1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội ở việt nam

224 193 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam với chủ trương xây dựng một đất nước bình đẳng nhân ái trong sự phát triển bền vững thì hơn lúc nào hết cần có sự chung tay góp sức của tất cả các đối tượng hữu quan như Chính p

Trang 1

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ HẢI HOÀN

HỆ SINH THÁI HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

i

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ HẢI HOÀN

HỆ SINH THÁI HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

Mã số : 9.34.04.10

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS TS Trương Thị Nam Thắng

2 PGS TS Bùi Quang Tuấn

HÀ NỘI - 2018

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các

số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA i

LỜI CAM ĐOAN……… …ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10

1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 10

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 10

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 25

1.2 Đánh giá bình luận về các nghiên cứu đã có 30

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 38

VỀ HỆ SINH THÁI HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 38

2.1 Cơ sở lý thuyết về doanh nghiệp xã hội 38

2.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp xã hội 38

2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội 41

2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp xã hội 43

2.1.4 Các mô hình doanh nghiệp xã hội phổ biến 44

2.1.5 Xu hướng của các doanh nghiệp xã hội trên toàn cầu 47

2.2 Cơ sở lý thuyết về hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội 50

2.2.1 Hệ sinh thái hỗ trợ DNXH và các khái niệm liên quan 50

2.2.2 Các cấu phần của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH 57

2.2.3 Vai trò của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH 61

2.2.4 Các yếu tố tác động đến hệ sinh thái hỗ trợ DNXH 64

2.2.5 Các tiêu chí đo lường sự phát triển của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH 66

2.3 Kinh nghiệm về hệ sinh thái hỗ trợ DNXH trên thế giới 73

2.3.1 Kinh nghiệm của nước Anh 73

2.3.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ 80

2.3.3 Những vấn đề có thể tham khảo cho Việt Nam……….84

Trang 5

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HỆ SINH THÁI

HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 89

3.1 Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam 89

3.1.1 Thực trạng DNXH Việt Nam và trường hợp nghiên cứu điển hình 89

3.1.2 Đánh giá về thực trạng DNXH ở Việt Nam 96

3.2 Thực trạng các cấu phần trong hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở Việt Nam 98

3.2.1 Chính sách – pháp lý 98

3.2.2 Hỗ trợ trung gian 102

3.2.3 Hỗ trợ tài chính 105

3.2.4 Đào tạo – nghiên cứu 109

3.2.5 Truyền thông 112

3.3 Đánh giá về hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở Việt Nam 115

3.3.1 Đánh giá các cấu phần theo các tiêu chí đo lường hệ sinh thái 115

3.3.2 Phân tích những khó khăn và hạn chế của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở Việt Nam 122

3.3.3 Phân tích những cơ hội để phát triển hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN 127 CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁIHỖ TRỢ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 132

4.1 Bối cảnh, quan điểm phát triển DNXH và hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở Việt Nam 132

4.2 Giải pháp xây dựng và phát triển hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở Việt Nam 136

4.2.1 Chính sách – pháp lý 136

4.2.2 Hỗ trợ trung gian 141

4.2.3 Hỗ trợ tài chính 143

4.2.4 Các tổ chức đào tạo và nghiên cứu 147

4.2.5 Các tổ chức truyền thông 149

4.3 Một số khuyến nghị phát triển doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam 153

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 160

PHỤ LỤC 1 173

PHỤ LỤC 2 176

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CFVG : Trung tâm Pháp-Việt đào tạo về Quản lý

CIC : Công ty lợi ích cộng đồng

CIEM : Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

CSIE : Trung tâm Khởi nghiệp và sáng tạo xã hội

CSIP : Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng CSR : Trách nhiệm xã hội

DNhXH : Doanh nhân xã hội

DNXH : Doanh nghiệp xã hội

ĐH KTQD : Đại học Kinh tế quốc dân

EC : Ủy ban Châu Âu

GĐĐH : Giám đốc điều hành

GEM : Giám sát khởi nghiệp kinh doanh toàn cầu

GERA : Hiệp hội các nhà nghiên cứu kinh doanh toàn cầu HanoiTV : Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các vấn đề đã được nghiên cứu về DNXH 31

Bảng 1.2 Bảng tổng hợp nội dung, mục đích và phương pháp nghiên cứu đã được thực hiện 33

Bảng 2.1 Khung khổ đánh giá hệ sinh thái cho khởi sự kinh doanh 67

Bảng 2.2 Bảng mô tả các tiêu chí đo lường hệ sinh thái kinh doanh 68

Bảng 2.3 Khung đánh giá hệ sinh thái hỗ trợ DNXH 70

Bảng 2.4 Các tác nhân/chủ thể trong hệ sinh thái DNXH ở Anh 75

Bảng 2.5 Tình hình kinh tế-xã hội Ấn Độ 81

Bảng 2.6 Tác động xã hội của DNXH ở Ấn Độ 81

Bảng 3.1 Nghiên cứu trường hợp của Koto 92

Bảng 3.2 Nghiên cứu trường hợp của Kym Việt 94

Bảng 3.3 Nghiên cứu trường hợp cấu phần xây dựng chính sách-pháp lý cho DNXH - CIEM 99

Bảng 3.4 Nghiên cứu trường hợp cấu phần hỗ trợ trung gian - CSIP 103

Bảng 3.5 Nghiên cứu trường hợp cấu phần hỗ trợ tài chính - Oxfam 106

Bảng 3.6 Nghiên cứu trường hợp cấu phần đào tạo-nghiên cứu - Trường Đại học Kinh tế quốc dân 110

Bảng 3.7 Nghiên cứu trường hợp cấu phần truyền thông - Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội 113

Bảng 3.8 Bảng đánh giá hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN 116

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 Khung phân tích 7

Hình 2.1 Đặc tính lai của DNXH 41

Hình 2.2 So sánh mô hình DNXH phi lợi nhuận, doanh nhân kinh doanh định hướng xã hội và DN kinh doanh truyền thống 46

Hình 2.3 Hệ sinh thái hỗ trợ DNXH 52

Hình 2.4 Hệ sinh thái cho khởi sự kinh doanh xã hội và sáng tạo xã hội 53

Hình 2.5 Hệ sinh thái cho sáng tạo xã hội 54

Hình 2.6 Hệ sinh thái kinh doanh 55

Hình 2.7 Hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội 56

Hình 2.8 Khung đánh giá hệ sinh thái cho khởi sự kinh doanh 68

Hình 2.9 Các cấu phần của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở Anh 75

Hình 3.1 Mô hình đánh giá hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN 117

Trang 9

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các doanh nghiệp ngày nay quan niệm rằng: “Có bánh mì trước thì mới có hoa hồng” nghĩa là phải tạo ra lợi nhuận trước thì mới có những thứ khác, mục tiêu hàng đầu để một doanh nghiệp theo đuổi là tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông Khác với doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp xã hội (DNXH) lại đặt mục tiêu vì lợi ích chung của cộng đồng làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động Đó chính

là lí do cơ bản nhất để DNXH ra đời và ngày càng phát triển trên khắp các châu lục Xuất phát từ nhu cầu thực tế hết sức cấp thiết đòi hỏi phải có một mô hình tổ chức

sử dụng những hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra giá trị xã hội, phục vụ lợi ích cộng đồng, DNXH đã trở thành một công cụ hữu hiệu mang tính toàn cầu Vì thế, ngày nay DNXH là xu thế tất yếu đang dần lan tỏa sự ảnh hưởng sâu rộng của mình khiến Chính phủ các nước phải quan tâm tạo dựng cho nó một vị thế quan trọng trong nền kinh tế - xã hội quốc gia Giữa một thế giới luôn biến động với nhiều vấn

đề xã hội như tình trạng đói nghèo, bệnh tật, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, người khuyết tật, các dân tộc thiểu số,…thì mô hình DNXH được coi như một giải pháp cho sự phát triển bền vững Việc giải quyết các vấn đề xã hội vốn là trách nhiệm của Chính phủ nhưng với ưu thế là một tổ chức không vì lợi nhuận mà theo đuổi mục tiêu vì cộng đồng, DNXH giúp giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước và trở thành đối tác hiệu quả để cùng nhau thực hiện những mục tiêu phát triển xã hội và môi trường

Trong bối cảnh xã hội hiện đại, con người ngày càng theo đuổi lối sống vị kỷ,

vô cảm như một cái máy, chỉ tập trung vào những lợi ích cá nhân ngắn hạn, văn hóa

bị mài mòn, những giá trị nhân bản nhân ái bị hạ bệ,…khiến cho nền kinh tế bị lũng đoạn, xã hội lệch lạc Vì vậy những vấn đề như trách nhiệm xã hội, văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, thương mại công bằng được tôn vinh trở thành những giá trị nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp cũng như của cả một quốc gia Một lần nữa, DNXH khẳng định vai trò quan trọng khi phát huy được những giá trị tốt đẹp trong kinh doanh

Với quan điểm mới cho rằng Nhà nước cần tinh giản nhỏ gọn và chuyển bớt

Trang 10

Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, nhà giáo dục, giới nghiên cứu, truyền thông,…Đặc biệt, điều này càng có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam hiện nay vẫn còn là một nước chưa hoàn toàn thoát khỏi tình trạng đói nghèo với mức thu nhập trung bình thấp, hậu quả chiến tranh vẫn còn dai dẳng kéo theo nhiều vấn đề về môi trường xã hội bộc lộ trong quá trình tăng trưởng kinh tế Bên cạnh

đó, VN cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức khác như: tái cơ cấu nền kinh

tế, duy trì mức tăng trưởng bền vững, nguồn lực hạn hẹp, văn bản pháp lý chưa rõ ràng, nhận thức còn non kém Trong bối cảnh nhiều khó khăn và thách thức như vậy, để phát triển và nhân rộng mô hình DNXH, cần phải có một hệ sinh thái hỗ trợ DNXH được thiết lập và vận hành một cách năng động, tích cực và toàn diện Có như vậy, những ý tưởng sáng tạo vì xã hội, kinh doanh vì xã hội sẽ được ươm mầm

và sinh sôi phát triển trong một môi trường thuận lợi và phát huy hiệu quả

Tuy vậy, ở Việt Nam (VN), hệ sinh thái hỗ trợ DNXH mới bắt đầu được hình thành với một số cấu phần cốt lõi Phát triển mô hình DNXH ở một đất nước có nền tảng tương đối thấp về nhiều mặt như ở nước ta là một cuộc hành trình gian nan và phức tạp Từ vấn đề lý thuyết cho đến thực tiễn ở nước ta đều còn hạn chế rất nhiều mặt Những năm gần đây, một số cơ quan/tổ chức nhà nước và tư nhân đã tham gia vào hệ sinh thái DNXH và có những hoạt động thiết thực nhằm mở đường và tạo đà cho DNXH phát triển Các cấu phần trong hệ sinh thái tuy đã bước đầu tạo ra những kết quả nhất định nhưng vấp phải nhiều khó khăn thách thức, bộc lộ nhiều hạn chế

và bất cập Điều này ngăn cản quá trình thúc đẩy DNXH phát triển hoặc làm chậm tiến trình lan tỏa và nhân rộng mô hình DNXH trên khắp cả nước

Cho đến nay, chưa có một khái niệm cụ thể rõ ràng về DNXH và hệ sinh thái cho DNXH, các hoạt động truyền thông lẻ tẻ và rải rác, chưa tạo nên được hiệu ứng tích cực từ phía công chúng và các đối tượng liên quan Bên cạnh đó, các nhà đầu tư

xã hội còn ít và rất kén chọn DNXH để đầu tư Các hoạt động tư vấn, nâng cao năng lực và trợ giúp trung gian mới chỉ dừng lại ở một không gian và đối tượng hạn hẹp, tần suất và số lượng ít dẫn đến mức độ tác động chưa mạnh mẽ Đặc biệt, sự tham gia của cơ quan nhà nước vào việc xây dựng và thi hành cơ chế chính sách cho DNXH đang bắt đầu có những bước đi đúng hướng, tuy nhiên chưa thực sự tạo ra động lực khuyến khích DNXH phát triển DNXH đã xuất hiện trong Luật DN 2014,

Trang 11

về cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật,… Hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN vẫn còn đang trong giai đoạn “manh nha” hình thành và phát triển, đây cũng là lý do khiến DNXH Việt Nam đã và đang tồn tại một cách tương đối manh mún, nhỏ lẻ, rời rạc,

tự phát Thậm chí, nhiều DNXH có ý tưởng, có triết lý kinh doanh rõ ràng nhưng đơn độc và không tránh khỏi vô số những rào cản, không trụ nổi trong điều kiện quá khắc nghiệt về vốn, thị trường, nhân lực, Mặc dù giới chuyên môn có nhiều kỳ vọng, nhưng thực tiễn cho thấy số lượng và chất lượng hoạt động của DNXH ở VN không tăng lên mà có dấu hiệu trầm xuống trong thời gian gần đây Nhiều DN mở

ra với tâm thế của doanh nhân xã hội, nhưng sau một thời gian vận hành đã hoàn toàn biến mất hoặc nếu tồn tại cũng không còn hoạt động như tôn chỉ ban đầu mà quay trở lại với vòng xoáy lợi nhuận để được tồn tại Họ không tìm được nguồn động viên, sự hỗ trợ kịp thời và đánh mất niềm tin tốt đẹp vào mô hình này

Ở nhiều quốc gia, sự tồn tại và phát triển của DNXH đã chứng minh rằng muốn phát triển toàn diện và bền vững thì không chỉ tập trung vào lợi nhuận của một nhóm người mà cần quan tâm đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội, mang lại

sự công bằng cho các thành phần khác nhau trong đất nước Việt Nam với chủ trương xây dựng một đất nước bình đẳng nhân ái trong sự phát triển bền vững thì hơn lúc nào hết cần có sự chung tay góp sức của tất cả các đối tượng hữu quan như Chính phủ, các tổ chức tài chính, tổ chức trung gian, giáo dục, truyền thông, nghiên cứu để tạo nên một hệ sinh thái hỗ trợ cho sự phát triển của DNXH Tất cả các nhân

tố đó kết nối với nhau thành một vòng tròn hệ sinh thái để DNXH được ươm mầm, sinh sôi và phát triển Để đóng góp vào sự phát triển của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH

ở VN, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam” làm đề tài của luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng thể:

Luận án làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH, nghiên cứu thực trạng hiện nay của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN, từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp phát triển hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở Việt Nam

Trang 12

+ Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về DNXH và hệ sinh thái hỗ trợ DNXH, trong đó tác giả đề xuất khái niệm mới và mô hình hệ sinh thái hỗ trợ DNXH và bộ tiêu chí đánh giá hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN;

+ Nghiên cứu và đánh giá thực trạng hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN dựa trên các tiêu chí đánh giá hệ sinh thái hỗ trợ DNXH;

+ Đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội ở

VN, trong đó bao gồm 5 cấu phần cơ bản là: khung pháp lý – chính sách, hỗ trợ trung gian, hỗ trợ tài chính, đào tạo và nghiên cứu, truyền thông Đồng thời, đề tài nghiên cứu một số doanh nghiệp xã hội như các trường hợp điển hình để thấy mức

độ tác động của hệ sinh thái DNXH đối với thực tiễn phát triển của DNXH ở VN

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Chủ đề chính được khai thác là thực trạng hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN, trong đó bao gồm các vấn đề liên quan đến khung pháp lý - chính sách, hỗ trợ trung gian, đào tạo-nghiên cứu, hỗ trợ tài chính, truyền thông

- Về không gian: Tại VN, DNXH và hệ sinh thái DNXH hiện nay chủ yếu tập trung ở hai trung tâm đô thị lớn là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Trong khuôn khổ luận án này, tác giả tiến hành nghiên cứu các chủ thể tham gia hệ sinh thái và các DNXH điển hình tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Từ đó có thể thấy được một cách rõ nét nhất bối cảnh hiện tại và mức độ phát triển hệ sinh thái DNXH ở VN

- Về thời gian: Tác giả nghiên cứu DNXH và hệ sinh thái DNXH ở VN trong giai đoạn từ 2007 đến 2017 bởi đó là thời điểm các khái niệm DNXH và hệ sinh thái DNXH bắt đầu “du nhập” vào VN và được đưa lên bàn nghị luận, đồng thời các DNXH VN và hệ sinh thái DNXH ở VN đang bắt đầu phát triển

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Những nhân tố/cấu phần nào tạo nên hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở Việt Nam?

Trang 13

- Làm thế nào để phát triển hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN trong điều kiện hiện nay?

4.2 Phương pháp luận

Trên cơ sở sử dụng phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, luận

án xem xét tổng thể các đối tượng có sự tác động qua lại lẫn nhau và đặt chúng trong sự vận động, phát triển liên tục

4.3 Phương pháp nghiên cứu

a) Thu thập dữ liệu và số liệu

- Dữ liệu thứ cấp: Tác giả thu thập từ các nguồn tài liệu sau:

+ Báo cáo của Chính phủ, Bộ, Ban ngành, số liệu của các cơ quan thống kê, các đơn vị nghiên cứu về các chủ đề liên quan;

+ Các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước được công bố trên báo và tạp chí có uy tín;

+ Các công trình nghiên cứu và sách, giáo trình, tài liệu tham khảo liên quan; + Báo cáo, phát biểu tại hội nghị, hội thảo quốc tế và trong nước

- Dữ liệu sơ cấp: tác giả thu thập từ các phương pháp sau:

+ Phương pháp quan sát tham dự: Tác giả vận dụng phương pháp này bằng

cách trở thành thành viên trong cộng đồng DNXH và mạng lưới các nhà nghiên cứu DNXH Trong khoảng thời gian từ giữa năm 2015 đến nay, tác giả đã tiếp cận với nhiều DNXH và các tổ chức liên quan để đạt được sự hiểu biết và nắm bắt tương đối đầy đủ về thực trạng các cấu phần của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH, từ đó giúp tác giả đưa ra được những đánh giá xác thực hơn

+ Phỏng vấn sâu: Tác giả tiến hành phỏng vấn 18 tổ chức thuộc các cấu phần

trong hệ sinh thái và các DNXH Những người tham gia phỏng vấn là những nhân vật chủ chốt của tổ chức cũng như của hệ sinh thái Phương pháp này giúp khám phá, tìm hiểu, làm rõ khái niệm và hiện tượng “chưa từng được giải quyết một cách thấu đáo bằng một mẫu nhất định hoặc một nhóm người, hay các lý thuyết hiện có không áp dụng với mẫu/nhóm cụ thể đang được nghiên cứu” (Morse, 1991) Theo

đó, phương pháp này giúp thu thập dữ liệu thông qua “sự tích cực của người được phỏng vấn và sự nhạy cảm với người tham gia nghiên cứu” (Creswell, 2002 )

Trang 14

chủ thể tham gia hệ sinh thái hỗ trợ DNXH tại hội thảo quốc tế về Tinh thần khởi nghiệp kinh doanh xã hội diễn ra tại Hà Nội, tháng 11/2017 Bảng hỏi đã được chuẩn bị từ trước với những câu hỏi được thiết kế nhằm làm rõ thực trạng của các cấu phần trong hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN Đối tượng được lựa chọn để tham gia khảo sát bao gồm các chủ thể tham gia hệ sinh thái hỗ trợ DNXH VN Sau khi thu thập và xử lý dữ liệu, kết quả thu được là bằng chứng để phân tích và đánh giá

hệ sinh thái hỗ trợ DNXH và là cơ sở để đề xuất các giải pháp

b) Xử lý dữ liệu, số liệu

- Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa kết hợp với

so sánh đối chiếu nguồn dữ liệu nhằm làm rõ cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) được dùng để làm sáng tỏ hiện tượng về các cấu phần trong hệ sinh thái hỗ trợ DNXH Phương pháp này là

“một cuộc điều tra thực nghiệm mà thông qua đó xem xét hiện tượng đương thời trong bối cảnh thực tiễn, đặc biệt khi ranh giới giữa hiện tượng và bối cảnh không được rõ ràng”, Yin (2008)

- Phương pháp SWOT được áp dụng trong quá trình phân tích những điểm mạnh, yếu, cơ hội - thuận lợi và khó khăn-thách thức của các cấu phần trong hệ sinh thái hỗ trợ DNXH

- Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để xử lý dữ liệu điều tra khảo sát

ý kiến các chủ thể tham gia hệ sinh thái Thông qua tổng hợp ý kiến các chủ thể này, tác giả đánh giá được mức độ tác động của mỗi cấu phần đối với sự phát triển của DNXH ở Việt Nam

4.4 Khung phân tích

Từ kết quả phân tích làm rõ cơ sở lý thuyết của luận án, tác giả đưa ra khung phân tích của luận án như hình vẽ sau:

Trang 15

Hình 1.1 Khung phân tích

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Vấn đề về DNXH và hệ sinh thái hỗ trợ DNXH đã được thế giới đề cập đến

từ những năm 1980, tuy nhiên ở Việt Nam thì đây là vấn đề còn rất mới và chưa có nhiều kết quả nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này Một số nhà nghiên cứu đã tiếp cận với đề tài này nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ khai phá ban đầu hoặc cách tiếp cận chưa mang tính toàn diện, hệ thống Luận án này là một công trình nghiên cứu tổng quát và chuyên sâu, mang lại những đóng góp mới về khoa học như sau:

- Luận án đưa ra mô hình mới cho hệ sinh thái hỗ trợ DNXH với 5 cấu phần

cơ bản (chính sách-pháp lý, hỗ trợ trung gian, đào tạo-nghiên cứu, hỗ trợ tài chính, truyền thông) dựa trên cơ sở nghiên cứu mô hình hệ sinh thái trong lĩnh vực kinh doanh ở các quốc gia khác kết hợp với nghiên cứu thực tiễn hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở Việt Nam hiện nay Mô hình này có thể được tham khảo hoặc sử dụng để các nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển các công trình tiếp theo với những cách tiếp

Khung khái niệm hệ sinh thái hỗ trợ DNXH

1 Khái niệm và nội hàm của DNXH

2 Khái niệm và nội hàm của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH

Giải pháp phát triển hệ sinh thái hỗ trợ

DNXH ở Việt Nam

1 Giải pháp đối với DNXH

2 Giải pháp đối với 5 cấu phần của hệ sinh thái

hỗ trợ DNXH

Các tiêu chí đánh giá

Trang 16

án đã đưa ra Bộ tiêu chí đo lường hệ sinh thái hỗ trợ DNXH tại VN, trong đó bao gồm 6 tiêu chí cơ bản (số lượng, kết nối, nguồn lực, thuận lợi, kết quả, tinh thần xã hội) Kết quả này góp phần phát triển hệ thống đo lường và đánh giá hệ sinh thái trong lĩnh vực kinh tế nói chung ở một quốc gia hay địa phương Đây cũng có thể được xem như một Bộ tiêu chí chuẩn mực để tham khảo hoặc sử dụng trong việc đánh giá thực trạng của hệ sinh thái hỗ trợ DNXH nói riêng

- Đề tài Hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở Việt Nam được nghiên cứu trong bối cảnh cụ thể của đất nước và được đặt trong sự so sánh đối chiếu với xu hướng phát triển DNXH trên toàn thế giới hiện nay Thông qua đó, tác giả đã làm nổi bật bức tranh tổng thể về hệ sinh thái hỗ trợ DNXH ở VN với những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn của mỗi cấu phần Những điều này có thể làm giàu thêm những hiểu biết, cung cấp thêm những tri thức mới, góp phần làm thay đổi thái độ và hành

vi của cộng đồng xã hội đối với một lĩnh vực mới, một loại hình doanh nghiệp mới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án đã tiến hành tổng hợp cơ sở lý luận về DNXH và hệ sinh thái hỗ trợ DNXH Kết quả này đóng góp vào quá trình hệ thống hóa và phát triển cơ cở lý thuyết nền tảng về DNXH và hệ sinh thái hỗ trợ DNXH

- Luận án tiếp cận, phân biệt và làm rõ các khái niệm khác nhau xoay quanh khái niệm chính là hệ sinh thái hỗ trợ DNXH Điều này giúp mở rộng và thống nhất

về nhận thức và lý luận của một phạm trù trong khoa học quản lý còn mới và gây nhiều tranh luận ở Việt Nam và trên thế giới

- Luận án đã đề xuất mô hình hệ sinh thái hỗ trợ DNXH cho Việt Nam bao gồm năm cấu phần tham gia và bộ tiêu chí đánh giá hệ sinh thái gồm sáu thành tố Những kết quả này vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa đóng góp thêm cho thực tiễn

cơ sở nền tảng để tiếp tục phát triển trong tương lai

- Kết quả của luận án là những dữ liệu thu thập được về thực trạng hệ sinh thái

hỗ trợ DNXH một cách chọn lọc và cập nhật dưới những góc nhìn mới Thông qua

đó, bối cảnh thực tiễn hiện lên một cách tổng quát, đầy đủ và chân thực, đó là nguồn thông tin có giá trị đối với các tác nhân trong hệ sinh thái nhằm vận dụng vào quá trình nghiên cứu và thực hành trong lĩnh vực của mình

Trang 17

hỗ trợ DNXH ở Việt Nam nói chung và giải pháp cho các DNXH nói riêng Điều này có ý nghĩa thực tiễn đối với các tác nhân trong hệ sinh thái, đặc biệt, những nhà quản lý, người hoạch định chính sách, các nhà quản trị chiến lược có thể lấy làm cơ

sở để đưa ra định hướng và lựa chọn giải pháp phát triển tổng thể cho hệ sinh thái

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cam đoan, trang bìa và phụ bìa, danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt, danh mục bảng hình, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành bốn chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu;

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế về hệ sinh thái hỗ trợ DNXH; Chương 3: Thực trạng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam;

Chương 4: Phương hướng và giải pháp phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp

xã hội ở Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

Tổng quan trong nước và quốc tế dưới đây khái quát các công trình nghiên cứu, các bài viết theo hai chủ để chính: Doanh nghiệp xã hội và hệ sinh thái hỗ trợ các doanh nghiệp xã hội Trong đó, chủ đề DNXH bao gồm những nội dung về: khái niệm, bối cảnh, thực tiễn, vai trò và một số vấn đề liên quan; chủ đề hệ sinh thái hỗ trợ DNXH bao gồm những nội dung tổng quát nhất đến những vấn đề nội hàm của hệ sinh thái DNXH như thể chế, chính sách, luật, truyền thông, tài chính, nghiên cứu-giáo dục-đào tạo và các vấn đề liên quan

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1.1 Các nghiên cứu về DNXH

Trong hơn 2 thập niên trở lại đây, các nghiên cứu về DNXH đã gia tăng mạnh

mẽ cả về số lượng và chất lượng trên toàn thế giới, bằng chứng là “rất nhiều hội nghị, hội thảo, kết quả nghiên cứu và tạp chí học thuật dành riêng cho lĩnh vực này liên tục xuất hiện, đặc biệt là ở các quốc gia bên bờ Đại Tây Dương” (S Bacq & F Janssen, 2011) Theo một nghiên cứu của Pontus Braunerhjelm và cộng sự (2012),

có 350 giáo sư nghiên cứu và giảng dạy về kinh doanh xã hội, số lượng bài báo tạp chí viết về DNXH tăng 750% trong giai đoạn 1991-2009, đồng thời các quỹ tài trợ cho DNXH được bổ sung thêm liên tiếp với những con số ấn tượng Điều này cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng của các quốc gia và các tổ chức đối với loại hình doanh nghiệp này Đã có một sự công nhận về lĩnh vực này từ phía khu vực công cũng như các học giả (Weerawardena & Sullivan Mort 2006; Nicholls 2008) và DNXH đã trở thành một hiện tượng kinh tế quan trọng với quy mô toàn cầu (Mair

& Marti, 2006)

Khái niệm “Doanh nghiệp xã hội”

Thuật ngữ doanh nghiệp xã hội (DNXH) nổi lên trong giới học thuật từ cuối những năm 1990 ở Mỹ và Anh (Boschee, 1995; Dees 1998a; Thompson, Alvy & Lees, 2000; Drayton, 2002) Các tác giả cho rằng đây là sự kết hợp niềm đam mê về một sứ mệnh xã hội với nguyên tắc, sáng tạo và sự quyết tâm của doanh nhân (Dees, 1998), một ý tưởng mới đầy sức mạnh kết hợp với tầm nhìn xa và khả năng sáng tạo để giải quyết những vấn đề trong thế giới thực, họ là những người có nền

Trang 19

tảng đạo đức vững chắc và có tầm nhìn về sự thay đổi (Bornstein, 1998) Trong khi

đó, Thompson, Alvy và Lees (2000) cho rằng DNXH là nơi tập trung những nguồn lực cần thiết để đáp ứng một số nhu cầu của xã hội mà hệ thống phúc lợi nhà nước

sẽ không hoặc không thể đáp ứng được Theo một cách khác, Johnson (2000) cho rằng DNXH được hình thành như các tổ chức đặc trưng bao gồm một tập hợp các sáng kiến và định hướng xã hội Borzaga và Defourny (2001) lại nhìn nhận DNXH như một cách thức làm sáng tỏ tính năng động của các tổ chức và hợp tác xã phi lợi nhuận thông qua những hoạt động kinh doanh tập thể và tập trung vào mục tiêu xã hội

Trong những năm tiếp theo, khái niệm về DNXH tăng lên nhiều hơn và rõ ràng hơn khi nhấn mạnh vào những yếu tố cụ thể hoặc có sự phân biệt với một số tổ chức, hoạt động khác Ashoka Foundation (2007) đặc biệt tập trung vào khía cạnh

xã hội và những tác động xã hội, Nicholls (2006) nhấn mạnh vào năng lực giải quyết các vấn đề xã hội theo những cách thức đổi mới và sáng tạo Các định nghĩa

có thể khác nhau nhiều ở cách tiếp cận nhưng cũng có nhiều tác giả hướng đến cái nhìn bao quát hơn DNXH được hiểu là cách tiếp cận dựa vào thị trường để giải quyết các vấn đề xã hội (Kerlin, 2006) hay là sử dụng các hoạt động kinh doanh với mục đích xã hội (Austin et al., 2006) Về cơ bản DNXH khác với doanh nghiệp tư nhân, khu vực công và các tổ chức phi lợi nhuận truyền thống (Royce, 2007) DNXH là một mô hình sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề xã hội khi nó được dẫn dắt bởi chiến lược tạo ra giá trị kép cả về kinh tế và xã hội (Alter, 2004) Vì vậy, loại hình kinh doanh này làm mờ ranh giới truyền thống giữa khu vực tư nhân

và khu vực công, tạo ra doanh nghiệp lai ghép (Johnson, 2000; Doherty, Helen Haugh, Fergus Lyon, 2014; Ofer Eldar, 2017) Hiểu rộng hơn, Haugh (2007) cho rằng DNXH là mô hình theo đuổi đồng thời ba mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường, trong khi đó, Dees (2001) có một cái nhìn lý tưởng hơn khi cho rằng DNXH

là sự kết hợp giữa hoạt động kinh doanh và tổ chức xã hội và các doanh nhân xã hội như là các tác nhân làm thay đổi xã hội Có thể thấy rằng, trong nền kinh tế hiện đại, có rất nhiều loại tổ chức kinh doanh khác nhau như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp gia đình, tập đoàn kinh tế, hợp tác xã, các loại

Trang 20

theo lợi nhuận mà chạy theo lợi ích của người sử dụng hay đem lại lợi ích nào đó cho một nhóm người trong cộng đồng xã hội (Filipe M Santos, 2009) Như vậy, đặc tính lai ghép của DNXH được nhiều tác giả chấp thuận bằng những cách diễn đạt khác nhau Bob Doherty, Helen Haugh và Fergus Lyon (2014) đã đặc biệt nhấn mạnh sự khác biệt và cũng là điểm thu hút nhất của DNXH là ở tính lai ghép, tức là cùng lúc theo đuổi nhiệm vụ kép là bền vững cả về tài chính và về xã hội

Lĩnh vực này cũng thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức uy tín hay sự đầu tư nghiên cứu của cơ quan các cấp thuộc nhà nước Để chỉ ra những tiêu chí rất cụ thể

về một DNXH, Báo cáo của Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP) và Mạng lưới nghiên cứu Châu Âu (EMES) (2008) đã định nghĩa DNXH “là các tổ chức tư nhân không vì lợi nhuận, cung cấp hàng hóa và dịch vụ với mục tiêu rõ ràng

là mang lại lợi ích cho cộng đồng Họ dựa trên tính năng động tập thể với một bộ máy điều hành gồm các bên liên quan, họ nâng cao giá trị về quyền tự chủ và phải hứng chịu những rủi ro kinh tế từ những hoạt động của mình” Theo đó, UNDP và EMES xây dựng ba tiêu chuẩn về kinh tế và ba tiêu chuẩn về xã hội đối với DNXH

Ba tiêu chí về kinh tế là (1) Các DNXH gắn liền với các hoạt động kinh tế sản xuất hàng hóa và/hoặc cung cấp dịch vụ, (2) DNXH có mức độ hoạt động độc lập với chính quyền, (3) Người lao động tham gia công việc được trả lương Ba tiêu chuẩn

về xã hội là (1) Mục đích của DNXH là đem lại lợi ích cho cộng đồng xã hội, (2) Quyền ra quyết định không dựa vào vốn chủ sở hữu mà theo phong cách dân chủ, (3) DNXH không bao gồm các tổ chức tối đa hóa lợi nhuận Khái niệm của EMES được thiết kế để tăng cường thêm khái niệm “khu vực thứ ba” bằng cách làm sáng

tỏ tính năng động của việc kinh doanh tập trung vào mục tiêu xã hội đồng thời cũng nắm bắt xu hướng phát triển của lĩnh vực dịch vụ xã hội Trong khi đó, Chính phủ Anh, nơi được cho là chiếc nôi của DNXH, cho rằng DNXH là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu (Department for Business, Innovation and Skills, 2011) Theo

đó, các đặc điểm nổi bật của DNXH được cho là : (1) theo đuổi mục tiêu xã hội, (2) việc phân phối phi lợi nhuận hạn chế, (3) chuyển nhượng quyền sở hữu và kiểm soát cho các bên liên quan nhiều hơn các nhà đầu tư với một mô hình quản trị mở

Trang 21

và có sự tham gia của các bên Việc loại bỏ bản chất tối đa hóa lợi nhuận là một tiêu chí quan trọng để xác định DNXH

Như vậy, khái niệm về DNXH, kinh doanh xã hội ra đời được khoảng gần ba mươi năm Cho đến nay, đã có khá nhiều khái niệm đến từ các giới học thuật cũng như những người thực hành và các tổ chức và xu hướng vẫn không ngừng gia tăng những nghiên cứu trong tương lai nhằm tìm kiếm một khái niệm thống nhất và chuẩn xác với những đặc điểm chung nổi bật nhất

Lịch sử và vai trò của DNXH

Trong khi khái niệm “doanh nghiệp xã hội” hay "doanh nhân xã hội" xuất hiện chưa được bao lâu thì việc thực hành về kinh doanh xã hội đã có từ lâu Chẳng hạn như năm 1665, Thomas Firmin (Anh) thành lập một xí nghiệp cung cấp việc làm cho 1.700 công nhân đang thất nghiệp, đồng thời chuyển lợi nhuận cho các quỹ từ thiện (CIEM, CSIP & BC và cộng sự, 2012), Florence Nightingale (Anh) đã thực hiện một cuộc cách mạng để cải thiện điều kiện của bệnh viện vào cuối những năm

1800 (Bornstein, 2007), John Durand làm việc với những người chậm phát triển tâm thần vào đầu những năm 1960 (Alter, 2007) Đây là những ví dụ về những người đã mang lại sự thay đổi cho xã hội mà chúng ta có thể gọi họ là doanh nhân xã hội thông qua những hoạt động trong tổ chức của họ Càng về sau càng đa dạng hóa nhiều mô hình khác nhau với các loại hình kinh doanh phong phú và nhiều lĩnh vực,

ở nhiều quốc gia tạo nên những tác động to lớn cả về mặt kinh tế và xã hội

Ở các quốc gia đang phát triển, DNXH đang khá thành công và nổi bật khi triển khai kinh doanh dựa trên việc giải quyết những nhu cầu cơ bản của con người (Seelos & Mair, 2005), chẳng hạn như cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục thấp để cho người nghèo hay thực hiện hệ thống vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch cho vùng nông thôn,…Các doanh nhân xã hội thường bắt đầu công việc ở một khu vực địa phương với mục tiêu giải quyết một vấn đề đang tồn tại ở nơi đó, và nếu giải pháp của họ thành công, được nhân rộng ra nhiều khu vực khác trong nỗ lực giải quyết vấn đề mang tính toàn cầu (ví dụ như vấn đề về nước, rác thải, tài chính vi

mô, vv…) thì giải pháp đó được coi là sáng tạo xã hội có ý nghĩa làm thay đổi xã hội Còn ở một số nước phát triển, các hoạt động kinh doanh xã hội là một hiện

Trang 22

hội vận hành một DNXH ngày càng tăng, thậm chí có thể coi như một hiện tượng quan trọng (Harding, 2006)

Vì vậy, giới nghiên cứu đã tổng hợp khá nhiều vai trò khác nhau của DNXH Nicholls (2008, 23) cho rằng DNXH thực hiện một tập hợp các hoạt động sáng tạo

và hiệu quả nhằm tập trung vào giải quyết những thất bại của thị trường và tạo ra những cơ hội mới để tăng thêm giá trị xã hội một cách hệ thống Mặt khác, DNXH được xem như một hình thức kinh doanh mới tạo ra sự giàu có về mặt xã hội nhiều hơn là tạo ra sự giàu có về kinh tế (Dees, 2001; Drayton, 2002; Leadbeater, 1997) Bên cạnh đó, các hoạt động của DNXH đã có những tác động kinh tế sâu rộng, góp phần vào sự tăng trưởng, giảm nghèo và thúc đẩy phát triển xã hội ở quy mô lớn (Yunus & Weber, 2008) Chẳng hạn như, ở khu vực Trung và Đông Âu, đặc biệt là Cộng đồng các quốc gia độc lập (CEE và CIS) đang phải đối mặt với những chi phí

xã hội do sự chuyển đổi kinh tế và chính trị diễn ra từ năm 1990 thì sự xuất hiện của DNXH đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề quan trọng trong xã hội như: tạo việc làm, tăng cường sự hòa nhập xã hội của những người thiệt thòi, cung cấp các hàng hóa công ích cơ bản và dịch vụ xã hội cho cộng đồng địa phương (bao gồm cả những người không có khả năng chi trả), và đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống và góp phần vào sự phát triển kinh tế cho người yếu thế hoặc cộng đồng vùng sâu vùng xa (EMES & UNDP, 2008) Như Pestoff (1998) đã nói, DNXH có khả năng thúc đẩy cách thức sáng tạo của sự tham gia vào quá trình dân chủ và trao quyền, khi đó các công dân có được vị trí tốt nhất để cam kết với chính mình về một sự phát triển kinh tế, xã hội trong cộng đồng của họ

DNXH có những nét tương đồng với hoạt động trách nhiệm xã hội (CSR) và sáng kiến xã hội của doanh nghiệp (CSI) và đôi khi giống với thương mại công bằng (Fair Trade) Nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi mà các vấn đề xã hội, kinh

tế và môi trường ngày càng phức tạp với cường độ mạnh thì các giá trị này càng thể hiện được vai trò quan trọng Tuy nhiên, nét tương đồng là cùng mục tiêu vì sự phát triển của cộng đồng xã hội, còn cách thức hoạt động và tổ chức lại rất khác nhau DNXH cũng có nét tương đồng với các tổ chức thiện nguyện, từ thiện hay tổ chức hoạt động xã hội ở chỗ đều là những tổ chức phi lợi nhuận Tuy nhiên, sự khác biệt

là các tổ chức này theo đuổi thuần túy các giá trị xã hội như nhân quyền, sự bình đẳng, công bằng xã hội, tự do ngôn luận, quyền lợi con người, sự bác ái, tính nhân

Trang 23

văn Còn các DNXH bản chất là không bao gồm những giá trị cụ thể mà là tạo ra giá trị bởi nó đóng vai trò trong cả lĩnh vực kinh tế và xã hội (Filipe M Santos, 2009) Mục tiêu lớn nhất của DNXH là tạo ra giá trị cho xã hội thông qua việc “đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho con người như cung cấp thực phẩm, nước, nhà ở, giáo dục, y tế” (Certo & Miller, 2008) hay “các hoạt động liên quan đến cơ hội làm tăng thêm sự giàu có của xã hội” (Filipe M Santos, 2009) và mang lại cơ hội bình đẳng hơn cho con người

Trong lĩnh vực công, kinh doanh xã hội tạo ra một bước ngoặt về kế hoạch và chính sách xã hội đã diễn ra tại Châu Âu từ những năm 1980 (Dees, 2001) Có ba động lực ở cấp vĩ mô khiến cho các hoạt động kinh doanh xã hội càng trở nên nổi bật trên khắp thế giới Thứ nhất là do tình trạng suy giảm việc cung cấp dịch vụ và sản phẩm xã hội từ khu vực công đã góp phần làm gia tăng nhu cầu chưa được đáp ứng (Light, 2008) Thứ hai là sự mất cân bằng trong phân phối thu nhập ở cả những nước phát triển và đang phát triển đã làm tăng nhu cầu về một mô hình và chiến lược kinh doanh mới (Bornstein, 2004) Cuối cùng, trong ngành phi lợi nhuận, ngày càng gia tăng sự cạnh tranh để được tài trợ, do đó, các DNXH ngày càng đạt đến độ chuyên nghiệp hóa với mục tiêu giảm phụ thuộc về tài chính và đảm bảo ổn định kinh tế để phát triển sứ mệnh xã hội (Perrini, 2006) Như vậy, với những phân tích trên, Pontus Braunerhjelm & Ulrika Stuart Hamilton (2012) cho rằng DNXH đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các chính phủ thực hiện phúc lợi xã hội và ngày càng trở nên hiệu quả ở nhiều quốc gia nhờ vào nỗ lực hoạt động sáng tạo, bền vững và đảm bảo mục tiêu xã hội

Ở một góc độ nào, người chủ DNXH cũng có những đặc điểm tương đồng với doanh nhân kinh doanh truyền thống Họ là những người có tầm nhìn và cơ hội, có khả năng thuyết phục và trao quyền cho người khác để giúp họ biến ý tưởng của mình thành hiện thực (Catford 1998) Tuy nhiên, sự khác biệt chính là ở chỗ doanh nhân xã hội thường có tầm nhìn về những gì mà họ muốn giải quyết trong khu vực

xã hội hoặc họ kinh doanh xuất phát từ động cơ đạo đức xã hội" (Nicholls 2008, 20) Vì vậy, về tổng thể, DNXH hay doanh nhân xã hội đều thể hiện những hành vi gắn liền với một mục tiêu tạo ra giá trị xã hội (Dees 1998a, b; Schwab Foundation,

Trang 24

hành vi kinh doanh không phải để phục vụ cho lợi ích của riêng họ Điều này được thể rất rõ thông qua việc sử dụng lợi nhuận Họ coi lợi nhuận kinh doanh như một phương tiện để giải quyết các vấn đề xã hội và họ sử dụng lợi nhuận đó để tiếp tục phục vụ lợi ích của cộng đồng chứ không phải để chia cho các cổ đông như ở doanh nghiệp truyền thống Có thể thấy một sự khác biệt ở các doanh nhân xã hội là họ không giống như những ông chủ doanh nghiệp điều hành bằng cách gây áp lực và bị

áp lực bởi “lợi nhuận”, mà họ xuất hiện để khai thác các cơ hội tạo ra giá trị đã bị

bỏ rơi bởi các tổ chức khác, đồng thời phát triển giải pháp bền vững cho các vấn đề

ở địa phương nhưng có tác động toàn cầu (Filipe M.Santos, 2009)

Như vậy, với lợi thế là một mô hình kinh doanh phi lợi nhuận và theo đuổi mục tiêu phát triển xã hội bền vững, DNXH trở thành đối tác hiệu quả của Nhà nước trong việc cung cấp phúc lợi xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, mang lại môi trường sống bình đẳng và an toàn Đó là lí do vì sao DNXH đang phát triển mạnh mẽ với tầm ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trên toàn thế giới

Các mô hình và hình thức pháp lý cho doanh nghiệp xã hội

Trên thế giới, hai khu vực mà DNXH phát triển mạnh mẽ nhất là Mỹ và Châu

Âu Ở các khu vực khác, loại hình DNXH mới nổi chưa lâu và có sự phát huy kế thừa nhiều đặc điểm từ hai khu vực lớn nhất này Vì vậy, hầu hết các nghiên cứu về DNXH hiện nay đã và đang tập trung nhiều ở hai vùng địa lý này với những sự so sánh đối chiếu trên nhiều phương diện Xuất phát từ một đặc điểm khác nhau về nguồn gốc của DNXH là DNXH ở Châu Âu vốn bắt nguồn từ loại hình hợp tác xã còn ở Mỹ lại bắt nguồn từ các tổ chức/hoạt động từ thiện, do vậy, những mô hình hoạt động như một DNXH trong thời đại ngày nay ở những quốc gia này cũng có những đặc điểm khác biệt nhất định

Các DNXH ở Mỹ có thể xuất hiện dưới hình thức là các công ty một chủ sở hữu, tập đoàn, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, tổ chức phi lợi nhuận và tổ chức vì lợi nhuận (Giulia Galera & Carlo Borzaga, 2009), và cũng có thể nằm trong một tổ chức thuộc khu vực công (với một số điều kiện nhất định) (Pontus Braunerhjelm and Ulrika Stuart Hamilton, 2012) Tuy nhiên, trong nhiều năm qua ở Mỹ vẫn không có khung khổ pháp lý mới nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh ngày càng tăng của các tổ chức phi lợi nhuận cung cấp dịch vụ (Kerlin, 2006) Trong khi đó, ở Châu Âu có một sự phát triển tương đối nhanh về chính sách

Trang 25

và pháp lý cho DNXH khiến loại hình này nhanh chóng trở thành mô hình chiếm ưu thế để thực hiện mục đích xã hội (Hall, et al., 2010), ngày càng mở rộng về quy mô,

đa dạng về hình thức pháp lý Ban đầu, hầu hết DNXH ở đây có hình thức pháp lý

là hợp tác xã, hiệp hội Các hiệp hội được phép tự do bán hàng hóa và dịch vụ trên thị trường mở, còn hợp tác xã có những biểu hiện thú vị hơn khi họ có đặc điểm kinh doanh rõ ràng” (Giulia Galera & Carlo Borzaga, 2009) DNXH hoạt động dưới hình thức hợp tác xã được ghi nhận thông qua những hoạt động cụ thể như cung cấp dịch vụ xã hội hoặc tạo cơ hội hội nhập công việc Vì vậy, mô hình này đã vượt ra ngoài ranh giới của một hợp tác xã và làm suy yếu mô hình hợp tác xã truyền thống, nơi mà tập trung vào lợi ích của các thành viên (Levi, 1999)

Mới đây, Chính phủ Anh đã tiên phong “khai sinh” một hình thức mới hay còn được gọi là “thương hiệu mới” dành riêng cho những mô hình thuần túy là DNXH

Đó là Công ty lợi ích cộng đồng (CIC) Loại hình công ty này được thiết kế cho những doanh nghiệp muốn sử dụng lợi nhuận và tài sản của mình để đem lại lợi ích cho công chúng một cách tốt hơn Vương quốc Anh thành lập CIC nhằm bổ sung cho các dịch vụ cộng đồng của Chính phủ trong các lĩnh vực như: chăm sóc trẻ em, nhà ở xã hội, giao thông cộng đồng và giải trí (Regulator of CIC, 2007) Ở Ý cũng hình thành hình thức pháp lý cho DNXH Theo Luật Ý, tất cả các tổ chức (bao gồm

cả hợp tác xã, các công ty có nhà đầu tư là chủ sở hữu, hoặc các công ty phi lợi nhuận truyền thống như các hiệp hội) nếu đủ điều kiện đều được coi là DNXH, bất chấp cơ cấu tổ chức của họ là gì Để được công nhận như DNXH, các công ty/doanh nghiệp (dưới bất kì hình thức nào) phải tuân theo hai yêu cầu bổ sung là bản hạch toán xã hội và thực hiện các cơ chế có lợi cho người sử dụng và người lao động (Giulia Galera & Carlo Borzaga, 2009) Dần dần, nhiều quốc gia khác ở Châu

Âu cũng đưa DNXH vào khuôn khổ pháp lý vào những năm đầu của thế kỷ XX Xu hướng này nhằm mở rộng tập hợp các hoạt động của DNXH – một loại hình DN cam kết cao trong việc cung cấp các dịch vụ lợi ích chung, trong đó bao gồm cả dịch vụ văn hóa và giải trí, các hoạt động bảo vệ và tái tạo môi trường, nhà ở xã hội, các dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh tế trong những cộng đồng cụ thể (Giulia Galera, Carlo Borzaga, 2009) Riêng ở Phần Lan, có quy định về DNXH là phải tích hợp

Trang 26

nhau vẫn được chấp nhận ở nhiều quốc gia Họ có thể là những thực thể kinh tế nhất định nhưng chấp nhận cam kết thực hiện mục tiêu xã hội Tuy nhiên, để không bị trục lợi từ cơ chế mở này, các công ty/doanh nghiệp này phải xuất trình một báo cáo đặc biệt hàng năm về kết quả đạt được của mục tiêu phúc lợi xã hội

Nghiên cứu về các hình thức DNXH, tác giả Kim Alter (2007) đã phá vỡ những đường biên giới truyền thống giữa lĩnh vực tư nhân và phi lợi nhuận khi lấy dẫn chứng về mô hình DNXH Tác giả Kim Alter đã phát hiện ra các tổ chức kết hợp như thế nào giữa những giá trị và mục tiêu xã hội với các chiến lược kinh doanh; họ đã đi lên như thế nào với mô hình sở hữu, lợi nhuận, chiến lược vốn, quản trị và hệ thống dịch vụ được thiết kế nhằm mang lại giá trị tối đa cho xã hội Tác giả phân loại những mô hình khác nhau của DNXH để thấy được quang cảnh năng động, đa dạng và không cố định của lĩnh vực mới nổi này Tác giả đã tiến hành phân tích tình hình DNXH trong bối cảnh cụ thể và giới thiệu một số mô hình hoạt động phổ biến được phân theo 3 nhóm chính là: (1) Nhóm các mô hình cơ bản như mô hình thị trường trung gian, mô hình việc làm, mô hình hợp tác, mô hình khách hàng thu nhập thấp; (2) Nhóm các mô hình kết hợp bao gồm mô hình phức hợp, mô hình hỗn hợp; (3) Nhóm các mô hình nâng cao như mô hình chuyển nhượng, mô hình đối tác tư nhân-phi lợi nhuận Những yếu tố mà tác giả lấy làm cơ

sở để phân loại DNXH bao gồm: khách hàng, thị trường, chương trình dịch vụ xã hội, định hướng nhiệm vụ, mục tiêu tài chính Tác giả cũng xem xét cơ cấu DNXH trên khía cạnh pháp lý và sở hữu Với những nghiên cứu tình huống, tác giả đã minh chứng một cách rõ nét cho các mô hình DNXH trên thực tế

Nghiên cứu về quản trị DNXH

Song song với thực tiễn phát triển mạnh mẽ của DNXH trong 10 năm trở lại đây, trong giới học thuật cũng xuất hiện những nghiên cứu về vấn đề quản trị DNXH Một số kết quả nghiên cứu sau đây có tính hệ thống và tương đối toàn diện

đã tạo nền tảng cho những nghiên cứu trong tương lai

Mạng lưới nghiên cứu Châu Âu (EMES) và UNDP (2008) đã nêu lên một thực trạng về DNXH ở các quốc gia CEE và CIS Đó là những rào cản hạn chế sự phát triển của DNXH như: thiếu một môi trường hỗ trợ, bị hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn lực, khung thể chế chưa phù hợp, môi trường pháp lý còn đầy mâu thuẫn, xử lí hành chính mang tính đặc quyền của một số tổ chức và hệ thống chính

Trang 27

trị không ổn định Từ tình hình thực tiễn đó, EMES và UNDP đã xác định ba xu hướng phát triển chính là: (1) thể chế hóa các DNXH ; (2) các doanh nghiệp tích hợp được những người yếu thế làm việc sẽ được tạo nhiều ưu thế hơn; (3) huy động

sự sáng tạo của các công ty con - thuộc sở hữu của các tổ chức hoặc hiệp hội – nhằm quyên góp tiền để hỗ trợ các hoạt động xã hội Trên cơ sở những phân tích trên, EMES và UNDP đã đề xuất những chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của DNXH, trong đó đặc biệt tập trung vào việc tạo ra khung pháp lý và các biện pháp tài chính hỗ trợ cho DNXH

Trong công trình nghiên cứu do Heather Douglas và Suzannes Grant (2014) chủ biên gồm có 3 phần cơ bản: (1) Những nguyên tắc của DNXH và tinh thần kinh doanh xã hội; (2) Những khái niệm; (3) Nghiên cứu trong bối cảnh Trong đó, một

số kết quả nghiên cứu về kinh doanh xã hội trong mối quan hệ với chính phủ và sự quản lý; tầm ảnh hưởng của chính phủ, đặc biệt là ảnh hưởng từ những chính sách của chính phủ đối với sự phát triển của đầu tư xã hội ở Ốt-trây-lia Một trong những đóng góp quan trọng trong công trình này là đã tập trung vào những vùng địa lý trong một quốc gia – đặc biệt là những vùng có bản sắc văn hóa đặc trưng tách biệt hẳn so với văn hóa của quốc gia ngự trị Chẳng hạn như Dey và Grant tìm hiểu xem làm thế nào nền di sản văn hóa Maori ở New Zealand cung cấp được những giá trị

cơ bản cho các hoạt động của DNXH mà vẫn mang lại lợi ích cho cả bộ lạc lẫn cộng đồng rộng lớn

Ba tác giả Bob Doherty, Helen Haugh và Fergus Lyon (2014) đã đề cập đến tác động của tính lai ghép đối với việc quản trị các nhiệm vụ của DNXH, tiếp cận nguồn tài chính và huy động nguồn lực con người Đồng thời, tính lai ghép đó cũng tạo ra những áp lực và sự đánh đổi Thông qua quá trình xem xét sự ảnh hưởng của nhiệm vụ kép nói trên và tranh luận về tính lô-gic của thể chế chính sách quản trị DNXH, các tác giả gợi ý những định hướng nghiên cứu trong tương lai nhằm phát triển lý thuyết DNXH và những tổ chức lai ghép nói chung Ba tác giả này chỉ rõ rằng những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 cùng với vấn đề nghèo đói kéo dài liên miên và sự thay đổi của môi trường càng khiến cho người ta quan tâm đến những tổ chức vừa là doanh nghiệp kinh doanh thông thường vừa

Trang 28

càng tăng, giờ đây đang vượt xa khỏi những khái niệm và bối cảnh để khám phá về khía cạnh quản trị và thực thi

Nghiên cứu về vấn đề sử dụng các công cụ quản trị nguồn nhân lực để hỗ trợ doanh nghiệp xã hội, tác giả Maureen Royce (2007) đã chứng minh sự liên kết và tầm ảnh hưởng của quản trị nguồn nhân lực trong DNXH Tác giả sử dụng phương pháp phân tích hai trường hợp nghiên cứu thông qua các cuộc phỏng vấn phi cấu trúc và không chính thức, những ghi chép và các cuộc thảo luận trong thời gian 5 năm nhằm khám phá ra sự phát triển của 17 tổ chức DNXH ở phía tây bắc nước Anh Để đạt được mục đích của bài viết này, tác giả đã dựa trên các khía cạnh như mối quan hệ thị trường lao động trong DNXH, nguồn lực và kỹ năng để hỗ trợ DNXH, lãnh đạo và chiến lược hoạt động trong DNXH Các nghiên cứu trường hợp

có vai trò quan trọng trong việc làm nổi bật phong cách lãnh đạo và kỹ năng giao tiếp, đó là những yếu tố dẫn đến sự thành công trong phát triển bền vững của các doanh nghiệp xã hội

1.1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến hệ sinh thái hỗ trợ DNXH

Thuật ngữ "hệ sinh thái" được James Moore đưa ra trên tạp chí Harvard Business Review được công bố trong những năm 1990 với tầm ảnh hưởng lớn Ông tuyên bố rằng các doanh nghiệp không tiến triển trong một môi trường “chân không” Rosted (2012) lập luận rằng khi ở trong một hệ sinh thái năng động, các doanh nghiệp mới có cơ hội tốt hơn để phát triển và tạo việc làm so với các doanh nghiệp không có hệ sinh thái Daniel Isenberg (2011a) đã bắt đầu đề cập đến thuật ngữ "chiến lược hệ sinh thái cho tinh thần kinh doanh” với sáu yếu tố bao gồm: văn hoá tạo thuận lợi, chính sách và lãnh đạo tạo điều kiện, nguồn tài chính thích hợp, vốn con người có chất lượng cao, thị trường thân thiện với sản phẩm và các hỗ trợ

về thể chế Ông cho rằng lĩnh vực này bao gồm hàng trăm yếu tố tương tác với nhau một cách linh hoạt và rất phức tạp Ông đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của bối cảnh khi cho rằng mỗi hệ sinh thái xuất hiện dưới một điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt Còn Prahalad (2005), Cohen (2005) và Bernardez (2009), Suresh và Ramraj (2012) nghiên cứu về thuật ngữ hệ sinh thái khởi nghiệp cho rằng thuật ngữ này được dùng để mô tả những điều kiện trong đó các cá nhân, doanh nghiệp và xã hội đến với nhau nhằm thúc đẩy sự giàu có và thịnh vượng về kinh tế Các hệ sinh thái khởi nghiệp không chỉ đóng vai trò chất xúc tác trong việc thúc đẩy tiến bộ của nền

Trang 29

kinh tế ổn định mà còn là động lực chính khi giải quyết tình trạng các nền kinh tế đang phải đối mặt với một sự suy giảm mạnh

Các nhà hoạch định chính sách nhận ra sự thành công của một cách thức hỗ trợ mang tính hệ thống có thể giúp tinh thần kinh doanh tăng cao (Colin Mason & Ross Brown, 2014) và là nền tảng cho sự đổi mới xã hội (Nelson, 1993; OECD, 1997)

Lý thuyết về hệ thống có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên về cơ bản, nhiều tác giả cho rằng một hệ thống cần phải đủ linh hoạt để phát triển những yêu cầu về sự thay đổi đến từ phía các mạng lưới đối tác - những người vốn chia sẻ những giá trị chung và xây dựng niềm tin theo thời gian (Lina Sonne, 2014) Họ có thể là cá nhân, tập thể, tổ chức thực hiện những hoạt động đa dạng, đa chiều tạo điều kiện cho sự phát triển của nhân tố lõi Ngoài ra, còn có những yếu tố tác động khác từ bên ngoài như văn hóa và bối cảnh cụ thể

Đối với các doanh nghiệp xã hội, khi hệ sinh thái không sẵn sàng hỗ trợ sẽ tạo

ra một lỗ hổng nghiêm trọng, cản trở sự phát triển và tiến bộ (Lina Sonne, 2014) Điều này thể hiện ở các hoạt động can thiệp mang tính toàn diện như tập trung vào phát triển các mạng lưới, sắp xếp các ưu tiên, xây dựng năng lực thể chế mới và thúc đẩy hợp tác giữa các bên liên quan (Warwick, 2013) Nhiều tác giả đã nghiên cứu về những hỗ trợ cần thiết để DNXH phát triển như: sự cần thiết của các nhà tư vấn (Leeming, 2002), về cơ sở hạ tầng (Leeming, 2002), về nhu cầu mạng lưới hỗ trợ tiếp cận vốn (Sharir và Lerner, 2006), hỗ trợ từ phía các nhà học thuật (Haugh & Rubery, 2005), hỗ trợ tiếp thị, tài chính vi mô và đào tạo (Ndemo, 2006) và hỗ trợ

từ chính quyền thành phố (Korosec và Berman, 2006) Vì vậy, nhiều tác giả đồng tình rằng cần có một môi trường ươm tạo cho DNXH hay các doanh nhân xã hội có

cơ hội phát triển Sharir và Lerner (2006:16) cho rằng môi trường ươm tạo này có thể làm trung gian để cung cấp đào tạo, tư vấn kỹ thuật, trung gian tài chính để bù đắp cho hạn chế của DNXH

Nghiên cứu về hệ sinh thái hỗ trợ DNXH, các tác giả tập trung làm rõ khái niệm, bối cảnh, và một số cấu phần tham gia vào hệ sinh thái nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của DNXH Ngoài ra, có một số báo cáo/kết quả nghiên cứu về một hệ sinh thái tổng thể ở quy mô quốc gia hay khu vực Sau đây là một số công trình

Trang 30

Báo cáo: “A map of social enterprises and their ecosystems in Europe - Country Report : United Kingdom” được thực hiện bởi một nhóm các chuyên gia với sự bảo trợ của Ủy Ban Châu Âu (EC) (2013) Các tác giả đã tiến hành phỏng vấn các bên liên quan nhằm xác minh, cập nhật và bổ sung các thông tin đã thu thập được từ các nguồn thứ cấp Báo cáo đã làm nổi bật ba nội dung chính Một là, những khái niệm về DNXH tại Anh Hai là hệ sinh thái cho DNXH ở Anh quốc, trong đó bao gồm 7 cấu phần: Chính sách và khuôn khổ pháp lý cho DNXH, chương trình hỗ trợ công nhằm vào các doanh nghiệp xã hội, hỗ trợ chuyên môn khác và cơ sở hạ tầng sẵn có cho các doanh nghiệp xã hội, các mạng lưới và cơ chế

hỗ trợ lẫn nhau, nhãn hiệu và các hệ thống chứng nhận, thị trường đầu tư xã hội Nội dung thứ ba các tác giả đề cập đến là việc lập bản đồ định vị các hoạt động DNXH ở Anh

Benjamin Gidron (2016) đã đóng góp quan điểm của mình thông qua nghiên cứu về “Hệ sinh thái cho sự phát triển DNXH – Một số bài học từ Israel” Theo tác giả, các DNXH cần phải được xây dựng từ dưới lên, không phải từ trên xuống (to

be built bottom-up, not top-down) Hệ sinh thái DNXH cần bao gồm 4 thành phần: (1) Tinh thần của doanh nhân xã hội nhằm khuyến khích mọi người suy nghĩ sáng tạo và theo đuổi ước mơ của mình; (2) Khung pháp lý, trong đó xác định những tổ chức kết hợp các mục tiêu kinh doanh và xã hội đồng thời tạo cho họ tính hợp pháp; (3) Nền tảng về tài chính để cho phép đầu tư; (4) Nhận thức của các bên liên quan Trong khi đó, Inji El Abd giới thiệu những phân tích về tình hình thực tiễn hệ sinh thái cho tinh thần kinh doanh xã hội ở Ai Cập thông qua nghiên cứu:

“Understanding the social entrepreneurhip ecosystem in Egypt” (2012) Tác giả đã trình bày kết quả sau những cuộc phỏng vấn sâu với những tác nhân tham gia trong lĩnh vực phát triển tinh thần kinh doanh xã hội, đồng thời làm sáng tỏ những trường hợp cụ thể thông qua các ví dụ Qua đó, tác giả khuyến nghị về các giải pháp hành động nhằm bổ sung thêm những nhân tố còn thiếu hụt hoặc khan hiếm trong hệ sinh thái hỗ trợ cho tinh thần kinh doanh xã hội

Từ một cách tiếp cận khác, Richard Hazenberg (2016) đã phân tích những điểm chung và riêng trong hệ sinh thái DNXH ở Anh và Scốt-len Hệ sinh thái hỗ trợ DNXH của cả hai nước đã phát triển khá khác biệt trong vòng 15 năm qua nhưng nhìn chung họ đã có một hệ sinh thái khá toàn diện Nghiên cứu đã tập trung

Trang 31

vào hai mục tiêu chính: (1) Khám phá hệ sinh thái DNXH ở Scốt-len và Anh trong

sự tham chiếu về quá trình phát triển lịch sử, tình hình hiện tại và tiến bộ trong tương lai; (2) Đánh giá sức mạnh của lý thuyết tiến hóa trong việc giải thích các nhân tố hỗ trợ doanh nghiệp xã hội như là một hệ sinh thái Tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc với các bên liên quan trong lĩnh vực DNXH ở

cả hai nước, bao gồm: doanh nhân xã hội, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức hành lang, các tổ chức hỗ trợ DNXH, chính sách, ngân hàng xã hội, các cơ quan quốc gia, các nhà hoạch định chính sách, tổ chức công đoàn và các công ty luật Bên cạnh

đó, phương pháp tường thuật cũng được sử dụng để phân tích dữ liệu

Một kết quả nghiên cứu rất có ý nghĩa đối với cả lý thuyết và chính sách được Monica C Diochon (2010) trình bày trong báo cáo: “Governance, Entrepreneurship and Effectiveness: Exploring the Link” Để chứng minh tầm quan trọng của quản trị trong việc khuyến khích tinh thần kinh doanh như là một chiến lược để đạt được mục tiêu của cả tổ chức lẫn mục tiêu xã hội, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp

để thu thập dữ liệu - bao gồm phỏng vấn sâu và quan sát không tham dự Việc thu thập dữ liệu liên quan đến 12 tổ chức tại hai cộng đồng nông thôn được lựa chọn thông qua sự tư vấn của những người làm chính sách kinh tế, những doanh nhân và các học giả Cơ sở để lựa chọn các tổ chức này dựa trên ba tiêu chí: bối cảnh gần giống nhau, sự phát triển kinh tế (kết quả) với mức độ khác nhau và cam kết quá trình phát triển trong cùng một khoảng thời gian như nhau Kết quả là tác giả đã (1) xác định khái niệm về DNXH dưới góc độ Hội đồng quản trị, (2) phân tích chiến lược kinh doanh, được hiểu như là "một kế hoạch hành động toàn diện để xác định hướng lâu dài cho một tổ chức và hướng dẫn sử dụng nguồn lực để hoàn thành mục tiêu với lợi thế cạnh tranh bền vững " và (3) các khía cạnh của quản trị tổ chức Tác giả Aluisius Hery Pratono (2016) khám phá hệ sinh thái năng động của doanh nghiệp xã hội ở Indonesia thông qua khung văn hóa, xã hội, pháp lý và chính sách Đặc biệt tác giả nhấn mạnh khuôn khổ pháp lý và đánh giá chính sách dành cho doanh nghiệp xã hội ở Inđônêxia Nghiên cứu này đã cung cấp những trường hợp DNXH điển hình nhất và các tổ chức khác đóng vai trò then chốt trong việc thành lập nên các doanh nghiệp xã hội ở những lĩnh vực khác nhau Thông qua

Trang 32

thức pháp lý và các chính sách trong việc định hình sự phát triển của doanh nghiệp

xã hội ở Indonesia

Xem xét hệ sinh thái DNXH dưới khía cạnh truyền thông, tác giả Vladimir Vainer (2016) trong bài viết: “Publicity as an element of social enterprise ecosystem” (on the example of Russian Federation) (“Truyền thông như một cấu phần của hệ sinh thái doanh nghiệp xã hội” (ví dụ của Liên bang Nga) đã xác định những yếu tố chính của truyền thông để phát triển hệ sinh thái DNXH Một trong những yếu tố quan trọng của hệ sinh thái doanh nghiệp xã hội chính là công chúng – trong đó bao gồm kiến thức, thái độ và hành vi của họ đối với doanh nghiệp xã hội Mức độ hiểu biết của “xã hội" đối với loại hình kinh doanh này khá đặc biệt so với các doanh nghiệp thông thường, thái độ tích cực đối với những người lựa chọn kinh doanh xã hội,… có ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp xã hội Trong khuôn khổ nghiên cứu của mình, các tác giả trình bày cách phân loại các biện pháp

để thúc đẩy (quảng cáo) tinh thần kinh doanh xã hội, với dẫn chứng của Liên bang Nga Đồng thời, các tác giả xác định ba vectơ chính trong sự phát triển là sử dụng các phương tiện truyền thông chuyên nghiệp, mạng lưới phân phối, và các chiến dịch truyền thông đại chúng Mỗi vectơ được minh họa bằng các trường hợp nghiên cứu, trong đó có Dự án Truyền thông xuyên Quốc gia về doanh nhân xã hội có tên DeloZhizni (tiếng Anh là Lifework) với độ bao phủ khoảng 3-5 triệu người, và những dự án khác Cuối cùng, các tác giả tổng hợp những phân tích bằng các khuyến nghị thúc đẩy tinh thần doanh nhân xã hội

Tác giả Rahul Singh và Abha Rishi (2016) cho rằng: “Trường đại học – Hệ sinh thái cho doanh nghiệp xã hội nhằm tạo ra kiến thức, thực hành và những người học có trách nhiệm xã hội Sự thay đổi từ những giá trị xã hội theo định hướng xã hội đến những giá trị kinh tế theo định hướng xã hội được quan sát và đo lường thông qua các yếu tố sử dụng nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo Tác giả đã xem xét sự phát triển trong không gian doanh nghiệp xã hội, nghiên cứu hệ sinh thái cho tinh thần kinh doanh xã hội, phân tích hệ thống cũng như tác động của hệ sinh thái trường đại học trong việc giáo dục tinh thần kinh doanh xã hội và việc giáo dục này

có ảnh hưởng thế nào đối với ma trận kinh tế xã hội của thế hệ tiếp theo

Cũng xoay quanh chủ đề về nhân tố giáo dục trong hệ sinh thái DNXH, hai tác giả Roger Epworth và Đỗ Thị Hương Nhu (2016) đã đưa ra một giải pháp “phát

Trang 33

triển hệ sinh thái cho sáng tạo xã hội thông qua mô hình học tập các môn học trong trường đại học, tình huống cộng đồng học tập tạo tác động xã hội Tác giả khẳng định việc sử dụng DNXH làm trọng tâm của quá trình học tập dựa trên công việc thực tiễn tại các trường đại học sẽ cung cấp nhiều lợi ích cho trường đại học, sinh viên, DNXH và xã hội nói chung Tuy nhiên cho đến nay, các trường đại học và các trường kinh doanh trên toàn thế giới có xu hướng đào tạo một cách giới hạn các lãnh đạo kinh doanh xã hội cho các thế hệ tiếp theo Không phải tất cả mọi người được sinh ra để trở thành doanh nhân xã hội Nhiều người chỉ muốn đóng góp kỹ năng và khả năng của mình cho xã hội mà không cần gắn với cái tên doanh nhân xã hội Mặt khác, trong khi các DNXH đang thiếu nguồn lực thì một số lượng lớn các sinh viên đang cố gắng tìm kiếm cơ hội làm tình nguyện để chuẩn bị sẵn sàng cho công việc tương lai Một mô hình học tập dựa trên công việc kết hợp liên ngành trong giáo dục đại học sẽ cho phép sinh viên ngành kinh doanh đạt được những hiểu biết tổng thể về cách thức làm thế nào để kết hợp các tổ chức làm việc và đạt kết quả, đồng thời tận dụng cơ hội lớn để tự phát triển Điều này cũng rất hữu ích cho sinh viên của nhiều chuyên ngành khác nhau chứ không nhất thiết dành cho sinh viên kinh doanh Đóng góp lớn nhất của tác giả là nêu một mô hình học tập dựa trên công việc phối hợp liên ngành với một quá trình huấn luyện nghiêm ngặt và xem xét dựa trên các trường hợp nghiên cứu thực tiễn với sự hỗ trợ của các DNXH

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Lí luận về DNXH ở VN còn rất mới mẻ Trước năm 2010, những nghiên cứu cũng như bài viết về DNXH ở VN gần như không có Mấy năm trở lại đây, một vài

tổ chức xã hội, trường đại học và cơ quan chức năng bắt đầu khởi động việc nghiên cứu về DNXH và truyền thông rộng rãi hơn Kết quả là những báo cáo và bài tham luận trong các Hội thảo hay các cuộc tạo đàm quy mô quốc gia, quốc tế

1.1.2.1 Các nghiên cứu có liên quan đến những vấn đề chung về DNXH

Nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam có giá trị tham khảo rất lớn về chủ đề DNXH phải kể đến báo cáo “Doanh nghiệp xã hội ở VN: Khái niệm, bối cảnh và chính sách” do ba đơn vị là CIEM, CSIP và Hội đồng Anh phối hợp thực hiện năm 2012

Có thể nói đây là bước đi quan trọng cho sự phát triển DNXH ở VN nói chung và là

Trang 34

các tổ chức và cá nhân có liên quan đồng thời làm rõ những đặc tính cơ bản của DNXH Báo cáo cũng đã dành một phần tương đối lớn để nghiên cứu về tình hình phát triển DNXH ở Việt Nam, đặc biệt là những phân tích, đánh giá về thực trạng DNXH ở VN với một loạt những khó khăn, thách thức như: nhận thức của các cơ quan hữu quan và của toàn xã hội về DNXH còn rất hạn chế, các cơ quan quản lý của Nhà nước chưa đưa ra được một khung khổ pháp lý riêng cho DNXH gây khó khăn cho quá trình hoạt động và phát triển của họ, tình trạng thiếu vốn và yếu kém trong khả năng tiếp cận các nguồn tài chính của DNXH là vô cùng bức bách, năng lực quản lý và điều hành còn yếu kém và thiếu hụt những dịch vụ hỗ trợ nâng cao năng lực phù hợp cho DNXH Tuy nhiên, báo cáo cũng làm nổi bật một số cơ hội cũng như thách thức đang chờ DNXH chung tay góp sức cùng chính phủ giải quyết Trong môi trường nghiên cứu và đào tạo, một số hội thảo về DNXH với mục tiêu góp phần phát triển DNXH tại VN đồng thời đưa DNXH vào chương trình đào tạo để sinh viên, học viên ngày càng sớm được tiếp cận với mô hình doanh nghiệp này Hội thảo khoa học đầu tiên được tổ chức vào ngày 09/04/2012 tại Hà Nội với những đóng góp ban đầu rất có ý nghĩa từ các giảng viên và nhà nghiên cứu

Trong hội thảo, đáng chú ý là ba bài viết về mô hình của DNXH: Nguyễn Thị Ngọc Anh (2012) với bài: “Bàn về ba mô hình DNXH theo quan điểm của John Elkington và Pamelia Hartigan”; Hoàng Thị Thanh Hương (2012): “Mô hình kinh doanh của DNXH theo cách tiếp cận chiến lược” và bài: “Tòhe – Doanh nghiệp xã hội với mô hình kinh doanh theo hướng bền vững” của Lương Thu Hà (2012) Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh cho rằng ba mô hình DNXH (theo quan điểm của John Elkington và Pamelia Hartigan) là mô hình DN phi lợi nhuận được tài trợ, mô hình

DN phi lợi nhuận mang tính hỗn hợp và mô hình DN kinh doanh xã hội đều đã và đang hoạt động tại VN Thông qua việc lấy dẫn chứng một số DNXH theo những

mô hình này tại VN, tác giả khẳng định, số lượng các DN này tuy không nhiều và mức độ hoạt động chưa thật sự mạnh mẽ, nhưng “hiệu quả mà nó mang lại rất ấn tượng” và “có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của xã hội” Tác giả Hoàng Thị Thanh Hương lại tiếp cận mô hình DNXH dựa trên nền tảng lý thuyết quản trị chiến lược Tác giả đã phân biệt khá rõ khái niệm DNXH với DN kinh doanh thuần túy,

từ đó cho thấy quá trình tạo ra giá trị xã hội của DNXH thông qua ba yếu tố: sứ mệnh xã hội, mô hình kinh doanh và kết quả xã hội Tác giả nhấn mạnh sứ mệnh xã

Trang 35

hội là yếu tố căn bản của DNXH và cần phải xây dựng mô hình kinh doanh cho DNXH theo cách đặc biệt (không dập khuôn theo mô hình DN kinh doanh thuần túy) để cung cấp giá trị cho nhóm khách hàng mục tiêu Tác giả Lương Thu Hà đưa

ra một mô hình hoạt động cụ thể là DNXH Tòhe và “chứng minh tính bền vững của

mô hình hoạt động này so với mô hình tổ chức các DNXH khác ở VN Đây là cách tiếp cận rất thực tiễn cho thấy một góc nhỏ về tình trạng hoạt động của một DNXH trong giai đoạn kinh tế mới

Tác giả Dương Thị Liễu (2012) đề cập đến: “Giải pháp đồng bộ cho sự phát triển DNXH trong những năm tới” và Trương Đức Lực (2012) thực hiện “Nghiên cứu một số vấn đề về DNXH” nhưng hai tác giả đều có điểm chung là tiếp cận vấn

đề theo cách phân tích tình hình thực tiễn và đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển DNXH ở VN Đặc biệt, tác giả Dương Thị Liễu đã phân tích những thành công bước đầu của DNXH, song song với đó là những khó khăn, rào cản chồng chất Từ đó tác giả đưa ra hệ giải pháp đồng bộ cho năm tác nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của DNXH là: 1) Nhà nước (Chính phủ); 2) Các tổ chức phi chính phủ và tổ chức xã hội khác, 3) Các trường đại học; 4) Các doanh nghiệp lớn

và các doanh nghiệp tư nhân; 5) Bản thân các DNXH

Một chủ đề rất mới mẻ ở VN liên quan đến “Góp vốn cộng đồng cho DNXH”

đã được tác giả Trương Thị Nam Thắng cùng các cộng sự (2015) đề cập đến Đây chính là một hình thức góp vốn cho các dự án khởi sự doanh nghiệp nói chung và các DNXH nói riêng đang được thực hiện rất mạnh mẽ và hiệu quả ở phương Tây nhưng mới chỉ chớm xuất hiện ở VN từ năm 2013 với tốc độ chậm Tác giả đã chỉ

ra năm hình thức góp vốn khác nhau cho DNXH, làm rõ hình thức góp vốn cộng đồng và phương thức vận hành của nó Liên hệ với môi trường DNXH ở VN, tác giả khẳng định đây là cơ hội cho DNXH VN và sẽ là sự lựa chọn đầu tư đầy triển vọng trong tương lai ở thị trường VN

Với mục tiêu hỗ trợ kỹ năng quản trị cho DNXH, tác giả Nguyễn Thị Hoài Dung (2015) đã thực hiện nghiên cứu về: “Ứng xử của DNXH với các đối tượng hữu quan” Tác giả đã nêu lên những đáp ứng đòi hỏi của các đối tượng hữu quan trong DN thông thường và đề xuất giải pháp ứng xử với các đối tượng hữu quan

Trang 36

Nhấn mạnh về sự phát triển bền vững gắn với các DNXH, tác giả Nguyễn Mạnh Quân (2015) và các cộng sự là những người đầu tiên đề xuất phát triển “chuỗi DNXH” ở VN thông qua bài viết: “Xây dựng cụm liên kết hay chuỗi DNXH để phát triển bền vững” Các tác giả nêu lên thách thức về tính bền vững của DNXH, đồng thời khái quát phương thức hoạt động của DNXH thông qua 3 kiểu mô hình điển hình – đó cũng là cách tiếp cận truyền thống đối với DNXH Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một cách tiếp cận khác dựa trên sự phát triển “chuỗi DNXH” Với năm

ưu điểm nổi bật về: tính chất xã hội và tính chất doanh nghiệp được đảm bảo kết hợp hài hòa, cơ hội phát triển cho người lao động, thị trường, nguồn tài chính, đối tượng xã hội cần trợ giúp cũng chính là nhân tố tích cực của quá trình tạo ra giá trị Năm 2015, Báo cáo Gem chủ đề doanh nghiệp xã hội đã công bố kết quả nghiên cứu khá chi tiết về các hoạt động kinh doanh xã hội và DNXH ở VN Trong nghiên cứu này, DNXH được xem là tổ chức có các hoạt động xã hội thỏa mãn 2 điều kiện: (1) ưu tiên giá trị xã hội hơn giá trị về tài chính, (2) hoạt động trên thị trường bằng cách sản xuất các hàng hóa dịch vụ Báo cáo đã thống kê những con số

cụ thể về khởi nghiệp xã hội ở VN, so sánh giữa việc lựa chọn mục tiêu xã hội và mục tiêu tài chính của các DNhXH, định hướng thị trường của các hoạt động xã hội, tính sáng tạo xã hội, so sánh tỷ lệ tái đầu tư của các hoạt động xã hội ở một số nước và khả năng tự đánh giá tác động xã hội từ các hoạt động xã hội ở VN

1.1.2.2 Những nghiên cứu về chủ đề hệ sinh thái hỗ trợ DNXH:

Khái niệm “hệ sinh thái hỗ trợ DNXH” dường như còn rất mới mẻ và lạ lẫm ở

VN, do vậy rất khó để tìm thấy một nghiên cứu nào thực hiện chuyên sâu và cũng khó để tìm ra những bài báo trên các phương tiện thông tin đề cập trực tiếp và đầy

đủ đến vấn đề này Vì vậy, trong phần tổng quan về chủ đề hệ sinh thái DNXH, tác giả luận án xem xét những kết quả nghiên cứu liên quan đến từng chủ đề rất hẹp và

cụ thể về các cấu phần tham gia trong hệ sinh thái DNXH như thể chế, chính sách, truyền thông, tài chính, nghiên cứu-đào tạo, trung gian

Có thể nói, lần đầu tiên khái niệm hệ sinh thái DNXH ở VN được chính thức

đề cập đến trong nghiên cứu của tác giả Trương Thị Nam Thắng (2015): “Hệ sinh thái cho doanh nghiệp xã hội: nghiên cứu quốc tế và khuyến nghị chính sách cho VN” Tác giả đã làm rõ khái niệm DNXH và hệ sinh thái cho DNXH trong sự so sánh với một số khái niệm khác Đồng thời, tác giả đã giới thiệu các cấu phần của

Trang 37

hệ sinh thái DNXH theo cách tiếp cận của Ủy ban Châu Âu (2014) và của Mytellik (2000) Từ kinh nghiệm của một số quốc gia phát triển, tác giả đã đưa ra những đánh giá, nhận định và gợi ý cho việc phát triển hệ sinh thái DNXH ở VN

Đề cập đến một trong những cấu phần quan trọng hàng đầu của hệ sinh thái DNXH, tác giả Nguyễn Minh Thảo đã có bài trao đổi về: “Sáng tạo và Đổi mới xã hội: Thực tiễn và kiến nghị chính sách” (2016) Tác giả đã làm rõ một số vấn đề lí luận về Đổi mới sáng tạo vì xã hội Đồng thời, dựa trên cơ sở Mô hình cấu trúc môi trường cho các hoạt động đổi mới sáng tạo vì xã hội của Geoff Mulgan (2006), tác giả đưa ra kiến nghị về việc tạo lập hệ sinh thái cho phát triển doanh nghiệp xã hội, trong đó cần coi trọng khuyến khích hỗ trợ phát triển các ý tưởng sáng tạo vì xã hội Cùng bàn về vấn đề pháp lý của DNXH là tác giả Trần Văn Nam (2015) và Nguyễn Vũ Hoàng (2015) Tác giả Trần Văn Nam đã phân tích địa vị pháp lý của DNXH trong Luật doanh nhân 2014 với hai nhóm quyền được hưởng và năm nghĩa

vụ phải tuân thủ Theo đó, tác giả đề xuất rằng để góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững DNXH ở VN, cần sớm ban hành một khung khổ pháp lý dành riêng cho DNXH, các văn bản pháp luật khác có liên quan như luật thuế, luật đầu tư cũng cần sửa đổi theo hướng dành các ưu đãi cho DNXH Trong khi đó, Nguyễn Vũ Hoàng

đã chỉ ra những điều chỉnh về DNXH trong luật doanh nhân VN 2014, đồng thời liên hệ với khung pháp luật điều chỉnh DNXH ở một số nước trên thế giới để từ đó tác giả đặt ra những vấn đề của VN cần phải cải thiện

Tác giả Nguyễn Trọng Hiếu và Nguyễn Hồng Điệp (2016), nghiên cứu về một vấn đề được nhiều người quan tâm bậc nhất, đó là “chính sách thuế nhằm thúc đẩy doanh nghiệp xã hội phát triển tại VN” Các tác giả đã phân tích thực trạng chính sách thuế đối với doanh nghiệp xã hội ở VN DNXH cũng là một doanh nghiệp, vì vậy cũng được hưởng các ưu đãi về thuế như điều 19, 20, 21 thông tư số 78/2014/TT-BTC của Bộ Tài Chính đã nêu rõ Tuy nhiên DNXH còn vấp phải rất nhiều khó khăn so với các doanh nghiệp thường, do vậy, các tác giả đứng trên góc

độ là một cơ quan thuộc Bộ Khoa học Công nghệ đề xuất một số chính sách tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xã hội, đặc biệt với mong muốn thúc đẩy doanh nghiệp

xã hội tăng ứng dụng công nghệ để nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản

Trang 38

Nghiên cứu và đào tạo về tinh thần kinh doanh xã hội là một trọng trách của giới học thuật, đặc biệt là các trường đại học Những năm gần đây, xuất hiện một số nhà nghiên cứu và giảng viên các trường đại học quan tâm và nghiên cứu về chủ đề DNXH và tinh thần kinh doanh xã hội Một số bài viết xuất hiện trong các hội thảo

đã tập trung bàn luận quanh chủ đề lồng ghép tinh thần kinh doanh xã hội và sáng tạo xã hội vào trường đại học Tác giả Đỗ Thị Đông (2016) cho rằng hệ sinh thái cho DNXH ở VN còn chưa được hình thành rõ nét, nên các hoạt động của DNXH vẫn còn rất hạn chế Bởi vậy, học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước trong việc phát triển hệ sinh thái cho DNXH là việc làm cần thiết đối với VN Tác giả đặc biệt nhấn mạnh việc nuôi dưỡng tinh thần kinh doanh xã hội ở trường đại học như một yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp

xã hội ở VN Hai tác giả Nguyễn Hữu Ánh và Dương Thị Liễu (2015) cũng khẳng định vai trò quan trọng của việc đào tạo và nghiên cứu trong các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu Tác giả Dương Thị Liễu đã đưa ra những kiến nghị rất cụ thể về việc cần phải thành lập và kiện toàn những tổ chức/đơn vị nghiên cứu độc lập chuyên sâu về DNXH VN, tăng cường thúc đẩy các hoạt động như: đề xuất chính sách, nghiên cứu chuyên sâu, mở rộng hợp tác, đào tạo kỹ năng Trong chùm bài viết về đào tạo tinh thần kinh doanh xã hội, tác giả Trương Thị Nam Thắng và các cộng sự (2015) đã khái quát về một số hình thức và sáng kiến hỗ trợ DNXH trong các trường đại học Anh quốc Trên cơ sở đó, tác giả gợi ý những bài học kinh nghiệm cho VN trong việc lồng ghép tinh thần kinh doanh xã hội vào các trường đại học ở VN Tác giả Ngô Kim Thanh (2015) đề cập đến vấn đề liên kết giữa DNXH với trường đại học là một nhu cầu khách quan trong quá trình phát triển Tác giả khẳng định mối quan hệ này mang lại nhiều lợi ích trực tiếp cho xã hội, cho các doanh nhân và các trường ĐH (đặc biệt là đóng góp quan trọng vào việc tạo ra một

xã hội dựa trên tri thức) Tuy nhiên, ở VN, mối liên kết này còn rất “lỏng lẻo, mang tính đối phó, chắp vá” Làm rõ những hạn chế của mối liên kết này, tác giả đã đề xuất một số nội dung và hình thức hợp tác nhằm tăng cường sự liên kết giữa DNXH

và các trường đại học

1.2 Đánh giá bình luận về các nghiên cứu đã có

Như vậy, tổng quan các nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy một số vấn đề lý luận và thực tiễn về DNXH và hệ sinh thái DNXH Thông qua đó có thể

Trang 39

thấy chủ đề này đang thu hút mối quan tâm của giới học thuật ở nhiều quốc gia trên thế giới Khái niệm về DNXH lần đầu tiên được nhắc đến ở Ý vào cuối năm 1980

và được sử dụng ở toàn Châu Âu vào giữa những năm 1990 Từ những năm cuối cùng của thế kỷ XX, khái niệm về DNXH bắt đầu được nhắc đến nhiều hơn trong giới nghiên cứu, nhất là khu vực Châu Âu, Mỹ, sau lan sang khu vực Đông Á và Châu Mỹ la-tinh (Jacques Defourny & Marthe Nyssens, 2008) Từ đó đến nay, ngày càng có sự gia tăng nỗ lực nghiên cứu về lĩnh vực này

DNXH hiện nay được xem như một lĩnh vực phát triển nhanh và mạnh trong thực tiễn, tuy nhiên vấn đề nghiên cứu còn thua xa so với thực hành (Johnson, 2000) Ngay cả khái niệm cũng chưa có một sự công nhận rõ ràng và chính thức, thậm chí ở vài nơi đã xuất hiện mô hình DNXH nhưng vẫn chưa thực sự hiểu rõ khái niệm và bản chất của DNXH Trong số những định nghĩa đã được đưa ra, thiếu

sự đồng thuận giữa các học giả và các khu vực (Dart, 2004; Weerawardena & Sullivan, 2006), thiếu một định nghĩa chặt chẽ (Pontus Braunerhjelm & Ulrika Stuart Hamilton, 2012) Có lẽ vì đây là một lĩnh vực lai ghép giữa kinh doanh và xã hội, do vậy khó có sự phân định rạch ròi về cách hiểu Thêm vào đó, trong thời gian qua, đa phần những nghiên cứu về phát triển kinh doanh xã hội đã được thực hiện bởi các học giả và những chuyên gia vốn không thuộc lĩnh vực kinh doanh Steyart

và Hjorth (2006) mà đến từ nhiều ngành đa dạng (S.Bacq & F Janssen, 2011) Bên cạnh đó, Lepoutre et al (2011) cũng cho thấy các nghiên cứu trong lĩnh vực này thường là những nghiên cứu điển hình và các câu chuyện thành công mà thiếu cơ sở

lý thuyết mang tính khái quát hóa Có một số khái niệm khác nhau như "doanh nghiệp xã hội", "kinh doanh xã hội” và “doanh nhân xã hội " (Defourny & Nyssens, 2008) nhưng đôi khi lại được dùng để thay thế cho nhau (Peredo & McLean, 2006)

Rõ ràng là những nghiên cứu về DNXH ở thời kì này vẫn còn ở giai đoạn non trẻ, chưa nghiên cứu sâu, chưa có nền tảng lý thuyết được làm giàu bằng sự giải thích

và mô tả rõ ràng để chứng tỏ là một lĩnh vực nghiên cứu trưởng thành (Dees and Battle Anderson (2006, 39)

Các nghiên cứu về DNXH mới chỉ dừng lại ở một số chủ đề sau:

Bảng 1.1 Các vấn đề đã được nghiên cứu về DNXH

Trang 40

Định nghĩa về hiện tượng

Kinh doanh xã hội là gì?

Doanh nghiệp xã hội là gì?

Các doanh nhân xã hội làm gì?

So sánh giữa doanh nghiệp xã hội

Sự khác nhau giữa các doanh nhân xã hội

và doanh nhân thông thường?

Nghiên cứu các yếu tố chính của

quá trình kinh doanh xã hội

Quá trình kinh doanh xã hội là như thế nào? Các cơ hội nào về mặt xã hội?

Các doanh nhân xã hội đánh giá tác động của họ như thế nào?

Nhận dạng các yếu tố môi trường

Hạn chế lớn nhất về mặt tài chính là gì? Lĩnh vực thu hút và nuôi dưỡng các doanh nhân tài năng như thế nào?

Các doanh nhân xã hội tương tác với môi trường như thế nào?

(Nguồn: Pontus Braunerhjelm and Ulrika Stuart Hamilton, 2012: 7)

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy các nghiên cứu trước đây đã làm sáng tỏ được một số vấn đề sau:

Thứ nhất, các khái niệm về DNXH, hệ sinh thái DNXH được đưa ra dựa trên

cơ sở thực tiễn của mỗi quốc gia hoặc khu vực Từ đó những đặc điểm cơ bản của DNXH đã được làm sáng tỏ như mục tiêu hàng đầu là vì xã hội, có các hoạt động kinh doanh, tái phân phân phối lợi nhuận, phục vụ nhu cầu của nhóm đáy Ngoài ra, một đặc điểm được nhiều học giả bàn luận đến là đặc tính lai ghép giữa DN kinh doanh truyền thống và tổ chức NGO/từ thiện

Thứ hai, một số nghiên cứu đã phân tích những vai trò quan trọng của DNXH trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội, tạo việc làm và sự hòa nhập xã hội cho những người yếu thế, tạo ra những hàng hóa và dịch vụ có giá trị cao Như vậy, DNXH chính là một đối tác vô cùng hữu hiệu của Nhà nước để cùng nhau chia sẻ mục tiêu vì sự công bằng và phát triển xã hội

Thứ ba, các mô hình DNXH phổ biến hay không phổ biến trên thế giới cũng dần được nhận diện và mô tả Bên cạnh đó, các tác giả so sánh với một số mô hình

tổ chức khác như NGO, tổ chức từ thiện

Ngày đăng: 03/08/2018, 18:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w