1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

điều tra đánh giá biểu hiện và ảnh hưởng của các trận động đất vào các ngày 5 6 8 2005, 17 10 2005 và 8 11 2005 trên địa bàn tp hồ chí minh

117 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các kết quả nghiên cứu kể trên cho thấy vùng lãnh thổ Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu chịu ảnh hưởng của các trận động đất xảy ra trên các đứt gãy kiến tạo á kinh tuyến nằm gần kinh tuyến

Trang 1

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU

Trong năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh đã chịu ảnh hưởng (dù không lớn lắm) của các trận động đất xảy ra vào các ngày 5 - 6 tháng 8; 17 tháng 10 và 8 tháng 11 Theo thang độ Richter độ mạnh của các trận động đất nằm trong khoảng 4,3 ≤ M ≤ 5,5 và có chấn tâm nằm trên các đứt gãy kiến tạo á kinh tuyến gần kinh tuyến 1090 Các trận động đất nêu trên được xếp vào loại động đất địa phương có cường độ trung bình và yếu (động đất địa phương cường

độ trung bình có 5 ≤ M < 6; động đất địa phương yếu không gây thiệt hại đáng kể có 4 ≤ M < 5)

Hậu quả cuả các trận động đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh chỉ là các chấn động ở các mức độ khác nhau, không gây thiệt hại đáng kể; nhưng đã gây hoang mang và lo

sợ cho nhiều người dân Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã trực tiếp giao cho Phân Viện Địa lý tại Thành phố Hồ Chí Minh (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

nhiệm vụ “Điều tra đánh giá biểu hiện và ảnh hưởng của các trận động đất vào các ngày

5 - 6/8/2005, 17/10/2005 và 8/11/2005 trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh”, với các mục tiêu:

- Xác định đường lan truyền sóng động đất thể hiện qua bản đồ các đường đẳng chấn

- Phân vùng nền đất dựa trên tác động của các trận động đất vừa qua, góp phần phục vụ công tác qui hoạch xây dựng

Các kết quả của đề tài còn góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác phân vùng nhỏ động đất sắp được tiến hành và trấn an sự lo sợ thái quá của một số bộ phận dân cư về nguy cơ động đất ở Thành phố Hồ Chí Minh

1.1 VÀI NÉT VỀ ĐỘNG ĐẤT Ở MIỀN NAM NƯỚC TA

Động đất là một trong những tai họa thiên nhiên đe dọa trực tiếp cuộc sống và thành quả lao động của con người ở những nơi xảy ra động đất Động đất là hậu quả của vận động kiến tạo và xảy ra ở nơi mà ứng suất tích lũy trong quá trình vận động vượt quá giới hạn chịu đựng của môi trường đất đá Động đất xảy ra không phải ở mọi nơi, mà nói chung ở những vùng đứt gãy sinh chấn có cấu trúc địa chất đặc biệt và hoạt động kiến tạo mạnh

Các nhà địa chấn trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu sự phân bố địa lý của chấn tâm trên toàn bộ mặt hành tinh và đã kết luận rằng [2, 9] :

- Động đất mạnh chủ yếu xảy ra ở ba vành đai động đất chính, đó là vành đai Thái Bình Dương, vành đai Địa Trung Hải - xuyên Á và vành đai sống núi giữa đại dương

- Vành đai Thái Bình Dương có hoạt động động đất mạnh nhất, 3/4 năng lượng động đất được giải tỏa trên vành đai này

- Năng lượng của động đất nông với độ sâu chấn tiêu nhỏ hơn 70 km chiếm 85% tổng năng lượng động đất

Việt Nam nằm xa các đới động đất mạnh trên thế giới

Vài thập kỷ gần đây các nhà địa chấn và các nhà khoa học thuộc các ngành khoa học

có liên quan đã nỗ lực tìm các phương pháp dự báo động đất, nhưng cho đến nay vẫn chưa có kết quả khả quan Do đó, để phục vụ qui hoạch xây dựng và giảm nhẹ tác động cuả động đất (nếu xảy ra), phân vùng động đất là giải pháp hữu hiệu có ý nghĩa thực tiễn nhất hiện nay

Trang 2

Ở nước ta công tác phân vùng động đất đã được tiến hành từ những năm 60 của thế kỷ trước (Nha khí tượng, 1968) Ở miền Nam, năm 1974 Nguyễn Khắc Mão đã phác thảo Sơ đồ phân vùng động đất cho khu vực phía Nam dựa vào số liệu lịch sử và một số tài liệu đo đạc của các trạm động đất quốc tế Đến năm 1979, Lê Minh Triết và các cộng sự đã bổ sung các tài liệu địa chất, địa kiến tạo, địa vật lý và điều tra trong nhân dân để thành lập Bản đồ phân vùng động đất miền Nam tỉ lệ 1/1.000.000 Năm 2004, Viện Vật lý Địa cầu (Viện Khoa học

và Công nghệ Việt Nam) đã công bố kết quả “Nghiên cứu dự báo động đất và dao động nền ở Việt nam” do Nguyễn Đình Xuyên chủ biên, trong đó có Bản đồ phân vùng động đất toàn quốc tỉ lệ 1/1.000.000

Các kết quả nghiên cứu kể trên cho thấy vùng lãnh thổ Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu chịu ảnh hưởng của các trận động đất xảy ra trên các đứt gãy kiến tạo á kinh tuyến nằm gần kinh tuyến 1090 Độ mạnh M lớn nhất của động đất trên đứt gãy này là M = 5,5 [17]

ĐẤT

Sau mỗi trận động đất các nhà địa chấn tiến hành thu thập số liệu về tác động của động đất mà dân cư nhận thấy được trên diện tích lớn xung quanh chấn tâm Dựa trên thang cấp động đất MSK - 64 các nhà địa chấn có thể xác định cấp động đất ở nhiều địa điểm Đây là công việc tỉ mỉ, nhọc nhằn và đôi khi kéo dài hằng năm Dựa vào kết quả đánh giá cấp động

đất các nhà địa chấn vạch được các đường đẳng chấn (có cấp động đất bằng nhau) Từ bản

đồ này có thể suy ra nhiều tham số liên quan đến chấn tiêu và đặc tính của nền đất của khu vực khảo sát Chẳng hạn ta có thể suy ra độ sâu chấn tiêu và hệ số hấp thụ trung bình của vùng khảo sát Phương pháp nghiên cứu này có thể coi là khả năng duy nhất xác định độ sâu chấn tiêu khi chưa có hệ thống quan trắc động đất bằng máy Các nhà địa chấn Mỹ đã áp dụng phương pháp khảo sát này lần đầu tiên đối với trận động đất lớn ngày 18/4/1906 xảy ra ở California và dẫn đến việc thành lập Hội Địa chấn Hoa kỳ cũng trong năm 1906 [2] Tuy hiện nay mạng lưới trạm động đất đã tương đối dày nhưng phân bố không đều, cho nên phương pháp khảo sát sau động đất vẫn được áp dụng ở nhiều nước và ở nước ta

Các kết quả khảo sát đối với các trận động đất cho thấy rằng ảnh hưởng của động đất lên nền đất phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện địa chất địa phương Nói chung, nền đất càng mềm xốp, tác động càng lớn, trên nền đá cứng tác động sẽ nhỏ nhất Qui luật này đã được phát hiện từ năm 1908 khi H Wood nghiên cứu các hậu quả của trận động đất 1906 ở San Francisco, California Các khảo sát sau này còn cho thấy rằng ở những nơi có trầm tích trẻ bở rời, bão hòa nước sẽ chịu tác động mạnh theo bề dày của lớp trầm tích Các đặc điểm này thể hiện rõ khi nghiên cứu tác động của các trận động đất xa nơi khảo sát [9] Như vậy, dựa trên việc đánh giá tác động của động đất thông qua cấp động đất ta có thể phân lọai nền đất phản ứng đối với động đất và có thể dự báo cường độ tác động tương đối của động đất trên các vùng có các điều kiện địa chất khác nhau

PHẦN HAI : ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

TP HỒ CHÍ MINH 2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Thành phố Hồ Chí Minh có toạ độ địa lý 10010’ đến 10038’ vĩ độ Bắc và 106022’ đến

106054’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phía

Trang 3

Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang, phía Nam giáp biển Đông với bờ biển kéo dài khoảng 15 km, nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, là nơi hội lưu của các con sông lớn như sông Đồng Nai, Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông, nối liền ra biển qua sông Lòng Tàu và sông Nhà Bè - Soài Rạp

Thành phố có 22 quận huyện trải dài khoảng 120 km theo phương Tây Bắc – Đông Nam từ Củ Chi đến Cần Giờ; diện tích tự nhiên là 2.093,7 km2

2.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH

Địa hình vùng Thành phố Hồ Chí Minh tương đối bằng phẳng, có dạng bậc theo hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây và có thể chia thành các vùng từ cao đến thấp với các đặc điểm như sau :

- Vùng cao, có độ cao trung bình khoảng 10 - 25 m, nằm ở phía Bắc- Đông Bắc và một phần ở phía Tây - Tây Bắc, thuộc phía Bắc huyện Củ Chi, Đông Bắc Quận Thủ Đức và Quận 9, trung tâm Thành Phố, với dạng địa hình lượn sóng, xen kẻ những đồi gò, cao nhất là đồi Long Bình thuộc Quận 9, có độ cao 32 m

- Vùng trung bình, có độ cao trung bình từ 5 - 10 m, phân bố ở khu vực trung tâm Thành phố gồm phần lớn khu vực nội thành cũ, một phần Quận 2, Quận Thủ Đức, toàn bộ Quận 12, phía Tây huyện Hóc Môn, phía Tây huyện Củ Chi và một phần Quận 9 Vùng cao

và vùng trung bình phát triển trên các trầm tích Pleistoxen (phù sa cổ)

- Vùng thấp trũng, có độ cao trung bình trên dưới 1 m, cao nhất là 2 m và thấp nhất là 0,5 m, phân bố ở phía Nam - Tây Nam và Đông Nam Thành phố, thuộc các Quận 9, 8, 7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ

2.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CẤU TRÚC

Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí khá đặc biệt trên bình đồ cấu trúc của khu vực, thuộc rìa phía Tây Nam của đới Đà Lạt, phụ đới Biên Hoà, tiếp giáp với phần phía Đông Bắc đới Cần Thơ Do vậy, nó vừa bị chi phối bởi sự phát triển của đới Đà Lạt tuổi Mezozoi, vừa chịu ảnh hưởng của đới lún chìm Kainozoi muộn Cần Thơ

Trên hầu hết diện tích Thành phố thường hiện diện đồng thời hai tầng cấu trúc chính : Tầng móng gồm các đá gốc cứng chắc nằm phía bên dưới và tầng phủ gồm các trầm tích gắn kết yếu và bở rời xếp thành các lớp nằm ngang hoặc gần như nằm ngang trên tầng đá gốc

2.3.1 Móng đá gốc

Các đá thuộc móng đá gốc bao gồm các đá trầm tích có tuổi Jura sớm, đá trầm tích núi lửa tuổi Jura muộn – Krêta sớm và đá xâm nhập tuổi Jura muộn - Krêta sớm Nằm dưới lớp phủ ở độ sâu khác nhau, các đá gốc có khả năng chứa nước kém, khá cứng chắc và có khả năng chịu tải tốt

- Các thành tạo trầm tích tuổi Jura sớm : là các đá thuộc hệ tầng Draylinh, có thành

phần thạch học chủ yếu là cát kết, đá bột kết đa khoáng xen kẻ với đá phiến silic, sét kết màu đen, xám đen, đôi chỗ có cấu tạo phân dải, xâm tán carbonat và sulfur Các đá trầm tích Jura

có mật độ thay đổi từ 2,4 đến 2,65 g/cm3 Vận tốc truyền sóng đàn hồi của các đá rắn chắc tương đối thấp, trung bình 4 km/s

Trang 4

- Các thành tạo trầm tích tuổi Jura muộn – Krêta sớm : chiếm diện tích khá lớn của đá

móng dưới tầng phủ Neogen - Đệ tứ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Chúng là sản phẩm của quá trình hoạt động núi lửa Thành phần thạch học của các thành tạo này có đá núi lửa bazan - andezit porfyrit, andezit porfyrit, andesit-dacit porphyr, ryodacit porphyr, felsit porphyr và các trầm tích gồm cát kết tuff, đá phiến sét, bột kết màu đỏ Các đá thuộc thành tạo này có độ bền cơ học cao, mật độ khá lớn, trung bình 2,8 g/cm3 đối với các thành tạo andezit Vận tốc truyền sóng đàn hồi trong các đá phun trào khá cao, khoảng 5 km/s đối với đá cứng chắc

- Các thành tạo xâm nhập tuổi Jura muộn – Krêta sớm : hiện diện khá phổ biến bên

dưới các lớp phủ trầm tích Đệ tứ trong khu vực Cần Giờ, có cấu tạo dạng khối, kiến trúc hạt vừa, thành phần thạch học tương ứng với nhóm đá granodiorit, mật độ trung bình từ 2,7 đến 2,8 g/cm3 Vận tốc truyền sóng đàn hồi khá cao, từ 5 - 6 km/s

2.3.2 Tầng phủ Kainozoi muộn

Bao gồm các tập trầm tích nằm ngang, tuổi Neogen - Đệ tứ Trong mỗi tập trầm tích,

độ hạt của chúng nói chung tăng dần từ trên xuống dưới

a - Trầm tích Holoxen : bao gồm các trầm tích thuộc hệ tầng Bình Chánh và hệ tầng

Cần Giờ Thành phần thạch học chủ yếu là sét bột cát, ít gặp hơn là cát, cát bột Đây là tầng đất yếu lộ diện trên bề mặt, phủ bất chỉnh hợp trên mặt bóc mòn trầm tích Pleistoxen muộn, dày từ một vài mét ở vùng rìa các bậc thềm đến 20 - 30 m ở các vùng đồng bằng

b - Trầm tích Pleistoxen : bao gồm các trầm tích thuộc hệ tầng Trảng Bom, hệ tầng

Thủ Đức và hệ tầng Củ Chi :

- Hệ tầng Trảng Bom: có thành phần thạch học chủ yếu là vật liệu hạt thô : cát, sạn sỏi lẫn bột sét, phủ bất chỉnh hợp trên tập sét loang lổ thuộc hệ tầng Bà Miêu và bị phủ trên bởi tập sạn sỏi, cát sạn sỏi của hệ tầng Thủ Đức

- Hệ tầng Thủ Đức: hiện diện khắp Thành phố, kích thước độ hạt tăng dần từ trên xuống dưới Theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bề mặt hệ tầng phân bố ở cao độ từ 10 - 20 m

ở khu vực Tây Bắc Củ Chi, khoảng 2 - 10 m ở Hóc Môn và khu vực nội thành và -30m ở khu vực Nhà Bè - Cần Giờ Theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, thành phần thạch học thay đổi khá

rõ rệt, lộ ra ở cao độ 20 - 40 m tại Quận 9 và Thủ Đức, chìm dần xuống cao độ từ 2 - 5 m ở khu vực nội thành và -30m đến -35m phía Tây Nam huyện Bình Chánh

- Hệ tầng Củ Chi: tương tự như các trầm tích thuộc hệ tầng Thủ Đức, độ hạt tăng dần

từ trên xuống dưới; bề mặt hệ tầng chìm dần về phía Đông Nam, từ cao độ 5 - 15 m ở khu vực

Củ Chi đến -15, -16 m ở khu vực Nhà Bè Về phía Đông Bắc, bề mặt hệ tầng phân bố ở cao

độ 5 - 15 m ở khu vực Thủ Đức và chìm dần đến - 25 m ở khu vực phía Tây Nam huyện Bình Chánh

c - Trầm tích Plioxen sớm: gồm các trầm tích gắn kết yếu, phần dưới là cát, cát sạn sỏi

lẫn sét bột màu xám, nằm phủ trực tiếp trên đá gốc, bề dày lên đến hàng trăm mét Phần trên

là các thành tạo sét, sét bột có bề dày khoảng 10 m, bị các trầm tích có tuổi Pliocen muộn phủ lên.Thành phần thạch học gồm hạt thô chiếm từ 66 - 94 %

Trang 5

- Theo hướng Tây Bắc – Đông Nam (từ Củ Chi đến Cần Giờ), các thành tạo này xuất hiện ở các độ sâu khác nhau với xu hướng chìm dần về phía Cần Giờ

- Theo hướng Đông Bắc – Tây Nam (từ Thủ Đức đến Bình Chánh) bề mặt trầm tích này chìm dần theo dạng bậc từ độ sâu 80 - 86 m ở khu vực Bình Thạnh, Quận 9; 136 - 144 m

ở khu vực nội thành cũ; 140 - 212 m ở khu vực Bình Chánh; bề dày thay đổi từ 43 – 68 m,

100 – 128 m tương ứng

d - Trầm tích Pliocen muộn: gồm các trầm tích thuộc hệ tầng Bà Miêu, phủ trực tiếp

trên bề mặt các thành tạo Pliocen sớm, thường bắt đầu bằng các tập trầm tích hạt thô, chủ yếu

là cát sạn pha bột sét và kết thúc bằng các trầm tích hạt mịn, hầu hết là sét bột

Theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bề mặt hệ tầng phân bố ở chiều sâu khoảng một vài mét ở khu vực Tây Bắc Củ Chi, chìm dần đến độ sâu 20 - 45 m ở khu vực Hóc Môn – khu vực nội thành; 34 - 84 m ở khu vực Cần Giờ Bề dày của hệ tầng ít thay đổi theo hướng này Theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, bề dày của hệ tầng thay đổi từ 40 - 70 m ở khu vực Linh Xuân, Thủ Đức, Bình Trưng, Quận 2 đến 90 - 120 m ở khu vực nội thành và khoảng 100

- 136 m ở huyện Bình Chánh Chiều sâu phân bố bề mặt hệ tầng thay đổi tương ứng, từ cao độ

27 m ở Linh Xuân; -15,5 đến -33,7 m ở Bình Thạnh - Tân Bình và -72,5 m ở Bình Chánh

e - Trầm tích Mioxen muộn: được gọi là hệ tầng Bình Trưng, thành phần thạch học

bao gồm cát, sạn sỏi chứa các mảnh dăm gắn kết yếu bởi bột sét, cát bột kết màu xám, sét bột kết màu xám, phân lớp mỏng bị phủ bất chỉnh hợp bởi các trầm tích Plioxen muộn

VẬT LÝ [11, 16]

Cấu trúc vùng Thành phố bị khống chế bởi các hệ thống đứt gãy có phương á kinh tuyến, á vĩ tuyến, Đông Bắc - Tây Nam, Tây Bắc - Đông Nam Các hệ thống đứt gãy này đã làm cho địa hình bề mặt móng nâng sụt theo dạng khối tảng

- Đứt gãy sông Sài Gòn (F 1), có phương Tây Bắc - Đông Nam, chạy dọc theo sông Lái Thiêu - Rạch Gò Dưa về Phường Cát Lái Quận 2 Đây là đứt gãy thuận - bằng trái, độ sâu ảnh hưởng đến 40 km, mặt trượt cắm về hướng Tây Nam với góc dốc 60 - 80o ở trên mặt, thoải dần đến 40 - 50o ở độ sâu 40 km, cự ly dịch chuyển trong Neogen trên 100 m, cánh Đông Bắc được nâng lên với biên độ dịch chuyển của đá gốc trước Plioxen sớm là 60 m, trong Plioxen muộn là 22 m, và khoảng 4 - 5 m trong Holoxen

- Đứt gãy Hóc Môn - Bình Thạnh (F 2 ), kéo dài từ Tân Thạnh Tây (huyện Củ Chi),

qua Đông Thạnh (huyện Hóc Môn) đến khu vực hội lưu giữa sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, đứt gãy này chạy song song và cách đứt gãy sông Sài Gòn khoảng 5 km về phía Tây Nam Cùng với đứt gãy sông Sài Gòn, đứt gãy này đóng vai trò định tuyến, định đai uốn khúc cho hoạt động của thung lũng sông Sài Gòn ít nhất từ Pleistoxen muộn cho đến ngày nay

- Đứt gãy Bình Chánh - Cần Giuộc (F 3 ), có phương Tây Bắc – Đông Nam Đây là

đứt gãy thuận, phát triển đến độ sâu 40 km, với mặt đứt gãy cắm về phía Tây Nam, dốc 70o –

75o Trên địa hình hiện đại, đứt gãy trùng với phương kéo dài của thung lũng sông Vàm Cỏ Đông Thung lũng này được hình thành ít nhất từ Pleistoxen muộn, nay vẫn còn được phát triển kế thừa bởi các tích tụ Holoxen muộn

Trang 6

- Đứt gãy Hậu Nghĩa – An Thạnh (F 4 ), có phương á vĩ tuyến chạy ngang qua khu

vực Thị trấn Củ chi Đứt gãy này là đứt gãy thuận, cắm về phía Nam với góc dốc 65o – 70o Trên địa hình hiên tại, theo phương phát triển của đứt gãy, rạch Láng The và sông Sài Gòn đều bị đổi hướng đột ngột theo phương á vĩ tuyến trên một đoạn dài đến 3 km và cùng về hướng Đông, theo đó, các đứt gãy sông Sài Gòn và Hóc Môn – Bình Thạnh cũng bị dịch chuyển ngang ở một khoảng cách tương tự

- Đứt gãy Đức Hòa - Long Thành (F 5 ), có phương á vĩ tuyến chạy qua khu vực Thị

trấn An Lạc và khu vực hợp lưu giữa sông Sài Gòn và sông Đồng Nai Đứt gãy này cắm về phía Nam với góc dốc 70o – 80o, làm dịch chuyển ngang đứt gãy sông Sài Gòn

- Đứt gãy Tam Thôn Hiệp (F 6 ), có phương vĩ tuyến, chạy qua khu vực Tam Thôn

Hiệp, huyện Cần Giờ Theo tài liệu trọng lực, đây là đứt gãy thuận cắm về hướng Nam với góc 70o – 75o Trên mặt cắt địa chất, cánh phía Bắc bị nâng lên, chênh lệch độ cao của bề mặt

đá gốc là 35 m, nóc của trầm tích Plioxen muộn là 12 m

- Đứt gãy sông Soài Rạp (F 7 ), có phương kinh tuyến, chạy qua khu vực Mũi Đèn Đỏ,

sông Nhà Bè - Soài Rạp Đây là một phần của đứt gãy Lộc Ninh - Thủ Dầu Một, có bề rộng trên 20 km, độ sâu ảnh hưởng đến 60 km, mặt trượt cắm về phía Đông với góc cắm 70o

- Đứt gãy Lý Nhơn (F 8 ), có phương vĩ tuyến.Trên địa hình hiện tại, đứt gãy này

không có biểu hiện rõ ràng

2.5 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH

2.5.1 Điều kiện địa chất công trình

Có thể phân biệt hai tầng cấu trúc trong mặt cắt chung trên địa bàn Thành phố :

2.5.1.1 Tầng cấu trúc móng đá tuổi Kainozoi

Cấu tạo bởi các loại đá cứng tuổi Mezozoi (Mz) có nguồn gốc và thành phần khác nhau, nhưng chủ yếu là đá anđêzit, anđêzitobazan thuộc hệ tầng Long Bình (J3-K1lb) Ngoại

trừ hai điểm lộ là núi Yai (Thủ Đức) và Giồng Chùa (Cần Giờ), phần còn lại của móng đều chìm rất nhanh theo hướng chung Đông Bắc – Tây Nam, đạt độ sâu lớn nhất 330 m ở ranh giới phía Tây Thành phố

2.5.1.2 Tầng cấu trúc lớp phủ trầm tích Mioxen muộn – Đệ tứ

Tầng cấu trúc này có thể chia ra làm ba phụ tầng cấu trúc như sau :

- Phụ tầng cấu trúc Mioxen muộn – Plioxen : Cấu thành chủ yếu bởi các trầm tích bở

rời gắn kết yếu, nguồn gốc sông, sông biển thuộc các hệ tầng Bình Trưng, Nhà Bè và Bà Miêu Tất cả đều không lộ ra trên mặt, phát triển liên lục trên toàn bộ địa bàn Thành phố

- Phụ tầng cấu trúc Pleistoxen :Cấu tạo bởi các trầm tích bở rời có nguồn gốc sông

tuổi Pleistoxen, nằm bất chỉnh hợp trên các trầm tích Neogen, lộ ra trên mặt ở từng nơi (Thủ Đức, khu vực Đông Bắc Thành phố) ứng với cao độ 5 - 20 m Bề dày chung của tầng cấu trúc này là khoảng 120 m

Trang 7

- Phụ tầng cấu trúc Holoxen :Cấu tạo các trầm tích Holoxen có nhiều nguồn gốc, lộ ra

trên phần lớn diện tích Thành phố

2.5.1.3 Các loại đất đá và tính chất cơ lý

Nền đất của Thành phố được cấu tạo bởi đất đá có thành phần và nguồn gốc rất đa dạng Theo chiều sâu hiện diện các loại đất đá sau:

- Bùn sét, bùn sét pha (ambQ IV) hiện diện trên địa hình trũng thấp và dọc theo các

sông lớn Đây là lớp trầm tích trẻ nằm ở phần trên cùng Chiều dày biến đổi rất lớn, trung bình 15 - 20 m Đất ở giai đoạn trầm tích, có các tính chất cơ học rất kém

- Cát biển (mQIV) phân bố thành từng dải kéo dài từ Đông Hoà đến Cần Giờ Chiều

dày từ 4,5 đến 16 m, trung bình là 7,5 m

- Sét pha (amQIV) màu xám xanh, xám vàng, trạng thái dẻo mềm, dẻo chảy, phân

thành dải không liên tục từ Bình Chánh qua Hóc Môn, lên đến phía Tây Củ Chi, chủ yếu tập trung ở sườn thoải của địa hình xâm thực tích tụ có cao độ 5 - 7 m Bề dày trung bình 2 m Theo số liệu thống kê về tính chất cơ lý, sức chịu tải quy ước của đất nền khoảng 2,0 – 2,5 kg/cm2

- Sét (aQII-III) màu xám vàng, xám nâu, trạng thái dẻo cứng đến cứng Lớp này tập

trung ở phía Bắc Thành phố như An Nhơn Tây, Tân An Hội, lộ ra và cấu tạo nên các sườn và

đỉnh phân thủy của dạng địa hình xâm thực tích tụ, nằm xen kẹp với lớp sét pha (aQ II-III) và phủ trực tiếp lên lớp sét chứa sạn sỏi laterit Chiều dày 1,5 - 5,0 m, trung bình 3 m Theo số liệu thống kê về tính chất cơ lý, sức chịu tải quy ước của đất nền khoảng 2,5 – 3,5 kg/cm2

- Sét pha (aQII-III) màu xám nâu, xám vàng trạng thái dẻo cứng đến cứng Lớp này phân bố tập trung ở phía Bắc Thành phố, thành dạng dải không liên tục, kéo dài từ Củ Chi qua Hóc Môn cho đến Thủ Đức, lộ ra và cấu tạo nên các sườn và đỉnh phân thuỷ của dạng địa hình xâm thực tích tụ, nằm xen kẹp với lớp sét pha (aQII-III) và phủ trực tiếp lên lớp sét chứa sạn sỏi laterit Chiều dày khoảng 0,5 – 7,5 m Theo số liệu thống kê về tính chất cơ lý, sức chịu tải quy ước của đất nền khoảng 2,5- 3,0 kg/cm2

- Sét pha lẫn hoặc chứa sạn sỏi laterit (aQII-III) màu nâu đỏ, nâu vàng, xám trắng,

loang lổ, có mặt gần như trên khắp diện tích nghiên cứu, nằm bên dưới lớp sét hoặc sét pha

aQII-III Tuỳ thuộc vào cao độ địa hình và đới dao động của mực nước ngầm mà bề dày của lớp phát triển hoặc hạn chế Lớp này không có mặt ở những vùng sụt lún mạnh và bào mòn như vùng trũng cầu Bông, Lê Minh Xuân, Bình Chánh; có chiều dày lớn nhất ở Phú Hoà Đông, Đồng Dù,… lên đến 5 m Theo số liệu thống kê về tính chất cơ lý, sức chịu tải quy ước của đất nền khoảng 2,5 – 3,5 kg/cm2

- Đá gốc: đá gốc chỉ lộ ở hai điểm (núi Yai - Thủ Đức và Giồng Chùa - Cần Giờ),

thành phần thạch học bao gồm các thành tạo anđezit, tufanđezit, anđezittobazan hệ tầng Long Bình (J3-K1lb) Theo kết quả phân tích các đá có thành phần tương tự ở Châu Thới, Bửu Long

thì tính chất cơ lý của các loại đá này khá tốt :

o Cường độ kháng nén tự nhiên : 828 - 1900 kg/cm2

o Cường độ kháng nén bão hoà : 750- 1750 kg/cm2

o Dung trọng : 2,83- 2,87g/cm3

o Tỷ trọng : 2,91- 2,94 g/cm3

Trang 8

Nhìn chung trên nền địa chất công trình của Thành phố có sức chịu tải trung bình đến yếu

2.5.2 Phân vùng địa chất công trình

Căn cứ vào các dấu hiệu địa mạo, có thể chia lãnh thổ Thành phố thành 3 vùng khác nhau là :

- Vùng II - A : xâm thực - tích tụ, chiếm diện tích ở phía Đông Thành phố

- Vùng II - B : tích tụ - xâm thực, nằm về phía Tây Bắc

- Vùng II - C : tích tụ, nằm về phía Đông Nam

2.6 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN

Tp Hồ Chí Minh có các tầng chứa và cách nước sau [8] :

2.6.1 Các tầng chứa nước

2.6.1.1 Tầng chứa nước Holoxen (qh)

Tầng chứa nước Holoxen (qh) phân bố trên diện hẹp, lộ ra ở khu vực Lê Minh Xuân (Bình Chánh) và Cần Giờ Bề dày từ 0 - 8 m Thành phần thạch học của lớp này chủ yếu là cát pha, cát hạt mịn có màu xám đen

2.6.1.2 Tầng chứa nước Pleistoxen (qp)

Tầng chứa nước Pleistoxen (qp) phân bố rộng toàn vùng, lộ ra ở trung tâm Thành phố, các Quận Tân bình, 2, 9, 12, Thủ Đức, Hóc Môn và Củ Chi Tầng chứa nước được cấu tạo bởi

2 lớp, lớp trên là lớp cách nước yếu, lớp dưới là lớp chứa nước :

- Lớp cách nước yếu : phân bố từ 0 - 26 m Bề dày thay đổi lớn, từ 0 m ở Bình Hưng

(Bình chánh); 10 - 15 m ở Tân Thới Trung (Củ Chi), Thới Tam Thôn (Hóc Môn), nhưng phổ biến từ 5 - 10 m.Thành phần thạch học của lớp là sét bột, sét màu xám vàng, nâu đỏ, nhiều nơi

bị phong hoá có kết vón laterit

- Lớp chứa nước : thành phần thạch học của lớp gồm cát hạt mịn đến trung và thô, có

nơi lẫn sạn sỏi màu xám nâu, xám vàng Chiều dày thay đổi từ 3,2 m ở Linh Xuân (Thủ Đức) đến 63 m ở Tân Tạo (Bình Chánh) Ở khu vực Hóc Môn, Củ Chi, chiều dày lớp này thường nhỏ hơn 20 m; trong khu vực nội thành thường có chiều dày từ 20 - 30 m Trong lớp chứa nước thường xen kẹp lớp sét, bột sét mỏng

2.6.1.3 Tầng chứa nước Plioxen trên (m 4 2 )

Tầng chứa nước Plioxen trên (m42) phân bố trong toàn lãnh thổ Thành phố, độ sâu gặp mái tầng chứa nước từ 8 m (LK09T) đến 95 m (LKA6), bị tầng chứa nước Pleistoxen phủ trực tiếp lên trên và nằm trên tầng chứa nước Plioxen dưới (m41) Tầng gồm 2 lớp :

- Lớp cách nước : lớp này được cấu tạo bởi bột sét, sét có màu vàng, nâu đỏ Chiều

dày lớp thay đổi từ 2 m (Quận 2) đến 48 m (Củ Chi) Lớp này phân bố đều khắp trong Thành phố

Trang 9

- Lớp chứa nước : thành phần thạch học của lớp gồm cát hạt mịn, trung đến thô, lẫn

sạn sỏi thạch anh màu xám sáng, phân bố trong toàn Thành phố Chiều dày tầng chứa nước thay đổi từ 36 m (Củ Chi) đến 82 m (Hóc Môn), trong đó có xen kẹp lớp bột sét cách nước

1.6.1.4 Tầng chứa nước Plioxen dưới (m 4 1 )

Tầng chứa nước Plioxen dưới (m41) không lộ ra trên mặt, được phân bố trong toàn Thành phố, độ sâu gặp mái tầng chứa nước từ 50 m (LK806 - Củ Chi) đến 212 m (LK812A - Bình Chánh), bị tầng chứa nước Plioxen trên (m42) phủ trực tiếp lên trên Tầng gồm lớp cách nước và lớp chứa nước :

- Lớp cách nước : phân bố ở hầu khắp Thành phố, được cấu tạo bởi bột sét, sét có màu

vàng, nâu đỏ Chiều dày lớp thay đổi từ 5 -10 m

- Lớp chứa nước : thành phần thạch học của lớp gồm cát hạt mịn, trung đến thô, lẫn

sạn sỏi thạch anh màu xám sáng, tạo thành tầng chứa nước liên tục trong toàn Thành phố Chiều dày tầng chứa nước thường lớn hơn 50 m

1.6.2 Động thái nước dưới đất

Mực nước thường dao động theo mùa Vào mùa khô, mực nước có xu hướng giảm dần

từ đầu mùa và đạt cực tiểu vào cuối mùa khô : mực nước cực tiểu thường xảy ra vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 hàng năm Đến mùa mưa, tầng chứa nước nhận được cung cấp, mực nước

có xu hướng dâng lên, đạt cực đại vào cuối mùa và thường xảy ra vào tháng 10, đầu tháng 11 hàng năm Ở những nơi tầng có quan hệ thuỷ lực với nước mặt, mực nước còn chịu ảnh hưởng của yếu tố thuỷ văn; ở những nơi có địa hình thấp, ven biển hay ven các con sông có ảnh hưởng triều chúng chịu ảnh hưởng của yếu tố thuỷ triều

PHẦN BA : KẾT QUẢ

3.1 CÔNG TÁC ĐIỀU TRA TRONG NHÂN DÂN

Công tác điều tra biểu hiện rung động nền đất và ảnh hưởng của chúng lên các công trình xây dựng, cảnh quan địa lý (nếu có) do động đất, bao gồm :

• Lập phiếu và tập huấn công tác điều tra trong nhân dân

• Định vị các tuyến, điểm điều tra và lên bản đồ tỉ lệ 1/50.000

• Điều tra theo phiếu (theo mẫu, Phụ lục 2) trên 6 khu vực của Thành phố bởi 6 nhóm ký hiệu từ A đến F (Bảng 1, 2) Thời gian tiến hành trong tháng 11 và 12/2005

• Thống kê, đánh giá hiện trạng, biểu hiện và ảnh hưởng do động đất gây ra Địa điểm điều tra được phân bố trước trên bản đồ Dựa vào điều kiện địa chất đã nêu ở Phần hai, đặc biệt là sự phân bố dân cư và hệ thống đứt gãy đã định trước các tuyến điều tra Tọa độ địa lý của các điểm điều tra được xác định bằng máy GPS với độ chính xác ±10 m và

có kiểm tra với địa hình địa vật tại điểm điều tra (giao lộ, chùa chiền, trụ sở UBND…)

Số phiếu bình quân tại mỗi địa điểm là 4 - 5, nhưng có thể thay đổi ở các địa điểm đặc biệt (vắng người hoặc có nhiều thông tin khác nhau…); mỗi thành viên trong nhóm điều tra phỏng vấn một người Nội dung phỏng vấn dựa vào phiếu điều tra Tuy nhiên, tùy theo hoàn

Trang 10

cảnh cụ thể, số lượng phiếu điều tra tại một số địa điểm có thể đến 6 phiếu Trên toàn địa bàn Thành phố, đạt bình quân 2,5 phiếu/ km2

Theo Shebalin [9], đối với các trận động đất từ cấp III – VII cảm nhận của con người

có thể coi như “thiết bị” khá tốt để xác định mức độ chấn động Tập hợp nhiều người chịu chi phối bởi định luật sai số ngẫu nhiên, và độ lệch quân phương đánh giá cấp động đất của một người thay đổi từ ± ½ cấp đến ± 1cấp Trong đó ± ½ cấp là độ lệch chuẩn của một nhóm người có nhiều đặc điểm tương đồng; ± 1 cấp – đối với nhóm người ngẫu nhiên có các đặc điểm khác nhau

Như vậy, với mật độ điều tra tại một địa điểm như đã nêu, sai số đánh giá cấp động đất

giảm đi trung bình √5 ≈ 2 lần, tức là xấp xỉ ½ cấp

Bảng 1 Danh sách cán bộ điều tra động đất trong nhân dân

1 Phùng Phước An

2 Đinh Quang Cư

3 Đoàn Thị Kim Dung

10 Lâm Đạo Nguyên

11 Nguyễn Thanh Minh

12 Nguyễn Siêu Nhân

Trang 11

Bảng 2 Số phiều điều tra động đất

Bảng 3 Số phiều điều tra thiệt hại công trình xây dựng

TT Quận, huyện Số phiếu điều tra

3.1.1 Khu vực huyện Củ Chi (Nhóm A)

- Thống kê từ kết quả điều tra cho thấy, động đất cấp I hay không cảm nhận được

động đất ở huyện Củ Chi là khá phổ biến Ngoại trừ xã Bình Mỹ thì tất cả các xã còn lại hầu

như đều có các ấp không bị ảnh hưởng của động đất

- Tác động của động đất trên địa bàn huyện Củ Chi là không phổ biến, chủ yếu chỉ tập

trung ở các xã Bình Mỹ, Tân Thạnh Đông và một vài ấp của xã Phú Hòa Đông, Tân Phú

Trung, Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Trung Lập Hạ với mức độ ảnh hưởng cũng rất khác

nhau, mạnh nhất là đến cấp IV, còn lại đại đa số các xã khác hầu như đều không cảm nhận

được động đất

- Ảnh hưởng của chấn động cấp I - II phân bố khá rộng trong các xã Phước Hiệp, Tân

An Hội, Trung Lập Hạ, Phước Thạnh, Nhuận Đức, Thái Mỹ,…

Trang 12

- Ảnh hưởng của chấn động cấp III - IV chủ yếu xảy ra tập trung dọc theo đứt gãy sông Sài Gòn nằm về phía đông, đông nam ở các xã Phú Hòa Đông, An Nhơn Tây, Trung An, Hòa Phú, đặc biệt là tại khu vực xã Bình Mỹ chịu ảnh hưởng chấn động cấp IV, là nơi có địa hình trũng thấp, ven sông Sài Gòn.Về phía nam giáp ranh huyện Hóc Môn, các xã Tân Phú Trung, Tân An Hội cũng chịu ảnh hưởng động đất cấp III – IV

- Ngoài ra ảnh hưởng chấn động cấp III, IV còn phân bố dọc theo các đứt gãy địa F2

và F4 qua các xã Phước Vĩnh An, Tân Thạnh Tây và An Nhơn Tây và khu vực địa đạo Củ Chi (Phụ lục 3)

3.1.2 Khu vực các Quận 2, Quận 7 và Quận 9 (Nhóm B)

- Cấp IV xảy ra chủ yếu ở gần bờ sông, nơi có nền móng yếu, đặc biệt là Phường Long Phước Q9, người dân cảm nhận được cấp IV và cảm nhận được trận động đất ngày 17/10/2005 còn các nơi khác chỉ cảm nhận được trận động đất ngày 8/11/2005

- Các trận động đất đã gây hoang mang và lo sợ cho nhiều người dân trong khu vực nghiên cứu, đặc biệt là trận động đất ngày 8/11/2005

- Trong khu vực Quận 2, 7 và 9 chấn động đã xảy ra trên diện rộng với 3 cấp động đất

là cấp I, III và cấp IV, tuy nhiên chưa có trường hợp nào ảnh hưởng đến công trình, nhà cửa xây dựng

- Người dân ở gần sông rạch và ở cù lao cảm nhận động đất rõ hơn, đặt biệt là người dân ở Phường Long Phước Quận 9

- Các chấn động chấn cấp I - II chiếm tỉ lệ rất nhỏ, chủ yếu tập trung ở các phường Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Quận 9 là nơi có điều kiện địa chất khá tốt, phù sa cổ lộ trên bề mặt

- Trong khu vực phường Tân Phong, Quận 7 giáp ranh với huyện Nhà Bè xuất hiện chấn động cấp IV – V (Phụ lục 3)

3.1.3 Khu vực các huyện Thủ Đức, Hóc Môn và Quận 12 (Nhóm C)

- Nhìn chung, trong khu vực khảo sát người dân chỉ cảm nhận được trận ngày 8/11/2005 với mức độ từ không đến rõ ràng Mức độ thiệt hại không có, nhưng cũng gây cho người dân những cảm xúc bàng hoàng trong một thời gian ngắn

- Khu vực điều tra gồm quận 12, quận Thủ Đức và huyện Hóc Môn có nền địa chất là những thành tạo Đệ Tứ, chúng bao gồm 2 nhóm trầm tích Phù sa cổ có kết cấu nén dẻ cao và trầm tích Phù sa mới nén dẻ kém

- Chấn động cấp IV phân bố tại các phường, xã Tân Thới Nhì, Tân Hiệp, Bà Điểm và khu vực Nhị Xuận thuộc huyện Hóc Môn; phường Thạnh Lộc, Thanh Xuân thuộc Quận 12,

là 2 xã nằm dọc theo sông Sài Gòn qua hệ thống đứt gãy sông Sài Gòn

- Trên địa bàn huyện Hóc Môn chấn động cấp III cũng phân bố ở các xã Xuân Thới Thượng, Bà Điểm, Đông Thạnh, Khu công nghiệp Tân Tạo ; các chấn động cấp II phân bố tập trung ở những khu vực có địa hình cao như xã Thới Tam Thôn và Tân Hiệp

Trang 13

- Trên địa bàn các Quận 12 và Thủ Đức chấn động đất cấp III – IV chiếm tỷ lệ khá lớn trên các phường Tân Hưng Thuận, Tân Chánh Hiệp, Tân Thới Hiệp và Thới An (Quận 12); các phường Tam Bình, Tam Hiệp, Hiệp Phước, Linh Trung Linh Chiểu (Quận Thủ Đức) Chấn động cấp II còn phân bố một vài nơi có địa hình tương đối cao như ở các phường Linh Trung và Linh Xuân (Phụ lục 3)

3.1.4 Khu vực huyện Bình Chánh (Nhóm D)

- Các điểm điều tra phân bố tương đối đều khắp theo diện và tuyến chủ yếu tập trung ở các xã với mật độ dân cư đông đúc và sống tương đối tập trung như: xã Vĩnh Lộc A, xã Vĩnh Lộc B, xã Qúy Đức, xã Bình Hưng, xã Hưng Long, xã Tân Kiên, xã Tân Nhựt, xã Phong Phú,

xã An Phú Tây, xã Tân Qúy Tây và thị trấn Tân Túc Ở các xã Đa Phước, xã Bình Lợi, xã Lê Minh Xuân và xã Phạm Văn Hai, dân cư thưa thớt và chiếm hầu hết là diện tích đất nông nghiệp (đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm…) thì sự phân bố các điểm khảo sát điều tra chủ yếu theo tuyến các đường giao thông

- Nhìn chung khu vực này chịu ảnh hưởng chấn động cấp III, tập trung các xã Bình Lợi, Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai, Tân Tạo, Tân Kiên, Tân Nhựt và An Phú Tây

- Các xã Vĩnh Lộc A, B và Bình Hưng Hòa giáp ranh với huyện Hóc Môn và Quận Tân Phú xuất hiện các chấn động cấp I – II Chấn động cấp I – II cũng phân bố ở một vài xã khác như xã Lê Minh Xuân, Tân Kiên và Tân Qúy Tây và Tân Túc giáp rạnh với tỉnh Long

An

- Chấn động cấp IV xuất hiện một vài nơi ở các xã Tân Nhựt, Tân Kiên và khu vực 2

xã Bình Hưng và Phong Phú giáp ranh với huyện Nhà Bè (Phụ lục 3)

3.1.5 Khu vực nội thành : các Quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Gò

Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân (Nhóm E)

- Động đất ngày 8/11/2005 đã khiến cho mọi người hoang mang, lo sợ Công tác điều tra vừa qua một phần nào đã giúp bà con hiểu rõ hơn về động đất

- Chấn động cấp IV xuất hiện hầu hết khu vực nội thành

- Chấn động cấp II xuất hiện ở một vài nơi có địa hình cao thuộc xã Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông (Quận Tân Phú), Phường 13, 12, 11, 7, 5, 4 và 3 (Quận Tân Bình), khu vực phường 16, 13, 12, 11, 6, 4 v.v (Quận 11), các phường 6 và 5 (Quận 5), phường 9 và 5 (Quận 8)

- Chấn động cấp III xuất hiện trong khu vực nội thành trải dài theo hướng bắc nam qua các Quận Tân Bình, Tân Phú, 10, 11, 5 và 8 và còn phân bố rải rác ở các phường 14, 3, 11, 2,

9, 8, và 5 (Quận Phú Nhuận); phường Nguyễn Thái Bình, Cô Giang, Phạm Ngũ Lão… (Quận 1) và các phường 9, 6, 5, 2 (Quận 4) giáp ranh với Quận 1 (Phụ lục 3)

Trang 14

3.1.6 Khu vực các huyện Nhà Bè và Cần Giờ (Nhóm F)

- Các trận động đất xảy ra 5/8 và 17/10/2006 tương đối nhẹ Do đó, phần lớn người dân đều không cảm nhận đựơc

- Trận động đất xảy ra lúc 14 h55 phút ngày 8/11/2006 đều được người dân cảm nhận được sự rung động của nền đất và hoang mang lo sợ

- Khu vực này chịu ảnh hưởng hầu hết chấn động cấp IV, tập trung các xã Nhơn Đức, Phước Lộc, Phước Kiểng, Long Thới (huyện Nhà Bè); xã Bình Khánh, An Thới Đông , Tam Thôn Hiệp, Lý Nhơn và thị trấn Cần Thạnh (huyện Cần Giờ)

- Huyện Nhà Bè còn chịu ảnh hưởng chấn động cấp V ở xã Hiệp Phước nằm dọc theo sông Nhà Bè, nơi giao nhau hai đứt gãy F6 và F7 Chấn động cấp V còn phân bố ở các xã Bình Khánh, An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp và xã Thạnh An (huyện Cần Giờ) (Phụ lục 3)

3.1.7 Ảnh hưởng của các trận động đất lên nhà cửa, công trình

Phần lớn các công trình khảo sát đều thuộc công trình cấu trúc C tức là công trình có khung bêtông, cốt thép được xây dựng kiên cố như các nhà cao tầng, chùa chiền, nhà thờ, khách sạn… đồng thời các trận động đất hoàn toàn không bị thiệt hại (Phụ lục 4)

Tuy các công trình nói trên 100% đều không có thiệt hại đáng kể nhưng cũng gây băn khoăn cho các nhà xây dựng nói chung và xây dựng nhà cao tầng nói riêng Tính toán xây dựng cho công việc kháng chấn trên nền đất thành phố Hồ Chí Minh là điều cần thiết cho những công trình xây dựng sau này

3.2 BẢN ĐỒ CÁC ĐƯỜNG ĐẲNG CHẤN

Các thông tin điều tra cấp động đất được nhập vào và xử lý thống kê bằng chương trình Excel Trong đó việc đánh giá cấp động đất tại một địa điểm dựa trên nguyên tắc đa số: cấp động đất có nhiều nhất trong tổng số phiếu điều tra được xác định là cấp động đất tại địa điểm đó Trong trường hợp các phiếu có đánh giá cấp động đất không tập trung, thông tin sẽ được kiểm tra lại để thống nhất đưa ra đánh giá cấp động đất cuối cùng

Kết quả điều tra cho thấy trận động đất ngày 8/11/2005 cho thông tin đầy đủ và đáng tin cậy nhất về cấp động đất Do đó, chúng tôi chủ yếu sử dụng kết quả này, chỉ tham khảo thêm kết quả hai trận động đất trước đó, để xây dựng bản đồ các đường đẳng chấn (Phụ lục 5)

Sau khi các điểm điều tra và cấp động đất được đưa lên bản đồ (Hình 5), sử dụng modun Vertical Mapper trong phần mềm MapInfo để vẽ các đường đẳng chấn

Trên Bản đồ các đường đẳng chấn (Hình 6), nhìn chung có thể nhận thấy trên địa bàn

Thành phố phân chia thành ba vùng chính phân bố theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với mức

chênh lệch (gia số) cấp động đất giữa hai đầu Cần Giờ - Củ Chi là ∆I 1 = 3 :

- Vùng 1 : nằm phía Đông Nam, chiếm phần lớn diện tích huyện Cần Giờ và một

phần huyện Nhà Bè, từ khu vực ven biển cho đến ranh giới hai huyện Nhà Bè - Cần Giờ, phân

bố theo đứt gãy sông Sài Gòn, giới hạn bởi đường đẳng chấn cấp IV Trong vùng này còn có khu vực cấp III phân bố hai phía đứt gãy

Trang 15

- Vùng 2 : nằm phần trung tâm địa bàn Thành phố, từ ranh giới Nhà Bè - Cần Giờ đến

ranh giới hai huyện Hóc Môn - Củ chi, giới hạn bởi đường đẳng chấn cấp II - III Trong phạm

vi vùng 2 cũng xuất hiện các khu vực giới hạn bởi đường đẳng chấn cấp II - III, chủ yếu tập trung ở khu vực nội thành Dọc theo đứt gãy sông Sài Gòn còn có khu vực cấp IV

- Vùng 3 : nằm phía Tây Bắc, chiếm phần lớn diện tích huyện Củ Chi, giới hạn phía

dưới bởi đường đẳng chấn cấp II - cấp III

3.3 PHÂN VÙNG NỀN ĐẤT

3.3.1 Điều kiện nền đất Thành phố

Trong công tác phân vùng nhỏ động đất, điều kiện nền đất là các điều kiện tự nhiên

ảnh hưởng đến sự lan truyền dao động động đất Theo Medvedev (1962) ảnh hưởng mạnh

nhất là tính chất cơ lý của các lớp đất đá nằm từ độ sâu 10 - 15 m trở lên Sau đó là tính

chất đàn hồi của các lớp đất đá bên dưới ở độ sâu 100 - 200 m cho đến móng đá gốc Chiều

sâu mực nước ngầm cũng là một thông số quan trọng Trong một số trường hợp còn phải

tính đến đặc điểm địa hình - địa mạo Tuy nhiên, địa hình của Thành phố nói chung ảnh hưởng không đáng kể đến các đặc trưng của nền đất

Chấn động trên mặt đất do động đất gây ra phụ thuộc vào khoảng cách từ điểm quan sát đến chấn tiêu và vào nền đất tại điểm đó Trong trường hợp nền trung bình, cấp động đất được đánh giá theo phương trình trường chấn động Blake - Sebalin:

Trận động đất ngày 8/11/2005 xảy ra ngoài khơi Vũng Tàu có chấn tâm cách cửa biển Cần Giờ 120 km, độ sâu chấn tiêu h = 10 km, magnitude M = 5,5 Thành phố trải dài khoảng

120 km theo phương Tây Bắc – Đông Nam từ Củ Chi đến Cần Giờ

Sử dụng phương trình (1), cấp động đất tại hai điểm hai đầu mút Cần Giờ - Củ Chi được xác định là

ICG = 4,1 ICC = 3,2

Như vậy, theo phương trình trường chấn động Blake – Sabelin thì toàn địa bàn Thành phố chịu chấn động cấp III - IV Sai lệch cấp động đất giữa Cần Giờ - Củ Chi là

∆I2 = ICG - ICC ≈ 1 (2)

So sánh giá trị ∆I2 [(biểu thức (2)] ở trên với độ sai lệch cấp động đất (∆I1 = 3) từ kết

quả điều tra thể hiện trên Bản đồ các đường đẳng chấn, có thể cho rằng cấp động đất do trận

Trang 16

động đất ngày 8/11/2005 chủ yếu phụ thuộc vào nền đất địa phương (cục bộ) của Thành phố

3.3.2 Phân vùng nền đất Thành phố dựa trên các trận động đất

So sánh Bản đồ các đường đẳng chấn (Hình 6) với Bản đồ Địa chất – Phân vùng Địa

chất công trình (Hình 4), có thể nhận thấy sự tương quan khá chặt chẽ giữa phân bố các

đường đẳng chấn và đặc điểm địa chất - địa chất công trình Thành phố như sau :

- Vùng 1, giới hạn bởi đường đẳng chấn cấp IV, tương ứng với vùng II - C tích tụ

trong phân vùng địa chất công trình, bao gồm trầm tích Holoxen hệ tầng Cần Giờ, chứa nhiều chất hữu cơ, chưa cố kết

- Vùng 2, giới hạn bởi các đường đẳng chấn cấp II - IV, tương ứng với cả vùng II - A,

B, C xâm thực tích tụ, xâm thực và tích tụ trong phân vùng địa chất công trình, bao gồm các trầm tích Holoxen hệ tầng Cần Giờ, Bình Chánh, trầm tích Pleistoxen hệ tầng Củ Chi, Thủ Đức Trong phạm vi vùng 2 có thể nhận ra một số khu vực có cấp động đất nhỏ hơn III, tập trung chủ yếu ở nội thành, tương ứng với trầm tích Pleistoxen đã được nén cố kết, có khả năng chịu lực tốt

- Vùng 3, giới hạn phía dưới bởi đường đẳng chấn cấp II - cấp III, tương ứng với vùng

II - B - xâm thực trong phân vùng địa chất công trình, chiếm hầu hết bởi trầm tích Pleistoxen

hệ tầng Củ Chi, Thủ Đức, đã được nén cố kết, có khả năng chịu ngoại lực tốt

Các kết quả trên cho thấy phân bố các đường đẳng chấn phản ánh khá chính xác

điều kiện nền đất của Thành phố

3.3.3 Quan hệ giữa cấp động đất và mực nước ngầm

Theo quy luật chung, mực nước ngầm nằm nông (mực nước ngầm đầu tiên) có tác động làm gia tăng cấp động đất Để xác định quan hệ giữa cấp động đất và mực nước

ngầm, chúng tôi thành lập hai mặt cắt theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và Tây - Đông (Hình

7, 8), trên đó cấp động đất được lấy từ Bản đồ các đường đẳng chấn (Hình 6) và độ sâu mực nước ngầm chọn tháng 11/2005 lấy từ kết quả quan trắc lỗ khoan địa chất thủy văn trong công trình [8] (Phụ lục 6), tương ứng với trận động đất ngày 8/11/2005

+ Trên Hình 7, từ lỗ khoan Q013 (An Nhơn Tây) đến lỗ khoan 02 (Thới Tam Thơn)

độ sâu mực nước thay đổi từ 0,65 - 1,9 m, tương ứng với chấn động cấp II - III; từ lỗ khoan

02 đến lỗ khoan Q822 (Cần Giờ) độ sâu mực nước thay đổi từ 0,76 - 10,11 m, tăng dần từ khu vực nội thành ra đến Cần Giờ, tương ứng với chấn động cấp III cho đến cấp IV

+ Trên Hình 8, từ lỗ khoan 11B (Thạnh Mỹ Lợi) đến lỗ khoan Q808 (Lê Minh Xuân)

độ sâu mực nước thay đổi từ 4,23 - 10,11 m, giảm dần từ Quận 2 qua khu vực nội thành và từ đây tăng dần cho đến Bình Chánh, tương ứng với chấn động cấp IV qua cấp II rồi tăng lại đến cấp IV

Các kết quả so sánh như trên thể hiện khá rõ rệt mối quan hệ giữa cấp động đất

và độ sâu mực nước ngầm, đặc biệt là khu vực nội thành và khu vực Nhà Bè - Cần Giờ

Trang 17

3.3.4 Vai trò kênh dẫn sóng của đứt gãy sông Sài Gòn (F 1 ) và đứt gãy Hóc Môn - Bình

Thạnh (F 2 )

Đứt gãy kiến tạo trên thực tế địa chất không phải là một mặt phân cách (hình học), mà

là một đới hẹp chuyển tiếp giữa hai cấu trúc kiến tạo, tại đó môi trường đất đá không còn thể hiện tính liên tục, tính chất cơ lý, bao gồm các đặc trưng đàn hồi của đới đứt gãy khác với môi trường đất đá ở hai bên đứt gãy Và do đó, vận tốc truyền sóng động đất trong đới đứt gãy khác với vận tốc truyền sóng trong môi trường hai bên Khi đó đứt gãy kiến tạo có thể đóng vai trò của kênh dẫn sóng động đất với trục dẫn sóng dọc theo phương đứt gãy

Trên Bản đồ các đường đẳng chấn, phân tích các đường đẳng chấn phân bố dọc theo hai đứt gãy sông Sài Gòn (F1) và Hóc Môn - Bình Thạnh (F2) ta nhận thấy năng lượng động

đất (ngày 8/11/2005) từ chấn tiêu ngoài khơi Vũng Tàu truyền tập trung dọc theo hai đứt gãy này, thể hiện qua cấp động đất thường lớn hơn 1 cấp so với hai bên đứt gãy, rõ rệt

nhất là trong vùng 1 (Nhà Bè - Cần Giờ)

NHẬN XÉT KẾT LUẬN

1 Trên cơ sở khối lượng thông tin khá lớn điều tra trong nhân dân về các trận động đất năm 2005, đã xây dựng được Bản đồ các đường đẳng chấn khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh, chủ yếu dựa theo trận động đất ngày 8/11/2005 ngoài khơi Vũng Tàu

2 Bản đồ các đường đẳng chấn khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh phản ánh khá phù

hợp điều kiện nền đất và mối quan hệ với độ sâu mực nước ngầm của Thành phố Đây là

tài liệu góp phần phục vụ công tác qui hoạch xây dựng và phân vùng nhỏ động đất Thành phố

3 Có sự quan hệ giữa phân bố các đường đẳng chấn và đứt gãy sông Sài Gòn (F 1 ) và

đứt gãy Hóc Môn – Bình Thạnh (F 2 ) Điều đó cho phép giả thiết đứt gãy này có thể đóng vai trò “kênh dẫn” sóng động đất lan truyền từ Cần Giờ đến Củ Chi, cần phải quan tâm trong

công tác phân vùng nhỏ động đất Thành phố

\ ” [

Trang 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Adams, Wm.M., Earthquakes, 1964 An Introduction to Observational Seismology D.C

Heath and Comp Boston

2 Barazangi, M., Dorman, J., 1969 World Seismicity Maps Bull Seism Soc Am 59, 1

3 Kissin, I.G., 1982 Động đất và nước dưới đất (tiếng Nga), NXB “Nauka”, Moskva

4 Phạm Khoản, 1985 Báo cáo về cấu trúc sâu lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở xử lý tổng hợp

tài liệu địa vật lý, Báo cáo khoa học TCĐC Hà Nội

5 Trần Nho Lâm, 1978 Giải thích địa chất tài liệu từ hàng không Nam Việt Nam, Hà Nội

6 Nguyễn Khắc Mão, 1974 Một số nhận xét về phân vùng động đất miền Nam Việt Nam,

Thông báo khoa học của các trường đại học, Hà Nội

7 Bùi Công Quế, 1990 Nghiên cứu đặc điểm các dị thường địa vật lý, cấu trúc vỏ Trái đất

và cơ chế kiến tạo sâu ở các vùng động đất mạnh lãnh thổ Việt Nam, Tạp chí các Khoa

học về Trái đất, 12 (1)

8 Nguyễn Kim Quyên, 2006 Báo cáo quan trắc động thái nước ngầm khu vực Tp Hồ Chí

Minh năm 2005, Liên đoàn ĐCTV - ĐCCT miền Nam

9 Sebalin, N.V., 1974 Địa chấn học – Khoa học về động đất (tiếng Nga), NXB “Znanhie”,

Moskva

10 Scheidegger, A.E 1975 Physical Aspects of Natural Catastrophes, Elsevier,

Amsterdam

11 Nguyễn Ngọc Thu, 2004 Xử lý tổng hợp tài liệu địa vật lý vùng Tp Hồ Chí Minh, Luận

án Tiến sĩ, Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

12 Lê Minh Triết và nnk, 1980 Phân vùng động đất miền Nam Việt Nam, Tuyển tập các

công trình nghiên cứu vật lý địa cầu 1979, Hà Nội

13 Lê Minh Triết, Lê Ngọc Thanh và nnk, 1991 Báo cáo phân vùng động đất miền Đông

Nam bộ, Hội nghị Khoa học về Trái đất lần thứ 2, Hà Nội

14 Lê Minh Triết và nnk, 1991 Về hoạt động địa chấn và các đặc điểm kiến tạo Nam Trung

bộ, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 3, Tp Hồ Chí Minh

15 Lê Minh Triết, Lê Ngọc Thanh và nnk, 1992 Hoạt động địa chấn miền Nam và các vấn

đề kiến tạo trong khu vực, Phân viện Khoa học Việt Nam, Tp Hồ Chí Minh

16 Cao Đình Triều, Phạm Huy Long, 2002 Kiến tạo đứt gãy lãnh thổ Việt nam, NXB Khoa

học và Kỹ thuật, Hà Nội

17 Nguyễn Đình Xuyên (chủ biên), 2004 Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp Nhà nước:

Nghiên cứu dự báo động đất và dao động nền ở Việt nam, Viện Vật lý Địa cầu, Hà Nội

18 Đề án Phân vùng nhỏ động đất Tp Hồ Chí Minh, 2005, Liên đoàn bản đồ địa chất miền Nam, Tp Hồ Chí Minh

Trang 19

2.5.1 Điều kiện địa chất công trình 14 2.5.1.1 Tầng cấu trúc móng đá tuổi Kainozoi 14 2.5.1.2 Tầng cấu trúc lớp phủ trầm tích Mioxen muộn – Đệ tứ 14 2.5.1.3 Các loại đất đá và tính chất cơ lý 14 2.5.2 Phân vùng địa chất công trình 16

2.6.1.1 Tầng chứa nước Holoxen (qh) 16 2.6.1.2 Tầng chứa nước Pleistoxen (qp) 16 2.6.1.3 Tầng chứa nước Plioxen trên (m42) 16 2.6.1.4 Tầng chứa nước Plioxen dưới (m41) 17

3.1.2 Khu vực các Quận 2, Quận 7 và Quận 9 (Nhóm B) 22 3.1.3 Khu vực các huyện Thủ Đức, Hóc Môn và Quận 12 (Nhóm C) 22 3.1.4 Khu vực huyện Bình Chánh (Nhóm D) 23

Trang 20

3.1.5 Khu vực nội thành : các Quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Phú Nhuận,

Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân (Nhóm E) 23 3.1.6 Khu vực các huyện Nhà Bè và Cần Giờ (Nhóm F) 24 3.1.7 Ảnh hưởng của các trận động đất lên nhà cửa, công trình 24

Hóc Môn - Bình Thạnh (F2) 27

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: CÁC ĐẠI LƯỢNG ĐẶC TRƯNG CỦA ĐỘNG ĐẤT

Phụ lục 2: CÁC MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA

Phụ lục 3: PHÂN BỐ SỐ PHIẾU ĐIỀU TRA THEO CÁC ĐẶC ĐIỂM KHÁC NHAU Phụ lục 4: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THIỆT HẠI CÔNG TRÌNH DO ĐỘNG ĐẤT

Phụ lục 5:TỔNG HỢP THÔNG TIN ĐIỀU TRA CẤP ĐỘNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN

TP HỒ CHÍ MINH

Phụ lục 6: SỐ LIỆU MỰC NƯỚC TRUNG BÌNH THÁNG (2005)

1 BẢN ĐỒ VỊ TRÍ CÁC ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU TRA ĐỘNG ĐẤT VÀ THIỆT HẠI

CÔNG TRÌNH KHU VỰC TP HỒ CHÍ MINH

2 BẢN ĐỒ CÁC ĐƯỜNG ĐẲNG CHẤN KHU VỰC TP HỒ CHÍ MINH

Trang 21

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 1 Bản đồ phân bố địa lý của chấn tâm toàn cầu 7

Hình 3 Các đứt gãy kiến tạo sinh chấn xung quanh khu vực

Hình 4 Bản đồ địa chất – phân vùng địa chất công trình khu vực

Hình 5 Bản đồ vị trí các điểm điều tra động đất khu vực Thành phố Hồ Chí Minh 28

Hình 6 Bản đồ đường đẳng chấn khu vực Thành phố Hồ Chí Minh theo trận

động đất ngày 8/11/2005 ngoài khơi Vũng Tàu 29

Hình 7 Quan hệ giữa cấp động đất và độ sâu mực nước ngầm theo hướng

Củ Chi - Cần Giờ 30 Hình 8 Quan hệ giữa cấp động đất và độ sâu mực nước ngầm theo hướng

Bình Chánh - Quận 2 31

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Danh sách cán bộ điều tra động đất trong nhân dân 20

Bảng 2 Số phiều điều tra thiệt hại công trình xây dựng 21

Trang 22

Hậu quả cuả các trận động đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh chỉ là các chấn động ở các mức độ khác nhau, không gây thiệt hại đáng kể; nhưng đã gây hoang mang và lo sợ cho nhiều người dân Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã trực tiếp giao cho Phân Viện Địa lý tại Thành phố Hồ Chí Minh (Viện Khoa

học và Công nghệ Việt Nam) nhiệm vụ “Điều tra đánh giá biểu hiện và ảnh hưởng

của các trận động đất vào các ngày 5 - 6/8/2005, 17/10/2005 và 8/11/2005 trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh”, với các mục tiêu:

- Xác định đường lan truyền sóng động đất thể hiện qua bản đồ các đường đẳng chấn

- Phân vùng nền đất dựa trên tác động của các trận động đất vừa qua, góp phần phục vụ công tác qui hoạch xây dựng

Các kết quả của đề tài còn góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác phân vùng nhỏ động đất sắp được tiến hành và trấn an sự lo sợ thái quá của một số bộ phận dân cư về nguy cơ động đất ở Thành phố Hồ Chí Minh

1.1 VÀI NÉT VỀ ĐỘNG ĐẤT Ở MIỀN NAM NƯỚC TA

Động đất là một trong những tai họa thiên nhiên đe dọa trực tiếp cuộc sống và thành quả lao động của con người ở những nơi xảy ra động đất Động đất là hậu quả của vận động kiến tạo và xảy ra ở nơi mà ứng suất tích lũy trong quá trình vận động vượt quá giới hạn chịu đựng của môi trường đất đá Động đất xảy ra không phải ở mọi nơi, mà nói chung ở những vùng đứt gãy sinh chấn có cấu trúc địa chất đặc biệt và hoạt động kiến tạo mạnh

Các nhà địa chấn trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu sự phân bố địa

lý của chấn tâm trên toàn bộ mặt hành tinh và đã kết luận rằng [2, 9] :

- Động đất mạnh chủ yếu xảy ra ở ba vành đai động đất chính, đó là vành đai Thái Bình Dương, vành đai Địa Trung Hải - xuyên Á và vành đai sống núi giữa đại dương (Hình 1 và 2)

- Vành đai Thái Bình Dương có hoạt động động đất mạnh nhất, 3/4 năng lượng động đất được giải tỏa trên vành đai này

Trang 23

- Năng lượng của động đất nông với độ sâu chấn tiêu nhỏ hơn 70 km chiếm 85% tổng năng lượng động đất

Nhìn trên Hình 1 và 2 chúng ta thấy Việt Nam nằm xa các đới động đất mạnh trên thế giới

Vài thập kỷ gần đây các nhà địa chấn và các nhà khoa học thuộc các ngành khoa học có liên quan đã nỗ lực tìm các phương pháp dự báo động đất, nhưng cho đến nay vẫn chưa có kết quả khả quan Do đó, để phục vụ qui hoạch xây dựng và giảm nhẹ tác động cuả động đất (nếu xảy ra), phân vùng động đất là giải pháp hữu hiệu có ý nghĩa thực tiễn nhất hiện nay

Ở nước ta công tác phân vùng động đất đã được tiến hành từ những năm 60 của thế kỷ trước (Nha khí tượng, 1968) Ở miền Nam, năm 1974 Nguyễn Khắc Mão đã phác thảo Sơ đồ phân vùng động đất cho khu vực phía Nam dựa vào số liệu lịch sử và một số tài liệu đo đạc của các trạm động đất quốc tế Đến năm 1979, Lê Minh Triết và các cộng sự đã bổ sung các tài liệu địa chất, địa kiến tạo, địa vật lý và điều tra trong nhân dân để thành lập Bản đồ phân vùng động đất miền Nam tỉ lệ 1/1.000.000 Năm

2004, Viện Vật lý Địa cầu (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã công bố kết quả “Nghiên cứu dự báo động đất và dao động nền ở Việt nam” do Nguyễn Đình Xuyên chủ biên, trong đó có Bản đồ phân vùng động đất toàn quốc tỉ lệ 1/1.000.000

Các kết quả nghiên cứu kể trên cho thấy vùng lãnh thổ Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu chịu ảnh hưởng của các trận động đất xảy ra trên các đứt gãy kiến tạo á kinh tuyến nằm gần kinh tuyến 1090 Độ mạnh M lớn nhất của động đất trên đứt gãy này là

năm Dựa vào kết quả đánh giá cấp động đất các nhà địa chấn vạch được các đường

đẳng chấn (có cấp động đất bằng nhau) Từ bản đồ này có thể suy ra nhiều tham số

liên quan đến chấn tiêu và đặc tính của nền đất của khu vực khảo sát Chẳng hạn ta có thể suy ra độ sâu chấn tiêu và hệ số hấp thụ trung bình của vùng khảo sát Phương pháp nghiên cứu này có thể coi là khả năng duy nhất xác định độ sâu chấn tiêu khi chưa có hệ thống quan trắc động đất bằng máy Các nhà địa chấn Mỹ đã áp dụng phương pháp khảo sát này lần đầu tiên đối với trận động đất lớn ngày 18/4/1906 xảy ra

ở California và dẫn đến việc thành lập Hội Địa chấn Hoa kỳ cũng trong năm 1906 [2] Tuy hiện nay mạng lưới trạm động đất đã tương đối dày nhưng phân bố không đều, cho nên phương pháp khảo sát sau động đất vẫn được áp dụng ở nhiều nước và ở nước

ta

Trang 24

Các kết quả khảo sát đối với các trận động đất cho thấy rằng ảnh hưởng của động đất lên nền đất phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện địa chất địa phương Nói chung, nền đất càng mềm xốp, tác động càng lớn, trên nền đá cứng tác động sẽ nhỏ nhất Qui luật này đã được phát hiện từ năm 1908 khi H Wood nghiên cứu các hậu quả của trận động đất 1906 ở San Francisco, California Các khảo sát sau này còn cho thấy rằng ở những nơi có trầm tích trẻ bở rời, bão hòa nước sẽ chịu tác động mạnh theo bề dày của lớp trầm tích Các đặc điểm này thể hiện rõ khi nghiên cứu tác động của các trận động đất xa nơi khảo sát [9] Như vậy, dựa trên việc đánh giá tác động của động đất thông qua cấp động đất ta có thể phân lọai nền đất phản ứng đối với động đất

và có thể dự báo cường độ tác động tương đối của động đất trên các vùng có các điều kiện địa chất khác nhau

Báo cáo tổng hợp này dựa trên kết quả của các báo cáo chuyên đề sau :

1 “Kết quả điều tra động đất trên địa bàn huyện Củ Chi” do ThS Lê Thị Việt

Phương chịu trách nhiệm thực hiện, với sự tham gia của KS Nguyễn Ngọc Trọng,

KS Huỳnh Mộng Nghi – Phân Viện Địa Lý tại TP Hồ Chí Minh

2 “Kết quả điều tra động đất trên địa bàn huyện Hóc Môn và huyện Thủ Đức” do

TS Nguyễn Siêu Nhân chịu trách nhiệm thực hiện, với sự tham gia của ThS Phạm Tuấn Nhi, ThS Lê Thị Ngọc Phương, KS Đặng Ngọc Phan, KS Nguyễn Thu Trang, KS Trần Văn Phúc – Phân Viện Địa Lý tại TP Hồ Chí Minh

3 “Kết quả điều tra động đất trên địa bàn Quận 9, Quận 2 và Quận 7” do ThS

Nguyễn Thanh Hùng chịu trách nhiệm thực hiện, với sự tham gia của KS Trần Hà Phương, KS Trần Thị Mỹ Dung, KS Đinh Quang Cư, ThS Trần Thế Vinh – Phân Viện Địa Lý tại TP Hồ Chí Minh

4 “Kết quả điều tra động đất trên địa bàn huyện Bình Chánh” do ThS Lâm Đạo

Nguyên chịu trách nhiệm thực hiện, với sự tham gia của KS.Nguyễn Thanh Minh,

KS Đặng Quốc Trung, KS Lê Hồng Phúc, KS Bùi Đức Long, KS Nguyễn Thị

Lệ Huyền và KS Đoàn Thị Kim Dung - Phân Viện Vật Lý tại TP Hồ Chí Minh

5 “Kết quả điều tra động đất trên địa bàn các Quận Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân,

Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh, 3, 5, 6, 8, 10, 1 và 4” do TS Lê Ngọc Thanh

chịu trách nhiệm thực hiện, với sự tham gia của KS Nguyễn Thụy Ngọc Hân, KS Nguyễn Thu Trang, KS Phùng Phước An – Phân Viện Địa Lý và Phân viện Vật

Lý tại TP Hồ Chí Minh

6 “Kết quả điều tra động đất trên địa bàn huyện Nhà Bè và huyện Cần Giờ” do TS

Lê Ngọc Thanh chịu trách nhiệm thực hiện, với sự tham gia của KS Nguyễn Quang Dũng và KS Trần Quang Tuấn – Phân Viện Địa Lý tại TP Hồ Chí Minh

Chân thành cám ơn Sở Khoa học và Công nghệ Tp Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện về kinh phí; cám ơn UNBD và các ban ngành chức năng phường, xã và quận huyện trên địa bàn Thành phố đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thu thập tài liệu, điều tra trong nhân dân; cám ơn các đồng nghiệp đã quan tâm đóng góp ý kiến đề tài

Trang 27

9

Đứt gãy

Vùng phát sinh có Mmax 6,0

Vùng phát sinh có Mmax 5,5

TP HỒ CHÍ MINH

Hình 3 Các đứt gãy kiến tạo sinh chấn xung quanh khu vực Tp Hồ Chí Minh [17]

Trang 28

PHẦN HAI : ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

TP HỒ CHÍ MINH

2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Thành phố Hồ Chí Minh có toạ độ địa lý 10010’ đến 10038’ vĩ độ Bắc và

106022’ đến 106054’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang, phía Nam giáp biển Đông với bờ biển kéo dài khoảng 15 km, nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, là nơi hội lưu của các con sông lớn như sông Đồng Nai, Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông, nối liền ra biển qua sông Lòng Tàu và sông Nhà Bè - Soài Rạp

Thành phố có 22 quận huyện trải dài khoảng 120 km theo phương Tây Bắc – Đông Nam từ Củ Chi đến Cần Giờ; diện tích tự nhiên là 2.093,7 km2

2.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH

Địa hình vùng Thành phố Hồ Chí Minh tương đối bằng phẳng, có dạng bậc theo hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây và có thể chia thành các vùng từ cao đến thấp với các đặc điểm như sau :

- Vùng cao, có độ cao trung bình khoảng 10 - 25 m, nằm ở phía Bắc- Đông Bắc

và một phần ở phía Tây - Tây Bắc, thuộc phía Bắc huyện Củ Chi, Đông Bắc Quận Thủ Đức và Quận 9, trung tâm Thành Phố, với dạng địa hình lượn sóng, xen kẻ những đồi

gò, cao nhất là đồi Long Bình thuộc Quận 9, có độ cao 32 m

- Vùng trung bình, có độ cao trung bình từ 5 - 10 m, phân bố ở khu vực trung tâm Thành phố gồm phần lớn khu vực nội thành cũ, một phần Quận 2, Quận Thủ Đức, toàn bộ Quận 12, phía Tây huyện Hóc Môn, phía Tây huyện Củ Chi và một phần Quận

9 Vùng cao và vùng trung bình phát triển trên các trầm tích Pleistoxen (phù sa cổ)

- Vùng thấp trũng, có độ cao trung bình trên dưới 1 m, cao nhất là 2 m và thấp nhất

là 0,5 m, phân bố ở phía Nam - Tây Nam và Đông Nam Thành phố, thuộc các Quận 9,

8, 7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ

2.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CẤU TRÚC

Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí khá đặc biệt trên bình đồ cấu trúc của khu vực, thuộc rìa phía Tây Nam của đới Đà Lạt, phụ đới Biên Hoà, tiếp giáp với phần phía Đông Bắc đới Cần Thơ Do vậy, nó vừa bị chi phối bởi sự phát triển của đới Đà Lạt tuổi Mezozoi, vừa chịu ảnh hưởng của đới lún chìm Kainozoi muộn Cần Thơ

Trên hầu hết diện tích Thành phố thường hiện diện đồng thời hai tầng cấu trúc chính : Tầng móng gồm các đá gốc cứng chắc nằm phía bên dưới và tầng phủ gồm các

Trang 29

trầm tích gắn kết yếu và bở rời xếp thành các lớp nằm ngang hoặc gần như nằm ngang trên tầng đá gốc

2.3.1 Móng đá gốc

Các đá thuộc móng đá gốc bao gồm các đá trầm tích có tuổi Jura sớm, đá trầm tích núi lửa tuổi Jura muộn – Krêta sớm và đá xâm nhập tuổi Jura muộn - Krêta sớm Nằm dưới lớp phủ ở độ sâu khác nhau, các đá gốc có khả năng chứa nước kém, khá cứng chắc và có khả năng chịu tải tốt

- Các thành tạo trầm tích tuổi Jura sớm : là các đá thuộc hệ tầng Draylinh, có

thành phần thạch học chủ yếu là cát kết, đá bột kết đa khoáng xen kẻ với đá phiến silic, sét kết màu đen, xám đen, đôi chỗ có cấu tạo phân dải, xâm tán carbonat và sulfur Các

đá trầm tích Jura có mật độ thay đổi từ 2,4 đến 2,65 g/cm3 Vận tốc truyền sóng đàn hồi của các đá rắn chắc tương đối thấp, trung bình 4 km/s

- Các thành tạo trầm tích tuổi Jura muộn – Krêta sớm : chiếm diện tích khá lớn

của đá móng dưới tầng phủ Neogen - Đệ tứ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Chúng là sản phẩm của quá trình hoạt động núi lửa Thành phần thạch học của các thành tạo này có đá núi lửa bazan - andezit porfyrit, andezit porfyrit, andesit-dacit porphyr, ryodacit porphyr, felsit porphyr và các trầm tích gồm cát kết tuff, đá phiến sét, bột kết màu đỏ Các đá thuộc thành tạo này có độ bền cơ học cao, mật độ khá lớn, trung bình 2,8 g/cm3 đối với các thành tạo andezit Vận tốc truyền sóng đàn hồi trong các đá phun trào khá cao, khoảng 5 km/s đối với đá cứng chắc

- Các thành tạo xâm nhập tuổi Jura muộn – Krêta sớm : hiện diện khá phổ biến

bên dưới các lớp phủ trầm tích Đệ tứ trong khu vực Cần Giờ, có cấu tạo dạng khối, kiến trúc hạt vừa, thành phần thạch học tương ứng với nhóm đá granodiorit, mật độ trung bình từ 2,7 đến 2,8 g/cm3 Vận tốc truyền sóng đàn hồi khá cao, từ 5 - 6 km/s

2.3.2 Tầng phủ Kainozoi muộn

Bao gồm các tập trầm tích nằm ngang, tuổi Neogen - Đệ tứ Trong mỗi tập trầm tích, độ hạt của chúng nói chung tăng dần từ trên xuống dưới

a - Trầm tích Holoxen : bao gồm các trầm tích thuộc hệ tầng Bình Chánh và hệ

tầng Cần Giờ Thành phần thạch học chủ yếu là sét bột cát, ít gặp hơn là cát, cát bột Đây là tầng đất yếu lộ diện trên bề mặt, phủ bất chỉnh hợp trên mặt bóc mòn trầm tích Pleistoxen muộn, dày từ một vài mét ở vùng rìa các bậc thềm đến 20 - 30 m ở các vùng đồng bằng

b - Trầm tích Pleistoxen : bao gồm các trầm tích thuộc hệ tầng Trảng Bom, hệ

tầng Thủ Đức và hệ tầng Củ Chi :

- Hệ tầng Trảng Bom: có thành phần thạch học chủ yếu là vật liệu hạt thô : cát, sạn sỏi lẫn bột sét, phủ bất chỉnh hợp trên tập sét loang lổ thuộc hệ tầng Bà Miêu và bị phủ trên bởi tập sạn sỏi, cát sạn sỏi của hệ tầng Thủ Đức

Trang 30

- Hệ tầng Thủ Đức: hiện diện khắp Thành phố, kích thước độ hạt tăng dần từ trên xuống dưới Theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bề mặt hệ tầng phân bố ở cao độ

từ 10 - 20 m ở khu vực Tây Bắc Củ Chi, khoảng 2 - 10 m ở Hóc Môn và khu vực nội thành và -30m ở khu vực Nhà Bè - Cần Giờ Theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, thành phần thạch học thay đổi khá rõ rệt, lộ ra ở cao độ 20 - 40 m tại Quận 9 và Thủ Đức, chìm dần xuống cao độ từ 2 - 5 m ở khu vực nội thành và -30m đến -35m phía Tây Nam huyện Bình Chánh

- Hệ tầng Củ Chi: tương tự như các trầm tích thuộc hệ tầng Thủ Đức, độ hạt tăng dần từ trên xuống dưới; bề mặt hệ tầng chìm dần về phía Đông Nam, từ cao độ 5 -

15 m ở khu vực Củ Chi đến -15, -16 m ở khu vực Nhà Bè Về phía Đông Bắc, bề mặt

hệ tầng phân bố ở cao độ 5 - 15 m ở khu vực Thủ Đức và chìm dần đến - 25 m ở khu vực phía Tây Nam huyện Bình Chánh

c - Trầm tích Plioxen sớm: gồm các trầm tích gắn kết yếu, phần dưới là cát, cát

sạn sỏi lẫn sét bột màu xám, nằm phủ trực tiếp trên đá gốc, bề dày lên đến hàng trăm mét Phần trên là các thành tạo sét, sét bột có bề dày khoảng 10 m, bị các trầm tích có tuổi Pliocen muộn phủ lên.Thành phần thạch học gồm hạt thô chiếm từ 66 - 94 %

- Theo hướng Tây Bắc – Đông Nam (từ Củ Chi đến Cần Giờ), các thành tạo này xuất hiện ở các độ sâu khác nhau với xu hướng chìm dần về phía Cần Giờ

- Theo hướng Đông Bắc – Tây Nam (từ Thủ Đức đến Bình Chánh) bề mặt trầm tích này chìm dần theo dạng bậc từ độ sâu 80 - 86 m ở khu vực Bình Thạnh, Quận 9;

136 - 144 m ở khu vực nội thành cũ; 140 - 212 m ở khu vực Bình Chánh; bề dày thay đổi từ 43 – 68 m, 100 – 128 m tương ứng

d - Trầm tích Pliocen muộn: gồm các trầm tích thuộc hệ tầng Bà Miêu, phủ trực

tiếp trên bề mặt các thành tạo Pliocen sớm, thường bắt đầu bằng các tập trầm tích hạt thô, chủ yếu là cát sạn pha bột sét và kết thúc bằng các trầm tích hạt mịn, hầu hết là sét bột

Theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bề mặt hệ tầng phân bố ở chiều sâu khoảng một vài mét ở khu vực Tây Bắc Củ Chi, chìm dần đến độ sâu 20 - 45 m ở khu vực Hóc Môn – khu vực nội thành; 34 - 84 m ở khu vực Cần Giờ Bề dày của hệ tầng ít thay đổi theo hướng này

Theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, bề dày của hệ tầng thay đổi từ 40 - 70 m ở khu vực Linh Xuân, Thủ Đức, Bình Trưng, Quận 2 đến 90 - 120 m ở khu vực nội thành và khoảng 100 - 136 m ở huyện Bình Chánh Chiều sâu phân bố bề mặt hệ tầng thay đổi tương ứng, từ cao độ 27 m ở Linh Xuân; -15,5 đến -33,7 m ở Bình Thạnh - Tân Bình và -72,5 m ở Bình Chánh

e - Trầm tích Mioxen muộn: được gọi là hệ tầng Bình Trưng, thành phần thạch

học bao gồm cát, sạn sỏi chứa các mảnh dăm gắn kết yếu bởi bột sét, cát bột kết màu xám, sét bột kết màu xám, phân lớp mỏng bị phủ bất chỉnh hợp bởi các trầm tích Plioxen muộn

Trang 31

2.4 HỆ THỐNG ĐỨT GÃY XÁC ĐỊNH THEO TÀI LIỆU ĐỊA CHẤT VÀ

ĐỊA VẬT LÝ [11, 16]

Cấu trúc vùng Thành phố bị khống chế bởi các hệ thống đứt gãy có phương á kinh tuyến, á vĩ tuyến, Đông Bắc - Tây Nam, Tây Bắc - Đông Nam Các hệ thống đứt gãy này đã làm cho địa hình bề mặt móng nâng sụt theo dạng khối tảng (Hình 4)

- Đứt gãy sông Sài Gòn (F1), có phương Tây Bắc - Đông Nam, chạy dọc theo sông Lái Thiêu - Rạch Gò Dưa về Phường Cát Lái Quận 2 Đây là đứt gãy thuận - bằng trái, độ sâu ảnh hưởng đến 40 km, mặt trượt cắm về hướng Tây Nam với góc dốc

60 - 80o ở trên mặt, thoải dần đến 40 - 50o ở độ sâu 40 km, cự ly dịch chuyển trong Neogen trên 100 m, cánh Đông Bắc được nâng lên với biên độ dịch chuyển của đá gốc trước Plioxen sớm là 60 m, trong Plioxen muộn là 22 m, và khoảng 4 - 5 m trong Holoxen

- Đứt gãy Hóc Môn - Bình Thạnh (F2), kéo dài từ Tân Thạnh Tây (huyện Củ

Chi), qua Đông Thạnh (huyện Hóc Môn) đến khu vực hội lưu giữa sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, đứt gãy này chạy song song và cách đứt gãy sông Sài Gòn khoảng 5

km về phía Tây Nam Cùng với đứt gãy sông Sài Gòn, đứt gãy này đóng vai trò định tuyến, định đai uốn khúc cho hoạt động của thung lũng sông Sài Gòn ít nhất từ Pleistoxen muộn cho đến ngày nay

- Đứt gãy Bình Chánh - Cần Giuộc (F3), có phương Tây Bắc – Đông Nam

Đây là đứt gãy thuận, phát triển đến độ sâu 40 km, với mặt đứt gãy cắm về phía Tây Nam, dốc 70o – 75o Trên địa hình hiện đại, đứt gãy trùng với phương kéo dài của thung lũng sông Vàm Cỏ Đông Thung lũng này được hình thành ít nhất từ Pleistoxen muộn, nay vẫn còn được phát triển kế thừa bởi các tích tụ Holoxen muộn

- Đứt gãy Hậu Nghĩa – An Thạnh (F4), có phương á vĩ tuyến chạy ngang qua

khu vực Thị trấn Củ chi Đứt gãy này là đứt gãy thuận, cắm về phía Nam với góc dốc

65o – 70o Trên địa hình hiên tại, theo phương phát triển của đứt gãy, rạch Láng The và sông Sài Gòn đều bị đổi hướng đột ngột theo phương á vĩ tuyến trên một đoạn dài đến

3 km và cùng về hướng Đông, theo đó, các đứt gãy sông Sài Gòn và Hóc Môn – Bình Thạnh cũng bị dịch chuyển ngang ở một khoảng cách tương tự

- Đứt gãy Đức Hòa - Long Thành (F5), có phương á vĩ tuyến chạy qua khu

vực Thị trấn An Lạc và khu vực hợp lưu giữa sông Sài Gòn và sông Đồng Nai Đứt gãy này cắm về phía Nam với góc dốc 70o – 80o, làm dịch chuyển ngang đứt gãy sông Sài Gòn

- Đứt gãy Tam Thôn Hiệp (F6), có phương vĩ tuyến, chạy qua khu vực Tam

Thôn Hiệp, huyện Cần Giờ Theo tài liệu trọng lực, đây là đứt gãy thuận cắm về hướng Nam với góc 70o – 75o Trên mặt cắt địa chất, cánh phía Bắc bị nâng lên, chênh lệch

độ cao của bề mặt đá gốc là 35 m, nóc của trầm tích Plioxen muộn là 12 m

- Đứt gãy sông Soài Rạp (F7), có phương kinh tuyến, chạy qua khu vực Mũi

Đèn Đỏ, sông Nhà Bè - Soài Rạp Đây là một phần của đứt gãy Lộc Ninh - Thủ Dầu

Trang 32

Một, có bề rộng trên 20 km, độ sâu ảnh hưởng đến 60 km, mặt trượt cắm về phía Đông với góc cắm 70o

- Đứt gãy Lý Nhơn (F8), có phương vĩ tuyến.Trên địa hình hiện tại, đứt gãy

này không có biểu hiện rõ ràng

2.5 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH

2.5.1 Điều kiện địa chất công trình

Có thể phân biệt hai tầng cấu trúc trong mặt cắt chung trên địa bàn Thành phố :

2.5.1.1 Tầng cấu trúc móng đá tuổi Kainozoi

Cấu tạo bởi các loại đá cứng tuổi Mezozoi (Mz) có nguồn gốc và thành phần khác nhau, nhưng chủ yếu là đá anđêzit, anđêzitobazan thuộc hệ tầng Long Bình (J3-

K1lb) Ngoại trừ hai điểm lộ là núi Yai (Thủ Đức) và Giồng Chùa (Cần Giờ), phần còn

lại của móng đều chìm rất nhanh theo hướng chung Đông Bắc – Tây Nam, đạt độ sâu lớn nhất 330 m ở ranh giới phía Tây Thành phố

2.5.1.2 Tầng cấu trúc lớp phủ trầm tích Mioxen muộn – Đệ tứ

Tầng cấu trúc này có thể chia ra làm ba phụ tầng cấu trúc như sau :

- Phụ tầng cấu trúc Mioxen muộn – Plioxen : Cấu thành chủ yếu bởi các trầm

tích bở rời gắn kết yếu, nguồn gốc sông, sông biển thuộc các hệ tầng Bình Trưng, Nhà

Bè và Bà Miêu Tất cả đều không lộ ra trên mặt, phát triển liên lục trên toàn bộ địa bàn Thành phố

- Phụ tầng cấu trúc Pleistoxen :Cấu tạo bởi các trầm tích bở rời có nguồn gốc

sông tuổi Pleistoxen, nằm bất chỉnh hợp trên các trầm tích Neogen, lộ ra trên mặt ở từng nơi (Thủ Đức, khu vực Đông Bắc Thành phố) ứng với cao độ 5 - 20 m Bề dày chung của tầng cấu trúc này là khoảng 120 m

- Phụ tầng cấu trúc Holoxen :Cấu tạo các trầm tích Holoxen có nhiều nguồn

gốc, lộ ra trên phần lớn diện tích Thành phố

2.5.1.3 Các loại đất đá và tính chất cơ lý

Nền đất của Thành phố được cấu tạo bởi đất đá có thành phần và nguồn gốc rất

đa dạng Theo chiều sâu hiện diện các loại đất đá sau:

- Bùn sét, bùn sét pha (ambQIV) hiện diện trên địa hình trũng thấp và dọc theo

các sông lớn Đây là lớp trầm tích trẻ nằm ở phần trên cùng Chiều dày biến đổi rất lớn, trung bình 15 - 20 m Đất ở giai đoạn trầm tích, có các tính chất cơ học rất kém

Trang 33

- Cát biển (mQIV) phân bố thành từng dải kéo dài từ Đông Hoà đến Cần Giờ

Chiều dày từ 4,5 đến 16 m, trung bình là 7,5 m

- Sét pha (amQIV) màu xám xanh, xám vàng, trạng thái dẻo mềm, dẻo chảy,

phân thành dải không liên tục từ Bình Chánh qua Hóc Môn, lên đến phía Tây Củ Chi, chủ yếu tập trung ở sườn thoải của địa hình xâm thực tích tụ có cao độ 5 - 7 m Bề dày trung bình 2 m Theo số liệu thống kê về tính chất cơ lý, sức chịu tải quy ước của đất nền khoảng 2,0 – 2,5 kg/cm2

- Sét (aQII-III) màu xám vàng, xám nâu, trạng thái dẻo cứng đến cứng Lớp này

tập trung ở phía Bắc Thành phố như An Nhơn Tây, Tân An Hội, lộ ra và cấu tạo nên các sườn và đỉnh phân thủy của dạng địa hình xâm thực tích tụ, nằm xen kẹp với lớp

sét pha (aQII-III) và phủ trực tiếp lên lớp sét chứa sạn sỏi laterit Chiều dày 1,5 - 5,0 m, trung bình 3 m Theo số liệu thống kê về tính chất cơ lý, sức chịu tải quy ước của đất nền khoảng 2,5 – 3,5 kg/cm2

- Sét pha (aQII-III) màu xám nâu, xám vàng trạng thái dẻo cứng đến cứng Lớp này phân bố tập trung ở phía Bắc Thành phố, thành dạng dải không liên tục, kéo dài từ

Củ Chi qua Hóc Môn cho đến Thủ Đức, lộ ra và cấu tạo nên các sườn và đỉnh phân thuỷ của dạng địa hình xâm thực tích tụ, nằm xen kẹp với lớp sét pha (aQII-III) và phủ trực tiếp lên lớp sét chứa sạn sỏi laterit Chiều dày khoảng 0,5 – 7,5 m Theo số liệu thống kê về tính chất cơ lý, sức chịu tải quy ước của đất nền khoảng 2,5- 3,0 kg/cm2

- Sét pha lẫn hoặc chứa sạn sỏi laterit (aQII-III) màu nâu đỏ, nâu vàng, xám

trắng, loang lổ, có mặt gần như trên khắp diện tích nghiên cứu, nằm bên dưới lớp sét hoặc sét pha aQII-III Tuỳ thuộc vào cao độ địa hình và đới dao động của mực nước ngầm mà bề dày của lớp phát triển hoặc hạn chế Lớp này không có mặt ở những vùng sụt lún mạnh và bào mòn như vùng trũng cầu Bông, Lê Minh Xuân, Bình Chánh; có chiều dày lớn nhất ở Phú Hoà Đông, Đồng Dù,… lên đến 5 m Theo số liệu thống kê

về tính chất cơ lý, sức chịu tải quy ước của đất nền khoảng 2,5 – 3,5 kg/cm2

- Đá gốc: đá gốc chỉ lộ ở hai điểm (núi Yai - Thủ Đức và Giồng Chùa - Cần

Giờ), thành phần thạch học bao gồm các thành tạo anđezit, tufanđezit, anđezittobazan

hệ tầng Long Bình (J3-K1lb) Theo kết quả phân tích các đá có thành phần tương tự ở

Châu Thới, Bửu Long thì tính chất cơ lý của các loại đá này khá tốt :

Trang 34

2.5.2 Phân vùng địa chất công trình

Căn cứ vào các dấu hiệu địa mạo, có thể chia lãnh thổ Thành phố thành 3 vùng khác nhau (Hình 4) là :

- Vùng II - A : xâm thực - tích tụ, chiếm diện tích ở phía Đông Thành phố

- Vùng II - B : tích tụ - xâm thực, nằm về phía Tây Bắc

- Vùng II - C : tích tụ, nằm về phía Đông Nam.

2.6 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN

Tp Hồ Chí Minh có các tầng chứa và cách nước sau [8] :

2.6.1 Các tầng chứa nước

2.6.1.1 Tầng chứa nước Holoxen (qh)

Tầng chứa nước Holoxen (qh) phân bố trên diện hẹp, lộ ra ở khu vực Lê Minh Xuân (Bình Chánh) và Cần Giờ Bề dày từ 0 - 8 m Thành phần thạch học của lớp này chủ yếu là cát pha, cát hạt mịn có màu xám đen

2.6.1.2 Tầng chứa nước Pleistoxen (qp)

Tầng chứa nước Pleistoxen (qp) phân bố rộng toàn vùng, lộ ra ở trung tâm Thành phố, các Quận Tân bình, 2, 9, 12, Thủ Đức, Hóc Môn và Củ Chi Tầng chứa nước được cấu tạo bởi 2 lớp, lớp trên là lớp cách nước yếu, lớp dưới là lớp chứa nước :

- Lớp cách nước yếu : phân bố từ 0 - 26 m Bề dày thay đổi lớn, từ 0 m ở Bình

Hưng (Bình chánh); 10 - 15 m ở Tân Thới Trung (Củ Chi), Thới Tam Thôn (Hóc Môn), nhưng phổ biến từ 5 - 10 m.Thành phần thạch học của lớp là sét bột, sét màu xám vàng, nâu đỏ, nhiều nơi bị phong hoá có kết vón laterit

- Lớp chứa nước : thành phần thạch học của lớp gồm cát hạt mịn đến trung và

thô, có nơi lẫn sạn sỏi màu xám nâu, xám vàng Chiều dày thay đổi từ 3,2 m ở Linh Xuân (Thủ Đức) đến 63 m ở Tân Tạo (Bình Chánh) Ở khu vực Hóc Môn, Củ Chi, chiều dày lớp này thường nhỏ hơn 20 m; trong khu vực nội thành thường có chiều dày

từ 20 - 30 m Trong lớp chứa nước thường xen kẹp lớp sét, bột sét mỏng

2.6.1.3 Tầng chứa nước Plioxen trên (m4 2)

Tầng chứa nước Plioxen trên (m42) phân bố trong toàn lãnh thổ Thành phố, độ sâu gặp mái tầng chứa nước từ 8 m (LK09T) đến 95 m (LKA6), bị tầng chứa nước Pleistoxen phủ trực tiếp lên trên và nằm trên tầng chứa nước Plioxen dưới (m41) Tầng gồm 2 lớp :

Trang 35

- Lớp cách nước : lớp này được cấu tạo bởi bột sét, sét có màu vàng, nâu đỏ

Chiều dày lớp thay đổi từ 2 m (Quận 2) đến 48 m (Củ Chi) Lớp này phân bố đều khắp trong Thành phố

- Lớp chứa nước : thành phần thạch học của lớp gồm cát hạt mịn, trung đến thô,

lẫn sạn sỏi thạch anh màu xám sáng, phân bố trong toàn Thành phố Chiều dày tầng chứa nước thay đổi từ 36 m (Củ Chi) đến 82 m (Hóc Môn), trong đó có xen kẹp lớp bột sét cách nước

1.6.1.4 Tầng chứa nước Plioxen dưới (m4 1)

Tầng chứa nước Plioxen dưới (m41) không lộ ra trên mặt, được phân bố trong toàn Thành phố, độ sâu gặp mái tầng chứa nước từ 50 m (LK806 - Củ Chi) đến 212 m (LK812A - Bình Chánh), bị tầng chứa nước Plioxen trên (m42) phủ trực tiếp lên trên Tầng gồm lớp cách nước và lớp chứa nước :

- Lớp cách nước : phân bố ở hầu khắp Thành phố, được cấu tạo bởi bột sét, sét

có màu vàng, nâu đỏ Chiều dày lớp thay đổi từ 5 -10 m

- Lớp chứa nước : thành phần thạch học của lớp gồm cát hạt mịn, trung đến thô,

lẫn sạn sỏi thạch anh màu xám sáng, tạo thành tầng chứa nước liên tục trong toàn Thành phố Chiều dày tầng chứa nước thường lớn hơn 50 m

1.6.2 Động thái nước dưới đất

Mực nước thường dao động theo mùa Vào mùa khô, mực nước có xu hướng giảm dần từ đầu mùa và đạt cực tiểu vào cuối mùa khô : mực nước cực tiểu thường xảy ra vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 hàng năm Đến mùa mưa, tầng chứa nước nhận được cung cấp, mực nước có xu hướng dâng lên, đạt cực đại vào cuối mùa và thường xảy ra vào tháng 10, đầu tháng 11 hàng năm Ở những nơi tầng có quan hệ thuỷ lực với nước mặt, mực nước còn chịu ảnh hưởng của yếu tố thuỷ văn; ở những nơi có địa hình thấp, ven biển hay ven các con sông có ảnh hưởng triều chúng chịu ảnh hưởng của yếu tố thuỷ triều

Trang 36

Hình 4

Trang 37

PHẦN BA : KẾT QUẢ

3.1 CÔNG TÁC ĐIỀU TRA TRONG NHÂN DÂN

Công tác điều tra biểu hiện rung động nền đất và ảnh hưởng của chúng lên các công trình xây dựng, cảnh quan địa lý (nếu có) do động đất, bao gồm :

• Lập phiếu và tập huấn công tác điều tra trong nhân dân

• Định vị các tuyến, điểm điều tra và lên bản đồ tỉ lệ 1/50.000

• Điều tra theo phiếu (theo mẫu, Phụ lục 2) trên 6 khu vực của Thành phố bởi 6 nhóm ký hiệu từ A đến F (Bảng 1, 2) Thời gian tiến hành trong tháng 11 và 12/2005

• Thống kê, đánh giá hiện trạng, biểu hiện và ảnh hưởng do động đất gây

ra

Địa điểm điều tra được phân bố trước trên bản đồ Dựa vào điều kiện địa chất

đã nêu ở Phần hai, đặc biệt là sự phân bố dân cư và hệ thống đứt gãy đã định trước các tuyến điều tra Tọa độ địa lý của các điểm điều tra được xác định bằng máy GPS với

độ chính xác ±10 m và có kiểm tra với địa hình địa vật tại điểm điều tra (giao lộ, chùa chiền, trụ sở UBND…) Với sai số như vậy, vị trí địa điểm đưa lên bản đồ tỉ lệ 1/50.000 là chấp nhận được

Số phiếu bình quân tại mỗi địa điểm là 4 - 5, nhưng có thể thay đổi ở các địa điểm đặc biệt (vắng người hoặc có nhiều thông tin khác nhau…); mỗi thành viên trong nhóm điều tra phỏng vấn một người Nội dung phỏng vấn dựa vào phiếu điều tra Tuy nhiên, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, số lượng phiếu điều tra tại một số địa điểm có thể đến 6 phiếu Trên toàn địa bàn Thành phố, đạt bình quân 2,5 phiếu/ km2

Theo Shebalin [9], đối với các trận động đất từ cấp III – VII cảm nhận của con người

có thể coi như “thiết bị” khá tốt để xác định mức độ chấn động Tập hợp nhiều người chịu chi phối bởi định luật sai số ngẫu nhiên, và độ lệch quân phương đánh giá cấp động đất của một người thay đổi từ ± ½ cấp đến ± 1cấp Trong đó ± ½ cấp là độ lệch chuẩn của một nhóm người có nhiều đặc điểm tương đồng; ± 1 cấp – đối với nhóm người ngẫu nhiên có các đặc điểm khác nhau

Như vậy, với mật độ điều tra tại một địa điểm như đã nêu, sai số đánh giá cấp động đất

giảm đi trung bình √5 ≈ 2 lần, tức là xấp xỉ ½ cấp

Trang 38

Bảng 1 Danh sách cán bộ điều tra động đất trong nhân dân

1 Phùng Phước An

2 Đinh Quang Cư

3 Đoàn Thị Kim Dung

10 Lâm Đạo Nguyên

11 Nguyễn Thanh Minh

12 Nguyễn Siêu Nhân

Bảng 2 Số phiều điều tra động đất

Trang 39

Bảng 3 Số phiều điều tra thiệt hại công trình xây dựng

TT Quận, huyện Số phiếu điều tra

3.1.1 Khu vực huyện Củ Chi (Nhóm A)

- Thống kê từ kết quả điều tra cho thấy, động đất cấp I hay không cảm nhận được động

đất ở huyện Củ Chi là khá phổ biến Ngoại trừ xã Bình Mỹ thì tất cả các xã còn lại hầu như

đều có các ấp không bị ảnh hưởng của động đất

- Tác động của động đất trên địa bàn huyện Củ Chi là không phổ biến, chủ yếu chỉ tập

trung ở các xã Bình Mỹ, Tân Thạnh Đông và một vài ấp của xã Phú Hòa Đông, Tân Phú

Trung, Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Trung Lập Hạ với mức độ ảnh hưởng cũng rất khác

nhau, mạnh nhất là đến cấp IV, còn lại đại đa số các xã khác hầu như đều không cảm nhận

được động đất

- Ảnh hưởng của chấn động cấp I - II phân bố khá rộng trong các xã Phước Hiệp, Tân

An Hội, Trung Lập Hạ, Phước Thạnh, Nhuận Đức, Thái Mỹ,…

- Ảnh hưởng của chấn động cấp III - IV chủ yếu xảy ra tập trung dọc theo đứt gãy

sông Sài Gòn nằm về phía đông, đông nam ở các xã Phú Hòa Đông, An Nhơn Tây, Trung An,

Hòa Phú, đặc biệt là tại khu vực xã Bình Mỹ chịu ảnh hưởng chấn động cấp IV, là nơi có địa

hình trũng thấp, ven sông Sài Gòn.Về phía nam giáp ranh huyện Hóc Môn, các xã Tân Phú

Trung, Tân An Hội cũng chịu ảnh hưởng động đất cấp III – IV

- Ngoài ra ảnh hưởng chấn động cấp III, IV còn phân bố dọc theo các đứt gãy địa F2

và F4 qua các xã Phước Vĩnh An, Tân Thạnh Tây và An Nhơn Tây và khu vực địa đạo Củ Chi

(Phụ lục 3)

Trang 40

3.1.2 Khu vực các Quận 2, Quận 7 và Quận 9 (Nhóm B)

- Cấp IV xảy ra chủ yếu ở gần bờ sông, nơi có nền móng yếu, đặc biệt là Phường Long Phước Q9, người dân cảm nhận được cấp IV và cảm nhận được trận động đất ngày 17/10/2005 còn các nơi khác chỉ cảm nhận được trận động đất ngày 8/11/2005

- Các trận động đất đã gây hoang mang và lo sợ cho nhiều người dân trong khu vực nghiên cứu, đặc biệt là trận động đất ngày 8/11/2005

- Trong khu vực Quận 2, 7 và 9 chấn động đã xảy ra trên diện rộng với 3 cấp động đất

là cấp I, III và cấp IV, tuy nhiên chưa có trường hợp nào ảnh hưởng đến công trình, nhà cửa xây dựng

- Người dân ở gần sông rạch và ở cù lao cảm nhận động đất rõ hơn, đặt biệt là người dân ở Phường Long Phước Quận 9

- Các chấn động chấn cấp I - II chiếm tỉ lệ rất nhỏ, chủ yếu tập trung ở các phường Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Quận 9 là nơi có điều kiện địa chất khá tốt, phù sa cổ lộ trên bề mặt

- Trong khu vực phường Tân Phong, Quận 7 giáp ranh với huyện Nhà Bè xuất hiện chấn động cấp IV – V (Phụ lục 3)

3.1.3 Khu vực các huyện Thủ Đức, Hóc Môn và Quận 12 (Nhóm C)

- Nhìn chung, trong khu vực khảo sát người dân chỉ cảm nhận được trận ngày 8/11/2005 với mức độ từ không đến rõ ràng Mức độ thiệt hại không có, nhưng cũng gây cho người dân những cảm xúc bàng hoàng trong một thời gian ngắn

- Khu vực điều tra gồm quận 12, quận Thủ Đức và huyện Hóc Môn có nền địa chất là những thành tạo Đệ Tứ, chúng bao gồm 2 nhóm trầm tích Phù sa cổ có kết cấu nén dẻ cao và trầm tích Phù sa mới nén dẻ kém

- Chấn động cấp IV phân bố tại các phường, xã Tân Thới Nhì, Tân Hiệp, Bà Điểm và khu vực Nhị Xuận thuộc huyện Hóc Môn; phường Thạnh Lộc, Thanh Xuân thuộc Quận 12,

là 2 xã nằm dọc theo sông Sài Gòn qua hệ thống đứt gãy sông Sài Gòn

- Trên địa bàn huyện Hóc Môn chấn động cấp III cũng phân bố ở các xã Xuân Thới Thượng, Bà Điểm, Đông Thạnh, Khu công nghiệp Tân Tạo ; các chấn động cấp II phân bố tập trung ở những khu vực có địa hình cao như xã Thới Tam Thôn và Tân Hiệp

- Trên địa bàn các Quận 12 và Thủ Đức chấn động đất cấp III – IV chiếm tỷ lệ khá lớn trên các phường Tân Hưng Thuận, Tân Chánh Hiệp, Tân Thới Hiệp và Thới An (Quận 12); các phường Tam Bình, Tam Hiệp, Hiệp Phước, Linh Trung Linh Chiểu (Quận Thủ Đức) Chấn động cấp II còn phân bố một vài nơi có địa hình tương đối cao như ở các phường Linh Trung và Linh Xuân (Phụ lục 3)

3.1.4 Khu vực huyện Bình Chánh (Nhóm D)

- Các điểm điều tra phân bố tương đối đều khắp theo diện và tuyến chủ yếu tập trung ở các xã với mật độ dân cư đông đúc và sống tương đối tập trung như: xã Vĩnh Lộc A, xã Vĩnh Lộc B, xã Qúy Đức, xã Bình Hưng, xã Hưng Long, xã Tân Kiên, xã Tân Nhựt, xã Phong Phú,

Ngày đăng: 02/08/2018, 00:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm