MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong đời sống xã hội, Luật dân sự giữ vai trò rất quan trọng. Xét trên phương diện chung nhất, luật dân sự là công cụ để thiết chế hóa đường lối chính sách của Đảng,bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hành có hiệu quả trên quy mô toàn từng lớp, là dụng cụ để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống tầng lớp, là công cụ để nhân dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ, thực hành quyền và bổn phận của mình. Luật dân sự với tư cách là nguyên tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội nói chung, cũng như tới các nguyên tố của thượng tầng chính trị pháp lý nói riêng. Sự tác động và ảnh hưởng của pháp luật biểu thị ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng loại đối tượng và từng loại quan hệ cụ thể cần có sự điều chỉnh của luật. Tuy nhiên, những điểm nói trên mới chỉ phản ánh vai trò pháp luật ở bình diện chung. Để thấy rõ vai trò của pháp luật cần phải coi xét nó ở góc độ cụ thể gắn với việc thực hành các chức năng và nhu cầu điều chỉnh bằng luật pháp các quan hệ. Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của Luật dân sự tôi chọn vấn đề “Vai trò Luật dân sự trong quản lý xã hội” làm tiểu luận 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của tiểu luận 2.1 Mục đích Phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng vai trò của Luật dân sự đối với quản lý xã hội. 2.2 Nhiệm vụ Để đạt được mục đích trên khóa luận có nhiệm vụ sau: Làm rõ những vấn đề chung về Luật dân sự Phân tích thực tiễn vai trò của Luật dân sự trong quản lý xã hội 3. Kết cấu của tiểu luận Chương I: Một số vấn đề chung về Luật dân sự Chương II: Vai trò của Luật dân sự đối với quản lý xã hội
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống xã hội, Luật dân sự giữ vai trò rất quan trọng Xét trên phương diện chung nhất, luật dân sự là công cụ để thiết chế hóa đường lối chính sách của Đảng,bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hành có hiệu quả trên quy mô toàn từng lớp, là dụng cụ để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống tầng lớp, là công cụ để nhân dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ, thực hành quyền và bổn phận của mình
Luật dân sự với tư cách là nguyên tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội nói chung, cũng như tới các nguyên tố của thượng tầng chính trị - pháp lý nói riêng Sự tác động và ảnh hưởng của pháp luật biểu thị ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng loại đối tượng và từng loại quan hệ cụ thể cần có sự điều chỉnh của luật
Tuy nhiên, những điểm nói trên mới chỉ phản ánh vai trò pháp luật ở bình diện chung Để thấy rõ vai trò của pháp luật cần phải coi xét nó ở góc độ
cụ thể gắn với việc thực hành các chức năng và nhu cầu điều chỉnh bằng luật pháp các quan hệ
Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của Luật dân sự tôi
chọn vấn đề “Vai trò Luật dân sự trong quản lý xã hội” làm tiểu luận
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của tiểu luận
2.1 Mục đích
Phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng vai trò của Luật dân sự đối với quản lý xã hội
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên khóa luận có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề chung về Luật dân sự
- Phân tích thực tiễn vai trò của Luật dân sự trong quản lý xã hội
3 Kết cấu của tiểu luận
Chương I: Một số vấn đề chung về Luật dân sự
Chương II: Vai trò của Luật dân sự đối với quản lý xã hội
Trang 2NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ
1.1 Khái niệm chung về Luật dân sự
Luật dân sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ tài sản và một số quan hệ nhân thân
1.1.1 Đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự
Phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự (BLDS) được xác định tại Điều
1 BLDS 2005: “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác; quyền nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (được gọi chung là quan hệ dân sự)”.
Đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự bao gồm hai nhóm quan hệ là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân trong giao lưu dân sự
Đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự là những nhóm quan hệ tài sản
và quan hệ nhân thân phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nhằm thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của các chủ thể
1.1.1.1.Quan hệ tài sản
Quan hệ tài sản do LDS sự điều chỉnh là những quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trên cơ sở một tài sản nhất định
Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản nhất định được thể hiện dưới dạng này hay dạng khác ( Điều 172 BLDS).
Quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự là quan hệ giữa người và người thông qua một tài sản nhất định như: Tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng hoặc các quyền về tài sản Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn liền với một tài sản
Trang 3hoặc một quyền tài sản nhất định
Luật dân sự quy định tài sản gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản
Điều 163 BLDS không định nghĩa thế nào là tài sản mà chỉ quy định
mang tính liệt kê: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
a,Vật
Vật là loại tài sản nhiều nhất, phổ biến và thông dụng nhất trong đời sống con người
Ví dụ: Oxy là một bộ phận của thế giới vật chất, đáp ứng được nhu cầu của con người nhưng nếu oxy còn ở dạng không khí chung thì chưa được coi
là vật Chỉ khi oxy được nén vào bình, túc là khi đó con người có thể nắm giữ, quản lý thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và mới có thể trở thành môt tài sản được pháp luật điều chỉnh
b,Tiền
Giá trị của hàng hoá được xác định bằng lượng lao động kết tinh để sản xuất ra hàng hoá đó Tiền là thước đo giá trị chung, là giá trị đại diện cho giá trị thực của hàng hoá và là phương tiện lưu thông trong giao lưu dân sự Với vai trò quan trọng như vậy, tiền được coi là một tài sản quý Ngoài ra, tiền còn có một khía cạnh chính trị pháp lý đặc biệt, thể hiện tư cách đại diện cho chủ quyền quốc gia Nhà nước có quyền ấn định giá trị của tiền, phát hành tiền, quản lý việc lưu thông tiền Người có tiền (chủ sở hữu) khi sử dụng tiền phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của Nhà nước
c,Giấy tờ có giá
Ngoài tiền có giá trị thanh toán, các loại giấy tờ trị giá được bằng tiền được sử dụng tương đối rộng rãi, góp phần làm cho giao lưu dân sự trở nên đa dạng, sôi động và phong phú hơn Những giấy tờ này quy định những khoản tiền cụ thể mà chủ thể được hưởng khi xuất trình trước một tổ chức có trách nhiệm (ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng )
Trang 4d,Các quyền tài sản
Quyền tài sản phải thoả mãn hai điều kiện là trị giá được bằng tiền và
có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự Đây là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện các quyền đó chủ sở hữu sẽ có một tài sản
1.1.2 Phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự
Phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự là những biện pháp, cách thức phù hợp mà thông qua đó pháp luật tác động đến xử sự của các chủ thể trong các quan hệ xã hội Nhờ có sự tác động này, các quan hệ tài sản và quan hệ thân đã phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt theo ý chí của Nhà nước được thể hiện trong các quy phạm pháp Luật dân sự cụ thể
Phương pháp điều chỉnh của LDS sự là tự nguyện thỏa thuận trên cơ
sở bình đẳng, độc lập
Phương pháp bình đẳng : Các chủ thể tham gia trong quan hệ tài sản, nhân thân phi tài sản được bình đẳng và độc lập về tổ chức và tài sản
Phương pháp thoả thuận Từ sự bình đẳng của chủ thể, quyền tự định đoạt của họ trong việc tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự nên việc giải quyết tranh chấp giữa các bên được tiến hành “hoà giải “ hoặc tự “thoả thuận “
LDS sử dụng phương pháp thỏa thuận vì các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự đều bình đẳng, độc lập với nhau
1.2 Chủ thể của Luật dân sự
Chủ thể của Luật dân sự rất đa dạng, có thể là cá nhân, có thể là tổ chức Để tham gia quan hệ pháp Luật dân sự thì các chủ thể phải có tư cách chủ thể - được xác định bởi năng lực pháp luật và năng lực hành vi Theo qui định của Bộ luật dân sự, chủ thể của Luật dân sự bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước CHXHCN Việt Nam
1.2.1 Cá nhân
Năng lực chủ thể của cá nhân được xác định bởi hai yếu tố là năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
Trang 5a, Năng lực pháp luật của cá nhân.
Năng lực pháp Luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự” (Khoản 1 Điều 14 BLDS) Năng lực
pháp Luật dân sự của cá nhân là tiền đề pháp lí cần thiết để cá nhân tham gia các quan hệ pháp Luật dân sự Năng lực pháp luật của cá nhân có những nội dung sau đây: Các quyền nhân thân gắn với tài sản, các quyền nhân thân không gắn với tài sản, quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền tài sản khác, năng lực pháp Luật dân sự của cá nhân có từ lúc người đó sinh ra và gắn liền với một cá nhân suốt đời cho đến khi chết Trong một số trường hợp cần thiết Luật dân sự còn công nhận và bảo vệ quyền lợi cho cá nhân khi người đó còn
là thai nhi
b, Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự Năng lực hành vi dân sự chính là khả năng của cá nhân để tiến hành các hành vi nhằm thực hiện năng lực pháp luật Do đó, năng lực hành vi dân sự của cá nhân có quan hệ chặt chẽ với năng lực pháp luật, dựa trên năng lực pháp luật và có sau năng lực pháp luật
Bộ luật Dân sự phân chia năng lực hành vi dân sự thành các mức độ sau đây:
+ Người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự:
Là những người từ 18 tuổi tròn trở lên nếu không bị Toà án tuyên bố là người hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự
+ Người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ:
Những người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là những người có năng lực hành vi chưa đầy đủ Những người này khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ những giao dịch nhỏ phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi
Trang 6+ Người không có năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự:
Trẻ em dưới 6 tuổi thì không có năng lực hành vi dân sự Những người
bị bệnh tâm thần, mất trí bất kể họ ở lứa tuổi nào bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự Mọi giao dịch dân sự của những người này đều phải
do người đại diện theo pháp luật xác lập và thực hiện
Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là mất tích theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan khi người đó biệt tích đã hai năm liền mà không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết Tài sản của người bị tuyên
bố mất tích được giao cho người được người mất tích uỷ quyền quản lý; đối với tài sản chung do chủ sở hữu chung còn lại quản lý Nếu vợ (chồng) người mất tích đã chết, hoặc mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con đã thành niên hoặc cha, mẹ quản lý nếu không còn ai nêu trên thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản Nếu người vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn, Tòa án giải quyết cho ly hôn Khi giải quyết cho vợ (chồng) của người bị tuyên bố mất tích ly hôn, tài sản của người
bị tuyên bố mất tích được giao cho con đã thành niên quản lý hoặc cha mẹ của người bị tuyên bố mất tích quản lý nếu không có những người này thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản
Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan khi người đó biệt tích đã năm năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực là còn sống; hoặc khi quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực ba năm mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; người bị mất tích trong chiến tranh sau 5 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; người bị mất tích
do tai nạn, thảm họa, thiên tai sau một năm kể từ ngày tai nạn, thảm họa, thiên tai kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Tuỳ từng trường hợp Toà án xác định ngày chết của người bị tuyên bố chết căn cứ vào các điều kiện để Toà án tuyên bố chết
Trang 7nêu trên Người vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố chết có quyền đi kết hôn với người khác Tài sản của người bị tuyên bố chết được chia theo qui định của pháp luật về thừa kế
1.2.2 Pháp nhân
a,Khái niệm pháp nhân
Khái niệm pháp nhân được hiểu là: Một tổ chức thống nhất, độc lập, được thành lập một cách hợp pháp Tổ chức đó có tài sản riêng, chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập
b, Các điều kiện của pháp nhân
Các điều kiện của pháp nhân được quy định tại Điều 84 BLDS Một tổ
chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: Được thành lập một cách hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
1.2.3 Hộ gia đình
Theo quy định tại Điều 116 BLDS thì: “Hộ gia đình mà các thành viên
có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”.
Như vậy, có thể coi hộ gia đình là chủ thể hạn chế của quan hệ pháp Luật dân sự
Trong hộ gia đình, tài sản chung của hộ là tài sản chung hợp nhất và là một thể thống nhất được tạo dựng bởi công sức của các thành viên, được tặng cho, thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung Pháp
Vd: Luật dân sự quy định: Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình là tài sản chung của hộ
Trang 8Tư cách chủ thể của hộ gia đình phát sinh đồng thời với việc hình thành
hộ gia đình (điều này có tính chất tương tự như pháp nhân) Theo quy định của Điều 106 BLDS, hộ gia đình chỉ được tham gia các quan hệ dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp, vay vốn
ở Ngân hàng để sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ
Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do chủ hộ, hoặc người đại diện theo uỷ quyền của chủ hộ đã xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình (Điều 110 BLDS)
Khi phải chịu trách nhiệm tài sản, thì tài sản đó là tài sản chung của hộ Nếu tài sản chung của hộ không đủ để chịu trách nhiệm dân sự, thì các thành viên trong gia đình phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình Trong trách nhiệm dân sự, hộ gia đình phải chịu trách nhiệm như cá nhân Nghĩa là trách nhiệm của hộ gia đình là trách nhiệm vô hạn
1.2.4 Tổ hợp tác
Theo quy định tại Điều 111 BLDS thì: “Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự”.
Hợp đồng hợp tác có các nội dung chủ yếu sau đây: Mục đích, thời hạn hợp đồng hợp tác; Họ, tên, nơi cư trú của tổ trưởng và các tổ viên; Mức đóng góp tài sản, nếu có; phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức giữa các tổ viên; Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ trưởng, của các tổ viên; Điều kiện nhận tổ viên mới và ra khỏi tổ hợp tác; Điều kiện chấm dứt tổ hợp tác
Theo qui định của pháp luật, có thể hiểu tổ hợp tác là chủ thể của quan
hệ pháp Luật dân sự khi có các điều kiện sau đây: Thành viên của tổ hợp tác tối thiểu phải là 3, các cá nhân này phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; tài sản của tổ hợp tác do các thành viên đóng góp Tài sản này được dùng để chịu trách nhiệm dân sự cho quan hệ dân sự mà tổ hợp tác tham gia; hợp đồng hợp
Trang 9tác phải được chứng nhận của Ủy ban nhân dân cấp cơ sở.
Hoạt động của tổ hợp tác được thực hiện thông qua đại diện của tổ Bộ luật dân sự quy định đại diện của tổ hợp tác trong giao dịch dân sự là tổ tr-ưởng do các tổ viên cử ra Tổ trtr-ưởng có thể uỷ quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc nhất định cần thiết cho tổ Việc uỷ quyền của tổ trưởng cũng phải tuân theo các quy định của Luật dân sự về uỷ quyền Các giao dịch dân
sự do người đại diện xác lập (bao gồm cả đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền) thực hiện vì mục đích hoạt động của tổ, được đa số tổ viên nhất trí sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của cả tổ hợp tác
Tổ hợp tác phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa
vụ dân sự do người đại diện (tổ trưởng hay đại diện uỷ quyền) xác lập, thực hiện nhân danh tổ hợp tác Khi phải chịu trách nhiệm tài sản, thì tài sản chung của cả tổ là cơ sở để xác định trách nhiệm Trong trường hợp tài sản chung của tổ không đủ để thực hiện nghĩa vụ, thì tổ viên phải chịu trách nhiệm liên đới theo phần tương ứng với phần đã đóng góp bằng tài sản riêng của mình Trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác cũng là trách nhiệm vô hạn (Điều 117 BLDS)
1.2.5 Nhà nước CHXHCNVN
Là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự (bởi nhà nước có bộ máy quyền lực công cộng đặc biệt:công an, …, chủ sở hữu của tài sản đặc biệt:tài sản không người thừa kế, tài sản bị trưng thu, trưng mua, tài sản là cổ vật, vật có giá trị văn hóa lịch sử bị chôn giấu, chìm đắm hoặc bị đánh rơi,bỏ quên không tìm được chủ sở hữu.)
Trang 10Chương 2 VAI TRÒ CỦA LUẬT DÂN SỰ TRONG QUẢN LÝ XÃ HỘI
2.1 Tích cực
2.1.1 Đối với hệ thống pháp luật
Thành tựu lớn nhất, đồng thời thể hiện rõ vai trò của BLDS là Bộ luật này đã đánh dấu bước phát triển mới, khẳng định một diện mạo mới không chỉ của pháp luật dân sự mà của cả hệ thống pháp luật Việt Nam Trên cơ sở
kế thừa BLDS năm 1995, BLDS đã khắc phục được những mâu thuẫn, chồng chéo của hệ thống pháp luật về tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng; bước đầu tạo cơ
sở cho sự thống nhất, đồng bộ và trở thành nền tảng pháp lý của hệ thống pháp luật dân sự (luật tư) BLDS đã bao quát được tương đối đầy đủ phạm vi các quan hệ thuộc lĩnh vực tư khi xác định phạm vi điều chỉnh tại Điều 1:
“BLDS quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá
nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân
và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” Đây là các quan hệ có bản chất chung là được xác
lập, thực hiện dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể
2.1.2 Đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
BLDS đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua việc ghi nhận chế độ sở hữu, các hình thức sở hữu, các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu; hoàn thiện thêm một bước các quy định về quyền của các chủ thể đối với tài sản của người khác, trong đó có quyền sử dụng đất Những quy định trong BLDS về các vấn
đề liên quan đến tài sản và quyền sở hữu là hết sức cần thiết vì sở hữu luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu của bất cứ nền kinh tế nào, trong đó có nền kinh
tế nước ta Ngoài ra, chỉ khi nào cá nhân, tổ chức được công nhận và bảo hộ