG THI TẬP, 107
VĂN BẢN KÍ HIỆU VHV.700 107
PH Ụ LỤC 2 118
PHIÊN D ỊCH (60 BÀI THƠ) 118
PH Ụ LỤC 3 190
BẢN PHOTO COPY THẠCH NÔNG THI TẬP, VHV.700 190
Trang 8Tư Giản, có lẽ chúng ta phải tìm hiểu thơ văn do ông trước tác, bởi 詩以言志 “thi
dĩ ngôn chí”, thơ văn là để nói lên tâm tư tình cảm, cũng như để ghi lại những điều đặc biệt đã kinh qua của cuộc đời Đọc thơ văn của Nguyễn Tư Giản, chúng ta có
thể thấy được điều đó
Nguyễn Tư Giản còn để lại rất nhiều thơ văn, với hàng loạt những thi tập
như: Yên thiều thi thảo 燕軺詩草, Yên thiều thi tập 燕軺詩集, Thạch Nông thi tập 石農詩集, Th ạch Nông toàn tập 石農全集, v.v… Tuy nhiên cho đến nay chưa có
nhiều công trình nghiên cứu cũng như phiên dịch và giới thiệu thơ văn của ông
Trong đó Thạch Nông thi tập thực sự là một tư liệu quý trong việc nghiên cứu về
thân thế sự nghiệp, thơ văn của vị Hoàng giáp này và thơ văn trung đại Việt Nam
Ngoài ra, từ những thông tin trong Thạch Nông thi tập cung cấp những
thông tin lịch sử khác, như việc Nguyễn Tư Giản được cử làm Đê chính tại Bắc kì cùng những sự kiện vô cùng quan trọng trong thời gian làm quan của ông, bởi
1
Ông tr ực tiếp làm quan dưới 3 triều vua là Thiệu Trị, Tự Đức và Đồng Khánh, 4 triều vua là D ục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, ông nghỉ ở quê nhà Khi vua Đồng Khánh lên ngôi, tri ệu ông ra làm quan, ông ra làm làm Tổng đốc Ninh Thái được vài năm rồi xin nghỉ
Trang 95
chính sự kiện này là sự kiện chấm dứt 14 năm thăng quan tiến chức liên tiếp của ông
Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài Khảo cứu văn bản Thạch Nông thi
t ập của Nguyễn Tư Giản làm luận văn Thạc sĩ Hán Nôm, để có những đóng góp
mới về tác gia Hán Nôm nổi tiếng này, cũng như giới thiệu tác phẩm Hán Nôm trong đời sống văn hóa và văn học hiện nay
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, việc nghiên cứu về Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu ở một số vấn đề như thân thế, sự nghiệp, trước tác Sau đây, chúng tôi xin tổng quan tình hình nghiên cứu như sau:
2.1 Các công trình nghiên c ứu về Nguyễn Tư Giản
2.1.1 Các công trình t ừ điển, thư mục, biên mục
Di s ản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu do Trần Nghĩa & François
Gros đồng chủ biên (1993), ở phần mục lục có thống kê sách vở tài liệu Hán Nôm ghi chép tác phẩm thơ văn của Nguyễn Tư Giản (gồm tài liệu chuyên biệt và các tài liệu có liên quan khác), tổng cộng số lượng đầu mục có liên quan tới Nguyễn
Tư Giản lên tới 50 đầu mục, là một tài liệu quý, rất hữu ích trong việc nghiên cứu Nguyễn Tư Giản nói riêng
Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm [24, tr 186-188] do Trịnh Khắc Mạnh
biên soạn, sách giới thiệu sơ lược về tên tuổi, con đường làm quan Đặc biệt trình bày và giới thiệu khá đầy đủ tác tác phẩm của Nguyễn Tư Giản viết riêng, cùng
những tác phẩm mà Nguyễn Tư Giản tham gia biên soạn, cũng như thơ văn của ông có trong các sách khác
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam [28, tr 679-680] do Nguyễn Q Thắng và
Nguyễn Bá Thế chủ biên, sách giới thiệu khái lược qua một số thông tin cơ bản
Trang 106
nhất về họ tên, thời gian đỗ đạt, các chức quan chính và một số tác phẩm của Nguyễn Tư Giản
T ừ điển nhân vật lịch sử Việt Nam [23, tr 150] do Đinh Xuân Lâm, Trương
Hữu Quýnh chủ biên, sách có giới thiệu sơ lược về tên, tự hiệu, thời gian thi đỗ, các chức vị kinh qua, những sự kiện lớn của cuộc đời làm quan và có điểm qua các tập thơ văn chính của Nguyễn Tư Giản
Qu ốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục do Nguyễn Thúy Nga và
Nguyễn Thị Lâm biên dịch [20, tr 234], ghi chép tóm lược họ tên, quê quán, năm
đỗ đạt, những người đỗ đạt trong gia đình, dòng họ và một số chức vụ trọng yếu
của Nguyễn Tư Giản
Đại Việt lịch triều đăng khoa lục - quyển nhất (1963), soạn giả là Nguyễn
Hoàn, Uông Sĩ Lãng, Phan Trọng Phiên và Võ Miên, dịch giả là Tạ Thúc Khải có ghi chép về 10 người đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1844) đời vua Thiệu Trị thứ 4 Trúng đệ nhị Giáp tiến sĩ xuất thân có 2 người là Nguyễn Văn Chương và Nguyễn
Tư Giản, sách giới thiệu ngắn gọn về Nguyễn Tư Giản như sau: “Nguyễn Văn Phú 阮文富, người xã Hân Lâm, huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, thi đỗ khi 23 tuổi.” [22, tr 86]
T ừ điển Văn học (bộ mới) của nhiều tác giả [27, tr 1213-1214], sách trình
bày giới thiệu khái lược về Nguyễn Tư Giản cùng những tác phẩm chính của ông Đặc biệt, sách có những nhận xét về đặc điểm thơ văn của Nguyễn Tư Giản
Lược truyện các tác gia Việt Nam do Trần Văn Giáp chủ biên [21, tr
472-473], sách giới thiệu sơ lược về tên, tự, hiệu của Nguyễn Tư Giản, đồng thời cũng
giới thiệu các tác phẩm chính của ông Khi viết về Nguyễn Tư Giản sinh năm 1823,
đỗ Hoàng giáp năm Thiệu Trị thứ 4 (tức năm 1844), nhưng lại viết là “năm ấy ông
23 tuổi” Có thể ở đây có sự nhầm lẫn về thời gian giống như sách Đại Việt lịch tri ều đăng khoa lục toàn tập, đáng lẽ phải là 21 tuổi
Trang 117
Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919 do Ngô Đức Thọ chủ biên [29, tr
693], giới thiệu sơ lược về Nguyễn Tư Giản Nhưng có một số điểm đáng lưu ý là, khi so sánh với các tài liệu khác về năm sinh của Nguyễn Tư Giản, sách cho rằng ông sinh năm 1822 (tức là năm Nhâm Ngọ) chứ không phải là 1823
2.1.2 Các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án
Khóa luận tốt nghiệp Bước đầu tìm hiểu thơ đi sứ của Hoàng giáp Nguyễn
Tư Giản (2000) của Nguyễn Thị Tú Mai, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân Văn (Hà Nội) Khóa luận đã giới thiệu về tác giả Nguyễn Tư Giản cùng tác
phẩm Yên Thiều thi thảo, đồng thời tiến hành phiên âm và dịch nghĩa 25 bài thơ được tuyển chọn từ trong tập Yên thiều thi thảo
Cuốn Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản cuộc đời và thơ văn (2001), do Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản Sách là tổng tập các vài viết về Nguyễn Tư Giản và được in thành sách Nội dung sách gồm 2 phần chính Phần
một: Một số tham luận và bài viết nhân dịp kỉ niệm 110 năm ngày mất Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản, gồm 12 bài viết của các nhà nghiên cứu như Trần Nghĩa, Phan Văn Các, Đỗ Đức Hùng, Trịnh Khắc Mạnh, Đinh Công Vĩ, v.v… Phần hai: Thơ văn Nguyễn Tư Giản, phiên dịch các bài văn thi Đình, tuyển dịch một số bài văn ứng chế của Nguyễn Tư Giản, v.v Ngoài ra, sách còn có phụ lục: Thư mục Nguy ễn Tư Giản, liệt kê danh sách các công trình đã nghiên cứu, dịch giải thư văn
của Nguyễn Tư Giản Nội dung chính của các bài viết như sau:
- Nguy ễn Tư Giản, một trí thức lớn của nước ta thế kỉ XIX của Trần Nghĩa
Bài viết phân tích Nguyễn Tư Giản qua bốn luận điểm chính để từ đó thấy được Nguyễn Tư Giản thực sự là một nhân vật lớn của đất nước Bốn luận điểm như sau: vấn đề tri thức, vấn đề canh tân đất nước, vấn đề tôn trọng và giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc, vấn đề hài lòa lợi ích chung với lợi ích riêng
Trang 128
- Chuy ến đi sứ của Nguyễn Tư Giản của Phan Văn Các Bài viết căn cứ vào
tác phẩm Như Thanh nhật trình đã trình bày về cuộc đi sứ của nhà Nguyễn sang nhà Thanh vào năm Tự Đức thứ 21 (1868), mô tả khá cụ thể về thời gian, địa điểm
đi qua trong hành trình đi sứ của phái đoàn nhà Nguyễn từ lúc bắt đầu xuất phát tới lúc tới Yên kinh
- Nguy ễn Tư Giản với công việc trị thủy ở đồng bằng bắc bộ hồi giữu thế kỷ XIX của Đỗ Đức Hùng Bài viết trình bày về hoàn cảnh đê điều của Bắc kì trước khi Nguyễn Tư Giản được cử đi phụ trách Đê chính, những mưu chước cùng đề nghị (điều trần) của Nguyễn Tư Giản đối với vấn đề đê điều và mười phương pháp
trị thủy của ông, bàn về công trình phân lũ qua sông Thiên Đức do Nguyễn Tư Giản thực hiện
- Nguy ễn Tư Giản và bản mật sớ năm 1859 do Đỗ Đức viết Bài viết với
mục đích chứng minh Nguyễn Tư Giản không đứng về “phe chủ hòa” trong cuộc chiến chống Tây Dương, đồng thời đăng bản dịch của bài sớ có tên là Sớ đánh Tây
chép trong Công văn tập tấu của nhà Nguyễn, để làm rõ vấn đề và chứng minh
lòng yêu nước, không chịu khuất phục trước Tây Dương của Nguyễn Tư Giản
- B ản lĩnh Nguyễn Tư Giản qua biến động của cuộc đời của Trần Bá Chí
Bài viết thống kê và phân tích những sự kiện và biến động lớn trong cuộc đời của Nguyễn Tư Giản, về việc vua Tự Đức đánh giá về ông, cùng với tâm sự của Nguyễn Tư Giản
- Hoàng giáp Nguy ễn Tư Giản trước những ưu ái của các vua Nguyễn do
Nguyễn Đắc Xuân viết Từ những sự kiện Nguyễn Tư Giản bị trách phạt, giáng
chức, nhưng lại được các vua nhà Nguyễn giảm nhẹ tội, khiển trách nhẹ và tái bổ nhiệm, tác giả bài viết chứng minh rằng Nguyễn Tư Giản đã nhận được sự ưu ái hết sức lớn của các vua nhà Nguyễn
Trang 139
- Nguy ễn Tư Giản - Nguyễn Thông, tình bạn trên cơ sở tinh thần yêu nước
và ý chí th ống nhất tổ quốc do Đinh Xuân Lâm viết, trình bài về tình cảm, tình bạn
giữa Nguyễn Tư Giản với Nguyễn Thông (hiệu Hi Phần) thông qua những bài thơ,
những bức thư qua lại giữa hai nhân vật
- Nguy ễn Tư Giản - Trưởng môn Hồ đình với Lỗ Am tiên sinh của Vũ Thế
Khôi Thông qua phân tích những cứ liệu như lạc khoản, bài viếng của Nguyễn Tư Giản đối với vợ cả (nguyên phối) và bài văn viếng của Nguyễn Tư Giản cùng các đồng môn Hồ đình trong tang lễ thầy Lỗ Am để chứng minh, cho rằng Nguyễn Tư
Giản chính là trưởng môn của Hồ đình
- Nguy ễn Tư Giản - cuộc đời và tác phẩm của Trịnh Khắc Mạnh Bài viết
giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Tư Giản, thống kê các tác phẩm của Nguyễn Tư Giản thành 3 loại chính: Tác phẩm do chính ông biên soạn, tác
phẩm ông tham gia biên soạn, và tác phẩm thơ văn của ông được ghi chép trong các sách khác
- Quê hương Nguyễn Tư Giản, vấn đề địa lý, văn hóa của Nguyễn Văn
Thành Bài viết trình bày sơ lược về địa lý huyện Đông Ngàn, vấn đề quê hương
của Nguyễn Tư Giản và dòng họ khoa bảng này; rồi truy ngược nguồn gốc của dòng họ nhà Nguyễn Tư Giản, và cho rằng Nguyễn Tư Giản là con cháu của Lý Quang Bật2
2
Có th ể tác giả bài biết đã tham khảo vấn đề Nguyễn Tư Giản là con cháu nhà Lý qua
Ngược đường trường thi do Nguyễn Triệu Luật viết năm 1939 Tuy nhiên, quan điểm này không
có đủ luận cứ để xác thực Chính trong cuốn sách Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản thân thế và sự nghi ệp do Nguyễn Tư Cự (cháu trưởng đời thứ 14 dòng họ Nguyễn Tư) đứng ra in ấn, Trương
To ại biên soạn, Nguyễn Khắc Kham hiệu đính cũng cho rằng: Vấn đề này còn cần phải có những
ch ứng cứ xác đáng hơn để có kết luận cụ thể
Trang 1410
- Truy ền thuyết về làng Hoa Lâm, quê hương Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản
của Trịnh Di Bài viết trình bày về quê quán, lược sử vùng đất Hoa Lâm, về dòng
họ nhà Nguyễn Tư Giản với mảnh đất này
- Dòng h ọ Nguyễn Tư Giản, một vọng tộc quý phái tài hoa của Đinh Công
Vĩ Bài viết giới thiệu về nguồn cội, dòng tộc của gia đình Nguyễn Tư Giản và cho rằng dòng họ này có nguồn gốc từ nhà Lý Với nhiều người thi cử đỗ đạt và làm quan như Nguyễn Sủng, Nguyễn Khuê, Nguyễn Sĩ, Nguyễn Tư Giản , … Đồng
thời, tác giả bài viết còn viết về văn tài trước tác của hai nhân vật đáng được chú ý
là Nguyễn Án với tác phẩm Tang thương ngẫu lục hợp soạn với Phạm Đình Hổ và Phong lâm minh l ại thi tập viết riêng, với Nguyễn Tư Giản có rất nhiều các tác
phẩm lớn như Thạch Nông thi tập, Thạch Nông toàn tập, cùng nhiều thơ văn khác
Cuốn Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản thân thế sự nghiệp (2007), sách do ông Nguyễn Tư Cự là đời thứ 14 trưởng chi Nguyễn Tư đứng ra in ấn tại Mỹ, Trương
Toại biên soạn, Nguyễn Khắc Kham hiệu đính Sách được cấu trúc làm 6 chương:
Chương một, giới thiệu về những tài liệu có liên quan tới Hoàng giáp Nguyễn Tư
Giản; Chương hai, giới thiệu về quê hương của ông; Chương ba, giới thiệu về dòng họ của Nguyễn Tư Giản; Chương bốn, viết về thời niên thiếu của Nguyễn Tư
Giản; Chương năm, trình bày về hoạn đồ của Nguyễn Tư Giản; Chương sáu, viết
về thê thiếp và tử tôn của vị Hoàng giáp này Ngoài ra sách còn in kèm một số lượng lớn tư liệu thơ văn chữ Hán (bản photocopy) của Nguyễn Tư Giản như tác phẩm Vân Điềm Du Lâm Nguyễn tộc hợp phả, tác phẩm Thạch Nông toàn tập, cùng một số hình ảnh có liên quan tới Nguyễn Tư Giản cùng con cháu ông
2.1.3 Các bài nghiên cứu, tạp chí, kỷ yếu hội thảo
Lý Xuân Chung, “Thơ văn xướng họa của các tác gia - sứ giả Việt Nam, Hàn Quốc: Những thành tựu nghiên cứu về văn bản học”, Thông báo Hán Nôm
h ọc năm 2009 [33] Bài viết tiến hành khảo sát thơ văn xướng họa của Việt Nam
Trang 1511
và Hàn Quốc3 trong đó có khảo sát 3 tập thơ của Nguyễn Tư Giản gồm: Yên thiều
bút l ục, Yên thiều thi thảo và Yên thiều thi tập
Đỗ Thị Hảo (2008), “Đôi điều về lối họa thơ trong Thần tiên sách của
Nguyễn Tư Giản”, Thông báo Hán Nôm học Thông qua phân tích Thần tiên sách,
tác giả bài viết khẳng định Nguyễn Tư Giản là người có cái nhìn mới về phụ nữ
Trịnh Khắc Mạnh (2013), “Khảo sát thơ văn xướng họa của các sứ thần hai
nước Việt - Hàn thời kì trung đại”, Tạp chí Hán Nôm, số 2 (117) [36, tr 17-33]
Bài viết trình bày các cuộc gặp gỡ và thù đáp bằng thơ giữa các sứ thần của hai nước Việt Nam và Hàn Quốc Bài viết giới thiệu về cuộc gặp gỡ và giao lưu xướng
họa giữa Nguyễn Tư Giản với sứ thần Hàn Quốc, gồm có Triệu Bỉnh Cao, Kim Hữu Uyên, Nam Đình Thuận
Ngoài ra, trong Nam Phong t ạp chí 南風雜誌, số 3 (第三冊), trang 147,
phần Văn uyển 文苑, có đề in ấn một số bài thơ của tác phẩm Thạch Nông thi tập, gồm các bài: Cửu nhật bệnh khởi điếu Phan An chiến trường 九日病起弔潘安戰
場, Nguy ệt hạ phanh trà thái bồn cúc 月下烹茶採盆菊, Ức cựu du ký Nguyễn Thứ Trai kiêm v ấn Phan Văn Biểu 憶舊遊寄阮恕齋兼問潘文表, Thuận Thành lãm cổ
順城覽古, Du Nga Lĩnh tác 遊鵝嶺作, Cửu nhật 九日 4
, Ai tai cùng sĩ ngâm nhất chương khốc Nguyễn Sư Đán 哀哉窮士吟一章哭阮師旦, Du Thạch Động sơn
th ừa nguyệt phiếm Ma Văn hải môn dạ hoàn thôn trung tác 遊石峒山乘月泛麻文
Trang 1612
Nông thi t ập, gồm các bài: Châu thị 珠市, Đồ trung tạp vịnh 途中雜詠, Vị hiểu phát Linh giang 未曉發靈江, Ch ế giang trở phong 制江阻風, Tự Hoàng Mai giang quá Lãnh Th ủy khê để Thanh Khoa dịch 自黃梅江過泠水溪抵清科驛, Túc Tĩnh Gia phủ xá quan kĩ hí thành nhị tuyệt cú 宿靜嘉府舍觀妓戲成二絕句, Thất
t ịch thiên nghĩ tứ tử thể 七夕篇擬四子體 Số 5 (第五冊), trang 270, phần Văn
uy ển, tiếp tục tác phẩm Thạch Nông thi tập, gồm các bài: Du Dục Thúy sơn đề
th ạch 遊浴翠山題石, Du hồi Hạc Phong Linh Quang động 遊迴鶴峯靈光洞, Để Phú Xuyên huy ện lị 抵富川縣莅, Để gia 抵家, Hạ nhật thôn cư tức sự 夏日村居
即事, Hát giang chu trung v ọng Sài sơn chư phong 喝江舟中望柴山諸峯, Túy hậu du Sài sơn Thiên Phúc tự 醉後遊柴山天福寺, Kí biệt nguyên An Định tri huy ện Hoằng Phúc Đinh Tử Bội 寄別原安定知縣宏福丁子佩 Số 6 (第六冊),
trang 348, phần Văn uyển 文苑, tiếp tục tác phẩm Thạch Nông thi tập, gồm các bài: Thù Đông Tác Nguyễn Chí Đình tống hành nguyên vận 酬東作阮志亭送行元韻,
D ạ bạc mễ sở tân 夜泊米所津, Đa Hòa tạp vịnh 多禾雜詠, Đại thủy 大水, Ninh Bình thành ngo ại dạ bạc 寧平城外夜泊, Tam Điệp cương vãn diểu 三疊岡晚眺, Quá H ỏa Hiệu sơn 過火號山, Hoành Sơn quan vọng Ninh Công cố lũy 橫山關望 寧公故壘, Linh giang hi ểu phát 靈江曉發 Tất cả các bài trên, đều được đăng
bằng chữ Hán, tuy nhiên chúng tôi không tìm thấy phần Việt văn dịch thơ các bài
thơ này trong Nam Phong tạp chí, chính vì thế chúng tôi cũng chỉ xin đưa ra để có
thêm thông tin tham khảo
2.1.4 Biên d ịch và công bố thơ văn của Nguyễn Tư Giản
Khóa luận Cử nhân, Bước đầu tìm hiểu thơ đi sứ của Hoàng giáp Nguyễn Tư
Gi ản(2000) của Nguyễn Thị Tú Mai, có dịch 25 bài thơ đi sứ của Nguyễn Tư Giản
Các bài thơ này được tuyển dịch trong tập thơ Yên thiều thi thảo Cụ thể như sau:
Trang 1713
Chiêu Bình vũ trung mộ bạc 昭平雨中暮泊, Chu dạ 舟夜, Chung nhật hành thử nhi ệt trung mộ để Ninh Minh đăng chu nhập dạ phong vũ thích chí hỉ tác 終日行
d ạ, bạc chu thượng Cổ Lãm đường 九月初七夜,泊舟上古欖塘, Dạ khởi 夜起, Đối nguyệt 對月, Hoa lê đường chu trung tức cảnh (Hoàng Tạo dịch) 花梨塘舟中
即景, Hoành sơn hiểu vọng 橫山曉望, Khách quán bất mị 客館不寐, Lam giang ngẫu đề 藍江偶題, Linh giang độ 靈江渡, Ngẫu đề (kì nhất) 偶題(其一), Nhị Thanh động Ngô Ngọ Phong tiên sinh từ cảm đề 二青峝吳午峯先生祠感題,
Qu ảng Tây tỉnh thành tân thứ dạ bạc 廣西省城津次夜泊, Quế Lâm khởi lục 桂林
起陸, Ng ẫu đề (kì nhất) 偶題(其一), Sơn hành (kì nhất) 山行(其一), Sương thiên (Hoàng T ạo dịch) 霜天, Thập nguyệt sóc đán 十月朔旦, Thất nguyệt sơ nhị
nh ật phát đô môn văn ngộ phong vũ bất giác ảm nhiên thư thử kí Trúc Đường 七月
上灘, Tương nguyên chu trung dạ khởi kiến nguyệt 湘源舟中夜起見月, Văn trạo
ca h ữu cảm 聞棹歌有感
Tài liệu Tư tưởng Việt Nam thế kỉ XIX, bản in Roneo, lưu hành nội bộ của
Viện Triết học do Đào Phương Bình dịch, đã biên dịch và giới thiệu 14 bài luận
Cụ thể như sau: Biện di thuyết 辨夷說, Học giả dĩ trị sinh vi tiên luận 學者以治生
為先論, H ữu vi vô vi luận 有為無為論, Khất tử Kham lưu quán biểu, 乞子堪留貫
表, Kinh diên giám s ớ (khuyên can vua gồm 2 bài) 經筵疏諫, Nhân luận 仁論, Nguyê n đạo 原道, Nhân tâm đạo tâm 人心道心, Phụ tử chi gian, 父子之間, Quân
t ử hòa nhi bất đồng tiểu nhân đồng nhi bất hòa 君子和而不同小人同而不和, Thiên th ời địa lợi nhân hòa 天時地利人和, Thuần thần luận 純神論, Trung thần
Trang 1814
b ất tư tư thần bất trung luận 忠臣不私私臣不忠, Văn thần bất ái tiền luận 文臣不
愛錢論
Trong sách Hoàng giáp Nguy ễn Tư Giản cuộc đời và thơ văn (2001), có
tuyển dịch 55 bài thơ, sớ, luận Cụ thể như sau: Sương thiên 霜天, Tự thán 自嘆,
Xuất đô môn ngộ vũ 出都門遇雨, Mục kính 目鏡, Tống Nguyễn Hy Phần quy Bình Thu ận, 送阮希汾歸平順, Phụng giản Vân Lộc Nguyễn Tuân Thúc 奉柬雲麓
阮洵叔, Giáp Thìn khoa Điện thí văn 甲辰科殿試文, Kinh diên gián sớ 經筵諫疏, Nhân lu ận 仁論, Nghĩ nguyên đạo, 擬原道, Thiên thời bất như địa lợi địa lợi bất như nhân hòa luận 天辰不如地利地利不如人和論, Thuần thần luận 純臣論, Ngự
đề phụ tử chi gian bất trách thiện luận 御題父子之間不責善論, Quân tử hòa nhi
b ất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa luận 君子和而不同小人同而不和論, Trung
th ần bất tư tư thần bất trung luận 忠臣不私私臣不忠論, Hữu vi vô vi luận 有為無
為論, Kh ất tử Kham lưu quán sớ 乞子堪留貫疏, Văn thần bất ái tiền luận 文臣不
愛錢論, Nhân tâm duy nguy đạo tâm duy vi duy tinh duy nhất doãn chấp quyết trung lu ận 人心惟危道心惟微惟精惟一允執厥中論, Học giả dĩ trị sinh vi tiên
lu ận 學者以治生為先論, Lỗ Am Vũ tiên sinh nội điệu vãn tự 魯庵武先生內悼挽
序, Yên thi ều thi thảo tự 燕軺詩草序, Yên thiều thi thảo tự 燕軺詩草敘, Tống tỉ bộ Nguy ễn Hy Phần cáo quy Khánh Hòa 送比部阮希汾告歸慶和, Họa Trung Đường trùng t ống kiêm tống Hy Phần nguyên vận 和竹堂重送蒹送希汾元韻 6
, Th ất nguy ệt nhị thập tứ nhật phát Bắc Ninh tỉnh thành 七月二十四日發北寧省城, Linh giang d ạ độ 靈江夜渡, Nhị Thanh động Ngô tiên sinh từ cảm đề 二青峒吳先生祠
感題, Đối nguyệt 對月, Chu dạ 舟夜, Ngẫu đề 偶題, Dạ văn đàn cầm 夜聞彈琴,
6
Sách có chế bản nhầm thành chữ vận 運 này, xin được sửa lại cho đúng
Trang 1915
D ạ khởi 夜起, Ngô châu (bát thủ tuyển nhị) 梧州(八首選二), Thục sĩ Dương Nhiếp Thần lai chu trung trình khẩu chiếm thi tính di Lã Thần Dương thọ tự tháp bản toại họa đáp chi 蜀士楊燮臣來舟中呈口占詩并遺呂純陽壽字榻本遂和答
之, Đáp chánh sứ Lê Thúc Tung mạn thành chi tác y nguyên vận 答正使黎叔嵩漫
Minh Sơn tự Hải Trù hoàn Trường Sa nguyên vận 送湖南都司田明山字海籌還長 沙原韻, Song Mi ếu điếm vãn yết 雙廟店晚歇, Giản Triều Tiên sứ thần Kim Hữu Uyên Nam Đình Thuận Triệu Bỉnh Hạo tịnh giản 柬朝鮮使臣金有淵南廷順趙秉 鎬并柬, Tri ều Tiên đại bồi thần Kim Hữu Uyên họa phục 朝鮮大陪臣金有淵和復,
Nh ị bồi thần Nam Đình Thuận 二陪臣南廷順, Tam bồi thần Triệu Bỉnh Hạo 三陪
臣趙秉鎬, Tống Triều Tiên sứ thần Kim Hữu Uyên đẳng quy quốc tịnh giản 送朝鮮使臣金有淵等歸國并柬, Đáp Mã Long phường thư 答馬龍坊書, Biện di thuyết
辨夷說
Cuốn Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản thân thế sự nghiệp (2007) do Trương
Toại chủ biên, Nguyễn Khắc Kham hiệu đính, đã dịch và công bố các bài thơ văn
Trang 2016
như sau: Đề Phổ Quang tự 題普光寺, Bài văn thi Đình của Nguyễn Tư Giản, Tảo hành 早行 302-303, M ộ hành 暮行, Sơn hành kí kiến 山行記見, Dạ túc Nghĩa Bình d ịch 夜宿義平驛, Quá Đại Lãnh 過大嶺, Tiên khảo húy nhật cảm thuật 先考
諱日感述, Đại Lãnh lưu đề 大嶺留題, Khách dạ 客夜, Triêu hành ngâm 朝行吟,
Xu ất môn biệt 出門別, Xuất môn biệt 出門別, Y tương trung đắc vong thê Tạ thị
c ựu niên thư 衣箱中得忘妻謝氏舊年書, Kinh diên gián sớ 經筵諫疏, Kí gia chư huynh đệ Canh Tuất niên 寄家諸兄弟庚戌年, Thỉnh giá quy tảo tiên mộ sớ 請假
歸掃先墓, Điều trần đê chính sự nghi thỉnh trúc vựng triệp đệ bát (lược dịch) 條
T ự thán 自嘆, Để9
gia hữu cảm 抵家有感, Tử Kham Hương nguyên tiệp báo thư dĩ
Cuốn Thơ văn xướng họa giữa sứ thần Hàn - Việt do Sở nghiên cứu Hàn
Quốc học của Trường Đại học Inha (Hàn Quốc) và Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Việt Nam) đồng dịch, được in tại Hàn Quốc Sách có dịch các bài thơ văn đối đáp của Nguyễn Tư Giản với sứ thần Triều Tiên (Trịnh Khắc Mạnh và Nguyễn Đức Toàn dịch), gồm: Giản Triều Tiên quốc sứ thần Kim Hữu Uyên, Nam Đình Thuận,
Tri ệu Bình Cao Trạng nguyên 柬朝鮮國使臣金有淵南廷順趙秉鎬狀元, Tống Tri ều Tiên sứ thần Kim Hữu Uyên đăng quy quốc tịnh gián 送朝鮮使臣金有淵等 歸國并柬, Nguy ễn Tư Giản nhật kí 阮思僴日記
9
Sách viết nhầm chữ Để 抵 thành chữ Chỉ 扺.
Trang 2117
2.2 Nghiên c ứu về văn bản, tác phẩm Thạch Nông thi tập
Tác phẩm Thạch Nông thi tập được nhắc đến trong các thư mục, biên mục,
từ diển và các chuyên khảo cũng các bài viết; nhưng chưa được nghiên cứu về văn
bản học, nhất là việc đối chiếu so sánh giữa các dị bản của tác phẩm
Theo thống kê của chúng tôi, các bài thơ trong Thạch Nông thi tập đã được
tuyển dịch và công bố gồm: Đề Phổ Quang tự 題普光寺, Khốc Quý Đôn đệ 哭季
敦弟, T ự thán 自嘆 (VHv.700); Chu dạ 舟夜, Đối nguyệt 對月 (VHv.1149/2)
Có thể thấy rằng, Thạch Nông thi tập chưa được nghiên cứu nhiều, chỉ được
một số nhà nghiên cứu điểm dịch với số lượng hạn chế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu là các bản Thạch Nông thi tập
石農詩集, hiện được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài Thạch Nông thi tập, luận văn còn mở rộng phạm vi khảo sát văn bản có nội dung liên quan tới cuộc đời hoạt động của Nguyễn Tư Giản, từ đó luận văn tiến hành khảo sát các trước tác của ông tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Trên cơ sở đó luận văn góp thêm ý kiến về thân thế, sự nghiệp
và trước tác của Nguyễn Tư Giản trong mối quan hệ với Thạch Nông thi tập, cũng như bước đầu tìm hiểu một số giá trị tập thơ Thạch Nông thi tập
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Trang 2218
Phương pháp văn bản học Hán Nôm, nhằm tìm hiểu tìm hiểu các văn bản Thạch Nông thi t ập hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, qua đó có những nhận
xét về mức độ tin cậy của các bản và chọn thiện bản để công bố, giới thiệu
Phương pháp định lượng, nhằm thống kê các bài thơ trong từng văn bản của tác phẩm, khảo dị các bản có cùng nội dung, đồng thời phân tích các dị bản giữa các văn bản đó, nhằm cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng thể về các dị bản của tác phẩm
Phương pháp thông diễn học (hay còn gọi là thuyên thích học) cũng được sử
dụng để giải nghĩa, hay diễn dịch các bài thơ trong tác phẩm Thạch Nông thi tập,
đây là một phương pháp giúp chúng ta hiểu văn bản và minh giải văn bản
Phương pháp khảo sát thực địa, chúng tôi tới gia đình, dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm, Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội phỏng vấn để có biết thêm những thông tin xác mới (nếu có) và xác thực hơn
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu văn học
sử, nhằm nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật văn bản tác phẩm Thạch Nông
thi t ập
5 Nh ững đóng góp mới của đề tài
- Góp phần giới thiệu đầy đủ hơn về thân thế, sự nghiệp và trước tác của Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản - Một trí thức lớn thế kỷ XIX nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung
- Qua việc khảo sát các văn bản tác phẩm Thạch Nông thi tập, luận văn cung
cấp các dị bản của tác phẩm, từ đó đưa ra những nhận xét về mức độ tin cậy của
các bản và chọn thiện bản để công bố, giới thiệu
- Bước đầu nghiên cứu về giá trị tác phẩm, qua đó thấy được một phần trong công việc trị thủy tại Bắc kì của triều Nguyễn qua Quan hà tập, hay công
cuộc bình định giặc phỉ ở Hải Yên qua Đông chinh tập
Trang 231.1 Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Tư Giản
1.2 Trước tác của Nguyễn Tư Giản
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VĂN BẢN THẠCH NÔNG THI TẬP
2.1 Mô tả văn bản
2.2 Khảo dị văn bản
2.3 Niên đại của văn bản
2.4 Xác định bản tin cậy (thiện bản)
CHƯƠNG 3: TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VĂN BẢN THẠCH NÔNG THI TẬP
3.1 Giá trị nội dung
3.2 Giá trị nghệ thuật
Trang 2420
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ TRƯỚC TÁC
1.1 Thân th ế và sự nghiệp của Nguyễn Tư Giản
1.1.1 Gia th ế
1.1.1.1 M ột gia tộc danh vọng
Nguyễn Tư Giản 阮思僴, “sinh vào mùa đông, giờ Tuất, ngày mồng bốn, tháng một, năm Quý Mùi” [18, tr 192], năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) tại dinh quan Đồng Tri phủ, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây Ông vốn có tên là Văn Phú 文富, sau đổi thành Địch Giản 廸簡, sau lại được vua đổi tên là Tư Giản 思僴 Ông xuất thân trong gia đình nhiều đời khoa bảng của huyện Đông Ngàn, có thể nói gia tộc ông là gia tộc thế thế trâm anh (đời đời làm quan) Trong sách Quốc triều Hương
khoa l ục của Cao Xuân Dục, khi ghi chép về Nguyễn Văn Phú (tức Nguyễn Tư
Giản), có đề trên đầu dòng hai chữ “thế khoa” 世科, tức nối đời thi đỗ
Viết về dòng dõi gia tộc nhà Nguyễn Tư Giản, trong sách Tang thương ngẫu
l ục (bản dịch 1970), Kính Phủ Nguyễn Án (tức ông nội của Nguyễn Tư Giản) có
viết như sau: “Cụ tổ tám đời nhà tôi làm quan Thái tể Trung Thuần, húy là Thực 寔 (lúc đầu có tên là Bảo 寶, sau đổi thành Thực ), người làng Vân Điềm, huyện Đông Ngàn Ông nội húy là Bồn 盆, được tặng phong là Thái bảo Duyên Phúc hầu Thuở
bé trong làng có viên nội thần (không rõ tên) mời thầy địa lý đến xem đất, điểm
một cái huyệt Ông đi chăng trâu, làm ruộng trông thấy, bèn ghi nhớ lấy Sau viên nội thần táng chỗ khác, hầu rước tiên phần đế táng ở huyệt này”[18, tr 144]
Trong sách Vân Điềm Du Lâm Nguyễn tộc hợp phả 雲恬榆林阮族合譜 (ký hiệu VHv.2416) cũng có chép rằng: “Khởi cư từ làng Vân Điềm hai cụ tổ hiệu là Thiện Tính 善性 và Huệ Đạt 惠達 đều không rõ tên húy Sang đến đời cụ Vân Khê,
Trang 25Nguyễn Vĩ sinh Nguyễn Thực 阮寔, Nguyễn Thực là Tiến sĩ của nhà Mạc10
Nguyễn Thực sinh Nguyễn Nghi 阮宜, Nguyễn Nghi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân năm Kỷ Mùi, làm quan cùng cha trong triều
Nguyễn Nghi sinh ra Nguyễn Sủng 阮寵, Nguyễn Khuê 阮奎, Nguyễn Sĩ 阮
仕, Nguyễn Đậu 阮竇, đều làm quan lớn cả, đặc biệt là Nguyễn Khuê và Nguyễn
Sĩ cùng đỗ Tiến sĩ (Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân), khoa Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670), đời vua Lê Huyền Tông
Con thứ 2 của Nguyễn Nghi là Nguyễn Đậu 阮竇, Nguyễn Đậu khi làm Tư
vụ bộ Binh thì mất, có con trưởng là Nguyễn Yến 阮宴
Nguyễn Yến sinh Nguyễn Trạch 阮宅 và Nguyễn Gia 阮家, cả hai người con đều là võ tướng (Vũ Huân tướng quân)
Nguyễn Gia sinh con là Nguyễn Thưởng 阮賞 (trước tên húy là Bá 霸, sau đổi thành Thưởng), là Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân), đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 15 (1754)
10
Cuốn Vân Điềm Du Lâm Nguyễn tộc hợp phả (ký hiệu VHv.2416, tờ 4b - 5a ) có chép:
“Quang Hưng Ất Mùi khoa Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Đệ nhị danh, cố Lê Thái phó tặng Thái
t ế dực vận tán trị công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Đông các đại học sĩ, Hộ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị độc, chưởng Hán Lâm viện sự, Quốc lão tham dự triều chính, Thượng trụ quốc thượng trật, Lan quận Trung Thuần công”
Trang 2622
Nguyễn Thưởng có con là trưởng là Nguyễn Đường 阮棠 (còn có tên khác
là Hiểu 曉), chỉ đỗ Nho sinh nhưng cũng làm quan tới chức Hiến sát sứ
Nguyễn Đường lánh cư sang làng Du Lâm, có con trai là Nguyễn Án 阮案 11(tức ông nội của Nguyễn Tư Giản)
Nguyễn Án sinh được Nguyễn Chí Hoàn 阮志完 (sau đổi thành Nguyễn Chí
Quản 阮志管), Nguyễn Chí Hoàn đỗ Cử nhân khoa thi năm Quý Dậu, Gia Long thứ 12 (1813), làm quan tới chức Lang trung
Nguyễn Chí Hoàn sinh được Nguyễn Ý 阮懿 12
, Nguyễn Văn Phú 阮文富 (sau đổi thành Địch Giản 廸簡, rồi Tư Giản 思僴), Nguyễn Năng Ái 阮能愛 13
Nguyễn Tư Giản sinh ra Nguyễn Kham 阮堪 14, Nguyễn Tấn Cảnh 阮晋
境 15, Nguyễn Cơ 阮璣 16, Tốn Khải 阮巽塏 17
Trong bài thơ Kí gia chư huynh đệ Canh Tuất niên 寄家諸兄弟庚戌年 [18,
tr 339-340] ông có viết: “… Nhất bảng tam Cử nhân: Bá huynh Thành Phủ, đường
đệ Văn Vinh, ngũ đệ Năng Ái Nhất bảng song tú tài: Nhị huynh Hữu Mai, tam
huynh Hướng Thúc, …/… 一榜三舉人: 伯兄誠甫, 堂弟文榮, 五弟能愛 一榜三
雙秀才: 二兄友梅, 三兄向叔, …/ Một bảng ba Cử nhân: Anh cả Thành Phủ, em
11 Nguyễn Án 阮案 (1770 - 1815) thời Lê mạt Nguyễn sơ, có hai tác phẩm tiêu biểu hiện
còn đó là: Phong lâm minh lại thi tập 風林鳴籟詩集, kí hiệu A.1201 hiện được lưu trữ tại Viện
Nghiên cứu Hán Nôm và tác phẩm Tang thương ngẫu lục hợp soạn cùng với Phạm Đình Hổ
12 Đỗ Cử nhân khoa Kỷ Dậu, Tự Đức thứ 2 (1849), làm quan tới chức Đốc học Nam Định
13 Đỗ Cử nhân khoa Kỷ Dậu, Tự Đức thứ 2 (1849), làm quan tới chức Tri phủ
14 Thi đỗ Tiến sĩ khoa Tân Mùi (1871), làm quan tới chức Tham biện Nội các, lãnh Án sát
15 Đỗ Cử nhân khoa Ất Dậu, Hàm Nghi thứ nhất (1885)
16 Đỗ Cử nhân khoa Bính Tý, Tự Đức thứ 29 (1876), chưa kịp làm quan thì mất
17 Đỗ Tú tài khoa Canh Tý, Thành Thái thứ 12 (1900)
Trang 27Tư Giản
Quả thực dòng họ của Nguyễn Tư Giản là một dòng họ nối đời làm quan, đúng thực với câu thơ đề ở nhà thờ họ Nguyễn Tư này:
Gia đình tố giảng thi thư lễ 家庭素講詩書禮
Tướng tướng lên đăng phụ tử tôn 將相聯登祖父孫
Tạm dịch:
Gia đình vốn giảng giải về thi, thư, lễ;
Ông, cha, con liên tiếp làm khanh tướng
1.1.1.2 Dòng h ọ nhà Lý?
Năm 1939, Nhà xuất bản Tân Dân (Hà Nội), đã xuất bản tác phẩm kí sự lịch
sử có nhan đề là Ngược đường trường thi của nhà văn Nguyễn Triệu Luật18
, lần đầu tiên công bố dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm, Du Lâm là hậu duệ của vua nhà Lý Trong cuốn sách này, Nguyễn Triệu Luật có viết một đoạn văn rất đáng chú ý như sau: “Họ nhà ta là một ngành vua Lý Nhà Trần bắt ta đổi làm họ Nguyễn, nhưng chúng ta phải nhớ rằng ta vốn là dòng họ Lý Bát Đế Tổ ta, cụ Trung Liệt Lý Quang Bật là con thứ sáu Nghĩa Nam vương Lý Hùng Tích, con thứ ba Lý Thánh
18
Nguy ễn Triệu Luật: Con của Nguyễn Viên, cháu nội của Nguyễn Tư Giản, tác giả của sách Ngược đường trường thi
Trang 28Gi ản, thân thế sự nghiệp do Trương Toại chủ biên, Nguyễn Khắc Kham hiệu đính,
được in vào năm 2007, cũng cho rằng quan điểm dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm -
Du Lâm là hậu duệ của vua nhà Lý là quan điểm chưa có căn cứ xác đáng và còn nhiều điểm nghi ngờ Lời kết của sách cho vấn đề này vẫn còn bỏ ngỏ: “Dù sao,
vấn đề hậu duệ nhà Lý của dòng họ Nguyễn Vân Điềm Du Lâm cần phải có thời gian nghiên cứu và hơn thế nữa: có một cơ may!”[18, tr 82]
Theo chúng tôi, những căn cứ và dẫn chứng của Nguyễn Triệu Luật được trình bày trong Ngược đường trường thi cũng không có bằng chứng xác đáng và
căn cứ khả tín Phải có chứng cứ thực sự xác đáng mới có thể kết luận rằng Nguyễn Tư Giản cũng như dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm, Du Lâm là dòng dõi của nhà Lý
1.1.1.3 Th ời niên thiếu
Nguyễn Tư Giản tuy sinh trong gia đình vọng tộc, nhưng ngay từ thời nhỏ ông đã phải chịu nhiều vất vả và bất hạnh Năm chưa đầy 4 tuổi thì thân sinh ông là
bà Từ Thục cung nhân Nguyễn Thị Diễm qua đời năm 1827 Trong thời gian này, thân phụ ông là Nguyễn Chí Quản vì công vụ mà khi thì làm Tri phủ Bình Giang trấn Hải Dương, lại được lệnh sung đi làm phúc khảo trường thi Nam Định, rồi về
Bắc Thành làm Viên ngoại lang, làm quyền nhiếp chức Hiệp trấn ấn vụ trấn Sơn Nam, tới năm 1831 thì ông lại cùng cha về kinh Kể như thế đã là vất vả, nhưng tới năm 12 tuổi (tức năm 1834), thân phụ Nguyễn Chí Quản bị bệnh mất tại chức,
19 Phường chài Hải Ấp: Chỉ nhà Trần
Trang 2925
quan tài quàng ở Sơ Nguyên phía bắc kinh thành, năm sau người hầu mới đưa về
an táng tại Du Lâm
Sách Ngược đường trường thi của Nguyễn Triệu Luật có chép rằng: “Lang
Trung mất đi để lại một người vợ kế mới ba mươi tuổi, năm con trai và hai con gái, người lớn nhất mới hai mươi mốt, người bé nhất mới đầy một tuổi thôi Bảy anh
em mồ côi, một người vợ kế còn trẻ, một tên lão bộc, ở giữa nơi đất lạ xứ xa, lại hưởng cái đức thanh bạch ưa nghèo của cha, tình cảnh nheo nhọc ỷ eo, tưởng không cần phải nói nữa”[8, tr 100] Như thế, thực đã thấy được cảnh gian truân vất
vả của không những Nguyễn Tư Giản mà còn cả của gia đình Lang trung Nguyễn Chí Quản
Nguyễn Tư Giản hồi nhỏ có lẽ cũng đã sống tại nhà ông ngoại mình (tức cụ Nguyễn Huy Trinh từng làm quan Án sát, làm tại Nội các và có đi sứ Trung Quốc),
bởi trong bài Đề Phổ Quang tự 題普光寺, ông có viết: “Tiên ngoại đại phụ Thiếu
Tư khấu công, tích hữu biệt thự tại Thăng Long Bắc môn ngoại, dữ tự hậu viện tương tiếp Dư ấu dục vu ngoại gia, phù cầu kị trúc, nhật thường du hí tự trung, …/ 先外大父少司寇公, 昔有別墅在昇龍北門外, 與寺後院相接 余幼育于外家, 浮毬騎竹, 日常遊戲寺中, /Ông ngoại tôi trước làm Thiếu Tư khấu, có biệt thự ở ngoài cửa Bắc thành Thăng Long, liền kề với hậu viện của chùa Tôi lúc nhỏ được nuôi ở nhà ngoại, đá cầu lông, cưới ngựa tre, thường ngày hay vui đùa trong chùa,…” [3, tờ 10b - 11a ]
Trong hoàn cảnh gia đình như vậy, một mình “người vợ kế mới ba nươi
tuổi” phải gánh vác công việc của gia đình và phải chăm lo cho bảy người con, thật
chẳng phải chuyện dễ dàng Nguyễn Tư Giản cùng các anh em đã cố gắng học tập, thi cử để không phụ lòng trông đợi của gia đình
Trang 3026
Lại thêm, Nguyễn Tư Giản được dạy bảo bởi ông Nghè nổi tiếng, tức Tiến sĩ
Vũ Tông Phan (hay gọi là ông nghè Tự Tháp) Chính vì thế, việc tu học của Nguyễn Tư Giản được thêm phần hữu ích và tinh tấn Năm 17 tuổi ông bắt đầu bước chân vào con đường thi cử
1.1.1.4 Thi cử và đỗ đạt
Thi cử thời phong quả thực không phải là chuyện dễ dàng đối với người theo
cử nghiệp, có người “nhất cử đăng khoa” (một lần thi đỗ ngay), nhưng cũng có người tới lúc râu tóc đã bạc mới đỗ, thậm chí có người cả đời theo cử nghiệp nhưng chung cục chẳng thể thành danh đỗ đạt Trong số đó, có lẽ nổi tiếng hơn cả
phải nói tới câu chuyện thi trượt của Tú Xương: “Tú Xương đi thi nhiều lần, Nguyễn Tuân cho rằng Tú Xương đi thi 22 năm liền từ khoa Ất Dậu (Hàm Nghi 1,
1885, đến khoa Bính Ngọ (1906), nhưng khoa Ất Dậu (1885) dù là chính khoa thi Hương nhưng Trung Kỳ và Bắc kì có biến nên khoa này thành ra đình hoãn”[7, tr 40] Cả cuộc đời theo đuổi sự nghiệp khoa cử, ấy vậy mà lều chõng đi không lại trở
về không Để cuối cùng, Tế Xương cũng phải ngậm ngùi than thở trong bài Hỏng
thi khoa Canh Tý (1900) Hay như trong cuốn tiểu thuyết phóng sự Lều chõng của
Ngô Tất Tố cũng phản ánh được sự vất vả và cả sự nguy hiểm khi thi cử
Đó là những chuyện trong lúc giao thời, trong cảnh thi cử đã có sự can thiệp
của người Pháp Hãy cùng xem quy chế thi cử và số người được chọn đỗ trong thời gian Nguyễn Tư Giản đi thi, có thể biết ngay được sự khó khăn cho những người thi cử thời đó ra sao Từ năm 1819 tới năm 1831 (tổng cộng là 5 thường khoa20
), trung bình cứ 185 xã lấy đỗ 1 Cử nhân Từ năm 1834 tới năm 1843 (tổng cộng là 5 thường khoa và 1 chế khoa21
), trung bình cứ 365 xã mới lấy đỗ 1 Cử nhân Như
Trang 3127
vậy, có thể thấy số lượng sĩ tử được lấy đỗ dần giảm đi Để có thể trở thành Cử nhân thôi, người thi đã phải vượt qua biết bao là quy chế ngặt nghèo trong thi cử, rồi cả những “đối thủ” cùng tranh nhau số ngạch lấy đỗ có hạn Hãy cùng xem, con đường từ thi cử tới đỗ đạt của Nguyễn Tư Giản có “nhất cử đăng khoa” hay lại “lảo đảo trường ốc”
Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), Nguyễn Tư Giản thi Hương lần đầu tiên khi vừa mới 18 tuổi (tính theo tuổi ta), do năm Minh Mệnh thứ 21 đúng vào dịp mừng Ngũ tuần đại khánh22
của vua Minh Mệnh, cho nên triều đình quyết định mở Ân khoa, còn khoa thi chính được chuyển sang năm sau Ân khoa này, cả gia đình Nguyễn Tư Giản không có ai đậu Cử nhân mà chỉ có 3 người đỗ Tú Tài là:
- Nguyễn Văn Huy, con thứ sáu của cụ Nguyễn Án, tức chú ruột của Nguyễn
Tư Giản
- Nguyễn Hiến Đức, tức anh cả của Nguyễn Tư Giản, đồng thời cũng thành ông Tú kép23
- Nguyễn Tư Giản, tân khoa Tú tài
Ngay năm sau, khoa thi chính năm 1841, tuy nhiên kết quả cũng không mấy
khả quan:
- Nguyễn Hiến Đức trở thành Tú mềm24
- Nguyễn Tư Giản trở thành Tú kép
Tới khoa thi Hương năm tiếp theo là năm 1842, gia đình Nguyễn Tư Giản
Trang 3228
- Anh hai Nguyễn Đình Thái đỗ Tú Tài
- Nguyễn Tư Giản đỗ Tú tài lần thứ ba, trở thành Tú mền
Mãi tới năm 1843, tức năm Thiệu Trị thứ 3, Nguyễn Tư Giản mới đỗ Cử nhân, năm ấy ông 21 tuổi Tháng 2 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), Nguyễn Tư Giản
về kinh thi Hội và được nằm trong danh sách 10 người trúng cách Tháng 5 cùng năm, ông vào thi Đình Trong kì thi này, Nguyễn Tư Giản đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
Như vậy, tuy không phải “nhất cử đăng khoa” một lần thi đỗ ngay, nhưng ở
tuổi 21, có thể đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (hay gọi là Hoàng giáp), kể như
vậy cũng đã làm may mắn và sớm hơn so với rất nhiều sĩ tử khác
1.1.2 Quan trường
Có lẽ đa số quan lại, trên con đường làm quan sẽ vấp phải hoặc ít hoặc nhiều
những khó khăn, trắc trở Ít có một người làm quan nào lại có thể có một con đường hoạn lộ bằng phẳng từ khi nhập quan trường tới khi cáo lão hoàn hương Nguyễn Tư Giản cũng không tránh khỏi việc phải đối mặt với những thăng trầm trên con đường làm quan của mình Hơn nữa, trong những năm tháng Nguyễn Tư
Giản làm quan, cũng chính là những năm tháng triều đình nhà Nguyễn có nhiều
biến động, đó là cuộc xâm lược của thực dân Pháp đối với Việt Nam
1.1.2.1 Hoạn lộ thăng trầm
Như đã nói trên, con đường hoạn Lộ của Nguyễn Tư Giản cũng gặp phải không ít thăng trầm, lúc thăng quan, khi giáng chức Để có thể hình dung được một cách tổng quát nhất về hoạn lộ của Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản, chúng tôi lập
bảng biểu về những chức quan đồng thời cũng là những lần thăng giáng quan vị của ông, bên cạnh đó cũng có ghi địa chỉ ông làm quan như sau:
Trang 3329
1844 Sơ nhận chức Tu soạn tại Hàn lâm viện Kinh thành
1845 Sung vào làm biên tập bộ Thiệu Trị văn quy Kinh thành
1845 Sung làm Hành tẩu sở Bản chương trong Nội các Kinh thành
1848 Tiếp tục làm Phân khảo thi Hương Gia Định
1848 Triệu về kinh làm Binh khoa Cấp sự trung Kinh thành
1850 Thăng làm Quyền Thị giảng học sĩ (giúp việc
cho Giảng quan)
Kinh thành
1851 Thực thụ Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ, sung
làm Hành tẩu sở Ty Luân Nội các
Kinh thành
1852 Vâng mệnh làm Kiểm biện vận Hải cục Kinh thành
1854 Thăng Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ, sung làm
Tham biện Nội các
Kinh thành
1856 Thăng Thự Quang lộc Tự khanh, sung làm việc
tại Nội Các
Kinh thành
1857 Quang lộc Tự khanh sung biện Hiệp lý Đê chính Bắc kì
1865 Khởi phục chức Hàn lâm viện Tu soạn, sau đó
làm Đốc biện bổ di Vận hải hợp biên
Trang 3430
1871 Thăng Quang Lộc tự khanh, thự chức Tả Thị
lang Bộ Lại
Kinh thành
1872 Sung làm Các vụ (công việc trong nội các) Kinh thành
1874 Chuẩn thăng Thự Thượng thư Bộ Lại, sung là
Cơ mật viện Đại thần
Kinh thành
7/1875 Bãi Thượng thư Bộ lại, giáng chức cho đi giữ
chức Mộ phu khai hoang ở Hà Nội
Hà Nội
1878 Khôi phục Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ, sung
quản Hàn lâm viện
Kinh thành
Trong khoảng 14 năm, từ năm thi đỗ (tức năm 1844), tới năm làm tại nha Đê chính (tức năm 1857), Nguyễn Tư Giản lần lượt được thăng chức từ Tu soạn, Hành
tẩu, Tri phủ, Binh khoa cấp sự trung, thăng làm Quyền Thị giảng Học sĩ, rồi thực
thụ làm Thị giảng Học sĩ, Thị độc Học sĩ, Quang lộc Tự khanh, rồi được làm việc tại Nội các Có thể nói, trong 14 năm ấy, là những năm tháng mà hoạn lộ của Nguyễn Tư Giản bằng phẳng và thuận lợi nhất Với những nỗ lực trong công việc, ông liên tiếp được thăng quan tiến chức, đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong triều đình Nhưng như đã nói ở trên, hiếm có quan lại nào trong suốt quãng đời làm quan lại không gặp phải những gian truân, rồi việc bãi bỏ
Sự kiện mở đầu cho việc chấm dứt 14 năm liên tiếp thăng quan tiến chức trên hoạn lộ ấy, có lẽ là việc Nguyễn Tư Giản được thăng làm Quang lộc Tự khanh sung biện Hiệp lý Đê chính vào năm 1857 Do Bắc kì liên tiếp lụt lớn, đã có nhiều
cuộc nghị bàn của đình thần, nhưng không thể tìm ra được một giải pháp tối ưu
Trang 3531
trong việc trị thủy tại Bắc kì Người thì bảo bỏ đê, người thì bảo đắp đê, vua Tự Đức cũng không quyết được, bèn nhân chuyến thăm quê của Nguyễn Tư Giản mà dặn dò ông xem xét kỹ tình hình đê điều ở Bắc kì để nắm bắt được tình hình cụ thể
ra sao
Sau khi Nguyễn Tư Giản về thăm quê, ông đã khảo sát tình hình đê điều tại Bắc kì và đưa bản điều trần dâng vua, vua đồng tình với quan điểm trên, thăng Nguyễn Tư Giản làm Quang lộc Tự khanh sung biện Hiệp lý Đê chính, cùng bàn
bạc và làm việc với Vũ Trọng Bình và Nguyễn Văn Vỹ
Sau nhiều nỗ lực khắc phục, tuy nhiên đê tại Bắc kì vẫn vỡ Vũ Trọng Bình, Nguyễn Tư Giản và Nguyễn Văn Vĩ đều bị trách phạt và sau này bị đình thần đàn hoặc và bắt phải bồi thường do sử dụng kinh phí không hiệu quả Riêng Nguyễn
Tư Giản bị điều động đi làm Tham biện quân vụ Hải Yên, mưu tính dẹp giặc phỉ
nổi loạn Chi tiết sự kiện này, chúng tôi sẽ nêu rõ ở Mục 3.1, Chương 3 Thế nhưng
ông là quan văn, việc dẹp giặc phỉ không phải là sở trường của ông, nên cũng không lập nên công trạng Mãi tới năm 1865 ông mới được khai phục làm Hàn Lâm viện Tu soạn
Từ năm 1865 tới năm 1974 ông được chuẩn thăng Thự Thượng thư Bộ Lại, sung là Cơ mật viện Đại thần Trong khoảng 10 năm ấy, kể cũng là thời gian bình
lặng thứ hai trên hoạn lộ của Nguyễn Tư Giản sau sự kiện ông bị cách chức vì xử
lý đê điều không hiệu quả Thế nhưng tới tháng 7 năm Ất Hợi (tức năm 1875), ông lại bị cách chức và phải đi làm quan mộ phu khai hoang tại vùng núi Hà Nội26
Trang 3632
do của lần cách chức này là vì Nguyễn Tư Giản có lấy một tên học trò thân tín là Phan Văn Nhã làm văn thư Tên Nhã này đã làm giả ấn quan phòng tỉnh Thanh mạo cấp bằng Cửu phẩm xin việc ở các bộ Khi hắn đưa bằng ra xin chữ ký của bộ thì Thượng thư Nguyễn Tư Giản, Tham tri Nguyễn Văn Thúy, Thị lang Nguyễn
Mậu Đạo đều không để ý, điềm nhiên kí tên Việc phát giác, vua giao tất cho Pháp
ti chiếu luật xử tội Ban đầu Pháp ti xét nghĩ: Phan Văn Nhã phải khép án trảm giam hậu27 (hiện đang trốn, chờ bắt được sẽ thi hành án) Nguyễn Tư Giản không tra xét, giáng luôn bốn cấp đổi bổ chức khác Văn Thúy và Đạo Mậu phải phạt sáu tháng lương Nhưng các quan trong Nội các tâu xử như thế chưa xứng đáng Vua bèn giao cho xét lại, Nguyễn Tư Giản phải phạt trượng tột bậc và tội đồ, vì lời tâu của Tư Giản so với lời khai của người làm nhân chứng có hơi sai Vua đồng ý phạt, nhưng các quan Nội các xin cho giảm án
Sau 3 năm mộ phu khai khẩn vùng núi ở Hà Nội, tới năm 1878 vua Tự Đức
ân xá cho Nguyễn Tư Giản, về triều làm Hàn lâm Thị giảng Học sĩ, sung chức Quản viện Tới năm 1886, vua Đồng Khánh cử ông làm Thị lang Bộ Hộ, rồi giao cho làm Tổng đốc Ninh Thái (tức Bắc Ninh và Thái Nguyên) Theo Trần Bá Trí
“Nguyễn Tư Giản từ ngày nhậm chức Tổng đốc Ninh Thái đã làm đầy đủ mọi phần trách nhiệm của mình Đến tháng 3 năm 1887, vua Đồng Khánh trích công quỹ
1000 đồng Đông Dương góp cho chính phủ Pháp để mua đồng đúc tượng Toàn quyền Paul Bert nói là khoảng tiền do dân An Nam quyên góp tri ân Nhân đó, các
Gi ản tuẫn túng, thâm phụ trẫm sủng dụng, trước tức cách chức, vãng Hà Nội sơn phận, mộ khẩn hiệu thục, …/ 帝批示思僩徇縱, 深負朕寵用, 著即革職, 往河內山分募墾效贖, /Đế phê rằng:
Tư Giản tư túng, thực rất phụ sự sủng ái tin dùng của trẫm, lập tức cách chức, tới vùng núi Hà
N ội để mộ dân khai khẩn chuộc tội, …”[18, tr 580]
27
Tr ảm giam hậu: Tức là xét tội chém đầu, nhưng giam lại trong một thời gian nhất định
r ồi mới xử
Trang 3733
quan trong Nha kinh lược Bắc kì (Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Chính) cũng bày chuyện lạc quyên cách quan hàng tỉnh, hàng huyện góp tiền mua đồng gửi sang Pháp, hy vọng được cách quan Tây cho các ơn huệ Thế rồi cách quan chức ở Bắc Ninh - Thái Nguyên không quyên góp một đồng nào Nha kinh lược Bắc kì hạch sách quan Tổng đốc rồi tâu vua, xin cho trách vấn và đổi chức Vua Đồng Khánh cho Nguyễn Xuân Duẩn thay chức Tổng đốc Ninh Thái, triệu Nguyễn Tư Giản về kinh xét hỏi
Vào trách vấn, Nguyễn Tư Giản biện giải rằng: Việc này, không do chỉ dụ
của nhà vua giao trách nhiệm cho cả 3 kỳ Chỉ riêng Nha kinh lược Bắc kì định ra, các Tổng đốc không được dự bàn thì không trách cứ được Hai nữa, quyên góp là việc làm tự nguyên, pháp luật cũng không ràng buộc; các quan chức Ninh Thái hiện nay rất túng quẫn, không thể có tiền góp sang nước Pháp Cuối cùng Nha kinh lược cũng im lặng, không hỏi thêm gì Ông được thôi chức Tổng đốc Ninh Thái, vui như được thoát nạn Từ đó ông về quê sống thanh nhàn cho đến năm 1890”[17,
tr 63-64]
1.1.2.2 Ưu ái của các vua Nguyễn
Có thể thấy trên con đường làm quan của Nguyễn Tư Giản, ông từng không ít
lần bị trách phạt, bị bãi chức, bắt bồi thường Tuy nhiên, cùng nhìn lại những sự kiện
đó để xem thái độ của các vua nhà Nguyễn đối với Nguyễn Tư Giản như thế nào:
- Giáng 1 cấp, nhưng vẫn được lưu dụng (năm 1860): Đại Nam thực lục có ghi như sau: “Trước đây, đê sông Thiên Đức vỡ, những dân ở ngoài đê (như Đổng Xuyên, Phù Cái v.v 15 xã, thôn) bùn cát lầy lội, xin đem đất ở ngoại đê đổi cho dân nội đêm để di cư vào nội đê được sớm, dân các xã nội đê cũng bằng lòng giúp
đỡ cho Việc đã giao xét làm Đến bấy giờ đem việc tâu lên Vua cho là các xã ấy liền năm bị nạn nước lụt, cho được di cư Các viên làm đê trước vì làm đê bất lực
phải giáng cấp có thứ bậc khác nhau (Người làm đê trước là Nguyễn Văn Phong,
Trang 38- Vua Tự Đức nhận thấy lỗi của mình, ân xá cho Nguyễn Tư Giản (năm 1863): “Nguyễn Tư Giản đi hiệu lực ở quân thứ tỉnh Đông lâu ngày Vua dụ Thứ
thần rằng: Tư Giản văn học hơn cả các Tiến sĩ, trẫm dùng lầm làm việc sông đê, không phải là nghề sở trường, thành ra đến mắc vào đình thần nghị tội Nay nên tùy việc sai phái, để cho lập công” [11, tr 803] Công việc mà Nguyễn Tư Giản đảm nhiệm không thành công, thậm chí là thất bại nhưng vua Tự Đức vẫn luôn coi
trọng cũng như hiểu được sở trường sở đoản của Nguyễn Tư Giản
- Vua Tự Đức giảm tội và tiền bồi thường cho Nguyễn Tư Giản (năm 1866):
“Trước Tổng đốc Định - An là Nguyễn Đình Tân tâu nói: Quan đê chính (Nguyễn
Tư Giản, Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Vỹ) xếp đặt không được việc, vua sai đình
thần xét bàn, đế nay tâu nói: Đặt ra quan đê chính, nguyên là tính kế giữ nước sông,
rất quan hệ đến lợi hại của dân, người có chuyên trách về việc trị thủy, tưởng phải hết lòng sửa sang để cứu dân địa phương ấy, mới không phụ ý trách thành của hoàng thượng, thế mà đã mấy năm tiêu tốn của kho nhà nước, không biết bao nhiêu, (tiền hơn 1.500.000 quan, gạo hơn 200.000 hộc), thi hành không công trạng như
Trang 3935
thế, rất là hèn kém không hết chức vụ, xin chiểu theo làm việc lâu hay chóng phân biệt nghĩ xử bắt bồi thường, (Hiệp lý Nguyễn Tư Giản, Tham biện Nguyễn Văn Vỹ làm việc từ trước đến sau, chuyển luật không hết chức vụ xử cách, Quản lý Vũ
Trọng Bình mới được 1 năm, xin giảm 2 bậc, phạt 80 trượng, vua chuẩn giáng 2
cấp), duy năm trước (năm thứ 15), sau khi bãi bỏ nha ấy, Nguyễn Tư Giản (đánh giặc không công trạng), Nguyễn Văn Vỹ (bị bắt sống trốn về), đã được đặc cách ban ơn, bỏ tội lỗi thu dụng, nay can phải tội ấy, nên lượng giảm hay không? Xin cho đặc chỉ Vua bảo rằng: Lũ ấy trị thủy chưa xong, nhân có việc sai làm việc khác, nguyên tình định tội, còn có nên than thứ, Nguyễn Văn Vỹ sẽ có can án khác (bị giặc bắt được sau bị cách cho làm việc chuộc tội), đợi theo luật xử tội nặng, Nguyễn Tư Giản cho theo hàm mới, (gần đây coi làm sách Hải vận, được thưởng hàm Hàn lâm viện Thị độc), phải cách lưu, còn như khoản bắt đền, trừ số tiền quyên tiền điền mẫu phải nộp hơn 500.000 quan ra, còn bao nhiêu phải đền 5 thành28, tha cho 5 thành”[11, tr 1038 - 1039]
Như vậy, so với Nguyễn Văn Vỹ, thì Nguyễn Tư Giản đã được theo hàm mới, lại được giảm đi tiền phạt một nửa, vì ông cũng có công trong việc soạn sách
H ải vận và cũng vì vua Tự Đức như đã nói trên, hiểu được rằng việc đánh dẹp giặc
phỉ không phải là sở trường của Nguyễn Tư Giản, nên cũng khoan thứ cho ông
- Vua Tự Đức cho Nguyễn Tư Giản đi sứ nhà Thanh (năm 1867): “Sai sứ sang nước Thanh Lấy thự Bố chính Thanh Hóa là Lê Tuấn (thực thụ Hàn lâm viện Trực học sĩ) sung làm Chánh sứ; Hồng lô tự Thiếu khanh Biện lý Hộ bộ Nguyễn
Tư Giản (thăng thụ Hồng lô tự khanh) sung làm Giáp phó sứ; Lang trung bộ Binh
là Hoàng Tịnh (vì mới thăng đổi thụ Thị độc học sĩ) sung làm Ất phó sứ….” [11, tr 1115] Sau khi đi sứ về, Chánh sứ và 2 vị phó sứ đều được ban yến, úy lạo và
28
5 thành: Ch ữ Hán là 五成, tức 5 phần
Trang 4036
thăng thưởng Trong đó Nguyễn Tư Giản và Lê Tuấn trước đã cho thăng, lại cho gia thêm 1 cấp
- Vua Tự Đức đặc cách cho Nguyễn Tư Giản (năm 1872): “Cho Thị Lang ở
Nội các là Nguyễn Tư Giản đặc cách bổ làm Tham tri, quyền lĩnh Thượng thư bộ
Lại kiêm sung chức Quốc sử quán Phó tổng tài ….” [11, tr 1355]
- Bãi Thượng thư Bộ Lại, cho đi làm Mộ phu khai hoang (7/1875), sự kiện này theo Trần Bá Chí có viết như sau: “Đến tháng 7 năm ất Hợi (1875), Nguyễn
Tư Giản lại bị cách chức, phải đi khai hoang cải tạo Lý do bị kết tội như sau: ông làm Thượng thư bộ Lại, lấy một học trò thân tín là Phan Văn Nhã quê ở Thanh
Hóa làm văn thư Do quá thân quen, tên Nhã làm giả quả ấn Quan phòng Thanh Hóa, m ạo làm những tấm bảng Cửu phẩm xin việc ở các bộ Khi Nhã đưa bằng ra,
xin chữ ký của bộ, Thượng thư Nguyễn Tư Giản, Tham tri Nguyễn Văn Thúy, Thị lang Nguyễn Mậu Đạo đều không để ý, điềm nhiên ký tên đóng dấu vào Việc bị phát giác tâu lên, vua giao Pháp ty chiếu luật định án Việc bị giáng 4 cấp và cách chức, bắt đi làm chức Mộ phu khai hoang ở Hà Nội để chuộc tội”[17, tr 62] Tuy trách phạt và bắt Nguyễn Tư Giản đi mộ phu khai hoang ở vùng núi Hà Nội, nhưng trong lời phê, vua Tự Đức cũng có viết: “Tư Giản tuẫn túng, thâm phụ trẫm sủng
dụng…/ 思僩徇縱, 深負朕寵用, /Tư Giản tư túng, rất phụ sự sủng ái trọng dụng
của trẫm”[18, tr 580] Như thế, đủ để thấy được sự yêu mến của Tự Đức đối với
ông như thế nào)
- Vua Tự Đức cho phép được khai phục (năm 1878): nhân ngũ tuần đại khánh, năm Tự Đức thứ 31 (1878), vua gia ơn cho nhiều hoàng thân, công hầu cũng như quan lại, trong đó có Nguyễn Tư Giản: “Lại chuẩn cho những viên phải cách được khai phục 4 người (nguyên Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Tư Giản được khai phục Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ sung quản viện…”[12, tr 271]