1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của hiệu ứng balassa samuelson lên tỷ giá hối đoái bbằng chứng thực nghiệm tại việt nam và các đối tác thương mại lớn

67 281 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hai là, liệu sự gia tăng khác nhau trong sự tăng trưởng về năng suất giữa khu vực ngoại thương và phi ngoại thương ở Việt Nam so với sự khác biệt tương tự ở mỗi quốc gia nghiên cứu có ản

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

======================

LÝ PHƯỢNG VY

Tác động của hiệu ứng Balassa-Samuelson lên tỷ giá hối đoái -

Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam và các đối tác

thương mại lớn

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

======================

LÝ PHƯỢNG VY

Tác động của hiệu ứng Balassa-Samuelson lên tỷ giá hối đoái -

Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam và các đối tác

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn Thạc sĩ kinh tế “Tác động của hiệu ứng

Balassa-Samuelson lên tỷ giá hối đoái - Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam và các đối tác thương mại lớn” là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu

trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không sao chép bất cứ nguồn dữ liệu nào

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 06 năm 2018

Học viên cao học Khóa 25

LÝ PHƯỢNG VY

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 2

1.1 Lý do thực hiện đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Cấu trúc của bài nghiên cứu 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY 5

2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT HIỆU ỨNG BALASSA – SAMUELSON 5

2.1.1 Lịch sử tên gọi hiệu ứng Balassa - Samuelson 5

2.1.2 Nội dung hiệu ứng Balassa - Samuelson 5

2.2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 7

2.2.1 Các mô hình kinh tế lượng được sử dụng 7

2.2.3 Phương pháp phân tích định lượng sử dụng 9

2.2.4 Biến độc lập được thêm vào mô hình ban đầu 10

2.2.5 Phân biệt khu vực ngoại thương và phi ngoại thương 10

2.2.6 Các vấn đề liên quan đến biến đại diện năng suất lao động 13

2.2.7 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 13

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Mô hình nghiên cứu 17

3.2 Nội dung các kiểm định 19

Trang 5

3.3 Các biến nghiên cứu 20

3.3.1 Biến phụ thuộc 20

3.3.2 Biến độc lập 22

3.4 Chọn mẫu 25

3.5 Phương pháp thu thập dữ liệu 25

3.6 Phương pháp phân tích dữ liệu 25

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

4.1 Kết quả phân tích thống kê mô tả dữ liệu 27

4.2 Kết quả ước tính đơn giản 32

4.3 Kết quả phân tích hồi quy 33

4.3.1 Kiểm định tính dừng 33

4.3.2 Kiểm tra sự tương quan giữa các biến 35

4.3.3 Kết quả kiểm định 35

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 38 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ KÝ HIỆU, VIẾT TẮT

ARDL Autoregressive Distributed Lag Mô hình Var trễ phân phối dừng tự hồi

quy

BS Balassa – Samuelson

CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng

EPI Export price index Chỉ số giá xuất khẩu

GNP Gross National Product Tổng sản lượng quốc gia

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

ILO International Labor Organization Tổ chức lao động quốc tế

IPI Import price index Chỉ số giá nhập khẩu

LOOP Law of one price Quy luật một giá

NER Norminal exchange rate Tỷ giá danh nghĩa song phương

OECD Organization for Economic

Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

OLS Ordinary least squares Phương pháp bình phương bé nhất

PNT Price Nontradable Mức giá phi ngoại thương

PPP Purchasing Power Parity Lý thuyết ngang giá sức mua

PT Price Tradable Mức gia ngoại thương

RER Real exchange rate Tỷ giá thực song phương

REER Real effective exchange rate Tỷ giá hiệu lực

TFP Total facfor productivity Năng suất các nhân tố tổng hợp

UN United Nations Liên Hiệp Quốc

WPI Wholesale price index Chỉ số giá bán buôn

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 4.1: Năng suất lao động theo khu vực tại Việt Nam (1992 = 100)

Biểu đồ 4.2: Năng suất lao động và tiền lương thực tế ở khu vực ngoại thương tại Việt Nam (1992 = 100)

Biểu đồ 4.3: Tiền lương danh nghĩa tại Việt Nam (1992 = 100)

Biểu đồ 4.4: Mức giá khu vực ngoại thương và phi ngoại thương tại Việt Nam (1992 = 100)

Biểu đồ 4.5: Mức giá tương đối và năng suất khu vực tương đối tại Việt Nam (1992

Biểu đồ 4.8: Tốc độ tăng trưởng và lạm phát theo khu vực giữa các quốc gia

Bảng 4.1: So sánh tốc độ tăng trưởng theo khu vực và lạm phát giữa các quốc gia (dựa trên value – added) (% thay đổi trung bình hằng năm)

Bảng 4.2: Mức ảnh hưởng của hiệu ứng BS đến chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia với Việt Nam (% thay đổi trung bình hằng năm)

Bảng 4.3: Kiểm định nghiệm đơn vị đối với chuỗi thời gian gốc

Bảng 4.4: Kết quả hồi quy kiểm định hiệu ứng BS nội địa

Bảng 4.5: Kết quả hồi quy kiểm định hiệu ứng BS quốc tế

Trang 8

1992 – 2015

Kết quả nghiên cứu không tồn tại bằng chứng hiệu ứng Balassa – Samuelson nội địa tại Việt Nam, nhƣng tìm thấy bằng chứng hiệu ứng tồn tại ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Hoa Kỳ Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng không tìm thấy bằng chứng sự tồn tại của hiệu ứng Balassa – Samuelson quốc tế giữa Việt Nam và 04 quốc gia nghiên cứu

Từ khóa: Hiệu ứng Balassa – Samuelson, tỷ giá hối đoái, năng suất lao động, mức giá

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1 Lý do thực hiện đề tài

Năm 1920, Gustav Cassel, một nhà kinh tế học nổi tiếng người Thụy Điển đã đưa ra lý thuyết ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity – PPP) dựa trên quy luật một giá (Law of one price – LOOP) và khẳng định rằng trong dài hạn thì tỷ giá giữa các quốc gia sẽ tương đồng nhau Hay nói cách khác, lý thuyết PP dự đoán rằng trong dài hạn, mức giá tương đối – tỷ lệ giá giữa hai quốc gia sẽ xác định tỷ giá hối đoái (e = P/P*) và bất kỳ sự sai lệch của mức giá tương đối khỏi tỷ giá cân bằng

sẽ được “đảo ngược về giá trị trung bình” (mean-reverting) trong dài hạn Tuy nhiên, rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã bác bỏ lý thuyết PPP tuyệt đối Ngoài những nguyên nhân được ra như liên quan đến vấn đề chi phí vận chuyển, chi phí giao dịch và thị trường không hoàn hảo, thì giải thích được xem là thuyết phục nhất

là từ Balassa (1964) và Samuelson (1964) – được gọi là giả thuyết Balassa – Samuelson (BS) – đã khẳng định rằng chính sự chênh lệch năng suất giữa khu vực ngoại thương và phi ngoại thương giữa các quốc gia đã đưa đến sự khác nhau trong tiền lương, mức giá và kết quả là sự khác nhau trong tỷ giá hối đoái

Theo cơ chế hoạt động của hiệu ứng BS thì nếu tồn tại sự chênh lệch giữa tăng trưởng năng suất lao động khu vực ngoại thương và phi ngoại thương ở quốc gia nội địa cao hơn so với một quốc gia bất kỳ, thì mức giá của khu vực phi ngoại thương ở quốc gia nội địa sẽ tăng nhanh hơn Trong cơ chế tỷ giá cố định, điều này sẽ dẫn đến một mức tăng chung trong mức giá của nền kinh tế, còn trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi thì điều này sẽ dẫn đến một sự kết hợp cả việc lạm phát gia tăng và sự tăng giá của tỷ giá hối đoái danh nghĩa Trong cả hai trường hợp, thì tỷ giá hối đoái

sẽ tăng

Tính đến thời điểm hiện tại, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm đối với hiệu ứng BS được thực hiện ở hầu hết ở các nước phát triển hoặc các nước Châu Âu, thuộc tổ chức OECD và một số ít quốc gia ở Châu Á do vấn đề khó khăn trong khi thu thập dữ liệu theo khu vực đối với phần lớn các nước đang phát triển Nối tiếp

Trang 10

các thành tựu nghiên cứu trên thế giới, tác giả thực hiện đề tài “Tác động của hiệu ứng Balassa-Samuelson lên tỷ giá hối đoái - Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

và các đối tác thương mại lớn” trong giai đoạn 1992 – 2015

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là kiểm định mối quan hệ giữa sự chênh lệch trong năng suất lao động trong nước so với nước ngoài và tỷ giá hối đoái của Việt Nam và bốn quốc gia đối tác thương mại lớn là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Hoa Kỳ giai đoạn 1992 - 2015

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Một là, liệu sự gia tăng khác nhau giữa sự tăng trưởng năng suất khu vực ngoại thương và phi ngoại thương của Việt Nam có liên quan đến sự gia tăng lạm phát của

hai khu vực này hay không, hay nói cách khác, có tồn tại hiệu ứng BS nội địa ở

Việt Nam hay không?

Hai là, liệu sự gia tăng khác nhau trong sự tăng trưởng về năng suất giữa khu vực ngoại thương và phi ngoại thương ở Việt Nam so với sự khác biệt tương tự ở mỗi quốc gia nghiên cứu có ảnh hưởng đến tỷ giá thực song phương giữa Việt Nam

và các quốc gia đang nghiên cứu hay không, hay nói cách khác có tồn tại hiệu ứng

BS quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia nghiên cứu hay không?

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu chủ yếu dựa trên nền tảng nghiên cứu của Daan Steenkamp

(2013) để làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam Dữ liệu nghiên

cứu được thu thập từ các nguồn dữ liệu quốc tế như Quỹ tiền tệ Thế giới, Ngân hàng Thế Giới và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), kết hợp tham khảo đối chiếu với nguồn dữ liệu trong nước như Tổng Cục Thống Kê

Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS), thực hiện hồi quy bằng phần mềm Stata để đưa ra kết luận cho bài nghiên cứu

Trang 11

1.5 Cấu trúc của bài nghiên cứu

Bài nghiên cứu được chia làm 05 chương, trong đó:

Chương 1: Giới thiệu đề tài Trong chương này, tác giả nêu ngắn gọn về lý do

chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, phương pháp và cấu trúc của bài nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương này sẽ

nêu khái quát các lý thuyết nền tảng về hiệu ứng Balassa – Samuelson và các bài nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chênh lệch năng suất lao động và tỷ giá hối đoái

Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày nguồn

gốc thu thập dữ liệu, cách xây dựng biến và các mô hình sử dụng trong bài nghiên cứu

Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương này trình bày kết quả hồi

quy, các kiểm định có liên quan và trả lời câu hỏi nghiên cứu đặt ra ở Chương 1

Chương 5: Kết luận Chương này trình bày tóm tắt kết luận sau khi thực hiện đề

tài, những điểm hạn chế của đề tài và hướng phát triển tiếp theo

Trang 12

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN

QUAN TRƯỚC ĐÂY 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT HIỆU ỨNG BALASSA – SAMUELSON

2.1.1 Lịch sử tên gọi hiệu ứng Balassa - Samuelson

Những nghiên cứu tiếp cận sự chênh lệch trong năng suất lao động đối với PPP

đã có từ lâu Balassa (1964) và Paul Samuelson (1964) cùng lúc có cùng phương pháp suy luận và kết luận về vấn đề này dựa trên lý giải của Hendrick Houthakker

về học thuyết PPP của Gustav Cassel Vì vậy, vào thập niên 70, toàn bộ phương pháp tiếp cận dựa trên nguồn cung trong nghiên cứu đối với tỷ giá hối đoái đều được đặt theo tên gọi của hai nhà nghiên cứu này

Không lâu sau đó, giới nghiên cứu phát hiện David Ricardo (1911) cũng đã có

mô tả về hiệu ứng này, và Roy Harrod (1933) đã thật sự là người đầu tiên xây dựng

mô hình đầy đủ cho hiệu ứng này

Từ cuộc tranh luận về tên gọi thật sự của hiệu ứng, trong kỷ niệm 30 của việc phát hiện, dựa trên kết quả nghiên cứu của những tác giá về hiệu ứng này, Samuelson (1994) đã đề xuất tên gọi mới cho lý thuyết là: Hiệu ứng Ricardo-Viner-Harrod-Balassa-Samuelson-Penn-Bhagwati Tính tới hiện tại thì cả hai tên gọi đều được giới nghiên cứu học thuật chấp nhận

2.1.2 Nội dung hiệu ứng Balassa - Samuelson

Nội dung lý thuyết BS giải thích hai hiện tượng:

(i) Mức giá khác biệt giữa các quốc gia (The Peen Effect): Theo lý thuyết BS, khi năng suất lao động giữa khu vực ngoại thương ở quốc gia chủ nhà tăng tương đối so với năng suất lao động khu vực ngoại thương của quốc gia bên ngoài, thì mức giá cả của quốc gia chủ nhà sẽ gia tăng do sự gia tăng ở tiền lương chung, với giả định năng suất lao động của khu vực phi ngoại thương của hai quốc gia là tương đương nhau Đây được gọi là hiệu ứng Peen, giải thích hiện tượng mức giá cả ở những quốc gia giàu có (có thu nhập bình quân đầu người cao) sẽ cao

(ii) Sự khác nhau ở tỷ giá hối đoái thực giữa các quốc gia (The BS effect): Lý thuyết BS cho rằng trong một quốc gia có năng suất lao động ở khu vực ngoại

Trang 13

thương cao hơn những nước khác thì tỷ giá hối đoái thực của quốc gia đó sẽ cao hơn

Theo giải thích chi tiết của Ballassa (1964), khi nền kinh tế phát triển, sự gia tăng trong tốc độ phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện cho sự gia tăng ở năng suất lao động Tuy nhiên sẽ luôn tồn tại chênh lệch trong mức tăng trưởng năng suất lao động giữa khu vực ngoại thương và phi ngoại thương Bởi vì, tăng trưởng năng suất lao động khu vực ngoại thương sẽ luôn cao hơn khu vực phi ngoại thương do có khi không có sự tồn tại của rào cản thương mại thì với sự tự do chuyển dịch thông tin, tiến bộ khoa học kỹ thuật ở những ngành nghề thuộc khu vực ngoại thương từ quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát triển Khi đó, với giả định tồn tại sự cạnh tranh hoàn hảo nên người lao động sẽ được trả cho phần sản phẩm cận biên tạo ra hay nói cách khác khi năng suất lao động tăng thì tiền lương của người lao động sẽ gia tăng Do đó, sẽ dẫn đến hiện tượng tiền lương của người lao động khu vực ngoại thương sẽ tăng cao hơn người lao động khu vực phi ngoại thương Một lần nữa, với giả định khả năng dịch chuyển lao động là hoàn hảo trong cùng một nền kinh tế (trong một nước) nên lao động khu vực phi ngoại thương sẽ dịch chuyển sang khu vực ngoại thương Với sự thiếu hụt trong nguồn cung lao động khu vực phi ngoại thương sẽ dẫn đến yêu cầu tăng mức lương chung của khu vực phi ngoại thương Tuy nhiên, khi mức lương tăng mà năng suất lao động không tăng sẽ dẫn đến mức tăng lạm phát của khu vực phi ngoại thương Lúc này sẽ tồn tại sự chênh lệch trong lạm phát giữa khu vực ngoại thương và phi ngoại thương, và với mức lương được san bằng trong cùng một nền kinh tế, thì dịch vụ (khu vực phi ngoại thương) sẽ trở nên đắt đỏ hơn ở quốc gia có năng suất lao động cao hơn (Hiệu ứng Peen - The Peen Effect) Mặc dù dịch vụ có nằm trong tính toán của PPP nhưng lại không ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái, khi đó PPP giữa đồng tiền của hai quốc gia bất

kỳ sẽ biểu hiện ở khía cạnh đồng tiền của quốc gia có năng suất lao động cao hơn sẽ thấp hơn tỷ giá hối đoái cân bằng Chênh lệch năng suất lao động khu vực ngoại thương giữa hai quốc gia càng lớn, thì chênh lệch trong tiền lương và mức giá của

Trang 14

khu vực phi ngoại thương và dẫn đến chênh lệch càng lớn giữa PPP và tỷ giá hối đoái cân bằng (Hiệu ứng BS - The BS Effect)

Có thể tóm lược cơ chế hoạt động của hiệu ứng BS như sau:

(i) Chênh lệch trong mức tăng trưởng ở năng suất lao động giữa khu vực ngoại thương và phi ngoại thương làm cho mức giá thay đổi

(ii) Tỷ lệ giá hàng hóa phi ngoại thương / ngoại thương sẽ cao hơn ở quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn

(iii) Mức giá hàng hóa ngoại thương được giả định không đổi (hay nói cách khác giả định mức giá hàng hóa ngoại thương giữa các quốc gia là bằng nhau)

(iv) Kết hợp (ii) và (iii) dẫn đến tỷ giá gia tăng

2.2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu của Balassa (1964) đã được một số nhà nghiên cứu điều chỉnh một vài chi tiết trong suốt thập niên 70 Bắt đầu với David (1972) sử dụng bình quân đầu người (tính bằng PPP đồng đô la) làm biến phụ thuộc và bình quân người (tính ở tính giá hối đoái đồng đô la) làm biến độc lập Officer (1976) đã thêm vào một điều chỉnh khác từ kiểm định ban đầu của Balassa được thay thế bởi 03 biến đại diện (thay vì một biến) cho năng suất lao động Officer (1976) đã ước tính mức độ của năng suất lao động bởi sản lượng đầu ra bình quân đầu người, sản lượng đầu ra

Trang 15

bình quân số lượng lao động và tỷ lệ năng suất lao động khu vực ngoại thương và phi ngoại thương Đây là lần đầu tiên tỷ lệ này được sử dụng trong kiểm định mô hình hiệu ứng BS

Tuy nhiên, nghiên cứu của Officer không tìm thấy sự tồn tại của hiệu ứng BS Sau đó, David Hsieh (1982) thực hiện kiểm định dựa vào dữ liệu chuỗi thời gian đối với mô hình hiệu ứng BS Ông đã sử dụng tỷ giá thực tương đối (EP*/P) làm biến phụ thuộc, và năng suất tương đối khu vực làm biến độc lập Cả hai phát kiến của hai tác giả được xem là tiêu chuẩn của việc nghiên cứu hiệu ứng này ở gốc độ mô hình kinh tế lượng dữ liệu chuỗi thời gian

Sau đó, hướng nghiên cứu này đã được mô hình hóa cụ thể hơn ở nghiên cứu Marston (1990) Ông vẫn sử dụng biến độc lập từ mô hình Officer (1976) là tỷ lệ năng suất khu vực, trong khi đó ông sử dụng biến phụ thuộc từ mô hình Hsieh (1982) là tỷ giá hối đoái thực tương đối (relative real exchange rate) và thêm vào tỷ

lệ mức giá của khu vực (ratio of sector price levels)

Sau khi có sự xuất hiện của nghiên cứu của Hsieh (1982), đã có một sự tiến triển vượt bật trong kiểm định dữ liệu chuỗi thời gian (dùng để kiểm định hiệu ứng BS nội địa), trong khi mô hình kiểm định giữa các quốc gia (dùng để kiệm định hiệu ứng BS quốc tế) vẫn không thay đổi Mặc dù, một vài tác giả đã đưa ra những điều chỉnh đối với mô hình kiểm định giữa các quốc gia Phần lớn các điều chỉnh này liên quan đến sự thiếu hụt trong dữ liệu cần thiết Kravis, Heston và Summers (1983) đưa ra tỷ lệ năng suất khu vực và Heston, Daniel Nuxoll và Summers (1994)

sử dụng mức giá tương đối khu vực làm biến phụ thuộc Không lâu sau, Laszlo Halpern và Charles Wyplosz (1998) và Kornelia Krajnyak và Jeromin Zettelmeyer (1998) sử dụng tiền lương như một đại diện cho mức giá ở những quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi (transition countries)

Tuy nhiên, Asea và Mendoza (1994) đã chứng minh rằng chính mức bình quân sản lượng đầu ra trên đầu người (chứ không phải tổng lượng đầu ra) xác định mức giá của khu vực phi ngoại thương Mặc dù vậy, mô hình kiểm tra chéo giữa các quốc gia không thay đổi là do bản chất của dữ liệu chuỗi thời gian được sử dụng

Trang 16

Trong khi đó, mô hình của Asea và Mendoza (1994) đưa ra cần sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian Trong khi dữ liệu chuỗi thời gian theo khu vực chỉ có sẵn đối với một số quốc gia Vì vậy, những nhà nghiên cứu mặc nhiên bỏ qua kết luận cũng như

mô hình của hai ông trong những nghiên cứu mô hình với số lượng lớn các quốc gia hoặc trong trường hợp các quốc gia không có sẵn dữ liệu chuỗi thời gian theo khu vực Khi đó, các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng GDP bình quân đầu người làm biến đại diện cho năng suất khu vực

2.2.3 Phương pháp phân tích định lượng sử dụng

Cùng với sự phát triển trong mô hình ban đầu, giả thiết BS đã được kiểm định trong một lượng lớn các bài nghiên cứu với các dữ liệu và phương pháp khác nhau Kiểm định định lượng đầu tiên là phân tích OLS đối với dữ liệu chéo của khu vực ở mức giá và thu nhập ở 12 quốc gia (Balassa, 1964) Vào những năm đầu thập niên

80, Hsieh (1982) sử dụng các kỹ thuật liên quan đến biến công cụ, và sau đó Hali Edison và Jan Klovland (1987) và Bahmani- Oskooee (1992) sử dụng kỹ thuật kiểm định đồng liên kết (E/G technique – của Rober Engle và Cliver Granger, 1987) Tuy nhiên, OLS vẫn là phương pháp phân tích được sử dụng chính ở giai đoạn này Vào những năm cuối thập niên 90, thì kỹ thuật phân tích đồng liên kết mới được

sử dụng phổ biến Phương pháp kiểm định đồng liên kết Johansen (1990) được sử dụng lần đầu bởi Bahmani-Oskooee và Hyun-Jae Rhee (1996) và trở thành kỹ thuật phổ biến nhất trong kiểm định lý thuyết BS (Menzie Chinn 1997; Ioannis Halikias, Phillip Swagel và William Allan 1999, Stephen Deloach 2001; Taylor và Sarno 2001; Balazs Egert 2002a) Mặt dù, kỹ thuật kiểm định Johansen phức tạp hơn kỹ thuật E/G, nhưng cả hai có cùng lượng bài nghiên cứu sử dụng

Bên cạnh đó, một số kỹ thuật phân tích định lượng khác cũng được sử dụng Bao gồm Fully Modified Ordinary Least Squares (Canzoneri, Cumby và Diba 1999; Egert 2002b; Egert và Rault 2003) hay GLS (Bahmani-Oskooee và Nasir 2001; Halpern và Wyplosz 2001), hay Nonlinear techniques (Chinn 2000; Taylor và Sarno 2001), và Dynamic Ordinary Least Squares (Ehsan Choudhri và Mohsin Khan 2004; Chinn 1997), hoặc Fixed Effects Panel Model (Fischer 2002; Adriana

Trang 17

Lojschova 2003) và GMM (Halpern và Wyplosz 1998; Olga Arratibel, Diego và Christian Thimann 2002)

Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện tại thì OLS vẫn là kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất trong suốt thời gian kể từ khi hiệu ứng BS được xây dựng, kể cả bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hay dữ liệu bảng

2.2.4 Biến độc lập được thêm vào mô hình ban đầu

Bên cạnh mức giá và năng suất lao động, các nhà nghiên cứu đã thêm vào một

số biến độc lập nhằm nỗ lực giải thích những sai lệch trong mô hình chuẩn ban đầu Hsieh (192) thêm vào biến tiền lương nhằm giải thích vấn đề giữa sự gia tăng và chênh lệch tiền lương quá mức Edison và Klovland (1987) đã nới lỏng giả định LOOP cho hàng hóa ngoại thương và sử dụng thêm điều kiện ngoại thương (terms

of trade) làm biến độc lập Clauge (1988) thì thêm vào độ mở kinh tế Rogoff (1992) sử dụng thêm giá dầu và tiêu dùng của chính phủ nhầm giải thích vị thế

“người chấp nhận giá” (price taker) của những nhà nhập khẩu dầu và sự thiên lệch trong tiêu dùng chính phủ đối với hàng hóa khu vực phi ngoại thương

Việc thêm vào những biến giải thích nhầm mục đích điều chỉnh mô hình phù hợp với thị trường không hoàn hảo, ảnh hưởng của phía cầu của nền kinh tế, ảnh hưởng của những cú sốc bên ngoài và quy mô của các liên kết quốc tế Bên cạnh những biến đại diện trên, vẫn còn một số biến được sử dụng thêm vào mô hình như tổng cung tiền và lạm phát được sử dụng để ước lượng tác động dài hạn của chính sách tiền tệ và phía cầu nói chung

2.2.5 Phân biệt khu vực ngoại thương và phi ngoại thương

Lý thuyết BS dựa trên sự phân chia hàng hóa ở khu vực ngoại thương và phi ngoại thương Tuy nhiên, rất ít hàng hóa có thể phân biệt một các dễ dàng vào khu vực phi ngoại thương Thực tế, tất cả hàng hóa đều được xem là “có thể giao dịch” (tradable) ở một vài khu vực được xác định bởi chi phí vận chuyển, mặc dù phần lớn các nhà kinh tế học cho rằng một vài hàng hóa ở vài khía cạnh có thể được xem

là “khả mại ít hơn” (less tradable) một số hàng hóa khác

Trang 18

Dựa vào bài nghiên cứu gốc của Officer (1976), các nhà nghiên cứu giả định đơn giản rằng ngành sản xuất và/hoặc công nghiệp sẽ là khu vực ngoại thương trong khi dịch vụ sẽ thuộc khu vực phi ngoại thương Đây chỉ là giả định cơ bản nhất Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu đã thêm vào ngành nông nghiệp vào khu vực ngoại thương, tuy nhiên một số lại tranh luận bởi vì ngành nông nghiệp thường được cho

là mức giá bị kiểm soát bởi nhà nước nên không thể đưa vào Bên cạnh đó, những sản phẩm thuộc cơ sở vật chất, ví dụ năng lượng, nước thì được đưa vào những bài nghiên cứu đầu tiên với phân loại vào ngành ngoại thương, trong khi đó những năm đầu thập niên 90 thì bị loại ra

Có thể thấy, kiểm định thực nghiệm là căn cứ tin cậy nhất để xác định phân loại khu vực ngoại thương gồm những ngành nào Bài nghiên cứu đầu tiên áp dụng phương pháp này là De Gregorio, Giovannini và Wolf (1994) đã thực hiện kiểm định thực nghiệm trên những ngành khác nhau của cùng một nền kinh tế Dữ liệu của các ông dựa trên dữ liệu ngành của OECD, bao gồm 14 quốc gia và 20 ngành giai đoạn 1970 – 1985

De Gregorio, Giovannini và Wolf (1994) sử dụng tỷ lệ xuất khẩu trên tổng lượng sản xuất của một ngành hàng nhằm xác định mức độ “khả mại” (tradedness) Theo kết quả của bài nghiên cứu, ngành nông nghiệp, khai khoáng và hầu hết ngành sản xuất có tỷ lệ xuất khẩu trên tổng lượng sản xuất từ 23,6 đến 59,9 %, nông nghiệp có tỷ lệ thấp nhất và sản xuất kim loại có tỷ lệ cao nhất Ngoại lệ duy nhất trong ba ngành này là sản suất khoáng sản phi kim loại có tỷ lệ xuất khẩu chiếm 13,5% Mặt khác, tỷ lệ xuất khẩu của ngành dịch vụ là thấp hơn 5% Trong ngành dịch vụ, thì vận chuyển có tỷ lệ là 27,8%, trong khi các ngành dịch vụ khác chỉ có

tỷ lệ ở mức 1,9%

De Gregorio, Giovannini and Wolf (1994) định nghĩa một ngành thuộc khu vực ngoại thương khi nó có hơn 10% lượng xuất khẩu trong toàn bộ lượng hàng được sản xuất ra Khi đó, các ông xác định nông nghiệp, khai khoáng, sản xuất và vận chuyển thuộc khu vực ngoại thương, và những ngành dịch vụ còn lại thuộc khu vực

Trang 19

phi ngoại thương Đây là cơ sở phân loại được sử dụng hầu hết trong các nghiên cứu hiệu ứng BS

Ngoài cơ sở phân loại đã được phát triển bởi De Gregorio, Giovannini and Wolf (1994), thì một số tác giả có hướng tiếp cận khác như Arratibel, Rodriguez-Palenzuela và Thinman (2002); Egert (2002a; 2002b) cho rằng công nghiệp là ngành duy nhất thuộc khu vực ngoại thương, và Chinn (1997); Philipp Rother (2000) cho rằng chỉ có sản xuất mới thuộc khu vực ngoại thương Một vài tác giả khác thì thêm khai khoáng và nông nghiệp vào khu vực ngoại thương như Asea và Mendoza (1994); Chinn và Johnson (1997) Trong khi De Greogorio và Wolf (1994); Asea và Mendoza (1994) phân loại ngành vận chuyển và xây dựng vào khu vực ngoại thương thì Stefano Micossi và Gian Maria Milesi-Ferretti (1994); Takatoshi Ito, Isard and Steven Symansky (1997) xếp vào khu vực phi ngoại thương Lý do các bài nghiên cứu này sử dụng khác khung phân loại của De Gregorio là bởi vì thiếu dữ liệu Một bài kiểm định thực nghiệm đối với lý thuyết

BS chuẩn cần sử dụng dữ liệu đầu ra theo khu vực, số lượng lao động, mức giá và thậm chí là vốn Những quốc gia không thuộc tổ chức OECD thì sẽ rất khó thu được những dữ liệu đầy đủ và chính xác

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng khung phân loại theo bài nghiên cứu của Morris Goldstein (1979) Ông đã phân loại dựa trên ba tiêu chí bao gồm: mức

độ tham gia thương mại với nước ngoài của hàng hóa khu vực ngoại thương phải cao hơn khu vực phi ngoại thương, thay đổi trong tương quan mức giá giữa các quốc gia của hàng hóa ngoại thương phải cao hơn phi ngoại thương, và cuối cùng là hàng hóa ngoại thương có khả năng thay thế cho hàng hóa ngoại thương từ những quốc gia khác (nhập khẩu) hơn hàng hóa phi ngoại thương Từ đó, ông liệt kê những ngành nghề thuộc khu vực ngoại thương bao gồm nông nghiệp, săn bắn, lâm và ngư nghiệp, khai khoáng và mỏ, và sản xuất Tất cả ngành nghề còn lại ông đưa vào khu vực phi ngoại thương

Trang 20

2.2.6 Các vấn đề liên quan đến biến đại diện năng suất lao động

Liên quan đến việc lựa chọn biến đại diện năng suất lao động khi kiểm định lý thuyết BS cũng mang lại những tranh cãi lớn trong giới nghiên cứu Thông thường, lựa chọn đơn giản nhất của các nhà nghiên cứu là sử dụng năng suất các nhân tố tổng hợp (total facfor productivity – TFP) hoặc năng suất lao động trung bình Việc tranh cãi về biến đại diện này không chỉ liên quan đến vấn đề thực tiễn mà còn là vấn đề lý thuyết

Tranh cãi liên quan đến vấn đề lý thuyết ở đây là do bản chất của chỉ số sử dụng Các nhà nghiên cứu không ủng hộ sử dụng năng suất lao động trung bình với lý do khi so sánh giữa TFP, thì năng suất lao động trung bình tăng trưởng nhanh hơn trong giai đoạn kinh tế trì trệ Vì vậy, nó không phải là một chỉ số đáng tin cậy của việc đại diện cho tốc độ tăng trưởng bền vững (De Gregorio và Wolf) Mặc khác, cũng có những nhà nghiên cứu ủng hộ việc sử dụng năng suất lao động trung bình với những giải thích khác nhau Chẳng hạn, TFP là kết quả tính từ dữ liệu vốn của từng khu vực (sector capital stocks), đây là dữ liệu kém tin cậy hơn dữ liệu được tính từ lượng lao động làm việc và giá trị gia tăng của khu vực ấy, hoặc hàm sản xuất để tính toán TFP không hoàn toàn tương tự như giả định trong BS

Theo Coricelli và Jazbec (2001), mặt dù khá nhiều nhà nghiên cứu thể hiện sự đồng tình trong việc lựa chọn TFP là biến đại diện cho năng suất lao động sẽ tốt hơn, nhưng do việc thiếu dữ liệu ở từng khu vực, cũng như năng suất gộp ở một số quốc gia kém phát triển, hay đang chuyển đổi, các nhà nghiên cứu từ cuối thập niên

90 và sau này sử dụng năng suất lao động trung bình thay vì TFP

2.2.7 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Tồn tại nhiều kết quả khác nhau trong bằng chứng thực nghiệm của các bài nghiên cứu hiệu ứng BS đối với nhau đối với những quốc gia được kiểm định Có khá nhiều bài nghiên cứu đã cho thấy tồn tại hệ số BS có ý nghĩa thống kê và đúng dấu kỳ vọng cho các quốc gia được nghiên cứu Có thể thấy bằng chứng rõ ràng nhất giữa mối quan hệ giữa năng suất và mức giá được tìm thấy ở nghiên cứu thực nghiệm giữa các khu vực là ở bài nghiên cứu gốc của Balassa (1964) Các bài

Trang 21

nghiên cứu áp dụng theo hướng tiếp cận của ông phần lớn đều có kết quả tương tự Chẳng hạn, Bergen Glick và Taylor (2004) các ông phát triển nghiên cứu từ 12 quốc gia trong bài nghiên cứu của Balassa (1964) lên 142 quốc gia Điều này đã chứng tỏ

có thể sử dụng một lượng mẫu lớn để kiểm định và kết quả chứng minh hiệu ứng này tồn tại là đáng tin cậy

Bahmani-Oskooe và Nasir (2004), sử dụng mô hình ARDL để kiểm định đối với mẫu 44 quốc gia, đã tìm thấy bằng chứng hiệu ứng BS tồn tại ở 32 quốc gia (cả quốc gia phát triển và đang phát triển) trong khi đó lại không tìm thấy BS tồn tại ở

12 quốc gia kém phát triển do liên quan đến một số vi phạm của mô hình như rào cản ngoại thương, kiểm soát vốn và giới hạn lao động di chuyển giữa các khu vực kinh tế

Lafrance và Schembri (2000) tìm thấy bằng chứng của hiệu ứng BS trong mối quan hệ giữa năng suất lao động và tỷ giá giữa Hoa Kỳ và Canada giao đoạn 1979 đến 1999 Khorshed Chowdhury (2007), sử dụng mô hình ARDL và tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch năng suất lao động giữa Úc và Hoa Kỳ giai đoạn 1950 – 2003 Ông tìm thấy cứ 1% gia tăng trong năng suất lao động giữa Úc so với Hoa Kỳ sẽ dẫn đến tỷ giá thực sẽ gia tăng 5,6%

Ở Châu Á, quốc gia thể hiện rõ nét nhất hiệu ứng BS là trường hợp Nhật Bản ở giai đoạn sau chiến tranh Giai đoạn 1973 – 1997 đồng Yên Nhật đã tăng 82% so với đồng đô la Mỹ Richard Marston (1987) đã thực hiện một kiểm định cho thấy chênh lệch năng suất lao động ở khu vực ngoại thương giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ cao hơn rất nhiều so với chênh lệch trong khu vực phi ngoại thương Với sự gia tăng trong năng suất lao động ở khu vực ngoại thương đã dẫn đến mức giá của hàng hóa ngoại thương so với phi ngoại thương ở Nhật giảm Martson khẳng định hiện tượng này đã dẫn đến đồng Yên tăng giá so với đồng đô la khoảng 1% hằng năm trong suốt thời kỳ 1973 – 1983

Mặc khác, vẫn có một số nghiên cứu kết luận không tìm thấy sự tồn tại của hiệu ứng BS như Egert (2005) nghiên cứu 6 quốc gia ở Châu Âu giai đoạn 1991 – 2005,

Trang 22

hoặc nghiên cứu của Daan Steenkamp (2013) hồi quy OLS không có ý nghĩa thống

kê ở hiệu ứng BS nội địa cũng nhƣ quốc tế tại New Zealand giai đoạn 1978 to 2006 Phụ lục 1 thể hiện tóm tắt các kết quả kiểm nghiệm hiệu ứng BS của một số nghiên cứu trên thế giới

Trang 23

2 Hướng tiếp cận nghiên cứu theo khu vực kết hợp với dữ liệu bảng đã trở thành một tiêu chuẩn cho kiểm định thực nghiệm đối với hiệu ứng BS

3 Việc thêm vào biến độc lập vào mô hình gốc nhằm mục đích điều chỉnh mô hình phù hợp với các điều kiện nghiên cứu như thị trường không hoàn hảo, ảnh hưởng dài hạn của chính sách tiền tệ vv

4 Vì một số lý do liên quan đến dữ liệu và phương thức tính toán, biến đại diện cho năng suất lao động được khuyến khích sử dụng lao động trung bình thay vì TFP

5 Tồn tại một lượng lớn kết quả nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ tồn tại hiệu ứng

BS Mức độ ảnh hưởng của hiệu ứng phụ thuộc bởi bản chất kiểm định và những quốc gia được lựa chọn nghiên cứu Nhưng vẫn có những kết quả nghiên cứu không tìm thấy ý nghĩa thống kê cho mối quan hệ giữa chênh lệch năng suất lao động và tỷ giá hối đoái

Trang 24

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình nghiên cứu

Dựa vào mô hình của bài nghiên cứu của Daan Steenkamp (2013), tác giả xem xét ảnh hưởng của hiệu ứng BS đến tỷ giá thực thông qua biến số năng suất lao động và mức giá Mô hình nghiên cứu thể hiện như sau:

Phương trình (1) xuất phát từ các bước phân tích sau sau đây:

Tỷ giá hối đoái thực là giá tương đối của hàng hoá trong nước và nước ngoài, được đo bằng đồng nội tệ:

= + (2)

Sử dụng mức giá tổng hợp của mỗi quốc gia (ký hiệu pr) và tỷ giá danh nghĩa (nerVN,t) xác định như mức giá ngoại tệ của 1 đồng Việt Nam tương ứng với quốc gia thứ i (một sự gia tăng trong tỷ giá hối đoái thực thì sẽ thể hiện sự lên giá của đồng tiền)

Trong mỗi nền kinh tế, giá tổng hợp là một trọng số trung bình của giá các hàng hoá ngoại thương và phi ngoại thương, như vậy:

Mô hình cơ bản của BS đưa ra bốn giả định chính:

1 Lao động và vốn bằng nhau giữa các ngành và giữa các quốc gia

2 Có sự cạnh tranh hoàn hảo nên lao động được trả cho phần sản phẩm cận biên tạo ra

Trang 25

3 Khả năng dịch chuyển lao động là hoàn hảo trong nước nên tiền lương được cân bằng giữa các ngành và tồn tại sự lưu chuyển vốn hoàn hảo để biến lãi suất là biến ngoại sinh

4 Điều kiện thương mại (Term of trade) và các yếu tố bên cầu khác sẽ bị bỏ qua

Những giả định này có thể được nới lỏng để áp dụng mô hình cho các trường hợp thực tế hơn (được mô tả trong phần sau) Theo những giả định này, lạm phát khu vực ngoại thương so với khu vực phi ngoại thương sẽ thể hiện sự chênh lệch trong sự tăng trưởng năng suất giữa khu vực ngoại thương và phi ngoại thương: = (4)

Với tất cả các biến số được thể hiện bằng tỷ lệ thay đổi (Δ) và prod được sử

dụng như một biến đại diện cho năng suất lao động

Tương tự, có thể thấy rằng sự khác biệt trong lạm phát khu vực ngoại thương và phi thương mai của Việt Nam đối với đối tác phụ thuộc vào sự chênh lệch lạm phát của khu vực ngoại thương và phi ngoại thương giữa các quốc gia:

) ( )= ) (5) Thay phương trình (3) vào phương trình (1) ta có:

= +( )+(1 )[ (1 ) ] (6) Viết lại phương trình (5) ở thành phần giá hàng hóa phi ngoại thương và sử dụng

định nghĩa về giá tổng hợp, chênh lệch tổng lạm phát giữa Việt Nam và đối tác i sẽ

được trình bày như sau:

= +(1 )[ (1 ) ](7) Nếu quy luật LOOP tồn tại ở khu vực ngoại thương, thì: = + thì khi đó phương trình (7) có thể đơn giản hóa như sau:

= +(1 )[ (1 ) ] (8) Trong khi phần ban đầu của phương trình (6) trong dài hạn sẽ đảo ngược về giá trị trung bình (mean-reverting) và biến mất, do đó:

= (1 )[ (1 ) ] (9)

Trang 26

3.2 Nội dung các kiểm định

Có năm kiểm định thường được sử dụng để kiểm tra các hiệu ứng BS bao gồm: (1) Ở cấp độ tổng hợp, mô hình BS cơ bản dự đoán rằng mức tăng yếu trong

mức tăng năng suất lao động tương đối của một quốc gia đối với quốc gia i sẽ

gắn liền với sự giảm đi trong tỷ giá thực

(2) Sự khác biệt trong cùng một quốc gia giữa lạm phát khu vực phi ngoại

thương đối với lạm phát khu vực ngoại thương (Δ - Δ ) phản ánh

sự khác biệt giữa tăng trưởng năng suất tương đối giữa hai ngành (Δ so với Δ ) Điều này đôi khi được gọi là kiểm định nội địa của hiệu ứng

BS Sử dụng phương trình (4) để kiểm định

(3) Cơ chế truyền tải ra bên ngoài của hiệu ứng BS dựa trên giả định rằng sự chênh lệch trong sự tăng trưởng năng suất lao động của khu vực ngoại thương và phi ngoại thương của một quốc gia với đối tác thương mại khác nhau sẽ cho thấy

sự khác biệt trong lạm phát khu vực phi ngoại thương so với ngoại thương Hay nói cách khác, giả sử rằng giả thuyết BS nội địa tồn tại giữa các đối tác giao dịch – nếu khoảng cách giữa năng suất lao động khu vực ngoại thương và phi ngoại thương của VN so với quốc gia khác tăng thì khoảng cách giữa lạm phát khu vực phi ngoại thương và ngoại thương của VN so với các quốc gia khác sẽ tăng Sử dụng phương trình (5) để kiểm định

(4) Kỳ vọng về hiệu ứng BS sẽ phụ thuộc vào mức độ tăng trưởng năng suất của khu vực ngoại thương và phi ngoại thương được đo lo lường giữa các quốc gia Hiệu ứng BS sẽ làm giảm áp lực tỷ giá song phương thực (RERVN:i, t) tương ứng với quốc gia i, nếu tăng trưởng năng suất lao động khu vực ngoại thương của Việt Nam giảm so với quốc gia i (với một mức tăng trưởng ở khu vực phi ngoại thương của mỗi quốc gia cho trước), hoặc nếu tăng trưởng năng suất lao động

trong khu vực phi ngoại thương của nước i giảm so với Việt Nam (với một mức

tăng trưởng năng suất lao động của khu vực ngoại thương của mỗi quốc gia cho trước) Sử dụng Phương trình (6) để kiểm đinh

Trang 27

(5) Một sự suy giảm trong sự chênh lệch mức lạm phát giữa khu vực phi

ngoại thương và khu vực ngoại thương giữa VN và một đối tác thương mại bất

kỳ sẽ liên quan đến sự giảm tỷ giá thực dài hạn, nếu LOOP giả định là tồn tại ở

khu vực ngoại thương trong dài hạn Sử dụng Phương trình (9) để kiểm định

Hình 3.1: Tóm tắt các nội dung kiểm định Hiệu ứng BS

Kiểm định năng suất gộp

Kiểm định năng suất lao động theo khu vực

Kiểm định năng suất và mức giá theo khu vực

3.3 Các biến nghiên cứu

3.3.1 Biến phụ thuộc

3.3.1.1 Tỷ giá thực đa phương (REER – Real Effective Exchange rate)

Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER–Nominal Efective Exchange rate): NEER

không phải là tỷ giá, nó là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số loại ngoại

tệ đặc trưng (rổ tiền tệ) và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của các đồng

tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng

↓ 𝑁ă𝑛𝑔 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑙𝑎𝑜 độ𝑛𝑔 𝑉𝑁 𝑁ă𝑛𝑔 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑙𝑎𝑜 độ𝑛𝑔 𝑞𝑢ố𝑐 𝑔𝑖𝑎 𝑖

↓ E

Tỷ giá thực song phương giảm

4

Trang 28

Tỷ giá thực đa phương (REER): là một chỉ số phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng nội tệ bị định giá cao hay thấp Theo IMF, tỷ giá thực đa phương được tính toán dựa trên trung bình trọng số của mức giá nội địa và mức giá của quốc gia đối tác thương mại

REER trong bài nghiên cứu được tính toán dựa trên NEER với công thức như sau:

Trong đó:

 = ∑

 là chỉ số giá tiêu dùng trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ

 là chỉ số giá tiêu dùng của nội tệ

 j: là số thứ tự của đồng tiền trong rổ

 i: là kỳ tính toán

Với: = ∑

Trong đó:

 NEER là tỷ giá danh nghĩa đa phương

 e là chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương

 w là tỷ trọng tỷ giá song phương (căn cứ vào tỷ trọng thương mại với từng nước để phân bổ tỷ trọng cho từng tỷ giá song phương của các đồng tiền trong rổ theo nguyên tắc tỷ trọng thương mại càng lớn thì tỷ trọng tỷ giá song phương cũng càng lớn)

 j là số thứ tự của các tỷ giá song phương

 i là kỳ tính toán

REER đại diện cho sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với quốc tế và được đo như là tỷ giá danh nghĩa điều chỉnh theo lạm phát của một rổ các đối tác thương mại Hầu hết các nghiên cứu sử dụng chỉ số CPI như là biến số đại diện cho lạm phát do tính sẵn có của số liệu, trong khi một số nghiên cứu khác sử dụng các

Trang 29

chỉ số như chỉ số giá bán buôn hoặc chỉ số giảm phát GDP (Như Rimgailaite, 2012) Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng chỉ số giảm pháp GDP

Ngoài ra, tác giả tính toán NEER dựa trên tỷ trọng thương mại Việt Nam và đề xuất sử dụng bộ chỉ số 20 nước đối tác thương mại có tỷ trọng lớn nhất với Việt Nam, với dữ liệu khảo sát là kết quả thương mại song phương với Việt Nam

3.3.1.2 Tỷ giá song phương thực (Real Exchange Rate - RER)

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương (Nominal exchange rate – NER) là giá

cả của một đồng tiền so với một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát giữa hai nước

Tỷ giá thực song phương là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước, nó là chỉ số thể hiện sức mua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ Vì thế có thể xem tỷ giá thực là thước đo sức cạnh tranh trong mậu dịch quốc tế của một quốc gia so với một quốc gia khác RER trong bài được tính theo công thức:

RER = NER * Pe / Pd Trong đó: Pd là chỉ số giá nội địa, đại diện cho giá hàng hoá và dịch vụ không thương mại; Pe là chỉ số giá hàng hoá và dịch vụ trung bình của các nước bạn hàng

Pd và Pe có thể là giá tiêu dùng (CPI) hoặc giá GDP (GDP deflator) Theo hướng nghiên cứu của bài nghiên cứu gốc, tác giả sử dụng GDP deflator từ Website World Bank

Tác giả sử dụng REER trong đưa ra kết luận về giả thuyết chênh lệch năng suất khu vực ở Việt Nam có ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái

Tác giả sử dụng RER trong việc kiểm định hiệu ứng BS quốc tế, đưa ra kết luận

về giả thuyết chênh lệch trong mức tăng năng suất khu vực giữa Việt Nam và đối tác thương mại có ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái song phương

3.3.2 Biến độc lập

3.3.2.1 Năng suất lao động

Năng suất lao động của từng quốc gia ( ): Là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa

Trang 30

một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó Ở từng đơn vị kinh tế (như công ty và các loại hình doanh nghiệp khác), năng suất lao động đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trên một đơn vị thời gian, hoặc thời gian cần thiết sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Còn ở phạm vi toàn nền kinh tế, năng suất lao động biểu hiện thành năng suất lao động xã hội (PROD), được xác định trên cơ

sở GDP hoặc GNP chia cho số lượng lao động đang làm việc ở mỗi thời kỳ trong nền kinh tế (L)

PROD = Năng suất lao động của khu vực ngoại thương và phi ngoại thương (

): Sử dụng giá trị đầu ra bình quân trên lao động của từng khu vực cách tính được áp dụng theo bài nghiên cứu “New measures of prices and productivity for tradable and nontrabable goods”, 1979 bởi Morris Goldstein tại tạp chí

“the International Association for Research in Income and Wealth”.

= ă ố

ố độ

= ă ố

ố độ

3.3.2.2 Mức giá (price level hay price index)

 Mức giá hàng hóa khu vực ngoại thương

Trong tất cả các nghiên cứu thực nghiệm để đo lường mức giá của khu vực ngoại thương (PT) bao gồm chỉ số giá xuất khẩu (export price index – EPI), chỉ số giá nhập khẩu (import price index – IPI) và chỉ số giá bán buôn (wholesale price index – WPI)

Theo Tổng cục Thống Kê, EPI là chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức

độ biến động giá xuất khẩu hàng hóa theo thời gian Chỉ số giá xuất khẩu được tính theo công thức Laspeyres chuyển đổi với quyền số cố định là tỷ trọng (%) kim ngạch xuất khẩu của các nhóm ngành hàng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của năm được chọn làm gốc so sánh Và IPI là chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức

độ biến động của giá nhập khẩu hàng hóa theo thời gian Chỉ số giá nhập khẩu hàng

Trang 31

hóa được tính theo công thức Laspeyres chuyển đổi với quyền số cố định là tỷ trọng (%) kim ngạch nhập khẩu của các nhóm ngành hàng trong tổng kim ngạch nhập khẩu của năm được chọn làm gốc so sánh

Trong đó, EPI và IPI đo lường sự thay đổi giá của những hàng hóa ngoại thương dựa trên biến động giá của những hàng hóa thật sự được giao thương giữa các quốc gia

Tuy nhiên, theo Morris (1979) cả EPI, IPI và WPI đều có những nhược điểm riêng trong việc sử dụng làm biến đại diện cho mức giá hàng hóa ngoại thương liên quan đến vấn đề sai lệch trong tính toán mức giá cũng những hàng hóa hỗn hợp hoặc lỗi tính hai lần (double –counting)

 Mức giá hàng hóa khu vực phi ngoại thương (PNT):

Biến đại diện thông dụng nhất cho mức giá hàng hóa khu vực phi ngoại thương

là CPI và chỉ số giảm phát (the price deflator) của GDP hoặc GNP

Đối với CPI, thì không phải tất cả đầu ra thuộc khu vực phi ngoại thương được

đo lường bởi chỉ số này Dịch vụ không được sử dụng bởi hộ gia đình (ví dụ: dịch

vụ dodanh nghiệp và quản lý công cộng) thì không được tính vào CPI, và kể cả những dịch vụ như xây dựng của người nước ngoài (nonresidential construction)

Và một số hàng hóa thuộc khu vực ngoại thương lại được tính vào CPI Ngoài ra, vì CPI tính toán trên mức giá những hàng hóa được tiêu dùng chứ không phải ở khâu sản xuất, nên CPI tính toán mức giá cả giá hàng hóa có thể nhập khẩu, xuất khẩu và

kể cả hàng hóa được nhập khẩu Chính vì những lý do trên, CPI không thể xem là đại diện hoàn hảo cho PNT

Còn về chỉ số giảm phát GDP (hay GNP), đo lường thay đổi trong giá của tất cả sản phẩm nội địa (cả đầu ra ngoại thương và phi ngoại thương) Vì vậy, tương tự CPI, chỉ số giảm phát không thể xem là đại diện tốt cho PNT

Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng hướng tiếp cận tính toán dựa trên added với cách tính được áp dụng theo bài nghiên cứu, Morris (1979) như sau:

= V – i i i i ă i

ă ố

Trang 32

3.5 Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu về tỷ giá hối đoái chính thức được tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp được cung cấp bởi Ngân hàng thế giới

Năng suất lao động của từng quốc gia ( ) và số lượng lao động của khu vực ngoại thương và phi ngoại thương (PRODT và PRODNT) sẽ lấy từ dữ liệu của ILO

Có hai nguồn dữ liệu chính thống để thu thập dữ liệu GDP theo khu vực ngoại thương và phi ngoại thương (dựa trên value-added theo ngành kinh tế) Thứ nhất là

từ trang web OECD khoản mục National Acounts (cho phép lấy dữ liệu theo ngành với mức giá năm hiện hành, và năm gốc) Tuy nhiên vì đây là trang website thống

kê cho các nước thành viên của tổ chức OECD, nên không có dữ liệu của Việt Nam Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ hai từ website thống kê Liên Hiệp Quốc (United Nations - UN) mục Yearbook of National Acccounts Statistics

Tỷ trọng của hàng ngoại thương trong tổng sản lượng trong nước ( và ):

Sử dụng dữ liệu GDP ngành ngoại thương chia cho tổng GDP quốc gia từ số liệu World Bank

Bên cạnh đó, dữ liệu về tiền lương danh nghĩa được tác giả thu thập từ Global Wage Report của ILO và tiền lương thực tế được tính trên cơ sở tiền lương danh nghĩa và CPI theo công thức tiền lương thực tế = (tiền lương danh nghĩa / CPI)*100

3.6 Phương pháp phân tích dữ liệu

Với dữ liệu thu thập là dữ liệu bảng (dữ liệu được sắp xếp theo thời gian và theo quốc gia) nên tác giả sử dụng phần mềm Stata 14 để tiến hành phân tích dữ liệu, bao

Trang 33

gồm phân tích thống kê mô tả dữ liệu thu thập, và phân tích mô hình hồi quy tuyến tính OLS

Ngày đăng: 02/08/2018, 22:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w