1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải quyết tranh chấp đất tại tòa án trên địa bàn tỉnh cà mau pháp luật và thực tiễn

74 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 660,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song song với diễn biến tích cực đó thì trong quá trình vận động, phát triển quan hệ về đất đai cũng phát sinh nhiều vấn đề không thuận lợi, đó là các giao dịch mua bán, chuyển nhượng k

Trang 1

HUỲNH VĂN YÊN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT TẠI TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH CÀ MAU: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

HUỲNH VĂN YÊN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT TẠI TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH CÀ MAU: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN HUỲNH THANH NGHỊ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Huỳnh Văn Yên mã số học viên: 7701261277A là học viên lớp

LOP_K25_MBL_CaMau; Khóa K25-2 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa

Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc

sĩ luật học với đề tài “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo phương

thức tố tụng tòa án trên địa bàn tỉnh Cà Mau : Pháp luật và thực tiễn”(Sau

đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn

này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của

người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý

kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được

trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin

được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

Huỳnh Văn Yên

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chương 1: 5

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT ĐAI VÀ 5

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI VIỆT NAM 5

1.1 Khái quát chung về đất đai 5

1.2 Tranh chấp đất đai 7

1.2.1 Khái niệm tranh chấp đất đai 7

1.2.2 Các loại tranh chấp đất đai 7

1.3 Nguyên nhân của tranh chấp đất đai 10

1.4 Những nguyên tắt chủ đạo trong giải quyết tranh chấp đất đai 13

1.4.1 Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý 13

1.4.2 Bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích thương lượng, tự hòa giải trong nội bộ nhân dân 14

1.4.3 Giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa 15

1.4.4 Đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quá trình giải quyết tranh chấp đất 15 1.5 Giải quyết tranh chấp đất đai theo qui định pháp luật hiện hành 15

1.5.1 Giải quyết tranh chấp đất theo thủ tục hành chính 16

1.5.2.Giải quyết tranh chấp đất đai do Tòa án thụ lý xử lý 18

1.5.3 Phương pháp giải quyết tranh chấp bằng hình thức hoà giải theo Luật hòa giải cơ sở năm 2013 23

1.5.4 So sánh hiệu quả giải quyết tranh chấp đất theo thủ tục hành chính, hoà giải cơ sở và theo phương thức xử lý tranh chấp do Tòa án tiến hành 24

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26

Chương 2: 28

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 28

2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Cà Mau 28

2.2 Tổng quan về tình hình tranh chấp đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau 29

2.4 Những nguyên nhân tranh chấp đất đai tại tỉnh Cà Mau 34

2.4 Đánh giá việc giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án tại tỉnh Cà Mau 38

Trang 5

2.4.1 Thuận lợi 38

2.4.2 Khó khăn 39

Hoạt động xét xử của Tòa án trong tỉnh Cà Mau còn nhiều vướng mắc dẫn đến những khó khăn trong hoạt động tố tụng, có thể liệt kê các yếu tố bất cập phát sinh trong lý luận và thực tiễn như sau: 39

2.5 Một số kiến nghị 55

2.5.1 Về tố tụng 55

2.5.4 Công tác quản lý Nhà nước về đất đai 58

KẾT LUẬN CHUNG 63

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Đất đai là nơi duy trì hoạt độngcủa sự sống, là một bộ phận quan trọng cấu thành của lãnh thổ quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đảm bảo phát triển bền vững của kinh tế đất nước Việt Nam đang thực hiệntiến trình đẩy mạnh đổi mới, tăng cường hội nhập quốc tế, nền kinh tế ngày một phát triển tích cực, quyền sử dụng đất được Nhà nước thừa nhận là hàng hoá đặc biệt đang phát huy tiềm năng của giá trị, giá trị sử dụng ngày một lớn trên thị trường

Song song với diễn biến tích cực đó thì trong quá trình vận động, phát triển quan hệ về đất đai cũng phát sinh nhiều vấn đề không thuận lợi, đó là các giao dịch mua bán, chuyển nhượng không thành; thế chấp, cầm cố không được thực hiện như thoả thuận; tặng cho, thừa kế không thoả mãn với nhau; cho mượn, cho thuê đôi bên không thống nhất về quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ; hùn hạp làm ăn bằng giá trị quyền sử dụng đất không thành; giao khoán nuôi trồng không thực hiện đúng thoả thuận … những nội dung trên một mặt là thể hiện của sự vận động năng động từ các quan hệ đa dạng của nền kinh tế mởđang phát triển và mặt khác là mặt trái của nền kinh tế thị trường, quan hệ càng nhiều thì có một tỉ lệ nhất định các quan hệ đó gặp rủi ro phát sinh, nó tỷ lệ thuận với độ năng động trong hoạt động thương mại, tiêu dùng … phát sinh hình thành hàng ngày trong đời sống xã hội

Để hỗ trợ cho các quan hệ kinh tế - xã hộiphát triển, góp phần tăng trưởng chung, tạo niềm tin cho các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh và các hoạt động an sinh khác phát triển lành mạnh thì cần có cơ chế xử lý các tranh chấp nói chung và tranh chấp đất nói riêng được tiến hành nhanh chóng, minh bạch, công bằng trên cơ sở của pháp luật

Đây là nhiệm vụ, là yêu cầu lớn mà Nhà nước có trách nhiệm nghiên cứu đặt ra nguyên tắt quản lý, và là nội dung xã hội quan tâm Bản thân Tác giả đang tham gia công tác trong ngành Toà án nên nhận thức được hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nói chung và của Tòa án ở tỉnh Cà Mau nói riêng thời gian qua còn nhiều vướng mắc, ảnh hưởng đến hiệu quả

Trang 7

thực hiệnnhiệm vụ chính trị này Trong những nguyên nhân làm cho hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án chưa đạt hiệu quả, thì quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án còn có vấn

đề chưa hợp lý, quản lý Nhà nước về đất đai của chính quyền địa phương còn buông lỏng1; trình độ chuyên môn của Thẩm phán còn hạn chế, công tác tuyên truyền kiến thức pháp luật về đất đai cho nhân dân chưa đáp ứng được yêu cầu là những nguyên nhân đầu tiên, quan trọng

Xuất phát từ các lý do trên, Tác giả quyết định chọn đề tài“Giải quyết tranh chấp đất tại tòa án trên địa bàn tỉnh Cà Mau: Pháp luật và thực tiễn”để

làm Luận văn tốt nghiệp cho mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ vấn đề lý luận và quy định pháp luật về đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai tại Việt Nam

- Đánh giá tình hình giải quyết tranh chấp đấtnhằm chỉ ra những thành công và hạn chế của hoạt động này trong thời gian qua tại Cà Mau

- Trên cơ sở những vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành, Luận văn nêu lên một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai trong thời gian tới tại tỉnh Cà Mau

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam được quy định như thế nào trongpháp luật đất đai và pháp luật tố tụng dân sự?

- Tình hình giải quyết tranh chấp đất thời gian qua của Toà án trên địa bàn tỉnh Cà Mau có những thuận lợi và khó khăn gì? Những vướng mắc, bất cập của pháp luật ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả giải quyết tranh chấp của Tòa án trong thời gian qua ?

-Để nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất thì cần có những giải pháp pháp lý cụ thể nào trong thời gian tới?

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

1 Nhận định tại Nghị quyết số 19 ngày 31/10/2012 – Hội nghị TW lần thứ sáu của Ban chấp hành khoá XI

Trang 8

Nghiên cứu quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách đất; tìm hiểu pháp luật của nhà nước được thể chế quan điểm của Đảng trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai Tham khảo ý kiến, bài luận của các học giả trong nước về đề tài đất đai Từ phân tích lý thuyết, tổng hợp để

so sánh với hoạt động thực tiển xử lý tranh chấp đất tại Toà án trong tỉnh Cà Mau, qua đó phát hiện những thuận lợi và bất cập trong chính sách, pháp luật, đóng góp cho hoạt động xây dựng luật và xét xử về đất đai hoàn thiện hơn

4.2 Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm

Kết hợp số liệu thực tiễn tổng kết hàng năm của đơn vị Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau rút ra những yếu kém, thuận lợi trong công tác xét xử án tranh chấp đất để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học trong luận văn

4.3.Phương pháp phân tích vụ việc

Phương pháp được sử dụng để phân tích một số vụ án tranh chấp đất đai mà các Tòa án trên địa bàn tỉnh Cà Mau đã giải quyết

5.1 Luận văn chỉ nghiên cứu các quy định pháp luật về giải quyết tranh

chấp đất đai, không nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quan hệ đất đai ở những khía cạnh khác như xã hội học, dân tộc học…

5.2 Luận văn chỉ nghiên cứu về giải quyết tranh chấp đất đai theo các

quy định của phápluật tố tụng dân sự vàtố tụng hành chínhtại Tòa án trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời điểm hiện nay nhưng có đề cập một đến một số qui định của Luật đất đai năm 1987, năm 1993, năm 2003 để làm căn cứ so sánh.Luận văn không nghiên cứu giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường do Ủy ban nhân dân xử lý

Trang 9

6 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về tranh chấp đất tại Toà

án trên địa bàn tỉnh Cà Mau nhằm làm rõ các vấn đề lý luận và đánh giá thực

trạng áp dụng pháp luật Trên cơ sở đó, Luận văn nêu lên một số kiến nghị để

hoàn thiện quy định pháp luật về đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai, góp

phần xử lý mâu thuẫn xã hội, giữ trật tự trị an, tăng cường hiệu quả giải quyết

tranh chấp đất đai đạt hiệu quả tốt hơn trong thời gian tới tại Cà Mau

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của Luận

văn được chia thành 2 Chương như sau:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai tại

Việt Nam sau thời kỳ đổi mới

- Chương 2 Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai theo phương thức

tố tụng Toà án trên địa bàn tỉnh Cà Mau và một số kiến nghị

Trang 10

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT ĐAI VÀ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về đất đai

Đất đai là vật chất chỉ về một loại tài nguyên thiên nhiên, là một bộ phận cấu thành của vỏ trái đất Dưới góc độ khoa học pháp lý, đất đai là tài sản đặc biệt của đất nước, là một bộ phận quan trọng cấu thành lãnh thổ của quốc gia

Nghiên cứu tiến hoá về sự sống thì đất là một trong các yếu tố môi trường quan trọng góp phần hình thành và duy trì sự sống Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự tiến triển đến đâu đều có dấu ấn quan trọng đặc biệt của đất, bởi từng giai đoạn đó đất ngoài là môi trường duy trì

sự sống chung ra thì còn là công cụ, phương tiện sản xuất đặc biệt quan trọng

để làm tăng cường của cải vật chất cho xã hội Theo qui định tại khoản 1 Điều

54 Hiến pháp 2013 của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam định nghĩa: Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật Ngoài ra, Điều 4 Luật đất đai

2013 cũng xác định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ

sở hữu và thống nhất quản lý … Hiến pháp năm 2013 kế thừa, phát triển quan

điểm này lần lược từ Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2003 qui định về sở hữu toàn dân đối với đất đai, Nhà nước là người đại diện quản lý quyền sở hữu đó và Nhà nước chỉ giao quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức, hộ gia đình, Pháp luật không thừa nhận mọi hình thức khác với hình thức sở hữu nêu trên Nên nói tranh chấp đất đất đai để chỉ chung về các loại tranh chấp liên quan đến đất, thực tế nó chỉ bao hàm về tranh chấp quyền

sử dụng đất và các tranh chấp khác phát sinh liên quan đến các giao dịch về quyền sử dụng đất trong đời sống kinh tế, xã hội mà thôi Thể hiện cụ thể về việc này, tại Phần thứ V của Bộ luật dân sự năm 2015, Nhà nước ta gián tiếp khẳng định tính đặc biệt của đất đai qua một loạt các quy định chặt chẽ trong

Trang 11

việc quản lý tài sản quyền sử dụng đất khi thực hiện việc chuyển đổi, mua bán, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, thừa kế

Qua lập luận trên có thể xác định: Nghiên cứu về tranh chấp đất đai là nghiên cứu về tranh chấp quyền sử dụng đất và một loạt các quan hệ chuyển đổi, mua bán, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, thừa kế liên quan đến quền sử dụng đất phát sinh tranh chấp trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước

Luật đất đai 2013 không nêu định nghĩa chính thức về “quyền sử dụng đất” Tuy nhiên, chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai đã được quy định tại Hiến pháp năm 1992 (Điều 17) và Hiến pháp năm 2013 (Điều 53) Tương ứng với các quy định đó, Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi,

bổ sung năm 2001), Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, trong đó có qui định Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức, hộ gia đình (Điều 4 Luật Đất đai năm 2013) Cụm từ “Quyền sử dụng đất” được hình thành, phổ biến dựa trên những quy định của các văn bản trên

Quyền sử dụng đất có thể được tính bằng giá trị do Nhà nước quy định trên một đơn vị diện tích xác định trong một thời gian sử dụng nhất định hoặc

do thị trường quy định trên cơ sở hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Người được cấp quyền sử dụng đất được sở hữu phần giá trị quyền sử dụng đất, được phép chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, hùn vốn làm ăn … từ quyền sử dụng đất đối với phần diện tích được giao tương ứng với nghĩa vụ thực hiện với Nhà nước

Từ những phần tích trên, có thể xác định: Quyền sử dụng đất là quyền

sở hữu về tài sản của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phát sinh trên cơ sở quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc từ các giao dịch nhận chuyển quyền sử dụng đất theo thị trường Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất được tiến hành theo điều kiện, thủ tục do pháp luật quy định

Trang 12

1.2 Tranh chấp đất đai

1.2.1 Khái niệm tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội xảy ra trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp nào Trong xã hội tồn tại lợi ích giai cấp đối kháng thì tranh chấp đất đai mang màu sắc chính trị, đất đai luôn là đối tượng tranh chấp giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột Việc giải quyết triệt để các tranh chấp đất đai ở các xã hội phải được thực hiện bằng một cuộc cách mạng xã hội2

Nhìn ở góc độ pháp lý thì quyền sử dụng đất được Nhà nước Việt Nam thừa nhận đó là tài sản đặc biệt nên ngoài các thuộc tính của một loại tài sản thông thường có giá trị sử dụng, được chuyển nhượng, được tặng cho, được chuyển đổi, thế chấp, thừa kế … nó là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là người đại diện duy nhất thực hiện quyền sở hữu đó Các chủ thể gồm

cá nhân, tổ chức, hộ gia đình chỉ có thể là chủ sử dụng đất được Nhà nước thừa nhận nhưng không bao giờ có quyền sở hữu đối với đất Chính hoạt động giao dịch về tài sản này bằng các hình thức chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho, thừa kế… đã làm phát sinh xung đột quyền lợi, nghĩa vụ dẫn đến tranh chấp

Từ nhận định trên ta có thể xác định tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền sử dụng đất hoặc các quan hệ khác liên quan đến quyền sử dụng đất mà trong đó biểu hiện mâu thuẫn, bất đồng về việc xác định quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai Theo cách giải thích chính thức của Nhà nước thì tại khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai

1.2.2 Các loại tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai rất đa dạng, phong phú, nhiều khi đan xen, tuỳ theo loại quan hệ cụ thể mà loại tranh chấp đó chịu sự điều chỉnh của Luật tố tụng

2 Vận dụng triết học Max – Lê Nin – Gíao trình Triết học của TS Bùi Văn Mưa, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

hành chính, tố tụng dân sự trong án dân sự hoặc án kinh doanh thương mại Qua thống kê thực tiển có thể tổng hợp các quan hệ tranh chấp này thành các loại sau:

- Tranh chấp xác định quyền sử dụng đất thuộc về ai: Đây là loại tranh chấp phổ biến, nguyên nhân tranh chấp đa dạng, có thể do yếu tố lịch sử để lại như từ chính sách trang trãi trước đây hoặc cho mượn, cho thuê không làm thủ tục giấy tờ vụ việc diễn sau nhiều năm các đối tượng thuê, mượn chiếm đất và giải thích là đã chuyển nhượng chiếm dụng đất… loại tranh chấp này tùy theo hồ sơ pháp lý về thực trạng đất đó và yêu cầu của đương sự mà có thể xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp do Tòa án hay Ủy ban có thẩm quyền xử lý

- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất: Dạng tranh chấp này phổ biến ở vùng nông thôn, việc phát sinh thường là do lúc chuyển đổi đất đai hai bên không làm hợp đồng hoặc hợp đồng được soạn thảo nhưng nội dung sơ sài, đơn giản Vì thế, sau một thời gian một bên cảm thấy quyền lợi bị thiệt thòi nên phát sinh tranh chấp, mặc dù vào thời điểm chuyển đổi hai bên đều đã nhất trí về các điều kiện để chuyển đổi quyền sử dụng đất

- Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Dạng tranh chấp này xảy ra phổ biến kể cả đất ở và đất sản xuất, việc phát sinh thường là

do một bên hoặc cả hai bên thực hiện không đúng giao kết như không thanh toán giá trị chuyển nhượng hoặc không giao tài sản quyền sử dụng đất, cũng

có trường hợp do bị lừa dối hoặc sau khi ký kết hợp đồng thấy bị sai lầm do thỏa thuận về giá cả bất lợi nên rút lại không thực hiện hợp đồng Nhiều trường hợp nội dung hợp đồng không đề cập rõ ràng về vị trí, diện tích của đối tượng chuyển nhượng của hợp đồng, không xác định cụ thể bên bán hay bên mua có nghĩa đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, làm thủ tục sang tên đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp

- Tranh chấp hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất: Việc phát sinh dạng tranh chấp này là do một bên hoặc cả hai bên vi phạm các điều khoản của hợp đồng như:

+ Hết thời hạn thuê đất nhưng không chịu trả lại đất cho bên cho thuê

Trang 14

+ Không trả tiền thuê đất

+ Sử dụng đất không đúng mục đích khi thuê

+ Đòi lại đất trước thời hạn hợp đồng

Dạng tranh chấp này trước đây phát sinh phổ biến trong quan hệ dân sự thì hiện nay còn phổ biến cả trong lĩnh vực kinh doanh thương mại

- Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất: Dạng tranh chấp này thường phát sinh sau khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết nhưng bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã cam kết Đối tượng tham gia tranh chấp hiện nay phổ biến không chỉ cá nhân mà có cả pháp nhân – đó là các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh thương mại

- Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất: Dạng tranh chấp này phổ biến trong quan hệ dân sự, thường xảy ra do các nguyên nhân chủ yếu sau:

+ Người có quyền sử dụng đất chết không để lại di chúc và những người thừa kế theo pháp luật không thỏa thuận được với nhau về việc phân chia di sản thừa kế hoặc không hiểu biết về các quy định của pháp luật thừa

kế nên dẫn đến việc phát sinh tranh chấp

+ Người sử dụng đất trước khi chết có lập di chúc để lại thừa kế quyền

sử dụng đất nhưng di chúc đó trái pháp luật, không rõ ràng

- Tranh chấp do lấn, chiếm đất: Loại tranh chấp này xảy ra do một hoặc

cả hai bên có đất liền kề đã lấn chiếm đất của nhau qua hình hình lấn ranh Nguyên nhân có nhiều như việc mua bán không qua thủ tục luật định, không

đo đạc định ranh hoặc do quản lý Nhà nước thiều chặt chẽ như không buộc người có quyền sử dụng thực hiện cắm mốc giới đất, quá trình sử dụng lâu dài hai bên xác định ranh giới chồng lấn lẫn nhau …

- Tranh chấp về cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất: Loại tranh chấp này tuy số lượng phát sinh ít nhưng tính chất lại rất phức tạp Thông thường, do mâu thuẫn phát sinh, bên sử dụng đất ở gần lối đi công cộng, một bên có vị trí đất ở sâu hoặc xa phụ thuộc vào lối đi này Hai đối tượng này có thành kiến cá nhân, người sử dụng đất ở gần lối đi công cộng cản trở người sử dụng đất bên trong việc thực hiện quyền sử dụng đất như không cho đi qua phần đất của mình, rào lại lối đi chung v.v do đó dẫn đến tranh chấp

Trang 15

Ngoài ra, còn tồn tại một số dạng tranh chấp đất đai khác như:

- Tranh chấp về việc làm thiệt hại đến việc sử dụng đất

- Tranh chấp tài sản gắn liền với đất

- Tranh chấp đất trong vụ án chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1.3 Nguyên nhân của tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai là hiện tượng phát sinh trong xã hội có giai cấp, ở mỗi giai đoạn lịch sử điều có tranh chấp nhưng hình thức, nội dung khác nhau phù hợp với hoàn cảnh điều kiện kiện lịch sử tương ứng, kiểm lại quá trình phát triển của đất nước sau sự kiện đổi mới năm 1986 đến nay có thể thấy tranh chấp có những nguyên nhân chính như sau:

- Trước khi luật đất đai năm 1993 ra đời, việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị cấm đoán gần như tuyệt đối Tuy nhiên, thực tế vẫn diễn

ra các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất lén lút, tự phát, khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự thay đổi lớn cơ chế quản lý đất đai như hiện thực hóa việc thừa nhận quyền sử dụng bằng hình thức cấp quyền sử dụng cho đối tượng được cấp đất, tiềm năng của đất được phát huy, tăng hiệu quả sản xuất thì những người từng bỏ đất họ trở lại đòi đất, nhất là khi Nhà nước đặt mục tiêu tăng cường hoạt động sản xuất lương thực và hàng hóa tiêu dùng Thời điểm này một số người trước đó chuyển nhượng đất, cầm

cố, bỏ đất nay vì lý do sinh lợi của đất đã trở về dựa vào qui định cấm mua, bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã tiến hành kiện tụng để hủy bỏ các giao dịch họ thực hiện trước đó dẫn đến tranh chấp đất

- Sau khi thực hiện chính sách đổi mới, kinh tế Việt Nam từng bước phát triển mạnh mẽ, xu thế lao động thành thị đem lại nhiều thuận lợi cho cuộc sống từ thu nhập, điều kiện hưởng thụ các lợi ích vật chất, tinh thần khác dẫn đến tình trạng tăng dân số cơ học ở đô thị, đô thị hóa tăng, dẫn đến tăng nhu cầu về đất ở làm cho đất đai ngày càng trở nên có giá trị Dưới góc độ kinh tế, đất đai được xem như một loại hàng hóa trao đổi trên thị trường theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị Đây là quy luật tự nhiên, nhưng đối với quyền sử dụng đất trong thời gian từ năm 1993 trở về trước Nhà nước không thừa nhận chuyển nhượng, mua bán dẫn đến không có chính sách điều chỉnh,

Trang 16

điều tiết, quản lý, các giao dịch trên tự phát, không có trật tự, hệ quả của các quan hệ này tạo nên nhiều mâu thuẫn trong lòng xã hội, Nhà nước lúng túng trong định hướng đường lối xử lý

- Từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động sâu sắc đến tâm lý của nhiều người dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho thuê, cho mượn, bị tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng

- Việc quản lý Nhà nước về đất đai còn bị buông lỏng, nhiều sơ hở, có khi phạm sai lầm, giải quyết tùy tiện, sai pháp luật, Nhà nước phân công, phân cấp cho quá nhiều ngành quản lý đất, như ngành nông nghiệp quản lý đất rừng, Sở xây dựng quản lý đất đô thị, Trung tâm quản lý ruộng đất – Tổng cục địa chính (tiền thân của Bộ tài nguyên và môi trường ngày nay) quản lý đất nông nghiệp nông thôn dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, tuỳ tiện, định hướng qui hoạch theo lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm

- Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý đất, tuy vậy vẫn còn tồn tại nhiều sai phạm, non kém về trình độ quản lý của cán bộ làm công tác quản lý đất đai Điều này cũng là nguyên nhân làm xuất hiện nhiều tranh chấp đất đai phức tạp, khó giải quyết, cụ thể:

+ Hồ sơ địa chính chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, nên thiếu căn cứ pháp lý

và thực tế để xác định quyền sử dụng và quản lý đất đai của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là ở những vùng mà quan hệ đất đai phức tạp và có nhiều biến động Trong nhiều trường hợp, việc tranh chấp đất đai lại bắt nguồn từ những tài liệu lịch sử của chế độ cũ để lại Hơn nữa, việc giao đất lại không được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, nên hồ sơ đất đai không đồng bộ và bị thất lạc

+ Quy hoạch sử dụng đất đai chưa thật sự khoa học, chưa phục vụ thiết thực cho lợi ích xã hội mà phục vụ cho lợi ích nhóm, cán nhân nhưng lại tuyên truyền cho lợi ích chung, nên nhiều trường hợp sử dụng đất không hợp

lý khó bị phát hiện Khi phát hiện thì lại không được xử lý kịp thời Nhiều địa phương còn có những nhận thức lệch lạc về chính sách đất đai, quản lý đất đai

Trang 17

còn nặng về biện pháp mệnh lệnh hành chính mà chưa chú ý đến biện pháp quản lý về mặt kinh tế

+ Giá trị đạo đức bị xuống cấp nghiêm trọng trong mặt trái của cơ chế thị trường, quan hệ gia đình vốn là ưu thế bền vững theo truyền thống của dân tộc Việt Nam, thông thường lòng tin, qui tín là cơ sở phổ biến cho các giao dịch trong nội bộ gia đình thì theo cơ chế thị trường lợi ích kinh tế đặt cách thức quan hệ này vào tình huống bị thử thách nghiêm trọng, có một số lượng lớn quan hệ tranh chấp đất phát sinh từ mua bán, trao đổi trong quan hệ gia đình

- Về cán bộ công chức thực hiện công vụ liên quan đến đất đai: Một bộ phận cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ quản lý đất đai đã thực hiện không tốt nhiệm vụ được giao, thiếu gương mẫu, lạm dụng chức quyền, tư lợi bằng hình thức đầu cơ đất qua hình thức lợi dụng chủ trương điều chỉnh ruộng đất, tổ chức lại sản xuất theo cơ chế mới, một số cán bộ, đảng viên lợi dụng

sơ hở trong các chế độ, chính sách đất đai của Nhà nước và dựa vào chức quyền để chiếm dụng đất đai trái phép, gây bất bình trong nhân dân3

- Việc việc giải quyết tranh chấp đất đai ở nhiều nơi, nhiều lúc còn buông lỏng, hồ sơ đất đai không đầy đủ Nhất là khi triển khai các dự án cần phải thu hồi đất phục vụ trong phát triển kinh tế, việc giải toả, bồi hoàn đã được triển khai và xử lý thoả đáng nhưng người dân vẫn bị kích động khiếu kiện với số đông theo kiểu trúng ăn, thua thì củng không mất gì Khi gặp tình huống này chính quyền nhiều nơi do không lường trước phương án xử lý nên

bị động, phải chạy theo giải quyết những vụ việc đã xảy ra hoặc xử lý những hậu quả nặng nề

- Về chính sách, pháp luật về đất đai:

Chính sách đất đai và các chính sách khác có liên quan đến đất đai chưa đồng bộ, có mặt không rõ ràng và đang còn biến động Thực tế áp dụng các chính sách đất đai ở nhiều địa phương còn nhiều bất hợp lý, thực trạng người

có khả năng sản xuất nông nghiệp thì thiếu ruộng đất, ngược lại, người có ruộng lại không có khả năng hoặc nhu cầu sản xuất, để đất đai hoang hóa

3 Nhận định tại Nghị quyết số 19 Hội nghi TW 6, Ban chấp hành trung ương khoá 11 ngày 31/10/2012

Trang 18

hoặc sử dụng đất kém hiệu quả Tình trạng người nông dân phải ra đô thị lao động, gây mất ổn định cơ cấu lao động sản xuất cũng có nguyên nhân từ việc thiếu đất để sản xuất

- Về công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật: Công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật đất đai có tầm quan trọng lớn trong quản lý Nhà nước về đất đai, tạo điều kiện cho người dân hiểu biết những qui định, chính sách của Nhà nước về lĩnh vực này, nó có tác dụng tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai, hạn chế tranh chấp phát sinh từ nguyên nhân không am hiểu pháp luật Thực tế công tác này chưa được coi trọng, làm cho nhiều văn bản pháp luật đất đai của Nhà nước chưa được phổ biến sâu rộng trong nhân dân

Mặc dù có những nguyên nhân mang tính phổ biến chung về tranh chấp đất đai như vậy nhưng ở mỗi địa phương khác nhau còn có những nguyên nhân đặc thù và việc tìm ra những nguyên nhân đó phải căn cứ vào thực tế sử dụng đất, và phong tục tập quán của từng địa phương để xây dựng được những giải pháp tốt nhất nhằm giải quyết có hiệu quả từng vụ tranh chấp Song trên thực tế khía cạnh này chưa được các cơ quan nhà nước chú trọng, xem xét

1.4 Những nguyên tắt chủ đạo trong giải quyết tranh chấp đất đai

Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh

tế, quan hệ pháp luật đất đai đã trở nên đa dạng, phức tạp kéo theo các tranh chấp đất đai phát sinh cũng đa dạng, phức tạp và gay gắt Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp đất đai phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định mà thực

tế đã đặt ra Muốn đáp ứng được các yêu cầu đó, thì việc giải quyết tranh chấp đất đai phải dựa vào quan điểm sau đây làm cơ sở định hướng xử lý:

1.4.1 Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý

Điều 17 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý" Cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai 2003 đã quy định: "Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời

Trang 19

Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"4 Quan điểm này được quán triệt và kế thừa đến Hiến pháp và Luật đất đai năm 2013 đang có hiệu lực Tái khẳng định toàn bộ đất đai trên lãnh thổ Việt Nam đều thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân chỉ là những người được Nhà nước giao đất cho sử dụng, không có quyền sở hữu đối với đất đai Do đó, đối tượng của mọi tranh chấp đất đai phát sinh chỉ là quyền quản lý và quyền sử dụng đất, không phải là quyền sở hữu đối với đất đai Vì vậy, khi giải quyết các tranh chấp đất đai, phải tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai

mà Nhà nước là người đại diện Bảo vệ quyền đại diện sở hữu đất đai của Nhà nước là bảo vệ thành quả cách mạng về đất đai mà nhân dân ta đã đổ xương máu và sức lực để giành được của cả quá trình đấu tranh chống đế quốc, thực dân, phong kiến mà có được

1.4.2 Bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích thương lượng, tự hòa giải trong nội bộ nhân dân

Luật Đất đai 1993 ra đời với việc thừa nhận năm quyền năng của người

sử dụng đất (quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất) đến luật đất đai năm 2013 tiếp tục khẳng định các quyền trên và mở rộng hơn trong việc thừa nhận quyền này cũng được xem là hàng hóa, chịu điều tiết theo thị trường, việc cấp quyền sử dụng là cấp lâu dài, không giới hạn thời gian đã khẳng định tư tưởng đổi mới trong quá trình Nhà nước điều hành các quan hệ xã hội về đất đai Do đó, việc tôn trọng các quyền của người sử dụng đất và tạo điều kiện để họ phát huy tối đa các quyền đó là nguyên tắc quan trọng của Luật Đất đai Thực tế đã chứng minh rằng, nếu lợi ích của người sử dụng đất không được đảm bảo, thì việc sử dụng đất không thể mang lại hiệu quả kinh tế cao Đó cũng chính là nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết các tranh chấp đất đai

Tôn trọng quyền định đoạt của các chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật đất đai là tôn trọng quyền tự do thỏa thuận, thương lượng của họ trên cơ sở các quy định của pháp luật Do vậy, hòa giải trở thành cách thức và

4 Khoản 2 điều 10 Luật đất đai 2003

Trang 20

cũng là nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai quan trọng và đạt hiệu quả nhất

1.4.3 Giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa

Nhìn chung gần như tất cả các vụ việc tranh chấp điều là loại mầm móng bất ổn cho xã hội, tuy nhiên tranh chấp đất đai là loại vụ việc có tác động tiêu cực thuộc diện có sức ảnh hưởng sâu rộng và dễ tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, chính trị, trật tự trị an Nên giải quyết các tranh chấp đất đai ngoài việc hướng đến mục đích bình ổn các quan hệ xã hội thì còn phải chú ý đảm bảo quá trình sản xuất của người dân, tránh làm ảnh hưởng dây chuyền đến cơ cấu sản xuất chung

1.4.4 Đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quá trình giải quyết tranh chấp đất

Tất cả các quan hệ trong đời sống xã hội điều phải thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật Nên giải quyết tranh chấp đất đai phải tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật đã quy định là điều đương nhiên Tuy nhiên, phát hiện và giải quyết kịp thời các vi phạm pháp luật về đất đai, tránh tình trạng để tranh chấp đất đai kéo dài, làm ảnh hưởng tới tâm lý và lợi ích của người dân là việc quan trọng xuất phát từ tầm quan trọng của đất đai trong đời sống kinh tế xã hội mà ta đã xác định và trình bày trên

1.5 Giải quyết tranh chấp đất đai theo qui định pháp luật hiện hành

Theo pháp luật đất đai hiện hành, việc tranh chấp quyền sử dụng đất ở Việt Nam không có một văn bản qui định riêng lẽ việc giải quyết các quan hệ này, tuy nhiên dựa trên nguyên tắc điều chỉnh chung của mỗi ngành luật và nguyên tắt áp dụng chung mang tính thống nhất và bổ sung cho nhau trong các ngành luật có thể hệ thống được pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay Qua đó giới thiệu về hệ thống pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai gồm các văn bản chủ đạo như sau:

Trang 21

- Hiếp pháp năm 2013 – Tại Điều 53, Điều 54 qui định về chế độ pháp

lý cơ bản của Nhà nước về đất đai, với qui định này được xem là nguồn, là nền tản cơ bản nhất điều chỉnh triệt để mọi hành vi của mọi tổ chức, cá nhân trong lãnh thổ Việt Nam thực hiện các quan hệ liên quan đến đất đai của đất nước, trong đó có nền tản trong xây dựng các đạo luật, luật, văn bản dước luật định hướng xử lý tranh chấp đất đai

- Thể chế qui định của Hiếp pháp năm 2013, Luật đất đai năm 2013 qui định về nguyên tắt, điều kiện, thẩm quyền xử lý tranh chấp đất đai tại điều

Ngoài ba văn bản chủ đạo trên, Nhà nước còn ban hành một loạt các văn bản dưới luật gồm Nghị định, thông tư, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh qui định hoặc hướng dẫn áp dụng luật thực hiện việc quản lý Nhà nước về qui định về các quan hệ về đất đai, trong đó có xử lý tranh chấp đất đai

Qua hệ thống các văn bản qui định trên, có thể hệ thống các phương pháp giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

1.5.1 Giải quyết tranh chấp đất theo thủ tục hành chính

Việc giải quyết theo phương thức này xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam xác định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là người đại diện duy nhất thực hiện quyền sở hữu đó Quan điểm trên được thể chế hoá thành luật thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 1980 xác

định “đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa đều thuộc sở hữu toàn dân” 5 Và tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 1992 (Điều 17), Hiến pháp năm 2013 (Điều 53) Trên tinh thần đó, Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993

5 Điều 19 Hiến pháp năm 1980

Trang 22

(sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm

2013

Cơ quan Nhà nước thực hiện giải quyết tranh chấp ở đây cụ thể là Ủy ban nhân dân, Bộ tài nguyên và môi trường giải quyết theo qui định tương ứng với thẩm quyền cấp đất, giao đất, khiếu nại quyết định gỉai quyết tranh chấp đất và cả tính chất, mức độ phức tạp của các quan hệ tranh chấp mà pháp luật phân công thẩm quyền giải quyết hợp lý

Hiện nay theo qui định tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì điều kiện

để cơ quan hành chính có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là đất tranh chấp chưa có một trong các loại giấy tờ liên quan theo Điều 100 Luật đất đai năm

2013 và có yêu cầu của đương sự

Theo thực tế khảo sát giải quyết tranh chấp đất đai ở Cà Mau do cơ quan hành chính tiến hành thì có thể xác định qui trình như sau:

Sau khi thực hiện hoà giải xã phường không thành, đương sự tham gia tranh chấp có đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xử lý, Cơ quan tiếp dân (cấp huyện, cấp tỉnh) được ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp tiếp nhận đơn, trình báo với với Chủ tịch Ủy ban nhân dân ngang cấp, nếu vụ việc thuộc thẩm quyền thì đại diện của Ủy ban nhân dân chỉ đạo thụ lý, tuỳ tính chất, nội dung vụ việc cụ thể mà người này họ giao cho một cơ quan tham mưu trực thuộc thụ lý, xác minh, đề xuất phương án giải quyết

Sau khi có tờ trình báo cáo nội dung và đề xuất phương án giải quyết, Chủ tịch Ủy ban cùng cấp triệu tập Hội đồng tư vấn (Hội đồng tư vấn gồm đại diện các cơ quan chuyên môn như cơ quan tài nguyên môi trường, thanh tra, xây dựng …) Hội đồng tư vấn thảo luận dưới sự chủ trì của Chủ tịch uỷ ban nhân dân, và Chủ tịch uỷ ban nhân dân là người quyết định cuối cùng xử lý vụ việc

Sau khi có quyết định giải quyết tranh chấp, nếu thấy không thỏa mãn, người tham gia tranh chấp có thể khiếu nại đến cơ quan hành chính ban hành quyết định để khiếu nại (khiếu nại lần thứ nhất) và nếu không thỏa mãn thì có thể khiếu nại tiếp đến cấp trên của cơ quan giải quyết để xem xét lại tính hợp pháp và có căn cứ của quyết định giải quyết tranh chấp (khiếu nại lần thứ hai)

Trang 23

Sau khi giải quyết vụ việc lần thứ hai người tham gia vẫn có thể khởi kiện các quyết định hành chính trên ra Tòa theo trình tự chung do luật tố tụng hành chính qui định

Sơ đồ tóm lược trình tự giải quyết tranh chấp đất đai từ hòa giải cơ sở, hòa giải xã phường và tiến hành thụ lý xử lý theo thủ tục hành chính:

1.5.2.Giải quyết tranh chấp đất đai do Tòa án thụ lý xử lý

Tương tự như trường hợp giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính, việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án Việt Nam cũng có thể tóm tắt theo qui trình như sau:

Khuyến khích các bên tự hòa giải hoặc hòa giải ở cơ

sở Hòa giải tại UBND cấp xã

Hòa giải thành Hòa giải không thành

Các bên tự

nguyện thi hành trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Không có Giấy chứng nhận QSDĐ hoặc một

Đất đai 2013 (Người tranh chấp lựa chọn UBND

Tranh chấp QSD đất

Chủ tịch UBND cấp

tỉnh

Trang 24

- Giai đoạn tiền tố tụng: Hòa giải tranh chấp tại xã, phường là giai đoạn bắt buộc qui định tại điều 203 Luật đất đai Giai đoạn này sở dĩ gọi là tiền tố tụng bởi vì nói là điều kiện bắt buộc phải có, nếu đương sự không yêu cầu, Ủy ban cấp xã phường bỏ qua thủ tục hoà giải không có lý do chính đáng thì Toà

án không thụ lý – đây cũng là một điều kiện bắt buộc trong các điều kiện khởi kiện đối với tranh chấp đất đai khi mà quan hệ tranh chấp đặt ra yêu cầu xác định tài sản quyền sử dụng đất là của ai6

Sơ đồ thể hiện trình tự giải quyết tranh chấp đấttừ giai đoạn tiền tố tụng đến giai đoạn thụ lý theo thủ tục tố tụng do Toà án tiến hành

6 Điểm b Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự

Khuyến khích các bên tự hòa giải hoặc hòa giải ở cơ sở

Hòa giải tại UBND cấp xã

Hòa giải thành Hòa giải không thành

Các bên tự

nguyện thi hành Có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai

2013 hoặc không cócác giấy tờ trên nhưng có yêu

cầu Toà án giải quyết.

Toà án nhân dân cấp huyện thụ lý, xử lý sơ thẩm

Toà án nhân dân cấp tỉnh xử lý phúc thẩm

Toà án cấp cao xử lý phúc thẩm

Tranh chấp QSD đất

Toà án nhân dân cấp tỉnh thụ

lý, xử lý sơ thẩm

Trang 25

- Giai đoạn tiến hành tố tụng của Toà án:

Theo qui định tại Điều 203 và Điều 100 Luật đất đai năm 2013 và khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Điều 203 Luật đất đai năm 2013 quy định Tòa

án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất

Ngoài ra, Luật đất đai năm 2013 còn quy định mới đó là: Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 thì đương sự được lựa chọn Ủy ban nhân dân hoặc Tòa án nhân dân giải quyết

Như vậy, đối với trường hợp người sử dụng đất không có giấy chứng nhận hoặc các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013, nếu tranh chấp và đã được Ủy ban nhân dân cấp xã hòa giải không thành thì các những đối tượng thm gia tranh chấp có thể lựa chọn việc khởi kiện tại Tòa

án để yêu cầu Tòa án giải quyết Trường hợp đương sự không muốn khởi kiện tại Tòa án thì có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dâncó thẩm quyền Qui định này đã bao hàm gần toàn bộ quyền xử lý tranh chấp đất đai thuộc Tòa án

Sau khi nhận đơn kiện đã đáp ứng được đầy đủ các hình thức, nội dung theo qui định tại Điều 186,187, 189 và không thuộc trường hợp phải bị trả lại đơn kiện theo Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án nhận đơn, vào sổ thụ lý vụ án Từ thời điểm này bắt đầu phát sinh quyền và nghĩa vụ của Toà

án trong việc xem xét, xử lý vụ việc trong phạm vi yêu cầu của các đương sự tham gia tố tụng tại vụ kiện Việc xem xét đó gồm các bước xây dựng hồ sơ thông qua các qui trình thông báo thụ lý, thẩm định xác định hiện trạng, đo đạt xác định vị trí diện tích đất tranh chấp, lấy khai nhân chứng, đối chất, trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký để đánh giá chứng cứ, xác định nguồn gốc, quá trình quản lý sử dụng, quá trình đăng ký, lập hồ sơ kê khai đất sản xuất và Hồ sơ cấp quyền sử dụng đất nếu có … sau khi tiến hành thu thập

Trang 26

toàn diện các chứng cứ liên quan đến việc tranh chấp, Toà án tiến hành hoà giải, công khai chứng cứ và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử nếu hoà giải không thành

Trên đây là sơ lược các hoạt động tiến hành tố tụng của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp đất của các loại án dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính theo qui trình tiến hành tố tụng theo Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính

Sơ đồ tiến hành các thủ tục thu thập chứng cứ giải quyết tranh chấp đất và định hướng xử lý vụ việc 7

n lý sử dụng

Hồ sơ kê khai, đăng ký và cấp giấychứng nhậnQSDĐ

Việc thẩm định tại chổ phảiđầy đủ

Những yêu cầu thu thập chứng cứ quan trọng tại vụ án

Người sử dụng đất đã được sử dụng ổn định lâu

dài, không có tranh chấp

Cho mượn, cho ở nhờ, cho thuêđược quyền đòi

lại

Trang 27

Sơ đồ tiến hành các thủ tục thu thập chứng cứ giải quyết tranh chấp đất và định hướng xử lý vụ việc 8

ai quản lý

từ thời gian nào đến thờigian nào

Thẩm định tại chổ:

- Phải đo và xác định DT tất cả các thửa đất liên quan đến tranh chấp

- Mô tả chi tiết

về sốđo, vật kiến trúc, cây trồng trên phầnđất tranh chấp

Hồ sơ cấp giấy chứn

g nhân QSD

Đ (nếu có)

Trang 28

1.5.3 Phương pháp giải quyết tranh chấp bằng hình thức hoà giải theo Luật hòa giải cơ sở năm 2013

Đây cũng là một phương pháp giải quyết tranh chấp đất nói riêng và tranh chấp dân sự nói chung, việc hòa giải này không nằm trong hoạt động hòa giải của Tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động và hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn9 với cách giải thích trên thì hoà giải cơ sở được tiến hành ở khóm, ấp, tổ tự quản do Hoà giải viên được bổ nhiệm theo tiêu chuẩn Luật hoà giải cơ sở qui định

Phương pháp này không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tuy nhiên tác giả thấy cần giới thiệu sơ lược về những ưu và nhược điểm để làm căn cứ đối chiếu, so sánh với các phương pháp giải quyết tranh chấp đất đai

do Toà án tiến hành để làm căn cứ đánh giá chung, cụ thể:

- Những đặt trưng và Ưu điểm: Tiêu chuẩn Hòa giải viên là những người ở cùng địa phương với đối tượng tham gia tranh chấp hoặc có tài sản tranh chấp Do quan hệ làng xóm, ở cùng địa phương nên họ am hiểu về con người, về tài sản tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp, phát hiện những mấu chốt mâu thuẫn Bằng uy tính và phương pháp động viên khai thác sự thật của vụ việc, trên cơ sở pháp luật và lẽ phải, Hòa giải cơ sở giúp hóa giải mâu thuẫn, tranh chấp, để các đối tượng tham gia xử lý theo giải pháp hợp lý trên tinh thần tự nguyện của họ

- Nhược điểm: Công việc hòa giải hoàn toàn động viên các đối tượng tham gia tranh chấp xử lý vụ việc trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, việc hòa giải nếu có kết quả thì củng không ràng buộc trách nhiệm thực hiện bằng sức mạnh cưởng chế Nhà nước nên chỉ có hiệu quả với những người có ý thức cầu thị, có hiểu biết pháp luật và có thiện chí giải quyết vụ việc thấu tình đạt lý,

họ mong muốn hòa giải để giữ hòa khí trong quan hệ cộng đồng, hạn chế mâu thuẫn cũng là hạn chế rủi go trong cuộc sống

9 Điều 1 Luật hòa giải cơ sở năm 2013

Trang 29

1.5.4 So sánh hiệu quả giải quyết tranh chấp đất theo thủ tục hành chính, hoà giải cơ sở và theo phương thức xử lý tranh chấp do Tòa án tiến hành

Thực tiễn việc giải quyết tranh chấp đất như đã trình bày trên có thể thực hiện bằng ba phương án tiến hành gồm: Hoà giải cơ sở, xử lý theo thủ tục hành chính và thủ tục tố tụng do Toà án thực hiện, tuy nhiên nói là xử lý mang tính quyền lực Nhà nước thì theo luật định hiện hành nó có phương pháp được tiến hành ở hai nhánh quyền lực là xử lý theo thủ tục hành chính

và thủ tục tố tụng do Toà án thực hiện Hoà giải cơ sở là một phương pháp giải quyết tranh chấp không mang tính quyền lực, không áp đặt, không bảo đảm được thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước, lấy tập quán, đạo đức, lẽ phải, công bằng để thuyết phục nên không xem đây là một phương pháp giải quyết mang tính quyền lực Nhà nước Nên với hai nhánh quyền lực Nhà nước thực hiện công việc giải quyết tranh chấp còn lại ta có thể thấy những thuận lợi và bất cập như sau:

+ Về giải quyết tranh chấp bằng thủ tục hành chính mang tính quyền lực Nhà nước, mặt dù có xem xét các yếu tố chứng cứ nhưng nguyên tắc hành chính, mệnh lệnh được áp dụng triệt để trong phương pháp này

Quy trình thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ được tiến hành nhưng

rõ ràng không chuyên nghiệp so với quy trình thu thập chứng cứ theo phương thức tố tụng tại Tòa án

Việc giải quyết cũng mang tính tập thể, thể hiện dân chủ nhưng yếu tố này nặng tính hình thức bởi quyền lực thật sự trong điều hành hành chính là quyền lực thủ trưởng chế, không bao hàm tính bình đẳng, ngang quyền ở đây

Hội đồng tham gia xử lý vụ việc theo thực tiễn hiện hành là một Hội đồng tư vấn với rất nhiều thành phần do đại diện các cơ quan tham mưu tham gia như Sở tài nguyên môi trường, Sở xây dựng, Thanh tra chuyên ngành của các sở liên quan, Thanh tra Nhà nước, và tuỳ theo nội dung tranh chấp, đối tượng tranh chấp còn có sự tham gia của đại diện các hội trong hệ thống chính trị như Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Ủy ban Mặt trận tổ quốc… tuy nhiên kiến thức pháp luật đủ để có ý kiến mang tính áp dụng đúng đắng theo

Trang 30

qui định của pháp luật thì không đồng điều, có những người tham gia để đủ thành phần luật định, nếu có hoặc vắng họ cũng không làm thay đổi định hướng đường lối giải quyết vụ việc

Cơ quan hành chính Nhà nước của ta đứng đầu là Chính phủ, các Ủy ban ở địa phương là bộ phận hành pháp, thực hiện quản lý mọi mặt về hành chính, với chức năng trên họ đã quá nhiều vụ việc để xử lý trong hoạt động điều hành Nên giao quyền giải quyết tranh chấp đất cho cơ quan này là không thể hiện được tính logic, khoa học trong thực tiễn điều hành chung xã hội của bộ máy Nhà nước

+ Về giải quyết tranh chấp theo luật tố tụng do Tòa án tiến hành

Đây là một quy trình chặt chẽ được luật điều chỉnh bằng mọi hành vi cụ thể trong hoạt động từ khâu nhận đơn, thụ lý, chuẩn bị xét xử và tiến hành xét

số và chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với kết quả xét xử đó

Tòa án cũng là cơ quan quyền lực Nhà nước, là trung tâm thực hiện quyền lực tư pháp, một bộ phận cấu thành của Nhà nước Việt Nam, quyền lực thực hiện là nhân danh Nhà nước xử lý vụ việc

Trang 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Từ vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai, pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân, Ủy ban nhân dân, qui trình xét xử theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm như đã trình bày, có thể rút ra kết luận như sau:

1 Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội phát sinh trong xã hội có giai cấp, nó xuất phát từ xung đột lợi ích của giai cấp thống trị với giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Nên việc triệt tiêu tranh chấp là không thể trong xã hội có giai cấp, chúng ta có thể làm giảm thiểu việc tranh chấp qua việc điều tiết sự xung đột lợi ích của các giai cấp trong xã hội, tạo sự công bằng tương đối, minh bạch trong quản lý, điều hành, giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo, đẩy mạnh sự phát triển thịnh vượng chung cho xã hội để hạn chế tranh chấp lợi ích, mâu thuẫncủa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó có tranh chấp đất đai10

Theo quan điểm chính thống của Nhà nước Việt Nam tranh chấp đất đai làsự bất đồng, mâu thuẫn về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai11

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện thực hiện quyền sở hữu đó Nên tranh chấp đất đai theo điều chỉnh của luật pháp Việt Nam bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất và tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất Tranh chấp đất đai là tranh chấp giữa những người sử dụng đất hoặc giữa người sử dụng đất với cơ quan quản lý Nhà nước hoặc giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với nhau – không có tranh chấp quyền sở hữu đất

2 Theo qui định của pháp luật Việt Nam giải quyết tranh chấp đất đai

là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm Tòa án nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bộ Tài nguyên và Môi trường Tùy theo thực trạng về nội dung mang tính pháp lý về nguồn gốc đất và nguyện vọng của chủ thể tham gia

Trang 32

tranh chấp mà có thể tiến hành giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính do

Ủy ban nhân dân, Bộ tài nguyên và môi trường tiến hành hay Tòa án tiến hành xử lý trên cơ sở qui định của pháp luật

Theo Tác giả việc giao toàn bộ thẩm quyền xử lý tranh chấp quyền sử dụng đất cho Toà án là cần thiết, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của đất nước

3 Tranh chấp đất đai là chỉ chung một hoặc nhiều các quan hệ tranh chấp liên quan đến đất như tranh chấp quyền sử dụng, tranh chấp chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh … là một quan hệ trong tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính Tranh chấp này phát sinh từ mâu thuẫn lợi ích của cá nhân hay tổ chức, bản thân những chủ thể tham gia

họ tự nhận thấy quyền và lợi ích của mình bị xâm hại nên có yêu cầu cơ quan

có thẩm quyền xử lý Do đó họ là người định đoạt vụ việc, có thể có yêu cầu làm phát sinh, chấm dứt việc tranh chấp đó

4 Hòa giải là một phương pháp giải quyết tranh chấp được pháp luật Việt Nam thừa nhận trong nổ lực triệt tiêu tranh chấp đất qua thoả thuận tự nguyện Hòa giải thành là giải pháp tối ưu nhất trong giải quyết tranh chấp đất Việc chú trọng công tác hòa giải, cải tổ lại phương pháp hòa giải cơ sở là một việc nên làm nghiêm túc để tăng hiệu quả chung cho công việc giải quyết tranh chấp, giảm áp lực cho Tòa án và hệ thống hành chính có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp đất

Trang 33

Tỉnh Cà Mau với vị trí địa giới hành chính gồm đất liền và biển đảo Đất liền có diện tích 5.211km2, vị trí: Phía bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông và đông nam giáp biển Đông và phía tây giáp Vịnh Thái Lan Cà Mau nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á nên rất thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực

Vùng biển chủ quyền có diện tích 100.000km2, trong đó có nhiều đảo, gồm Hòn Đá Bạc, Hòn Chuối, Hòn Bương, cụm đảo Hòn Khoai và thềm lục địa, bãi bồi được phù sa sông Cữu Long bồi đắp lấn dài ra biển khoảng 100m/năm

Trang 34

Theo thống kê dân số năm 2015 của Cục thống kê tỉnh Cà Mau thì dân

số tỉnh Cà Mau khoảng 1,3 triệu người

Quỹ đất Cà Mau phân bố như sau: Diện tích 5.294,87 km2, xếp thứ 2 và bằng 12,97% diện tích khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bằng 1,58% diện tích cả nước Trong đó, diện tích đất nuôi trồng thủy sản trên 266.735 ha, đất trồng lúa 129.204 ha, đất lâm nghiệp 103.723 ha, một phần đất đô thị gồm thành phố Cà Mau, các thị trấn huyện lỵ, trung tâm chợ các xã, diện tích sông

hồ nội địa

Cơ cấu dân số: Do là vùng đất mới nên trước đây dân số Cà Mau tăng

do di dân với số lượng lớn nên Cà Mau là nơi hội tụ nhiều dân tộc anh em, ở nhiều vùng miền trong cả nước đến lập nghiệp Cơ cấu dân tộc chiếm số nhiều lần lượt là người Kinh, người Hoa, người Khơ Me và số ít dân tộc ít người khác hội nhập với Cà Mau từ di dân tự do ở Tây Nguyên, Tây Bắc đến

Trong nhiệm kỳ 2015 – 2021 chính quyền tỉnh Cà Mau đặt mục tiêu tốc

độ tăng trưởng kinh tế bình quân 7,5%/năm; công nghiệp, xây dựng tăng 7,5%/năm và phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng năng suất, chất lượng bền vững Phát huy tối đa lợi thế của địa phương như ngư - nông - lâm nghiệp; trong đó, xác định thủy sản là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, nâng hiệu quả hoạt động của các khu công nghiệp, nhất là khu công nghiệp khí - điện - đạm

2.2 Tổng quan về tình hình tranh chấp đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Ngoài những đặc điểm giống như tình hình chung của cả nước về quan

hệ tranh chấp, chịu điều chỉnh thống nhất chung trong hệ thống pháp luật Việt Nam thì yếu tố địa lý, lịch sử có những khác biệt so với những địa phương khác về việc khai thác sử dụng vốn đất, cụ thể:

- Phần lớn quỹ đất nông nghiệp ở Cà Mau là đất rừng, thời gian khai phá, sử dụng đến nay không lâu, diện tích giao đất đến nay đã phủ kín, tuy nhiên chưa ổn định bởi nhiều nguyên nhân như: Hiệu quả khai thác sản xuất chưa cao do phải đầu tư cải tạo cần chi phílớn ngoài khả năng của người nông

Trang 35

dân nên việc nhận rồi chuyển nhượng, mua bán tự phát là phổ biến – đây là một nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp liên quan đế đất đai ở Cà Mau

- Tranh chấp quyền sử dụng đất do lấn chiếm ranh giới của những người có đất liền kề với nhau:Nguyên nhân là giá trị quyền sử dụng đất tăng vọt, lợi ích kinh tế lớn, việc định ranh cắm mốc chưa được triển khai phổ biến của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền dẫn đến phát sinh loại hình tranh chấp này

- Tranh chấp đất đai trong dòng họ, gia tộc, anh em: Qua thực tiễn công tác tại Tòa án tỉnh Cà Mau thì việc tranh chấp này xuất phát từ các nội dung chính sau:

+ Đất đai của cha, mẹ, người con ở chung tự ý đi làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng Việc họ đăng ký quyền sử dụng như vậy cha, mẹ không biết nhưng vẫn tiến hành được là vì khi ký văn bản để làm thủ tục chuyển tên chủ

sử dụng qua hình thức tặng cho, mua bán thường là người con thông tin cho cha, mẹ nội dung khác nên học ký do tin tưởng, không kiểm tra nội dung Bản thân cán bộ lập thủ tục đăng ký mắc sai lầm này thường là do chủ quan tin tưởng vào quan hệ gia đình của họ không xác minh, chứng kiến giao dịch hoặc có dấu hiệu của sự giúp sức, hỗ trợ cho người con để tiến hành các thủ tục nhằm hợp pháp hóa việc chuyển tên quyền sử dụng

+ Cho anh em, người thân mượn quản lý, sử dụng đất, khi đòi lại họ nói

lý do khác không trả - Lý do đó thường là xác định đã nhận chuyển nhượng

+ Đất đai được cha mẹ cho riêng con khi lập gia đình nhưng không làm thủ tục sang tên theo qui định, nếu cuộc sống gia đình của con có vấn đề mâu thuẫn phải ly hôn, chia tài sản thì xác định là cho mượn đòi lại

- Việc quản lý chưa có kinh nghiệm, lỏng lẻo của Nhà nước về hồ sơ pháp lý đối với đất, về ranh giới địa chính, về thủ tục cấp quyền sử dụng không chính xác, không đúng dẫn đến tranh chấp …

- Việc “cố đất” không tuân thủ hình thức luật định vẫn còn tồn tại phổ biến ở Cà Mau Giao dịch này là tự phát, không công chứng, chứng thực nên không được thừa nhận, bảo vệ Việc thiếu kiểm soát của Nhà nước,nội dung

Trang 36

thỏa thuận giao kết đơn giản không đầy các dữ kiện đủ để ràng buột quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia nên thường xuyên dẫn đến tranh chấp

- Cho vay với lãi suất cao nhưng làm thủ tục mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất để ràng buộc trách nhiệm thanh toán của người vay

- Tiêu cực trong quản lý Nhà nước về đất đai điển hình qua hoạt động qui hoạch, đầu cơ đấtcủa một số cán bộ có quyền trục lợi, quy trình này thường xảy ra theo phương thức như sau: Nhà nước quy hoạch khu dân cư, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chính cán bộ quản lý thực hiện các công việc này họ dễ dàng đăng ký mua do biết vị trí đắc địa sinh lợi sau này, sau đó nhờ

cơ sở hạ tầng hoàn thiện, giá đất tăng cao họ trục lợi từ đây Việc này phổ biến ở Cà Mau gây bức xúc cho quần chúng nhân dân

Tất cả những yếu tố trên là những đặc điểm việc quản lý, khai thác sử dụng đất ở Cà Mau, thể hiện thuận lợi, hạn chế trong quản lý, sử dụng đất Những hạn chế cũng là nguyên nhân tất yếu dẫn đến việc tranh chấp mà có một phần lớn loại quan hệ phát sinh pháp luật về đất đai, tố tụng dân sự phân công cho Toà án thụ lý, giải quyết

2.3.Tình hình thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai của các Toà thuộc tỉnh Cà Mau 13

2.3.1 Thụ lý án dân sự: Giải quyết tranh chấp dân sự về đất đai của

Toà án trong tỉnh Cà Mau từ năm 2014 đến năm 2016 được thể hiện qua số liệu thống kê hàng năm như sau:

- Năm 2014, tổng thụ lý án dân sự về việc tranh chấp đất 924 vụ, Tòa

án cấp tỉnh và các Tòa án cấp huyện thị trong tỉnh Cà Mau xử lý 432 vụ (332

vụ sơ thẩm và 100 vụ phúc thẩm), án tồn 492 vụ (427 vụ sơ thẩm và 65 vụ phúc thẩm), trong đó: Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý sơ và phúc thẩm

554 vụ, các Toà án cấp huyện, thị trong toàn tỉnh thụ lý 370 vụ

- Năm 2015, thụ lý án dân sự tranh chấp đất1.045 vụ, Tòa án cấp tỉnh

và các Tòa án cấp huyện thị trong tỉnh Cà Mau xử lý 528 vụ (377 vụ sơ thẩm

và 151 vụ phúc thẩm), án tồn 517 vụ (476 vụ sơ thẩm và 41 vụ phúc thẩm),

13 Báo cáo tổng kết năm 2014, 2015, 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau

Trang 37

trong đó: Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý sơ và phúc thẩm 510 vụ, các Toà án cấp huyện, thị trong toàn tỉnh thụ lý 535 vụ

- Năm 2016,thụ lý án dân sự tranh chấp đất1.254 vụ, Tòa án cấp tỉnh và các Tòa án cấp huyện thị trong tỉnh Cà Mau đã giải quyết được 694 vụ (530

vụ sơ thẩm và 164 vụ phúc thẩm), án tồn 560 vụ (528 vụ sơ thẩm và 32 vụ phúc thẩm), trong đó: Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý sơ và phúc thẩm

617 vụ, các Toà án cấp huyện, thị trong toàn tỉnh thụ lý 637 vụ

Từ số liệu giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp đất đai của Toà án trong tỉnh Cà Mau 3 năm 2014, 2015, 2016 có thể nhận xét như sau:

- Về loại quan hệ tranh chấp trong án đất14: số lượng thống kê cho thấy Tòa án cấp huyện, thị và Toà án tỉnh Cà Mau thụ lý trong năm với số lượng tương đối lớn, năm sau tăng hơn so với năm trước, năm 2015 thụ lý tăng 121

vụ so với năm 2014, năm 2016 thụ lý tăng 209 vụ so với năm 2015 Trong năm 2016, Tòa án hai cấp tỉnh Cà Mau thụ lý 556 vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất thuộc về ai và tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất, 295 vụ án tranh chấp đòi lại đất, 270 vụ án tranh chấp về các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, 55 vụ án tranh chấp về thừa kế quyền

sử dụng đất, 70 vụ án tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất và 08 vụ án tranh chấp đất đai khác

Số lượng án thụ lý hàng năm nhiều nhưng số lượng án giải quyết chưa đáp ứng yêu cầu làm tăng lượng án tồn hàng năm; năm 2014 xử lý 432 vụ trong tổng số 924 vụ đã thụ lý, đạt tỷ lệ 46,7%; năm 2015 xử lý 528 vụ trong tổng số 1.045 vụ đã thụ lý, đạt tỷ lệ 50,5%; năm 2016 xử lý 694 vụ trong tổng

số 1.254 vụ đã thụ lý, đạt tỷ lệ 55%

Tỷ lệ giải quyết thấp bởi các vụ tranh chấp đất đai có tình tiết phức tạp cần phải xác minh, thu thập chứng cứ, trong khi Tòa án chưa nhận được sự phối hợp tích cực của đương sự và các cơ quan có liên quan; một số quy định

14 Báo cáo tổng kết năm 2014, 2015, 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau

Ngày đăng: 03/08/2018, 23:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w