TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP XÃ Ở HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA TRONG GIAI ĐO
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ CẤP XÃ Ở HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Thuộc nhóm ngành: XH
Sơn La, tháng 5 năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ CẤP XÃ Ở HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Thuộc nhóm ngành: XH
Sinh viên thực hiện: Quàng Thị Hằng Giới tính: Nữ Dân tộc: Thái
Lò Văn Đặt Giới tính: Nam Dân tộc: Thái
Đỗ Trung Hiếu Giới tính: Nam Dân tộc: Kinh Lường Thị Xuân Trang Giới tính: Nữ Dân tộc: Thái
Năm thứ 3/ số năm đào tạo: 4
Ngành học: ĐHGD Chính trị
Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Quàng Thị Hằng
Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Thị Hương
Sơn La, tháng 5 năm 2018
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Kết cấu của đề tài 6
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP XÃ Ở HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm cán bộ cấp xã 7
1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội ở huyện Mai Sơn 12
1.3 Tính tất yếu của việc nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 23
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP XÃ Ở HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA 27
2.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La 27
2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn 43
Tiểu kết chương 2 56
KẾT LUẬN 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (hay còn gọi là chính quyền cấp xã)
có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính Là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản
lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, được triển khai thực hiện trong cuộc sống
Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực
và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC cấp xã Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, văn hóa, có đạo đức lối sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực thi chức năng, nhiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và phục vụ nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước
và cả hệ thống chính trị
Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác cán bộ là khâu quan trọng nhất,
có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả công việc, là khâu then chốt trong sự nghiệp cách mạng, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào những thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “ Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ, giải thích cho dân chúng hiểu và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [4]
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cán bộ quản lý cấp xã có vị trí
và vai trò đặc biệt quan trọng, bởi họ là những người trực tiếp xác định và xây dựng kế hoạch phát triển ở địa phương, tổ chức vận động nhân dân thực hiện các
Trang 6chủ trương đường lối chính sách phát triển của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao phó Đây cũng là những người trực tiếp chăm lo đến đời sống nhân dân, là cầu nối giữa nhân dân và nhà nước
Mai Sơn là một huyện ở trung tâm tỉnh Sơn La Phía Bắc giáp Thuận Châu, thành phố Sơn La và Mường La, phía Đông giáp Bắc Yên, Yên Châu, phía Tây giáp huyện Sông Mã, phía Nam giáp tỉnh Hủa Phăn của Lào với đường biên giới dài 8 km Mai Sơn rộng 1410,3 km² và có 112,8 nghìn người (dân số khu vực thành thị chiếm 8,4%) Có nhiều dân tộc cộng cư sinh sống (trong đó 6 dân tộc chủ yếu là người Thái (Việt Nam) chiếm 55,62%, người Kinh 30,53%, người Mông 7,42%, người Xinh Mun 3,23%, người Khơ Mú 2,49%; người Mường 0,65%) Mai Sơn bao gồm 21 xã (Xã Hát Lót, Mường Bon, Cò Nòi, Chiềng Mung, Mường Bằng, Chiềng Sung, Chiềng Chăn, Tà Hộc, Nà Bó, Chiềng Ban, Chiềng Mai, Chiềng Dong, Chiềng Kheo, Chiềng Ve, Mường Chanh, Chiềng Chung, Nà Ớt, Phiêng Cằm, Chiềng Nơi, Phiêng Pằn, Chiềng Lương)
Việc nâng cao chất lượng cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La một cách có hiệu quả, phục vụ sự phát triển trước mắt cũng như lâu dài là một nhiệm vụ khó khăn, cần được thực hiện liên tục, có hệ thống và đồng bộ Về mặt xã hội, nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã phải được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu và yêu cầu phát triển toàn diện con người vì sự phát triển lâu dài của huyện Mai Sơn nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung Về mặt kinh tế, nâng cao chất lượng đào tạo cán
bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã phải được khai thác triệt để với hiệu quả cao nhất, đồng thời được phát triển để đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai cả về số lượng lẫn chất lượng phù hợp với năng lực và khả năng bảo đảm của nền kinh tế tỉnh Sơn La Việc đáp ứng nhu cầu này đặt ra những thách thức lớn cho các chủ thể có liên quan Vì vậy quan tâm đến chất lượng đào tạo cán bộ cấp xã của địa phương nơi sinh sống, nhóm tác giả chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần đẩy mạnh chất lượng đào tạo cán bộ ở địa phương
Trang 72 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề quản lý đào tạo cán bộ, công chức nói chung, quản lý đào tạo cán
bộ dân tộc thiểu số cấp xã nói riêng đã được một số nghiên cứu chú ý với các cách tiếp cận khác nhau
- Thứ nhất, các nghiên cứu chung về quản lý đào tạo cán bộ, công chức: Thuộc về nhóm công trình này, có thể nêu một số nghiên cứu đáng chú ý như:
Công trình nghiên cứu"Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức hiện nay", Tô Từ Hạ, NXB Chính trị Quốc gia, năm 1998
Trong bài “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức” của Ngô Thành Can đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 8, 2003
Các công trình nghiên cứu này mặc dù đã trình bày khá chi tiết và đầy đủ các vấn đề về đào tạo cán bộ, xây dựng đội ngũ công chức nhằm hoàn thành các nhiệm vụ được giao, nhưng còn chung chung và chưa bao quát trên cả nước; còn chưa nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý đào tạo cán bộ DTTS cấp xã nói chung Tuy nhiên, những quan niệm, định hướng về quản lý đào tạo cán bộ, công chức được đề cập sẽ là cơ sở để đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo cán bộ, công chức DTTS cấp xã trên bình diện rộng trên cả nước
- Thứ hai, các nghiên cứu về quản lý đào tạo cán bộ cấp xã: Một số nghiên cứu đáng chú ý như:
Trong bài“Một số biện pháp tạo động lực cho cán bộ, công chức cấp cơ
sở trong thực thi công vụ” của Ngô Thị Kim Dung đăng trên Tạp chí Quản
lý Nhà nước số 3/2012; … Nghiên cứu này đã chỉ ra vai trò, đặc điểm của cán bộ, công chức cấp cơ sở, những yêu cầu đối với quản lý và đào tạo cán
bộ, công chức cấp cơ sở
- Thứ ba, các nghiên cứu trực tiếp về quản lý đào tạo cán bộ DTTS và cán
bộ DTTS ở cấp xã: Những nghiên cứu về nội dung này khá đa dạng, đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡng cán bộ DTTS, trong đó có cán bộ DTTS ở cấp xã
Trong bài“Vấn đề đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp
công hoá, hiện đại hoá đất nước”của Bùi Ngọc Diệp đăng trên Tạp chí Giáo
Trang 8dục số 80, năm 2004 đã khẳng định: Vấn đề đào tạo cán bộ DTTS là một nhiệm
vụ cấp bách để tạo ra đội ngũ cán bộ DTTS ngang tầm nhiệm vụ đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống, góp phần hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bài viết cũng luận giải những vấn đề về việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm hiệu quả của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Trong bài“Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dân tộc thiểu số trong
thời kỳ đẩy mạnh, công nghiệp hoá, hiện đại hoá”của Nguyễn Hữu Ngà đăng
trên Tạp chí Dân tộc học số 3 năm 2005, tiếp cận vấn đề của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức DTTS dưới góc độ vai trò của cán bộ, công chức DTTS đối với việc xây dựng năng lực quản lý của các cấp chính quyền, hệ thống chính trị
và tầm quan trọng của địa bàn trọng yếu mà cán bộ, công chức làm việc
Một số nghiên cứu khác đi sâu đánh giá về kinh nghiệm quản lý đào tạo cán bộ công chức DTTS ở một số địa phương, như:
Trong bài“Giáo dục hướng nghiệp tạo nguồn đào tạo cán bộ cấp xã,
phường người dân tộc thiểu sổ ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sơn La”
của Nguyễn Thị Ánh Tuyết đăng trên Tạp chí Giáo dục số 209, năm 2009
Nghiên cứu này đã tiếp cận theo logic các vấn đề lý luận về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS, nhấn mạnh đến vấn đề gắn kết đào tạo với đặc điểm cán bộ DTTS, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp
Một số nghiên cứu đã đi vào vấn đề đổi mới công tác quản lý đào tạo cán
bộ DTTS, như:
Trong bài“Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dân tộc thiểu
số - thực trạng và giải pháp”, của Ngô Thành Can đăng trên Tạp chí Quản lý
nhà nước, số 11, năm 2004
Trong bài“Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán
bộ người dân tộc thiểu số”, của Quàng Văn Hùng đăng trên Tạp chí Tổ chức
nhà nước, số 6, năm 2008
Trong bài“Mô hình đào tạo cán bộ quản lý người dân tộc thiểu số cho
các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”, của Phạm Hồng Quang đăng trên Tạp
chí Giáo dục, số 175, năm 2007;…
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích
dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ
Một là, làm rõ cơ sở lý luận – thực tiễn của viê ̣c phát tri ển nâng cao chất lượng cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La trong
Hai là, đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ là người dân tộc thiểu số
cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; phân tích điểm yếu, điểm mạnh, cơ hội, thách thức, những nguyên nhân dẫn đến thành công và hạn chế trong chất lượng cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay
Ba là, đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng cán bộ là người dân tộc
thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Đề tài nghiên cứu chất lượng cán bộ là người dân tộc thiểu
số cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung: Nghiên cứu chất lượng cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp
xã
+ Không gian: Huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
+ Thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay (5 năm gần nhất)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề này, nhóm tác giả chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp: Phương pháp luận của CNDVBC và CNDVLS, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, quan sát thống kê, tổng kết thực tiễn Nhằm thu thập thông tin, đánh giá đúng thực trạng và đưa ra các giải pháp cơ bản phù hợp với tình hình năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ dân tộc thiểu số
Trang 10cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
6 Đóng góp của đề tài
Làm rõ được thực trạng chất lượng cán bộ là người DTTS cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn - Sơn La
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục đề tài gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc nâng cao chất lượng cán bộ là người
dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
là người dân tộc thiếu số cấp xã ở huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ
LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP XÃ Ở HUYỆN MAI SƠN, TỈNH
SƠN LA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1 Khái niệm và đặc điểm cán bộ cấp xã
1.1.1 Khái niệm cán bộ và cán bộ cấp xã
1.1.1.1 Khái niệm cán bộ
Theo các nhà nghiên cứu, thuật ngữ “cán bộ” bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc, được du nhập vào nước ta khá sớm, được sử dụng phổ biến vào thời kì cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Thoạt đầu, thuật ngữ cán bộ được dùng nhiều trong quân đội, để phân biệt giữa người chiến sĩ với người lãnh đạo các cấp trong quân đội; sau đó, thuật ngữ cán bộ được dùng để chỉ tất cả những người thoát li khỏi nông nghiệp để hoạt động kháng chiến
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng của chính phủ giải thích cho dân hiểu rõ và thi hành Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [4]
Trong giai đoạn hiện nay, quan niệm về cán bộ được mở rộng hơn, bao gồm: tất cả những người được bầu cử vào các cơ quan Nhà nước, Đảng, đoàn thể, những người được bổ nhiệm một công tác quản lí hoặc được giao một công tác chuyên môn nào đó (cán bộ giảng dạy, các bộ khoa học kĩ thuật…), cán bộ khung từ tiểu đội trưởng trở lên trong lực lượng vũ trang
Như vậy, quan niệm về cán bộ cho đến nay có rất nhiều ý kiến khác nhau Các ý kiến đó thông thường được hình thành từ cách nhìn trực tiếp đối với từng loại cán bộ, theo phương pháp liệt kê các tiêu chí hoặc theo cảm tính nên chưa phản ánh được một cách đầy đủ về khái niệm cán bộ
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, người làm công tác có chức vụ một cơ quan, một tổ chức [20, tr.109]
Trang 12Theo Điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định về cán bộ, công chức như sau:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Cán bộ bao gồm:
Cán bộ ở Trung ương, tỉnh, huyện – những người do bầu cử, phê chuẩn,
bổ nhiệm; làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan nhà nước ở Trung ương, tỉnh, huyện
Cán bộ chuyên trách cấp xã
1.1.1.2 Khái niệm cán bộ cấp xã
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức
chính trị – xã hội
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;Căn cứ Luật Cán bộ, công chức đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
a, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
b,Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
d, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
e, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
f, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn
có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam)
Trang 13h, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
* Chất lượng cán bộ cấp xã
Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tính chất định tính và khó định lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm được Dưới mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau
Theo từ điển Tiếng Việt, chất lượng được xem là: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, một sự việc” [20, tr.144] Đây là cách đánh giá một con người, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, cái tính độc lập của nó
Theo một cách hiểu khác thì: Chất lượng là một phạm trù triết học biểu
thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật [20]
Như vậy, trong phạm vi đề tài nghiên cứu về nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ cấp xã, có thể hiểu chất lượng của đội ngũ cán bộ là khả năng giải quyết các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức,
cá nhân về cung ứng các dịch vụ hành chính Tiêu chí để đánh giá chất lượng cán bộ cũng đa dạng: Có thể là tỷ lệ giải quyết hồ sơ đảm bảo đúng quy định về thời gian, quy trình, thủ tục; có thể là sự đo lường về mức độ thỏa mãn của người dân khi hưởng thụ dịch vụ hành chính liên quan đến các yếu tố, như sự hài lòng về thái độ phục vụ, sự hài lòng về thời gian giải quyết công việc của người dân…
Chất lượng đội ngũ cán bộ được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn của đội ngũ cán bộ, là những quy định cụ thể các yêu cầu về trình độ,năng lực, phẩm chất đạo đức… của những người cán bộ theo những tiêu chí nhất định đối với từng ngành nghề riêng biệt Để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, cần nói tới chất lượng của mỗi cán bộ vì mỗi cán bộ là một phần, một bộ phận của đội ngũ cán bộ
Chất lượng cán bộ là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí
Trang 14tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và khả năng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao Trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước yêu cầu chất lượng đối với cán bộ ngày càng cao, đòi hỏi người cán bộ không những có trình độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn cán bộ mà còn phải gương mẫu, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, có tinh thần kỷ luật rất cao, có tư duy khoa học, lý luận sắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinh nghiệm, kỹ năng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt, đồng thời luôn chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
Chất lượng của cán bộ cấp xã ngoài những yếu tố nêu trên còn phụthuộc vào cơ cấu đội ngũ cán bộ, đó là tỷ lệ hợp lý giữa các độ tuổi, giữa nam và nữ, giữa công chức lãnh đạo, quản lý, công chức phụ trách chuyên môn nghiệp vụ
Mỗi cán bộ không tồn tại một cách biệt lập mà phải đặt trong một chỉnh thể thống nhất của cả đội ngũ cán bộ Vì vậy quan niệm chất lượng đội ngũ cán
bộ phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng của từng cán bộ với chất lượng của cả đội ngũ Bên cạnh đó cũng cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ Chỉ khi nào hai mặt này có quan hệ hài hòa mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu, chất lượng đội ngũ cán bộ cấp
xã là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng cán bộ cấp xã, thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác, chất lượng và hiệu quả thực nhiệm vụ được phân công của mỗi công chức cũng như
cơ cấu hợp lý về độ tuổi, về ngạch, bậc và số lượng đội ngũ công chức bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp xã
Nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng cán
bộ đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cán bộ cho sự phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn phát triển Nâng cao chất lượng cán bộ là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện bản thân trong mỗi người cán bộ Bên
Trang 15cạnh thể lực, trí lực thì chất lượng nguồn cán bộ còn phản ánh tác phong, thái
độ, ý thức làm việc của người cán bộ
Như vậy, nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã chính là việc hoàn thiện
những điểm còn thiếu sót, chưa hợp lý trong số lượng, cơ cấu lao động của đội ngũ cán bộ cấp xã, đồng thời cải thiện những mặt còn yếu kém trong năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ sao cho quy mô, tỷ trọng cán bộ vừa đủ, tận dụng tối đa năng suất lao động, không thừa, không thiếu và trình độ của người cán bộ thì đáp ứng tốt yêu cầu của từng vị trí, kết hợp với đó là việc cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo cho sức khỏe, tinh thần của người cán bộ luôn được duy trì ở trạng thái tốt nhất, để họ có thể phục vụ hết mình vì công việc
1.1.2 Đặc điểm của cán bộ cấp xã
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là những người gần dân, sát dân, biết dân, trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước vào dân, gắn bó với nhân dân
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã có tính ổn định thấp hơn so với cán bộ, công chức nhà nước cấp trên
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã có tính chuyên môn hóa thấp, kiêm nghiệm nhiều
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người đại diện cho quần chúng nhân dân lao động ở cơ sở Vì vậy cán bộ, công chức luôn bám sát dân, gần dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân từ đó có những cách thức tiến hành công việc phù hợp và đảm bảo cho lợi ích chính đáng của nhân dân
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyết tất
cả các yêu cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là những người xuất phát từ cơ
sở (người của địa phương), họ vừa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là người đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước, giải quyết các công việc của nhà nước Do đó xét ở khía cạnh nào đó cán bộ,công chức cấp
xã bị chi phối, ảnh hưởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê,
Trang 16những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phương, của dòng họ
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã do dân bầu ra (có nơi chiếm 60%) chính vì vậy số lượng thường xuyên bị biến động do hết nhiệm kỳ nhân dân lại bầu ra những đại diện mới
- Cán bộ, công chức cấp xã cả nước hiện nay rất đông (gần bằng số lượng cán bộ, công chức hành chính của trung ương và 63 tỉnh thành cộng lại) Tuy nhiên về chất lượng lại rất yếu, độ tuổi tương đối già, chính vì vậy nó là những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc không cao
1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội ở huyện Mai Sơn
Trong điều kiện có tính đặc thù của huyện Mai Sơn việc làm rõ những điều kiện về địa lý tự nhiên, văn hóa - xã hội có một ý nghĩa vô cùng to lớn Đây
là căn cứ quan trọng để huyện xây dựng chủ trương chính sách phát triển đội ngũ cán bộ công chức người dân tộc thiểu số của huyện nói riêng
1.2.1 Vị trí, địa giới
Mai Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Sơn La, trung tâm huyện lỵ cách trung tâm tỉnh 30 km về phía Bắc Là trung tâm công nghiệp và là huyện trọng điểm kinh tế của Tỉnh nằm trong cụm tam giác kinh tế Thành phố Sơn La - Mai
Sơn - Mường La
Địa hình bị chia cắt mạnh, phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo và cao nguyên Độ cao trung bình so với mực nước biển, trung bình khoảng 800 m - 850 m, với 2 hệ thống núi chính là dãy núi Đông chính chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và dãy chạy theo hướng Tây Bắc - Tây Nam, tạo ra nhiều tiểu vùng với các ưu thế khác nhau cho phép phát triển nền kinh tế
đa dạng; khu vực có nhiều núi cao, dốc, bị chia cắt mạnh bởi các con sông, con suối lớn và các dãy núi cao, độ cao trung bình khu vực này là 1000m - 1200m so với mực nước biển, phân bố ở phía Đông Bắc và Tây Nam của huyện bao gồm các khu vực thuộc xã Tà Hộc, Chiềng Chăn, Phiêng Pằn, Nà Ớt, Phiêng Cằm, Chiềng Nơi ; địa hình đồi núi trung bình, có độ cao trung bình 500 - 700m so với mực nước biển, phổ biến là các dãy núi cao trung bình, xen kẽ các phiêng bãi, lòng chảo, rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp và xây dựng các khu công
Trang 17nghiệp , phân bố chủ yếu dọc trục Quốc lộ 6: xã Cò Nòi thị trấn Hát Lót, xã Hát lót, xã Chiềng Mung, Nà Bó, Chiềng Sung
Huyện Mai Sơn nằm trong toạ độ, từ 20052'30'' đến 21020'50'' vĩ độ Bắc;
từ 103041'30'' đến 104016' kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Mường La, thành phố Sơn La Ranh giới chủ yếu là đồi núi, khe suối Phía Đông giáp huyện Yên Châu, ranh giới chủ yếu là đồi núi, khe suối; giáp huyện Bắc Yên với ranh giới là dòng Sông Đà (chảy qua hai xã Chiềng Chăn và Tà Hộc).Phía Tây giáp huyện Sông Mã, huyện Thuận Châu Ranh giới chủ yếu là đồi núi, khe suối.Phía Nam giáp huyện Sông Mã, tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào) Ranh giới chủ yếu
là đồi núi, khe suối, với chiều dài dường biên giới 6,4 km.Huyện lỵ đóng tại thị trấn Hát Lót Từ TP Sơn La đến huyện lỵ đi theo đường Quốc lộ 6, dài khoảng
30 km Từ Hà Nội đến huyện lỵ có hai tuyến đường: Tuyến Quốc lộ 6 (đường
41 ngày xưa) dài khoảng 270 km, hướng về Hà Nội qua các huyện Yên Châu, Mộc Châu ; tuyến đường 113A (tức đường 13) đi qua huyện Bắc yên, Phù Yên sang tỉnh Yên Bái về Hà Nội dài khoảng 370 km.Mai Sơn rộng 1410,3 km² và
có 112,8 nghìn người (dân số khu vực thành thị chiếm 8,4%) Có nhiều dân tộc cộng cư sinh sống (trong đó 6 dân tộc chủ yếu là người Thái (Việt Nam) chiếm 55,62%, người Kinh 30,53%, người Mông 7,42%, người Xinh Mun 3,23%, người Khơ Mú 2,49%; người Mường 0,65%)
Mai Sơn bao gồm 21 xã (Xã Hát Lót, Mường Bon, Cò Nòi, Chiềng Mung, Mường Bằng, Chiềng Sung, Chiềng Chăn, Tà Hộc, Nà Bó, Chiềng Ban, Chiềng Mai, Chiềng Dong, Chiềng Kheo, Chiềng Ve, Mường Chanh, Chiềng Chung, Nà
Ớt, Phiêng Cằm, Chiềng Nơi, Phiêng Pằn, Chiềng Lương)
1.2.2 Điều kiện tự nhiên
1.2.2.1 Địa hình
Địa hình của huyện bị chia cắt mạnh, phức tạp núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo và cao nguyên Độ cao trung bình 800 – 850 m so với mực nước biển, với 2 hệ thống núi chính là dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và dãy chạy theo hướng Tây Bắc - Tây Nam, bao gồm các dạng địa
hình chính:
Trang 18- Địa hình núi cao và dốc: Chia cắt mạnh bởi các con suối lớn và các dãy núi cao, độ cao trung bình 1000 - 1200 m so với mực nước biển Phân bố ở phía Đông Bắc và Tây nam của huyện bao gồm khu vực thuộc xã Tà Hộc, Chiềng
Chăn, Phiêng Pằn, Nà Ớt, Phiêng Cằm,
- Địa hình núi trung bình: Có độ cao trung bình từ 500 - 700m so với mực nước biển, phổ biến là núi trung bình, xen kẽ là các phiêng bãi, lòng chảo, có các phiêng bãi tương đối rộng thuận lợi để trồng lúa, rau màu và cây công nghiệp, Phân bố chủ yếu dọc trục Quốc lộ 6 thuộc khu vực các xã như: Chiềng
Mung, Chiềng Mai, Hát Lót, Nà Bó, Cò Nòi, Chiềng Sung,
Nhìn chung địa hình của huyện phức tạp gây nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên có lợi thế là địa bàn thuộc khu vực cao nguyên
Nà Sản có nhiều ưu thế để hình thành vùng sản xuất nguyên liệu với quy mô tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá với các loại cây công nghiệp, cây ăn quả,
cây rau màu, và phát triển chăn nuôi,
1.2.2.2 Khí hậu, thời tiết
Huyện Mai Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt trong năm Mùa đông lạnh trùng với mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Mùa hè nóng trùng với mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình trong năm là 22,3℃
Tổng lượng mưa bình quân 107,4 mm/năm, mưa tập trung vào các tháng 6,7,8 với lượng mưa chiếm 76% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô lượng mưa nhỏ chỉ chiếm 24% tổng lượng mưa cả năm, tổng số ngày mưa 145 ngày Độ ẩm
trung bình là 80,1% Tổng số giờ nắng 1.978,2 giờ
1.2.2.3 Thuỷ văn
Ngoài dòng sông Đà chảy qua huyện với chiều dài 24 km, Mai Sơn còn
có hệ thống suối thuộc lưu vực sông Đà và sông Mã như: Nậm Pàn, Nậm Quét, Nậm Le, Suối Hộc,, với tổng chiều dài khoảng 250 km và nhiều con suối nhỏ khác, mật độ sông suối khoảng 0,7 km
Do địa hình của huyện chia cắt mạnh, dốc nên phần lớn các con suối có lưu vực nhỏ, hẹp, ngắn và đều bắt nguồn từ núi cao do đó độ dốc lưu vực lớn đã
Trang 19tạo nên tính đa dạng về chế độ dòng chảy và lưu lượng nước giữa hai mùa chênh lệch lớn Mùa cạn kiệt nước trùng với mùa khô lưu lượng nước nhỏ Mùa lũ trùng với mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn, tốc độ dòng chảy cao, lượng nước tập trung thường gây ra lũ quét, lũ ống ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân
1.2.2.4 Các nguồn tài nguyên
Diện tích đất tự nhiên của huyện là 142.670,6 ha Theo kết quả tổng hợp
từ bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Sơn La, tài nguyên đất của huyện có các loại đất chính sau:
Đất Feralit mùn đỏ vàng trên đá biến chất: bao gồm hầu hết ở vùng đồi núi, có màu vàng đỏ Với loại đất này thích hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, loại đất này chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng quỹ đất với 43,50%
Đất nâu đỏ trên đá vôi: Có diện tích khoảng 26.394 ha, chiếm 18,50% tổng quỹ đất - Đất vàng đỏ trên đá sét: Có diện tích khoảng 30.531 ha, chiếm 21,40% tổng quỹ đất - Đất Feralit mùn vàng trên đá cát: Có diện tích khoảng 7.990 ha, chiếm 5,60% tổng quỹ đất
Đất phù sa ngòi suối: Phân bố chủ yếu ven các suối Nậm Pàn, Nậm Quét, Nậm Le,…Loại đất này rất thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và các UBND huyện Mai Sơn Báo cáo thuyết minh tổng hợp KHSD đất năm 2018 8 loại cây ăn quả Có diện tích khoảng 2.568 ha, chiếm 1,80% diện tích tổng quỹ đất
Đất dốc tụ: Phân bố chủ yếu ở các phiêng bãi bằng phẳng, loại đất này thích hợp cho trồng cây ăn quả, cây công nghiệp,… Có diện tích khoảng 9.516
ha, chiếm 6,67% tổng quỹ đất
Hầu hết các loại đất trên địa bàn huyện có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Các chất dinh dưỡng như: Đạm, Lân, Kali, Canxi, Magiê trong đất có hàm lượng trung bình Do đa phần đất đai nằm trên độ dốc lớn, độ che phủ của thảm thực vật thấp nên cần chú trọng các biện pháp bảo vệ đất, hạn chế rửa trôi, xói mòn làm nghèo dinh dưỡng đất
Trang 20Việc khai thác nguồn nước mặt phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện chủ yếu là làm đập dâng trên các con suối để cung cấp nước tưới cho cây trồng Nước sinh hoạt của nhân dân chủ yếu được khai thác thông qua hệ thống cấp nước tự chảy Nhìn chung nước sông, suối là nguồn nước chính dùng cho sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của nhân dân hiện nay
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 55.878,81 ha chiếm tới 39,17% tổng DTĐTN, có điều kiện để xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và rừng kinh tế có giá trị hàng hoá cao Tài nguyên rừng Mai Sơn khá phong phú,
có nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm Thực vật có nhiều loài cây quý hiếm như: nghiến, lát,…các loài tre trúc và dược liệu Động vật có các loài nhím, sóc, khỉ, các loài bò sát như trăn, rắn và hàng nghìn loài côn trùng tạo nên một quần thể sinh học đa dạng
Hiện nay phần lớn diện tích rừng là rừng phục hồi, rừng nghèo, rừng tre nứa và rừng hỗn giao trữ lượng thấp Chỉ có một số ít diện tích rừng có trữ lượng lớn và chất lượng rừng tương đối tốt tập trung chủ yếu ở các xã như: Phiêng Pằn, Phiêng Cằm, Chiềng Nơi, Nà Ớt, phân bố chủ yếu ở các vùng địa hình hiểm trở có độ cao trên 1.000m, độ dốc lớn khả năng khai thác sử dụng rất hạn chế
Khoáng sản của Mai Sơn tài liệu tài nguyên khoáng sản tỉnh Sơn La đánh giá là vùng có khoáng sản đa dạng, phong phú nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, trữ lượng không lớn, lại phân tán và điều kiện khai thác không thuận tiện, xa đường giao thông Đáng chú ý có các loại khoáng sản sau:
Vàng sa khoáng ở Chiềng Lương, Chiềng Chung, Mường Chanh trữ lượng không lớn Nguồn đá vôi và đất sét phân bố tương đối rộng, điều kiện khai thác thuận lợi dùng để sản xuất vật liệu xây dựng như mỏ đá vôi Nà Pát, đất sét ở Mường Chanh có thể sản xuất gốm, Mỏ Đồng ở Chiềng Chung Ngoài ra trên địa bàn còn có trên 1.000 ha núi đá có thể khai thác làm nguyên vật liệu xây dựng, làm đường giao thông và làm nguyên liệu cho nhà máy xi măng
Mai Sơn là vùng đất cổ hình thành và phát triển sớm trong lịch sử Thời Hùng Vương, Mai Sơn thuộc bộ Tân Hưng, đời Lý thuộc châu Lâm Tây, đời
Trang 21Trần thuộc trấn Đà Giang, đời Lê thuộc châu Thái, đời nhà Nguyễn gọi là vùng Thập Châu thuộc phủ Hưng Hoá
Trong quá trình đấu tranh giữ nước, trải qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử nhân dân các dân tộc (dân tộc Thái, Mông, Kinh, Khơ Mú, Sinh Mun) luôn sinh sống đoàn kết, gắn bó đùm bọc cùng nhau xây dựng bảo vệ quê hương Đến nay mỗi dân tộc vẫn giữ được các nét đặc trưng riêng trong đời sống văn hoá truyền thống, làm phong phú, đa dạng thêm bản sắc dân tộc Đến nay đồng bào vẫn bảo tồn và lưu giữ được các điệu múa, hát và các hoạt động văn hoá truyền thống như: “Tiếng hát làm dâu”, điệu múa “Tăng bu, Hươn mạy”, ném còn, bắn nỏ, Bảo tồn các di sản văn hoá như khu căn cứ cách mạng Mường Chanh, tượng đài chiến thắng ngã 3 Cò Nòi, di tích gốc me,
1.2.3 Điều kiện kinh tế-xã hội
* Đặc điểm về dân cư:
Theo số liệu thống kê năm 2016 dân số toàn huyện là 160.050 nhân khẩu, 37.026 hộ, trong đó khu vực thành thị chiếm 11,28% Mật độ dân số bình quân
Về dân tộc, toàn huyện có 6 dân tộc chính cùng chung sống, bao gồm: dân tộc Thái chiếm tỷ lệ cao nhất với 55,62% dân số toàn huyện; dân tộc Mông chiếm 7,42%; dân tộc Kinh chiếm 30,53%; dân tộc Sinh Mun chiếm 3,23%; dân tộc Mường chiếm 0,65%; dân tộc Khơ Mú chiếm 2,49% Tỷ lệ gia tăng dân số năm 2017 là 1,35%
*Lao động - việc làm
Theo số liệu thống kê, năm 2017 dân số trong độ tuổi lao động của Mai Sơn có khoảng 65.255 lao động, chiếm 41,83% tổng số dân, trong đó lao động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản chiếm 78,03%, công nghiệp và xây dựng chiếm 4,75%, dịch vụ 17,22%
Nguồn lao động của huyện dồi dào, song lực lượng lao động phân bố không đều chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn Chất lượng nguồn lao động nhìn chung còn rất thấp, số lao động đã qua đào tạo hiện nay mới chiếm 18,17%
Trang 22tổng số lao động, 81,83% số lao động còn lại chưa qua đào tạo
Trong thời gian tới nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của huyện trong việc tiến tới công nghiệp hoá hiện đại hoá, thì việc đào tạo nâng cao chất lượng trình độ người lao động cần được quan tâm chú trọng đầu tư, đây
là một vấn đề quan trọng để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
*Về y tế
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm, chất lượng khám, chữa bệnh ngày càng được nâng cao; duy trì thực hiện có hiệu quả các chương trình y tế quốc gia, công tác y tế dự phòng; làm tốt công tác phòng chống bệnh dại, sốt xuất huyết và chân tay miệng không để dịch bùng phát lây lan trên địa bàn Trong năm, tiếp nhận và khám chữa bệnh cho 203.468 lượt người, tăng 10,2% so với năm 2016; số bác sĩ/một vạn dân 5,8 người đạt 100%;
số giường bệnh/một vạn dân 21,5 giường đạt 97,3%; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi 20,8% đạt 100%
Có thêm 03 xã (Nà Bó, Chiềng Ve, Chiềng Mai) được công nhận đạt chuẩn các tiêu chí Quốc gia về y tế, lũy kế toàn huyện có 18 xã, thị trấn được công nhận Triển khai kế hoạch phát triển y, dược cổ truyền đến năm 2020, kế hoạch triển khai Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2016-2020 Kiểm tra việc kinh doanh thuốc tân dược và hành nghề y tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn theo kế hoạch
Chỉ đạo các xã, thị trấn thực hiện tốt chương trình mục tiêu Dân số - Kế hoạch hoá gia đình; mức giảm sinh 0,3%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,33%; thực hiện tốt mô hình giảm thiểu tảo hôn và kết hôn cận huyết thống Duy trì thực hiện có hiệu quả mô hình sàng lọc trước sinh và sơ sinh
*Về giáo dục đào tạo
Duy trì kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học - xoá mù chữ, giữ vững chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo tiểu học đúng độ tuổi và kết quả phổ cập giáo dục THCS; tập trung chỉ đạo các nhà trường xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia theo kế hoạch; duy trì và giữ vững trường đạt chuẩn Quốc gia, có thêm 08 trường được công nhận đạt chuẩn Quốc
Trang 23gia (đạt 133,33% kế hoạch), luỹ kế toàn huyện có 36 trường đạt chuẩn Quốc gia (trong đó có 04 trường đạt chuẩn mức độ 2) Thực hiện tốt chủ trương ghép các lớp học ở điểm trường lẻ về điểm trung tâm, đã thực hiện được 06 điểm trường với 07 lớp Triển khai xây dựng trường lớp học theo chương trình kiên cố hóa trường lớp học Chỉ đạo thực hiện tốt các hoạt động dạy và học gắn với cuộc vận động và các phong trào thi đua Hoàn thành nhiệm vụ năm học 2016-2017: Bậc mầm non 100% trẻ em đến lớp được đánh giá theo 5 mặt giáo dục và đạt chuẩn các lĩnh vực phát triển từ 92,2% trở lên; tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 99,1%; tốt nghiệp cấp THCS đạt 99,8%; tốt nghiệp THPT 97,3%; tốt nghiệp GDTX 98,5% Chỉ đạo các trường có học sinh bán trú tổ chức nấu ăn tập trung cho học sinh theo quy định; triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm học 2017- 2018; triển khai có hiệu quả các biện pháp nhằm chấn chỉnh các nhà trường trên địa bàn trong việc lạm thu, chi các khoản thu ngoài quy định của Nhà nước
*Về văn hóa – xã hội
Là một huyện miền núi có nhiều dân tộc chung sống với các phong tục tập quán khác nhau vì vậy có rất nhiều hình thái quần tụ dân cư, phổ biến nhất là hình thái làng bản Quy mô làng bản phụ thuộc vào điều kiện sinh sống của các dân tộc, bình quân từ 50 - 70 hộ Một số dân tộc có tập quán làm nhà ở trên núi cao hoặc ở các khu vực vùng sâu, gần với nơi có đất sản xuất Trong những năm gần đây, do sức ép về phát triển sản xuất hàng hoá và nhu cầu tách hộ giãn bản, một số hộ đã lập trang trại, dựng nhà ở ngay tại các khu sản xuất, hình thành các bản làng với quy mô nhỏ Vì vậy hình thái và sự phân bố các khu dân cư rất đa dạng, khó xác định được ranh giới khu dân cư Cơ sở hạ tầng một số địa bàn dân
cư nông thôn đều thiếu thốn, lạc hậu Tình trạng không có đường ô tô, điện lưới, không đủ trường học, chợ ở các khu dân cư vẫn còn ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc ít người
Việc xây dựng phát triển các tuyến giao thông gặp rất nhiều khó khăn do đặc thù địa hình miền núi và đầu tư chưa đồng bộ, khả năng khai thác sử dụng các tuyến đường còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại, giao lưu, trao
Trang 24đổi của nhân dân trong vùng và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Trên địa bàn huyện có hai loại hình giao thông đặc trưng là đường
bộ và đường thuỷ
Quốc lộ: Trên địa bàn huyện có 3 tuyến (QL6, QL 37, QL4G; QL6C) với tổng chiều dài 85 km Đây là các trục đường quan trọng nối các trung tâm kinh
tế, văn hoá, chính trị, an ninh quốc phòng của huyện với tỉnh, với các huyện và
cả vùng Tây Bắc Trong đó tuyến Quốc lộ 37 dài 50 km (từ xã Cò Nòi đến xã Phiêng Cằm) hiện đang được nâng cấp đóng góp phần không nhỏ cho việc giao lưu và trao đổi hàng hóa của nhân dân
Tỉnh lộ: có 4 tuyến (TL 110; 117; 113) nối liền các trung tâm kinh tế, văn hoá của huyện với các huyện lân cận với tổng chiều dài 92 km Trong đó Tỉnh lộ
103 dài 8 km (từ Cò Nòi đến Yên Châu), Tỉnh lộ 110 dài 30 km (từ QL 6 đến cảng Tà Hộc), tỉnh lộ 117 dài 4 km (từ xã Mường Chanh đến TP Sơn La) Tỉnh
lộ 113 (Nà Ớt - Phiêng Cằm) Hầu hết các tuyến đường tỉnh lộ là đường cấp V miền núi chất lượng còn xấu, bề mặt nhỏ hẹp Sự thông suốt giao lưu trao đổi hàng hoá còn hạn chế
Đường huyện, xã, đô thị: Tổng chiều dài gần 544 km, với 143 tuyến đường bao gồm các tuyến đường nối mạng giao thông tỉnh lộ, quốc lộ tới các trung tâm xã Tuy chất lượng còn kém chủ yếu là đường đất, nhưng hệ thống giao thông trên địa bàn huyện thường xuyên được nâng cấp, vì vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành công việc, giao lưu trao đổi hàng hoá, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh
Đường xã, bản bao gồm các hệ thống đường nối các bản, các điểm kinh
tế, các điểm tái định cư, các vùng nguyên liệu mía đường, sắn luôn được tu sửa, mở mới Đến nay có 100% số xã thị trấn trên địa bàn có đường ô tô đến các bản, vùng nguyên liệu tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh
Cùng với hệ thống giao thông đường bộ, Mai Sơn còn khoảng 25 km đường sông (Sông Đà) với cảng chính là cảng Tà Hộc Hệ thống đường thuỷ đã giúp cho nhân dân vùng dọc sông trao đổi các nông sản, hàng hoá với bên ngoài
Trang 25rất kịp thời và có hiệu quả Tuy nhiên do đặc điểm địa hình hồ chứa việc giao lưu vùng lòng hồ với các trung tâm kinh tế gặp nhiều khó khăn, mặt khác giao thông đường thuỷ mới hình thành và phát triển và do hệ thống kho tàng, bến bãi, thiết bị bốc xếp còn thiếu và chưa đồng bộ nên hiệu quả khai thác còn thấp, khối lượng vận chuyển nhỏ, phân tán
Mai Sơn có sân bay Nà Sản, đây là sân bay nhỏ, trước đây sử dụng vào mục đích quân sự Năm 1994 được đầu tư cải tạo, sửa chữa để phục vụ vận chuyển hành khách tuyến Hà Nội - Nà Sản - Điện Biên, năng lực vận chuyển 20.000 lượt hành khách /năm, hiện đang trong giai đoạn nâng cấp sửa chữa
*Về kinh tế
Mai Sơn là m ột huyê ̣n miền núi c ủa tỉnh Sơn La Huyện có nhiều điều kiê ̣n để phát triển kinh tế theo hướng đa d ạng hóa ngành nghề Tâ ̣p trung khai thác hiệu quả nh ững lợi thế trên , những năm qua, kinh tế của Mai Sơn có nhiều chuyển biến tích cự c, đạt mức tăng trưởng khá , đời sống nhân dân từng bước được cải thiê ̣n Mai Sơn đã hình thành 4 vùng kinh tế đặc trưng: Vùng kinh tế dọc Quốc lộ 6; kinh tế dọc Quốc lộ 4G; kinh tế vùng lòng hồ Sông Đà; kinh tế
đi ̣nh là ngành kinh tế giữ vai trò chủ đa ̣o của huyê ̣n Mai Sơn, chiếm tỷ tro ̣ng cao
theo hướng tích cực , thực hiện chủ trương “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Đề án “Phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp hàng hóa của tỉnh Sơn La đến năm 2020” Huyện đã ổn định phát triển một số vùng sản xuất nông nghiệp tập trung,
có lợi thế Năm 2014, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 1.935,9 tỷ đồng, tăng 6,7% so với 2013, giá trị sản xuất trên một ha đạt 40 triệu đồng
Lâm nghiệp cũng là một thế mạnh của địa phương Kinh tế lâm nghiệp đã
có những bước phát triển đột phá, góp phần tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo Việc phát triển rừng kinh tế gắn trách nhiệm với quyền lợi của người lao động đã tạo động lực mới cho phong trào phát triển kinh tế lâm nghiệp
Trang 26của huyện
Trong lĩnh vực chăn nuôi, từ phong trào thi đua lao động sản xuất, nhiều mô hình kinh tế trang trại, dịch vụ được nhân rộng, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Sản xuất Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp từng bước chuyển biến cả về chất và lượng, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia Công nghiệp chế biến
và khai thác được chú trọng, một số sản phẩm đang được xây dựng thương hiệu, các sản phẩm truyền thống tiêu biểu đang được quan tâm khôi phục, phát triển Trên địa bàn huyện đã thu hút một số nhà máy: Nhà máy Xi măng công suất 1 triệu tấn/năm, Nhà máy đường, Nhà máy tinh bột sắn
Mai Sơn nằm trên quốc lộ 6, có sân bay Nà Sản, bến cảng Tà Hộc…tạo ra những chuyến giao thông đường không, đường thuỷ, đường bộ nối liền miền
mại, dịch vụ - du lịch theo hướng hiện đại
Hệ thống dịch vụ đã có ở tất cả các xã, phục vụ tốt nhu cầu thiết yếu của nhân dân, hệ thống chợ nông thôn đang từng bước được đầu tư kiên cố Hoạt động du lịch từng bước được hình thành, quảng bá rộng rãi với nhiều di tích lịch
sử đã được xếp hạng Nhiều điểm du lịch như ngã ba Cò Nòi, rừng Dẻ, hồ Tiền Phong, khu sinh thái, du lịch làng bản sẽ là điểm đến hấp dẫn của du khách
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mai Sơn vẫn còn những hạn chế Cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông còn thiếu đồng bộ, nguồn vốn đầu tư cho việc mở rộng sản xuất và xây dựng các cơ sở chế biến nông lâm sản, dịch vụ còn thiếu Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý đang được đào tạo nhưng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao trong giai đoạn hiện nay
Thực tiễn quá trình chuy ển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm qua đã khẳng đi ̣nh Mai Sơn đang đi đúng hướ ng Tiếp tu ̣c thực hiê ̣n các giải pháp đồng
bô ̣, phát huy tối đa tiềm năng thế mạnh của địa phương, đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế là quyết tâm của toàn Đảng bộ , chính quyền và nhân dân huyện Mai Sơn nhằm phát huy vai trò năng đô ̣n g trong chiến lược phát triển kinh tế -
Trang 27xã hội, xứng đáng là huyện trọng điểm kinh tế của tỉnh Sơn La
1.3 Tính tất yếu của việc nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác cán bộ là khâu quan trọng nhất,
có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả công việc, là khâu then chốt trong sự nghiệp cách mạng, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào những thành công trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đặc biệt, đối với vùng dân tộc thiểu số thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng
Văn kiện Đại hội X đã chỉ rõ: “Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục, tập quán tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc” Việc đổi mới công tác cán bộ đã được triển khai rộng rãi ở các cấp, các ngành trong cả nước Đối với vùng dân tộc miền núi, công tác cán bộ và đổi mới công tác cán bộ đang gặp phải khó khăn và thách thức mới
Việc củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng miền núi, dân tộc thiểu số gắn liền với việc đổi mới công tác cán bộ Tập trung dân chủ và đoàn kết có ý nghĩa quan trọng trong củng cố khối đoàn kết dân tộc ở cơ
sở và là nền móng quan trọng cho việc củng cố chính quyền cơ sở vững mạnh
Hệ thống chính trị ở cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân
ở cơ sở
Thực tiễn khẳng định rằng, bộ máy quản lý xã hội ở cơ sở luôn có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với mọi người dân địa phương trên các lĩnh
Trang 28vực phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, đảm bảo an ninh xã hội, ổn định chính trị,… Nơi nào mà bộ máy này tự quản vững mạnh thì ở nơi đó người dân có tinh thần đoàn kết trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là quy chế dân chủ ở cơ sở được tôn trọng, ít tệ nạn
xã hội, ít các vụ kiện cáo và khiếu nại vượt cấp…
Công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, làm thay đổi
bộ mặt miền núi và nông thôn nước ta Tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh qua các thời
kỳ và đặc biệt là những năm gần đây, với sự thành công của các chương trình đầu tư, phát triển vùng dân tộc miền núi như 135, 134… Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn khá nhiều khó khăn, thách thức trong phát triển vùng dân tộc miền núi, trong đó phải kể đến là cần đổi mới công tác đào tạo cán bộ ở vùng dân tộc miền núi Một trong những thách thức đối với công tác cán bộ vùng dân tộc và miền núi hiện nay là trình độ của cán bộ cấp cơ sở rất hạn chế, nếu không muốn nói là yếu kém, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp xã và cấp thôn bản Do sự hạn chế về trình độ quản lý, nghiệp vụ chuyên môn nên tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tiêu cực, tệ nạn ma túy, truyền đạo trái phép diễn ra ở nhiều địa phương, gây ra sự mất dổn định từ cấp cơ sở, thậm chí còn là điểm nóng về vấn
đề dân tộc và tôn giáo ở một số địa phương
Theo số liệu thống kê của Ủy ban dân tộc, trình độ chuyên môn và trình
độ lý luận chính trị của cán bộ là người dân tộc thiểu số còn khá hạn chế
Sự hạn chế về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ đã ảnh hưởng lớn đến nhận thức và quá trình triển khai các hoạt động quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của cán bộ ở cấp cơ sở Sự nhạy bén và năng động trong việc chuyển tải và thực hiện triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương ở cấp cơ sở gặp rất nhiều khó khăn Nhiều cán bộ chủ chốt cấp xã, phường còn lúng túng trong chỉ đạo, tổ chức triển khai các hoạt động kinh tế - xã hội tại cơ sở
Trước thực trạng trên, nâng cao chất lượng cán bộ ở vùng dân tộc miền núi hiện nay là một nhu cầu cấp bách và tiên quyết trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển nông thôn, miền núi của nước ta Vị trí, vai trò của công tác
Trang 29cán bộ hết sức quan trọng, quyết định sự thành công hay ngăn cản tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng miền núi và dân tộc
Việc nâng cao chất lượng cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La một cách có hiệu quả, phục vụ sự phát triển trước mắt cũng như lâu dài là một nhiệm vụ khó khăn, cần được thực hiện liên tục, có hệ thống và đồng bộ Về mặt xã hội, nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã phải được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu và yêu cầu phát triển toàn diện con người vì sự phát triển lâu dài của huyện Mai Sơn nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung Về mặt kinh tế, nâng cao chất lượng đào tạo cán
bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã phải được khai thác triệt để với hiệu quả cao nhất, đồng thời được phát triển để đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai cả về số lượng lẫn chất lượng phù hợp với năng lực và khả năng bảo đảm của nền kinh tế tỉnh Sơn La
Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La hiện nay là rất cần thiết và tất yếu
Trang 30Tiểu kết chương 1
Trong công cuộc đổi mới, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, tích cực và chủ động hội nhập toàn diện quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng nguồn lực con người; coi đây là nhân tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN Xuất phát từ nhận thức vị trí chiến lược của miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và đặc điểm của vấn đề dân tộc thiểu số nước ta, trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc trước đây và trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo, xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nhằm thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc, đưa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số từng bước phát triển trong sự phát triển chung của đất nước
Cán bộ DTTS cấp xã là sợi dây liên hệ giữa Đảng và quần chúng các dân tộc: Giữa họ và dân tộc có mối liên hệ ruột thịt với nhau, do đó họ có điều kiện thuận lợi đoàn kết và động viên nhân dân các dân tộc phát triển sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Việc nâng cao chất lượng cán bộ xã là người DTTS còn là thực hiện mối quan
hệ bình đẳng các dân tộc, vì các dân tộc phải được giúp đỡ để phát triển đồng đều, và một trong những phát triển đó là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP XÃ Ở
HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA 2.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số cấp xã
ở huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La
2.1.1 Số lượng, cơ cấu cán bộ cấp xã huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Tổng số cán bộ, công chức