1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THAM QUAN – HƯỚNG dẫn KHÁCH DU LỊCH tại các CHÙA THỜ tứ PHÁP NGHIÊN cứu TRƯỜNG hợp bốn CHÙA dâu, đậu, TƯỚNG, dàn

117 370 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 570 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một nước có nền văn hóa đa dạng và phong phú có nhiều dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, vừa có sự giao thoa vừa có tính bản địa sâu sắc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, theo như Thomas L. Friedman thì: “Thế giới là phẳng”, thế giới đã bước sang kỉ nguyên của thời đại “toàn cầu hóa 3.0” 50, tr 10 mọi vấn đề từ kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống…đều có sự giao lưu, ảnh hưởng, tác động qua lại giữa hầu hết các dân tộc, đất nước khác nhau trên toàn thế giới. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ngày nay không chỉ bó hẹp ở một thực thể cộng đồng nhất định mà nó diễn ra với sự giao lưu ngày càng mạnh mẽ. Một nền văn hóa vừa giữ được nét đậm đà bản sắc dân tộc, vừa phát huy được những giá trị cốt lõi trong quá trình phát triển đất nước, hội nhập toàn cầu hóa, đó chính là một nhiệm vụ và là mục tiêu mà Đảng ta qua nhiều văn kiện Đại hội Đảng đã khẳng định. Hoạt động du lịch của nước ta dựa trên một phần là những giá trị tài nguyên vật thể và phi vật thể do ông cha gìn giữ để lại đã dần khẳng định là một ngành kinh tế mũi nhọn và trở thành trọng điểm trong thời gian tới. Tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2012 ước đạt 6.847.678 lượt, tăng 13,86% so với cùng kỳ năm 2011 40, tr. 1, tiếp tục thể hiện đà tăng trưởng của ngành du lịch nước ta trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới có nhiều khó khăn, biến động. Việt Nam với thế mạnh về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn (tài nguyên du lịch văn hóa) đã hình thành và phát triển nhiều loại hình du lịch: du lịch biển, du lịch tham quan nghỉ dưỡng, du lịch mạo hiểm, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa…Trong thời gian tới ở nước ta cùng với loại hình du lịch biển thì du lịch văn hóa, du lịch tâm linh sẽ là những loại hình du lịch phổ biến đối với du khách quốc tế và nội địa. Theo PGS. TS Nguyễn Phạm Hùng: (hầu hết những điểm tham quan, tour du lịch trên nước ta đều có liên quan đến nguồn tài nguyên du lịch văn hóa). Chính vì vậy xây dựng những tuyến, tour du lịch văn hóa, tâm linh; hoàn chỉnh những nguồn tài liệu về các điểm du lịch văn hóa, tâm linh, đặc biệt là đối với những điểm tham quan du lịch mang tính đặc thù, là một việc làm cần kíp. Để từ đó tạo nên cơ sở đầy đủ về nguồn thông tin góp phần phát triển du lịch nước nhà. Hoạt động tham quan hướng dẫn du lịch tại các ngôi chùa, đình, đền…đặc biệt là các chùa thờ Tứ Pháp đối với người làm du lịch và với du khách cho đến nay vẫn trong tình trạng chưa hiểu rõ hoặc có biết nhưng chưa tường tận và sâu sắc về những nội dung, các khía cạnh truyền tải… Với đối tượng mang tính đặc thù như tín ngưỡng Tứ Pháp trong hệ thống các chương trình du lịch, khung tổ chức tham quan, hướng dẫn chưa được xem xét, hoặc chưa được xây dựng một cách có hệ thống. Tín ngưỡng Tứ Pháp là nét văn hóa đặc sắc tồn tại khá phổ biến ở vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng nước ta. Đó là một hình thái tín ngưỡng mang nét văn hóa trong tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp, tín ngưỡng cầu mưa, tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp từ cổ xưa có sự kết hợp với Phật giáo tôn giáo du nhập từ Ấn Độ. Tứ Pháp bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, và Pháp Điện tượng trưng cho những thế lực thiên nhiên: mây, mưa, sấm, chớp. Qua hình thái tín ngưỡng này người nông dân thể hiện ước muốn cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, con người có cuộc sống sung túc, xã hội phồn thịnh. Nghiên cứu tìm hiểu về tín ngưỡng Tứ Pháp ở vùng châu thổ Sông Hồng góp phần làm sáng tỏ hơn về vùng đất, con người nơi đây nhằm phục vụ phát triển du lịch cũng là một vấn đề vô cùng có ý nghĩa đối với người làm du lịch và du khách. Đối với khía cạnh cung du lịch mà trực tiếp là các nhà tổ chức, HDV… góp phần hoàn chỉnh công tác tổ chức cho hoạt động du lịch mà đặc biệt là hoạt động tham quan hướng dẫn tại các ngôi chùa thờ Tứ Pháp – các điểm tham quan có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo. Đưa những giá trị văn hóa đặc sắc trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nói chung, tín ngưỡng Tứ Pháp nói riêng vào phục vụ phát triển du lịch. Đây chính là một phương cách để bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa vô giá của cha ông ta một cách hữu hiệu. Nâng cao hoạt động tham quan – hướng dẫn trong các chương trình du lịch tại các điểm di tích chùa thờ Tứ Pháp, cung cấp cho người làm du lịch là: các nhà tổ chức kinh doanh du lịch, các hướng dẫn viên và những người có liên quan trên phương diện nhà cung ứng; đồng thời nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân, của khách du lịch khi đến các di tích này thì việc có một nghiên cứu làm tài liệu tham khảo là điều rất cần thiết. Vì những lí do đó tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Tổ chức hoạt động tham quan – hướng dẫn khách du lịch tại các chùa thờ Tứ Pháp. Nghiên cứu trường hợp bốn chùa: Dâu, Đậu, Tướng, Dàn.” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN MẠNH HÙNG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THAM QUAN – HƯỚNG DẪN KHÁCH DU LỊCH TẠI CÁC CHÙA THỜ TỨ PHÁP NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BỐN CHÙA:

DÂU, ĐẬU, TƯỚNG, DÀN

Chuyên ngành: Du lịch

(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2014 MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Đóng góp của đề tài 15

7 Bố cục luận văn 16

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 17

1.1 Lý luận về tổ chức 17

1.1.1 Khái niệm 17

1.1.2 Nguyên tắc của vấn đề tổ chức 18

1.1.3 Những yếu tố tác động đến vấn đề tổ chức 19

1.1.4 Nội dung của công tác tổ chức 20

1.2 Quan niệm về khách du lịch 21

1.3 Tổ chức hoạt động tham quan du lịch 22

1.3.1 Khái niệm 22

1.3.2 Những yếu tố tác động đến tổ chức hoạt động tham quan du lịch 24

1.4 Tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch 27

1.4.1 Khái niệm 27

1.4.2 Hướng dẫn viên du lịch 28

1.4.3 Những hoạt động trong công tác tổ chức hướng dẫn du lịch 30

1.4.4 Vị trí và ý nghĩa của vấn đề tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch 32

1.4.5 Một số yếu tố khách quan tác động đến vấn đề tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch 33

1.5 Một số vấn đề về tín ngưỡng Tứ Pháp 36

1.5.1 Lịch sử hình thành và bản chất tín ngưỡng Tứ Pháp 36

Trang 3

1.5.2 Sự phân bố không gian tín ngưỡng Tứ Pháp 40

1.5.3 Cơ sở hình thành và tồn tại tín ngưỡng Tứ Pháp 41

1.5.4 Một số đặc thù của tín ngưỡng Tứ Pháp 45

Tiểu kết chương 1 48

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THAM QUAN - HƯỚNG DẪN KHÁCH DU LỊCH TẠI BỐN CHÙA: DÂU, ĐẬU, TƯỚNG, DÀN 49

2.1 Những điều kiện phục vụ cho công tác tổ chức hoạt động tham quan – hướng dẫn khách du lịch 49

2.1.1 Một số yếu tố hấp dẫn đóng vai trò là tài nguyên du lịch của các di tích 49

2.1.2 Cơ sở vật chất 66

2.1.3 Nguồn nhân lực 68

2.2 Thực trạng tổ chức hoạt động tham quan 71

2.2.1 Các chùa Tứ Pháp với tư cách là điểm, tuyến du lịch 71

2.2.2 Hoạt động tham quan du lịch 72

2.3 Thực trạng tổ chức hướng dẫn khách du lịch 75

2.3.1 HDV các tổ chức, công ty du lịch 75

2.3.2 HDV, người trợ giúp khách du lịch tại điểm tham quan 76

2.4 Đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động tham quan - hướng dẫn khách du lịch 77

2.4.1 Ưu điểm 77

2.4.2 Những hạn chế 77

Tiểu kết chương 2 79

Chương 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THAM QUAN - HƯỚNG DẪN KHÁCH DU LỊCH TẠI BỐN CHÙA: DÂU, ĐẬU, TƯỚNG, DÀN 80

3.1 Những căn cứ cho việc đề xuất 80

3.1.1 Về mặt khoa học, pháp lý 80

3.1.2 Về mặt thực tiễn 81

Trang 4

3.2 Những đề xuất nhằm nâng cao tổ chức hoạt động tham quan – hướng dẫn tại các

chùa: Dâu, Đậu, Tướng, Dàn 84

3.2.1 Ứng xử văn hóa tại di tích 84

3.2.2 Một số nội dung tham quan, hướng dẫn 89

3.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực du lịch 102

3.2.4.Tuyên truyền, quảng bá thông tin về tín ngưỡng Tứ Pháp 102

3.3 Một số đề xuất giải pháp khác 104

3.3.1 Đối với công tác quản lý văn hóa và di sản, di tích lịch sử 104

3.3.2 Công tác bảo tồn và tổ chức hoạt động ở địa phương 105

3.3.3 Đối với chính quyền cơ sở 106

3.3.4 Đối với các tổ chức, công ty lữ hành 108

3.3.5 Công tác giáo dục cộng đồng 109

Tiểu kết chương 3 110

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 117

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

STT CHỮ VIẾT TẮT NGHĨA ĐẦY ĐỦ

1 HDV Hướng dẫn viên

2 PGS Phó giáo sư

3 Skrt Sanskrit

5 UBND Ủy ban nhân dân

6 VHTT&DL Văn hóa thể thao và du lịch

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 2.1 Tổ chức ban quản lý di tích các chùa: Dâu, Tướng, Dàn 69

2 Bảng 2.2 Số lượng khách quốc tế tới chùa Dâu qua các năm 72

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Việt Nam là một nước có nền văn hóa đa dạng và phong phú có nhiều dân tộc,tín ngưỡng, tôn giáo, vừa có sự giao thoa vừa có tính bản địa sâu sắc Trong bối cảnhtoàn cầu hóa như hiện nay, theo như Thomas L Friedman thì: “Thế giới là phẳng”, thếgiới đã bước sang kỉ nguyên của thời đại “toàn cầu hóa 3.0” [50, tr 10] mọi vấn đề từkinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống…đều có sự giao lưu, ảnh hưởng, tác động qua lạigiữa hầu hết các dân tộc, đất nước khác nhau trên toàn thế giới Sinh hoạt tín ngưỡng,tôn giáo ngày nay không chỉ bó hẹp ở một thực thể cộng đồng nhất định mà nó diễn ra

Trang 7

với sự giao lưu ngày càng mạnh mẽ Một nền văn hóa vừa giữ được nét đậm đà bản sắcdân tộc, vừa phát huy được những giá trị cốt lõi trong quá trình phát triển đất nước, hộinhập toàn cầu hóa, đó chính là một nhiệm vụ và là mục tiêu mà Đảng ta qua nhiều vănkiện Đại hội Đảng đã khẳng định.

Hoạt động du lịch của nước ta dựa trên một phần là những giá trị tài nguyên vậtthể và phi vật thể do ông cha gìn giữ để lại đã dần khẳng định là một ngành kinh tế mũinhọn và trở thành trọng điểm trong thời gian tới Tổng lượng khách du lịch quốc tế đếnViệt Nam năm 2012 ước đạt 6.847.678 lượt, tăng 13,86% so với cùng kỳ năm 2011[40, tr 1], tiếp tục thể hiện đà tăng trưởng của ngành du lịch nước ta trong bối cảnh nềnkinh tế trong nước và thế giới có nhiều khó khăn, biến động Việt Nam với thế mạnh vềtài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn (tài nguyên du lịch văn hóa) đã hình thành vàphát triển nhiều loại hình du lịch: du lịch biển, du lịch tham quan nghỉ dưỡng, du lịchmạo hiểm, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa…Trong thời gian tới ở nước ta cùng vớiloại hình du lịch biển thì du lịch văn hóa, du lịch tâm linh sẽ là những loại hình du lịchphổ biến đối với du khách quốc tế và nội địa Theo PGS TS Nguyễn Phạm Hùng: (hầuhết những điểm tham quan, tour du lịch trên nước ta đều có liên quan đến nguồn tàinguyên du lịch văn hóa) Chính vì vậy xây dựng những tuyến, tour du lịch văn hóa, tâmlinh; hoàn chỉnh những nguồn tài liệu về các điểm du lịch văn hóa, tâm linh, đặc biệt làđối với những điểm tham quan du lịch mang tính đặc thù, là một việc làm cần kíp Để

từ đó tạo nên cơ sở đầy đủ về nguồn thông tin góp phần phát triển du lịch nước nhà

Hoạt động tham quan hướng dẫn du lịch tại các ngôi chùa, đình, đền…đặc biệt

là các chùa thờ Tứ Pháp đối với người làm du lịch và với du khách cho đến nay vẫntrong tình trạng chưa hiểu rõ hoặc có biết nhưng chưa tường tận và sâu sắc về nhữngnội dung, các khía cạnh truyền tải… Với đối tượng mang tính đặc thù như tín ngưỡng

Tứ Pháp trong hệ thống các chương trình du lịch, khung tổ chức tham quan, hướng dẫnchưa được xem xét, hoặc chưa được xây dựng một cách có hệ thống

Trang 8

Tín ngưỡng Tứ Pháp là nét văn hóa đặc sắc tồn tại khá phổ biến ở vùng đồngbằng châu thổ Sông Hồng nước ta Đó là một hình thái tín ngưỡng mang nét văn hóatrong tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp, tín ngưỡng cầu mưa, tín ngưỡng thờ Mẫu của

cư dân nông nghiệp từ cổ xưa có sự kết hợp với Phật giáo - tôn giáo du nhập từ Ấn Độ

Tứ Pháp bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, và Pháp Điện tượng trưng cho nhữngthế lực thiên nhiên: mây, mưa, sấm, chớp Qua hình thái tín ngưỡng này người nôngdân thể hiện ước muốn cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, con người cócuộc sống sung túc, xã hội phồn thịnh Nghiên cứu tìm hiểu về tín ngưỡng Tứ Pháp ởvùng châu thổ Sông Hồng góp phần làm sáng tỏ hơn về vùng đất, con người nơi đâynhằm phục vụ phát triển du lịch cũng là một vấn đề vô cùng có ý nghĩa đối với ngườilàm du lịch và du khách Đối với khía cạnh cung du lịch mà trực tiếp là các nhà tổchức, HDV… góp phần hoàn chỉnh công tác tổ chức cho hoạt động du lịch mà đặc biệt

là hoạt động tham quan - hướng dẫn tại các ngôi chùa thờ Tứ Pháp – các điểm thamquan có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo

Đưa những giá trị văn hóa đặc sắc trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nóichung, tín ngưỡng Tứ Pháp nói riêng vào phục vụ phát triển du lịch Đây chính là mộtphương cách để bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa vô giá của cha ông ta một cáchhữu hiệu Nâng cao hoạt động tham quan – hướng dẫn trong các chương trình du lịchtại các điểm di tích chùa thờ Tứ Pháp, cung cấp cho người làm du lịch là: các nhà tổchức kinh doanh du lịch, các hướng dẫn viên và những người có liên quan trên phươngdiện nhà cung ứng; đồng thời nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân, của khách

du lịch khi đến các di tích này thì việc có một nghiên cứu làm tài liệu tham khảo là điều

rất cần thiết Vì những lí do đó tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Tổ chức hoạt động tham

quan – hướng dẫn khách du lịch tại các chùa thờ Tứ Pháp Nghiên cứu trường hợp bốn chùa: Dâu, Đậu, Tướng, Dàn.” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam Nghiên cứu về tín ngưỡng văn hóa, lịch

sử của các di tích như chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn, chùa Tổ, hệ thốngchùa có sự giao thoa văn hóa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian cổ xưa tại khu vực vùngDâu… Đây là những đề tài có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà nghiên cứu Từ các góc

độ khác nhau bằng nhiều phương pháp nghiên cứu các nhà khoa học, nhà nghiên cứu

đã dần đưa ra những bằng chứng lịch sử thuyết phục, và họa lại bức tranh về văn hóa,tôn giáo, tín ngưỡng cũng như sự phong phú trong cuộc sống văn hóa tâm linh củangười dân vùng Dâu – Luy Lâu trong dòng chảy văn hóa Việt Nam

Trong tác phẩm Lịch sử Phật giáo Việt Nam (2006) của tác giả Lê Mạnh Thát đã

khắc họa toàn bộ tiến trình về lịch sử Phật giáo từ khi du nhập đến khi phát triển và đếnnhững năm trong thời gian gần đây Đặc biệt tác phẩm cũng đề cập những nội dung về

sự giao thoa văn hóa, dung hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng cổ xưa của người ViệtBắc Bộ có liên quan đến hệ tín ngưỡng Tứ Pháp mà điển hình là tại địa phận tỉnh BắcNinh ngày nay, sau này có sự lan tỏa ra một số tỉnh thành khác trong nội vùng châu thổSông Hồng Tuy nhiên trong tác phẩm này tác giả cũng chỉ trình bày nội dung trên nhưmột sự bổ trợ cho nội dung chính là tìm hiểu Lịch sử Phật giáo Việt Nam trong tiếntrình lịch sử dân tộc Chính vì vậy những yếu tố về tín ngưỡng Tứ Pháp được nhìnnhận trên góc độ nhà nghiên cứu lịch sử

Tác phẩm Chùa Dâu và nghệ thuật Tứ Pháp của tác giả Phan Cẩm Thượng

(2002), đã đề cập rất cụ thể và chi tiết về lịch sử chùa Dâu, nghệ thuật điêu khắc, phảnánh tín ngưỡng Tứ Pháp trong từng chi tiết nghệ thuật được bài trí trong chùa, đình cóliên quan đến tín ngưỡng Tứ Pháp tại vùng Dâu cũng như tại một số nơi khác Tác giảtiếp cận Tứ Pháp trên phương diện là sự phản ánh, sự soi chiếu niềm tin tín ngưỡng củangười dân vùng châu thổ Sông Hồng, đánh giá nghệ thuật của di sản vật thể: tượng cácPhật Bà, các bức hoành phi, ngọn tháp Hòa Phong, lễ hội Với những nét độc đáo vềnội dung, tác giả Phan Cẩm Thượng đã đem lại một góc nhìn mới về văn hóa, tín

Trang 10

ngưỡng Tứ Pháp đối với những người làm văn hóa Và đặc biệt với những người làm

du lịch dựa trên cơ sở những nội dung đó mà hiểu hơn được về tín ngưỡng này

Chùa Dâu – cổ châu, pháp vân, diên ứng tự (2011) của tác giả Nguyễn Quang Khải và Chùa Dâu lịch sử và truyền thuyết (2011) do tác giả Nguyễn Hữu

biên soạn, Nguyễn Duy Hợp hiệu đính Hai tác phẩm này với độ dài trên dưới

100 trang, sách đã đưa ra những thông tin về lịch sử của ngôi chùa Dâu là ngôichùa được coi là chùa chính trong hệ thống chùa thờ Tứ Pháp tại khu vực tỉnhBắc Ninh Đồng thời cũng đưa ra những thông tin trong việc tổng hợp nhữngthần tích, truyền thuyết về những nhân vật có liên quan đến ngôi chùa này và tínngưỡng Tứ Pháp Hai tác phẩm này cũng chỉ mang tới cho người đọc một sự trảinghiệm về một địa danh, một vùng đất mang đậm tính truyền thống trong chính

sử cũng như trong tâm thức dân gian của cư dân nơi đây Với khía cạnh nhìnnhận từ những câu chuyện nhỏ để phản ánh những thực tế đã diễn ra trong chính

sử được ghi chép lại cũng là một cách tiếp cận hay khi nghiên cứu về lịch sử tôngiáo, tín ngưỡng vùng Dâu

Một tác phẩm nghiên cứu về mỹ thuật Phật giáo và tín ngưỡng Tứ Pháp

cung cấp khá nhiều thông tin : Sáng giá chùa xưa mỹ thuật Phật giáo được xuất

bản năm 2001 của tác giả Chu Quang Trứ Cuốn sách nghiên cứu này đã đi sâuvào phản ánh những giá trị kiến trúc, điêu khắc và nhiều giá trị khác của ngôichùa Đặc biệt trong tác phẩm này tác giả Chu Quang Trứ đã đề cập đến nhữngnghiên cứu về tín ngưỡng Tứ Pháp tại khu vực vùng Dâu – Luy Lâu xưa, đồng

Trang 11

thời cũng có những khảo cứu về sự lan tỏa của tín ngưỡng Tứ Pháp tới các vùngkhác như Hưng Yên, Hà Tây cũ, Hà Nội…Những thông tin về tín ngưỡng TứPháp được truyền tải từ sự soi chiếu trong đời sống tâm linh của người dân bảnđịa và thể hiện ra trong kiến trúc, điêu khắc, bài trí tượng trong các ngôi chùa thờ

Tứ Pháp Cũng như nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng trong tác phẩm Chùa Dâu

và nghệ thuật Tứ Pháp, tác giả Chu Quang Trứ đi sâu về lịch sử, văn hóa dângian, mỹ thuật Tác phẩm là tài liệu đáng tin cậy cho luận văn

Tác giả Nguyễn Minh San trong tác phẩm Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam (1998) cũng là một nghiên cứu sâu về vấn đề hình thành và các hình thức

tồn tại của tín ngưỡng ở nước ta hiện nay Bên cạnh việc đưa đến cho người đọcnhững nội dung về các hệ tín ngưỡng trong văn hóa dân tộc, nghiên cứu cũng đã

mô tả lại một cách chi tiết về những hoạt động, lối ứng xử dân gian trong từngtín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng Tứ Pháp Tín ngưỡng Tứ Pháp được tác giảcoi là một nét văn hóa độc đáo của người Việt vùng châu thổ sông Hồng

Luận án Nghệ thuật tạo hình tượng nhân dạng thế kỉ XVII trong chùa Việt

ở châu thổ bắc bộ (2011) của tác giả Triệu Thế Việt đã có đề cập đến những hình

thái của tín ngưỡng cầu mưa, Tứ Pháp thông qua các hình thái tượng nhân dạngtrong một số di tích Mặc dù là một nghiên cứu thuộc mã ngành nghệ thuật,nhưng những nội dung của luận án đã cung cấp cho tác giả luận văn thông tinkhá phong phú về hệ thống tượng trong di tích chùa Việt ở châu thổ Bắc bộ nói

Trang 12

chung, tại các chùa thờ Tứ Pháp nói riêng Luận án là tài liệu tham khảo đắc lựccho luận văn

Cuốn sách Tổ chức sự kiện của tác giả Lưu Văn Nghiêm đã đề cập tới những

vấn đề về lý luận, nội dung, những yếu tố tác động tới công tác tổ chức sự kiện Tổnghợp lại vấn đề đưa ra khung tham chiếu cho công tác tổ chức sự kiện Đề cập đến hoạtđộng tổ chức trong ngành dịch vụ là các sự kiện nói chung Đây là một tài liệu cungcấp những nội dung khá mật thiết với nghiên cứu luận văn của tác giả

Tác phẩm Ứng xử văn hóa trong du lịch do tác giả Trần Thúy Anh – chủ biên

(2010) đã tiếp cận đến vấn đề cụ thể trong hoạt động du lịch, đặc biệt là các hoạt động

du lịch văn hóa, đó là lối ứng xử văn hóa của nhà tổ chức du lịch trên phương diện phíacung du lịch, HDV - người trực tiếp hỗ trợ và phục vụ đoàn khách, du khách - nhữngngười trực tiếp tham gia các hoạt động trong một tour du lịch, chương trình thamquan Cuốn sách mang tính định hướng theo những quy chuẩn về lối ứng xử văn hóatrong công tác nghiệp vụ của người làm du lịch mà ở đây đi sâu vào đội ngũ HDV dulịch Đề tài luận văn đưa ra những nội dung nhằm giải quyết những vấn đề còn tồn tạitrong hoạt động tham quan – hướng dẫn khách du lịch Chính vì vậy đây là một tài liệu

hỗ trợ mang tính định hướng cho nhiều nội dung của nghiên cứu

Tác phẩm Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch của tác giả Đinh Trung Kiên đã cung

cấp những nội dung về vấn đề nghiệp vụ cho đề tài Trong tác phẩm này tác giả đã đưa

ra những khái niệm cơ bản, những hoạt động của HDV có liên quan mật thiết đến nộihàm của luận văn là hoạt động tổ chức tham quan – hướng dẫn khách du lịch

Nghiên cứu về hệ thống tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng Tứ Pháp các tácgiả đã đưa ra những nhận định từ nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Có nhữngnghiên cứu đi sâu về nghệ thuật, một số nghiên cứu lại đi sâu vào khía cạnh vănhóa tâm linh… Tác giả luận văn tiếp thu, kế thừa và coi đây là những tài liệu

Trang 13

tham khảo quý báu trong quá trình nghiên cứu đề tài Nhìn chung những nghiêncứu được tác giả tìm hiểu trong quá trình thực hiện đề tài luận văn này thấy rằngchưa có nhiều nghiên cứu nhìn nhận dưới góc độ vận dụng những giá trị trong tínngưỡng Tứ Pháp vào phục vụ du lịch, hay những hoạt động du lịch nói chung đã

và đang diễn ra như thế nào tại những vùng, điểm di tích có tồn tại tín ngưỡng

Tứ Pháp Nghiên cứu của tác giả trong luận văn với mong muốn tiếp tục bổ sungmột góc nhìn mới dưới nhãn quan của một người làm du lịch Để từ đó có thểphát huy được những giá trị độc đáo trong tín ngưỡng Tứ Pháp và những di tíchthờ Tứ Pháp tại nước ta, mà đặc biệt là khu vực phát sinh tín ngưỡng này – vùngDâu (Bắc Ninh)

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Vấn đề tổ chức, hoạt động tham quan – hướng dẫn khách du lịch tại các ngôi chùathờ Tứ Pháp, mà điển hình trong luận văn là tại bốn chùa: Dâu, Đậu, Tướng, Dàn.+ Những giá trị trong tín ngưỡng Tứ Pháp, các chùa thờ Tứ Pháp của người Việt: nộidung, kiến trúc nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng….phục vụ cho hoạt động tham quan –hướng dẫn du lịch

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về nội dung: Hoạt động tham quan, hướng dẫn dựa trên những giá trị vănhóa: nghệ thuật, tâm linh, lễ hội… trong tín ngưỡng Tứ Pháp tại các chùa thờ Tứ Pháp.+ Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trường hợp tại bốn chùa:Dâu, Đậu, Tướng, Dàn cùng hệ thống các di tích tín ngưỡng Tứ Pháp thuộc tỉnh BắcNinh

Trang 14

+ Phạm vi về thời gian: Những số liệu được sử dụng trong luận văn được thu thập từnhiều nguồn thông tin khác nhau từ những thời gian trước tới năm 2013 Luận vănđược thực hiện trong thời gian từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 11 năm 2013.

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích:

+ Thông qua việc phản ánh những thực tế về công tác tổ chức và việc thực hiện hoạtđộng hướng dẫn, tham quan tại các điểm di tích, những nội dung trong nghiên cứu luậnvăn nhằm phục vụ cho việc truyền tải thông tin, giá trị của tín ngưỡng Tứ Pháp, các ditích thờ Tứ Pháp đến với du khách một cách tốt hơn

+ Đưa ra được những nội dung trong công tác tổ chức hoạt động tham quan – hướngdẫn khách du lịch tại các chùa thờ Tứ Pháp một cách khoa học và đầy đủ hơn

+ Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: Đối với phương pháp này, trong quá trình

thực hiện, người nghiên cứu đã có xác định trước về mặt nội dung, cũng như khía cạnhkhái quát của toàn bộ vấn đề được đưa ra trong công trình nghiên cứu Từ những vấn

đề đã được khu biệt lại, giúp cho tác giả thực hiện đúng hướng trong quá trình thu thập

và xử lí các loại tài liệu khác nhau

+ Phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp tài liệu: Đây là phương pháp mang

tính công cụ trong nhiều nghiên cứu khoa học Đối với bất kì một công trình nghiên

Trang 15

cứu nào, và trong luận văn này của tác giả việc sử dụng, trích dẫn…các quan điểm, nộidung phản ánh, thông tin chính là sự kế thừa có tính chọn lọc của các công trìnhnghiên cứu của nhiều tác giả

+ Phương pháp điền dã: Bên cạnh sử dụng những phương pháp nghiên cứu mang tính

lí luận, thì một nghiên cứu khoa học không thể không thực hiện công tác nắm bắt trựctiếp đối tượng Để có thể thực hiện nhiệm vụ này, phương pháp điền dã phát huy đượcnhững ưu điểm của mình Phương pháp nghiên cứu này được tác giả sử dụng chủ yếutrong nội dung phần chương 2 và chương 3

+ Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp Phương pháp điều tra xã hội học là

một trong nhiều phương pháp có thể giải quyết một phần vấn đề này trong nghiên cứu.Với những định lượng được đưa ra trên cơ sở tổng hợp những thông tin, ý kiến vềnhững nội dung mang tính định tính, thì việc có thể đưa ra những con số (định lượnghóa) như vậy cũng phần nào tạo được tính hình, tính số cho những nhận định không thểđịnh lượng được Đồng thời tùy vào nội dung của câu hỏi điều tra mà người nghiên cứu

có được những thông tin quý giá phản ánh tính khách quan những thực tế cần minhchứng, làm rõ trong những vấn đề được đưa ra bàn luận về đối tượng

- Nhóm phương pháp tiếp cận

+ Phương pháp khảo tả: Là phương pháp khảo sát và mô tả lại những đối tượng trong

quá trình nghiên cứu Những đối tượng nghiên cứu ở trạng thái có thể là tĩnh hoặcđộng, có thể đo, đếm, hoặc có thể định lượng được bằng nhiều cách thức khác nhau Từviệc khảo sát toàn bộ hoặc một phần đối tượng tùy theo mục đích mà người nghiên cứulưu lại thông tin và mô tả lại bằng nhiều cách thức khác nhau Mục đích của phươngpháp này là phản ánh một cách đầy đủ nhất về đối tượng và những mối liên hệ củachúng trong phạm vi nghiên cứu đã được định vị

+ Phương pháp miêu thuật: Phương pháp miêu thuật đáp ứng được trong việc phản

ánh lại một cách chân thực nhất đối tượng là những sự việc, hiện tượng đã được ngườinghiên cứu hướng tới Phương pháp miêu thuật chính là sự miêu tả lại đối tượng, thuật

Trang 16

lại những nội dung hay nói cách khác là sự tái hiện lại những sự vật, hiện tượng, trạngthái của hoạt động…một cách chi tiết trong đó thể hiện được sự trải nghiệm, nhập thếcủa tác giả trong quá trình nghiên cứu.

+ Phương pháp giải mã: Trong quá trình nghiên cứu khoa học, có những vấn đề, sự

vật, hiện tượng được người nghiên cứu phát hiện, ghi chép lại…sự xuất hiện của nó có

ý nghĩa nhất định Điều này có thể thấy rất rõ trong các công trình nghiên cứu khảo cổhọc, nhân chủng học, hoặc những nghiên cứu có liên quan đến văn hóa, tâm linh…Vìvậy phương pháp giải mã là chìa khóa mở ra những lớp cửa, lớp ý nghĩa được ẩn đi, vàđưa đến cho người nghiên cứu khả năng xác định được đúng thông điệp mà đối tượng

đã và đang phản ánh

+ Sử dụng kiến thức liên ngành: Những nội dung phản ánh của đối tượng nghiên cứu

được làm rõ không chỉ dựa vào phương pháp của một ngành khoa học nhất định, màcần phải có sự kết hợp của các phương pháp có tính đặc thù của nhiều ngành khoa họckhác nhau Sử dụng đồng thời nhiều kiến thức chuyên ngành để có được những góc độnhìn nhận khác nhau, những kiến giải về đối tượng nghiên cứu Từ những khía cạnhkhác nhau đó tạo nên một hệ thống thông tin phản ánh tổng thể và đầy đủ về đối tượng

+ Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Mỗi một đề tài nghiên cứu khoa học với

những đặc thù mã ngành khoa học khác nhau lại có những phương pháp chuyên ngànhriêng Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được sử dụng có tính xuyên suốt toàn bộnội dung của nghiên cứu Nó thể hiện rõ quan điểm, góc độ và khía cạnh nhìn nhận củatác giả về đối tượng được đưa ra

Trang 17

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức kinh doanh du lịch, HDV,khách du lịch

- Góp phần nâng cao chất lượng các tour du lịch có điểm tham quan liên quan tới cácchùa thờ Tứ Pháp Từ đó hoàn thiện công tác tổ chức các tour du lịch tới điểm thamquan có tính đặc thù này

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phần phụ lục,phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2 Thực trạng tổ chức hoạt động tham quan hướng dẫn tại các chùa: Dâu, Đậu,

Tướng, Dàn

Chương 3 Một số đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức tham quan – hướng

dẫn khách du lịch tại các chùa: Dâu, Đậu, Tướng, Dàn

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lý luận về tổ chức

1.1.1 Khái niệm

Về khái niệm “tổ chức”, đây không phải là một khái niệm mới trong nghiên cứu

khoa học Song đối với khoa học du lịch và với vấn đề mà luận văn tập trung nghiêncứu thì cần phải có cách nhìn nhận đúng hướng trong nội hàm của khái niệm này Tácgiả đã thu thập, nghiên cứu các quan niệm có nghĩa khá gần trong khoa học du lịch.Bên cạnh đó tác giả cũng có sự tiếp cận khái niệm, trên cơ sở dùng phương phápnghiên cứu liên ngành, mà ở đây là khoa học quản lý

Khái niệm “tổ chức” thường được nhắc tới trong quản lý và là một phần quan trọng của khoa học quản lý Với ý nghĩa thông thường “tổ chức” là một khái niệm

dùng để chỉ một đơn vị trong xã hội: hành chính sự nghiệp, đơn vị kinh doanh, cơquan, trường học…là những kết cấu phân cấp của xã hội trong đó các thành viên bắtbuộc phải có những hoạt động hợp tác, sự tương tác với nhau

Trên phương diện quản lý học đi sâu vào phương diện chức năng, thì tổ chức để

chỉ việc nghiên cứu xem làm thế nào để tiến hành phân công, sắp xếp trình tự hợp lý đểđạt được mục tiêu và mục đích đã được đề ra trong quá trình thực hiện một công việcnhất định Cùng nghĩa này trong trích dẫn của viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý

có đưa ra một số khái niệm về “tổ chức”: “tổ chức là một kết cấu được xây dựng theo

mục tiêu chung và tiến hành phân công nhiệm vụ, xác định chức trách, trao đổi thôngtin, kết hợp hỗ trợ làm việc đối với toàn bộ nhân viên trong tổ chức một cách hợp lýsao cho có thể thu được hiệu quả cao nhất khi thực hiện mục tiêu…tổ chức là cả một

Trang 19

quá trình hay hoạt động hình thành kết cấu tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu chung mộtcách hiệu quả”[41, tr 43] Theo những quan điểm này thì vấn đề quá trình sắp xếp vàviệc thực hiện những nội dung đã được đưa ra theo một trình tự nhằm đạt hiệu quả tối

ưu trong công việc chính là những yếu tố quan trọng nhất của khái niệm “tổ chức”.

Trong hoạt động dịch vụ, du lịch, khái niệm “tổ chức” được sử dụng phổ biến,

song để khái quát vấn đề này thành những khái niệm tổng quát thì có rất ít tài liệu nhắc

tới Tác giả Lưu Văn Nghiêm trong cuốn “tổ chức sự kiện” đã đưa ra khái niệm tổng

quát: “Tổ chức sự kiện là một quá trình bao gồm sự kết hợp các hoạt động lao động với

tư liệu lao động cùng với việc sử dụng máy móc thiết bị, công cụ lao động thực hiệncác dịch vụ đảm bảo toàn bộ các công việc chuẩn bị và các hoạt động sự kiện cụ thểnào đó trong thời gian và không gian cụ thể nhằm chuyển tới đối tượng tham dự sựkiện những thông điệp truyền thông theo yêu cầu của khách hàng mục tiêu” [25, tr 9].Qua khái niệm này, tổ chức sự kiện được coi là một quá trình hoạt động Quá trình này

có sự xác định về các yếu tố: thời gian, tư liệu lao động, các công việc chuẩn bị tới cáchoạt động sự kiện, không gian cụ thể diễn ra các hoạt động Trong quá trình đó, cáchoạt động được thực hiện theo một kịch bản, kế hoạch đã được chuẩn bị trước Tất cảcác yếu tố nêu trên đều nhằm vào việc truyền tải thông điệp đến đối tượng tham dự

Trong khoa học du lịch khái niệm “tổ chức” cũng được sử dụng với cả hai nghĩa

đã đưa ra trên đây “Tổ chức” chỉ những đơn vị thực hiện các hoạt động có liên quan tới ngành dịch vụ du lịch “Tổ chức” với nghĩa thứ hai được sử dụng như là một quá

trình sắp xếp và thực hiện các hoạt động như: ăn, lưu trú, tham quan, hướng dẫn… mànhững vấn đề này là những hợp phần tạo nên hoạt động du lịch nói chung

Với đề tài luận văn “Tổ chức hoạt động tham quan – hướng dẫn khách du lịchtại các chùa thờ Tứ Pháp Nghiên cứu trường hợp bốn chùa: Dâu, Đậu, Tướng, Dàn”

thì khái niệm về “tổ chức” theo nghĩa thứ hai phản ánh đúng hướng và sát với nội hàm

của đề tài

Trang 20

1.1.2 Nguyên tắc của vấn đề tổ chức

- Nguyên tắc mục tiêu nhất quán

Trong quá trình tổ chức thực hiện một công việc mà mục tiêu đã được đưa ra thì

sự phân định và liệt kê toàn bộ công việc cần thiết phải tuân thủ theo nguyên tắc nhấtquán giữa công việc và mục tiêu Những công việc được đưa ra phải hỗ trợ và nhằmkết quả là việc hoàn thành mục tiêu mà thực hiện Đối với những phần việc không hoặc

ít liên quan tới mục tiêu cần loại bỏ hoặc giảm thiểu tới mức tối đa

Trong hoạt động du lịch nói chung và hoạt động tham quan, hướng dẫn khách

du lịch nói riêng các tổ chức du lịch, công ty du lịch, khách du lịch và những người cóliên quan cần phải thực hiện đến mức cao nhất nguyên tắc nhất quán trong mục tiêu đạttới, từ đó mới tạo được sự chuyên nghiệp trong toàn bộ chương trình du lịch

- Nguyên tắc hiệu quả

Trong quá trình thực hiện bất kì một công việc, nhiệm vụ nào thì vấn đề hiệuquả sau quá trình làm việc được đặt lên hàng đầu Để có thể đạt được mục tiêu đượcđưa ra có nhiều cách thực hiện khác nhau, song quá trình thực hiện công việc để đạtđến mục tiêu đó một cách tối ưu nhất mới được coi là hiệu quả Nguyên tắc hiệu quảchính là cơ sở cho sự sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

1.1.3 Những yếu tố tác động đến vấn đề tổ chức

- Tính phức tạp của công việc

Đối với những công việc mà để đạt đến mục tiêu cần phải trải qua nhiều côngđoạn, cần nhiều sự phối hợp giữa các bộ phận, nguồn lực Vấn đề tổ chức, sắp xếp,phân định các phần việc, các nguồn lực cho từng khâu được thực hiện cũng phức tạphơn rất nhiều Mỗi một công đoạn, phần việc được thực hiện theo một trình tự, có thể

là diễn ra độc lập, đồng thời hoặc đan xen với nhau

- Công việc đòi hỏi phải có kĩ năng cao

Quá trình hoạt động, làm việc có những phần, công việc đòi hỏi người thực

hiện, gọi chung là nhân lực phải đạt được một trình độ nhất định mới có thể hoàn thành

Trang 21

tốt, đạt hiệu quả cao khi làm việc Điều này có thể lấy công việc của một HDV du lịchlàm ví dụ Để có thể đáp ứng được nhu cầu vô cùng đa dạng, làm cho khách du lịchthuộc mọi đối tượng khác nhau có thể thỏa mãn được những nhu cầu chính đáng trongquá trình thực hiện chuyến du lịch, chuyến tham quan đòi hỏi người HDV phải lànhững người có kinh nghiệm trong hoạt động hướng dẫn, có kĩ năng trong hoạt độnggiao tiếp, ứng xử… Như vậy yếu tố đòi hỏi kĩ năng trong công việc khiến công tác tổchức cũng phải có sự chuẩn bị, sắp xếp một cách chính xác nguồn lực để thực hiện tốtphần việc, công việc được định ra.

- Phương pháp thực hiện công việc

Trong quá trình tổ chức, cách thức và phương pháp thực hiện công việc cũng là

yếu tố quan trọng để đạt đến mục tiêu Đề ra các nội dung phần việc, thứ tự tiến hànhchỉ là bước đầu của công tác tổ chức Phần việc tiếp theo mang tính định hướng, cótính xuyên suốt quá trình thực hiện, đến khi kết thúc công việc chính là phương phápthực hiện công việc Đây chính là kim chỉ nam để đạt được tính hiệu quả trong côngviệc

1.1.4 Nội dung của công tác tổ chức

- Xây dựng và đưa ra một lịch trình thực hiện cụ thể

Tính hiệu quả, sự hoàn thành nhiệm vụ là mục tiêu của một hoạt động, côngviệc Để đạt được mục tiêu chủ thể thực hiện cần lập nên một lịch trình thực hiện cáchoạt động, nhằm xử lý từng bước những vấn đề gặp phải trên lộ trình tới mục tiêu

Một lịch trình làm việc phải được liệt kê cụ thể các vấn đề về: thời gian, địađiểm, nhân lực thực hiện, cơ sở cho việc thực hiện Dựa vào những thông tin đã đượcđịnh hình rõ như vậy, việc thực hiện các hoạt động sẽ tạo nên tính logic, khoa học

- Xác định các lưu ý trong quá trình thực hiện

Trong quá trình thực hiện các hoạt động, công việc, vấn đề tổ chức cũng đãlường trước những yếu tố cần tránh, yếu tố phải thực hiện đúng hướng và đầy đủ, hoặcnhững yếu tố có thể là tác động ngoại cảnh đến quá trình thực hiện Xác định, nắm bắt

Trang 22

được đầy đủ và chi tiết những yếu tố này sẽ tạo cho việc thực hiện đúng hướng, không

có nhiều trở ngại

- Công tác chuẩn bị

Trong công tác tổ chức, sự chuẩn bị về toàn bộ các mặt tác động đến quá trìnhdiễn ra các hoạt động hướng tới mục tiêu được hoạch định Thông thường là sự xácđịnh các yếu tố: về nguồn nhân lực - là các chủ thể thực hiện, yếu tố hỗ trợ trong quátrình thực hiện, thời gian và không gian, đối tượng tác động chính trong toàn bộ quátrình diễn ra nhiệm vụ

- Xác định nội dung trong quá trình thực hiện

Các yếu tố trên đây chỉ là những phần khung cho quá trình thực hiện một hoạtđộng, công việc nhất định Xác định và đưa ra được các nội dung, gọi tên được cáccông việc, phần việc cần phải thực hiện là vấn đề chính của công tác tổ chức Trongquá trình thực hiện nhiệm vụ, dựa vào các nội dung đã được xác định theo một trình tựsắp xếp giúp cho chủ thể thực hiện đầy đủ và đúng định hướng đạt tới hiệu quả khi kếtthúc công việc

1.2 Quan niệm về khách du lịch

Tại các điểm tham quan du lịch, đặc biệt là điểm du lịch tâm linh đối tượngkhách rất đa dạng Với những hình thức khác nhau, khách tham quan có thể là đi theotour trọn gói, đi theo dạng Open tour, hoặc tự tổ chức đi tham quan, đi thăm thân và kếthợp tham quan… Đối với đối tượng là khách tự do, vãng lai đi tham quan các khu dulịch tâm linh mục đích chính của họ chủ yếu là để thỏa mãn sự tò mò, khám phá, thỏamãn nguyện tâm linh của họ Vì vậy hoạt động tham quan của đối tượng khách này hầuhết chỉ mang yếu tố ngẫu hứng không theo một lịch trình cụ thể nào khi đến điểm thamquan Trong luận văn này nội dung tổ chức hoạt động tham quan – hướng dẫn được đềcập hướng tới đối tượng là khách du lịch thực sự Do đó để có những nội dung phù hợpvới đối tượng nghiên cứu, luận văn cũng cần phải định hướng rõ về đối tượng đến vớiđiểm du lịch Để từ đó thống nhất được các phần nội dung của đề tài

Trang 23

Nhà xã hội học Cohen lại quan niệm: “Khách du lịch là một người đi tự nguyện,mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và thay đổi thunhận từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên” [49, tr 164-183]

Một khái niệm khác về du khách được đưa ra bởi National Tourism ResourcesReview Commission: “Du khách là người đi xa ít nhất 50 dặm để kinh doanh, giải trí,

lo công việc riêng tư hay bất kỳ lí do gì ngoại trừ việc đi lại hàng ngày cho dù có ở lạiđêm hay không” [32, tr 20]

“Du khách là người từ nơi khác đến với /kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗnhững giá trị vật chất, tinh thần hữu hình và /vô hình của thiên nhiên và / của cộngđồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các doanhnghiệp du lịch…”.[32, tr 20]

Mục 2 điều 4 Luật du lịch 2005: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp

đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơiđến” Cũng theo Luật du lịch điều 34 có đưa ra khái niệm về khách du lịch quốc tế vàkhách du lịch nội địa: “1 Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịchquốc tế 2 Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trútại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam 3 Khách du lịch quốc tế làngười nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; côngdân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.” [24,

tr 2, 15]

Như vậy đối với khách du lịch thì tiêu chí thẩm nhận những giá trị vô hình, hữuhình tại điểm tham quan cùng với việc sử dụng dịch vụ tại nơi đó, là những yếu tố quantrọng nhất Song cũng cần có những nhận định về đối tượng khách du lịch được đề cậptrong luận văn chính là những người đến thẩm nhận những giá trị vô hình, hữu hình, sửdụng dịch vụ tại điểm tham quan, đồng thời trong quá trình tham quan có sự hỗ trợ củaHDV tuyến, HDV tại điểm… những người có liên quan trong hoạt động hướng dẫntham quan tại điểm di tích, mà cụ thể trong nghiên cứu này là tại các chùa thờ Tứ Pháp

Trang 24

1.3 Tổ chức hoạt động tham quan du lịch

1.3.1 Khái niệm

Để có thể đưa ra khái niệm này trước hết phải làm rõ về hoạt động tham quan dulịch Hoạt động tham quan là một trong nhiều hợp phần của hoạt động du lịch Tùythuộc vào mục đích của chuyến đi, cơ cấu đoàn khách, sở thích của du khách…mà cónhững đối tượng tham quan khác nhau Trong hầu hết các tour du lịch, tham quan dulịch là nội dung chính của chuyến đi Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệmtham quan du lịch Dưới đây là một vài quan điểm

“Tham quan du lịch là hoạt động của khách du lịch đến những điểm tham quanđược xác định dưới sự hướng dẫn của người có nghiệp vụ và trình độ chuyên mônnhằm tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu nhất định trong chương trình du lịch của mình khitrực tiếp quan sát đối tượng tham quan và nghe thuyết minh” [21, tr 122]

Theo mục 5 trong điều 4 về giải thích từ ngữ dùng trong Luật du lịch của nướcCộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 44/2005/QH 11 ngày 14 tháng 6 năm 2005

có quy định: “Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có tàinguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên dulịch” [24, tr 2]

Những quan niệm trên đây có thể thấy rằng một chương trình tham quan,chuyến tham quan du lịch cũng có những căn cứ về mặt thời gian, đó là hoạt động diễn

ra trong một khoảng thời gian nhất định thông thường là trong ngày Điều này có thểphân biệt với một tour, hay một chương trình du lịch Nếu một tour du lịch có thể đượcchia thành: tour du lịch ngắn ngày, tour du lịch dài ngày thì một chuyến tham quan dulịch là nội hàm, là một phần của tour du lịch Trong các giai đoạn thực hiện mộtchương trình du lịch (giai đoạn 1: thỏa thuận với khách; giai đoạn 2: chuẩn bị thựchiện; giai đoạn 3: thực hiện chương trình du lịch; giai đoạn 4: những công việc sau kếtthúc chương trình) [46, tr 28, 29], hoạt động tham quan thuộc giai đoạn 3 Có thể cónhiều quan điểm khác nhau về vấn đề phân định giữa một tour du lịch và một chuyến

Trang 25

tham quan du lịch Trong luận văn này tác giả sử dụng hoạt động tham quan du lịch làmột hình thức hoạt động của du khách được diễn ra trong thời gian ngắn thông thường

là trong ngày, dưới sự hỗ trợ của HDV và những người có liên quan tại điểm thamquan, giúp du khách thẩm nhận những giá trị, thỏa mãn nhu cầu tại điểm tham quan,đối tượng tham quan

Hoạt động tham quan du lịch đem lại những giá trị làm thỏa mãn nhu cầu thẩmnhận, khám phá…điểm tham quan của du khách trong hành trình tham gia tour du lịch

Dựa vào nội hàm của khái niệm hoạt động tham quan du lịch và khái niệm “tổ chức”

có thể đưa ra khái niệm: tổ chức hoạt động tham quan du lịch là quá trình sắp xếp và thực hiện hoạt động tham quan của du khách dưới sự hỗ trợ của HDV tới (tại) điểm du lịch theo một trình tự đã được xác định, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu khám phá, trải nghiệm, thẩm nhận…đối tượng tham quan của khách du lịch

1.3.2 Những yếu tố tác động đến tổ chức hoạt động tham quan du lịch

- Tài nguyên du lịch

Đây được coi là yếu tố quan trọng tạo nên sức hút đối với du khách của mộtđiểm tham quan du lịch Tài nguyên du lịch cũng là đối tượng mang tính tất yếu trongbất kì một chuyến tham quan nào

Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn (văn hóa).Đặc điểm các nguồn tài nguyên du lịch là không đồng nhất, thậm trí là khác nhau hoàntoàn Vì vậy để có thể phục vụ hoạt động tham quan, giúp du khách thẩm nhận nhữnggiá trị của tài nguyên, thỏa mãn với sự trải nghiệm tài nguyên điều quan trọng nhấtchính là lượng thông tin, sự tiếp cận mà du khách nhận được từ các nhà tổ chức du lịch,

tổ chức điểm di tích Việc xác định điểm tham quan trong chuyến hành trình thuộc loạitài nguyên nào sẽ tạo thế chủ động cho quá trình chuẩn bị, sắp xếp lộ trình, nội dung,đối tượng và các vấn đề có liên quan tới hoạt động tham quan của du khách

- Mục đích của chuyến tham quan du lịch

Trang 26

Đối với mỗi một đoàn khách, khách du lịch nói chung khi tham gia một tour dulịch và xác định điểm tham quan, họ đều có những định hướng, xác định tính mục đíchcủa chuyến tham quan Mỗi một du khách lại có những mục đích riêng Song nếu xéttrên bình diện cùng lựa chọn một tour du lịch, những điểm tham quan như nhau…thìmục đích của các thành viên trong đoàn cũng có những điểm chung nhất định

Trong thực tế một chuyến tham quan du lịch có những đối tượng tham quankhác nhau, nội dung hoạt động đa dạng, khách có nhiều mục đích trong quá trình thamgia chuyến tham quan, rất phổ biến trong sự lựa chọn tour của khách du lịch Trongquá trình thực hiện chuyến tham quan thì việc xác định đối tượng tham quan chính rấtquan trọng, khách sẽ dành nhiều thời gian hơn với đối tượng này Cùng với mục đíchtổng hợp của du khách, thì một chuyến tham quan với chủ đề, đối tượng riêng lẻ cũngđược nhiều du khách lựa chọn Khách du lịch là các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân,chuyên gia…thì việc lựa chọn chuyến tham quan theo một chuyên đề nhất định lại phổbiến hơn Thông qua chuyến tham quan du khách có thể chiêm nghiệm, thẩm nhậnđược những điều mà họ quan tâm Căn cứ vào mục đích của khách trong chuyến thamquan du lịch, công tác tổ chức tham quan dựa vào đó mà có thể đưa ra những khungchương trình tham quan cho phù hợp với từng đối tượng khách Cùng một đối tượngtham quan, điểm tham quan việc tổ chức một chương trình tham quan với du khách cómục đích là học tập nghiên cứu, sẽ khác rất nhiều so với khách có mục đích tham quanthông thường

- Cơ cấu và thành phần của khách du lịch

Mỗi một vị khách du lịch khi tham gia một chuyến tham quan đều có nhữngmục đích chung hoặc riêng Nhưng dựa vào giới tính, độ tuổi, công việc của khách dulịch mà các nhà tổ chức du lịch có thể nhận biết được những đặc điểm khá đồng nhất,nổi trội của từng đối tượng khách này thông qua những nghiên cứu xã hội học và khoahọc du lịch Từ những căn cứ đó mà loại hình tham quan du lịch với từng du kháchcũng có những sự khác nhau nhất định Yếu tố cơ cấu và thành phần của khách du lịch

Trang 27

đã chi phối đến công tác tổ chức hoạt động tham quan Không thể thiết kế, tổ chức mộtcách thông thường cho một chuyến tham quan leo núi cho đối tượng khách là các dukhách lớn tuổi, hay thiết kế một chuyến tham quan lặn biển cho các em học sinh.

- Loại hình tham quan du lịch

Trong quá trình thiết kế tour, chương trình tham quan du lịch các nhà tổ chứcphải dựa vào nhu cầu của khách để thiết kế những tour theo yêu cầu Với những tour

du lịch được thiết kế theo dạng định sẵn, hoặc có thể thay đổi lịch trình, điểm thamquan, dịch vụ…thì cần căn cứ vào nhiều yếu tố như: đối tượng khách, mục đích củakhách khi mua tour du lịch Đối với những tour du lịch này sắp xếp lịch trình sao chophù hợp trong quá trình khách tham gia tour du lịch, đi tham quan, sử dụng dịch vụ làmột điều vô cùng quan trọng Bởi một chương trình du lịch, chương trình tham quanđược tổ chức sát với đối tượng khách, thực tế khách mong muốn thì mới tạo nên những

ấn tượng tốt cho khách Về phương diện những người phục vụ, tham gia hỗ trợ kháchnhư HDV thì vấn đề xác định loại hình tham quan ảnh hưởng lớn tới chất lượng phục

vụ Xác định rõ loại hình tham quan trong tour du lịch tạo thế chủ động cho HDV –người trực tiếp hỗ trợ đoàn khách, trong quá trình chuẩn bị về kiến thức, tài liệu, xử líthông tin trong quá trình bổ sung điểm tham quan nếu có nhu cầu của khách một cáchnhanh chóng, chuyên nghiệp

Tổ chức các chuyến tham quan với kết cấu chung nhất đó là từ lúc khởi đầu đếnkhi kết thúc chương trình phải đảm bảo được tính đầy đủ trong toàn bộ các hoạt độngnhư: đối tượng tham quan, thông tin về đối tượng…Nhưng cũng như đặc điểm về đốitượng tham quan, loại hình tham quan khác nhau thì trong công tác tổ chức cũng cónhững tính đặc thù Về vấn đề này có thể lấy ví dụ khi tham quan một điểm du lịchtrong khu vui chơi giải trí cần xác định, sắp xếp các hoạt động tham quan, vui chơi saocho phù hợp nhất về lượng thời gian, sức khỏe…của du khách Cũng với các tiêu chí

Trang 28

về lượng thời gian, hành trình, các hoạt động trong quá trình tham quan… lại được bốtrí hoàn toàn khác với một chuyến tham quan du lịch tâm linh

- Cơ sở vật chất kĩ thuật

Trên phương diện tổng thể, một điểm tham quan du lịch tạo được sức hút đốivới du khách trước hết phải dựa trên những giá trị tự thân của nó, tiếp sau đó là khảnăng đáp ứng được các nhu cầu của du khách khi họ tới tham quan, nghỉ dưỡng… Nhưvậy cơ sở vật chất, kĩ thuật của điểm tham quan có vai trò trong việc “giữ chân” khách

và tạo ấn tượng để có thể đón du khách lần thứ hai Trong phạm vi nhỏ hơn đó là việc

tổ chức hoạt động tham quan cho khách du lịch, thì nhà tổ chức, công ty lữ hành căn cứvào điều kiện cơ sở vật chất, khả năng tiếp cận mà đưa ra những đề xuất lịch trìnhtrong các hoạt động nghỉ ngơi, tham quan, giải trí…trong suốt hành trình của du khách

1.4 Tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch

1.4.1 Khái niệm

Cũng như khái niệm “tổ chức hoạt động tham quan du lịch”, để có thể hiểu được khái niệm “tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch” cần đặt nó trong tổng thể các nội hàm của du lịch và đi từ khái niệm căn bản đó là “hoạt động hướng dẫn du lịch”.

Xét trên góc độ của các hoạt động trong du lịch bao gồm: hoạt động truyền thôngquảng cáo; lập tour, tuyến du lịch; khảo sát, thẩm định dịch vụ; hoạt động bán chươngtrình, tour du lịch; hoạt động điều hành, hướng dẫn…thì hoạt động hướng dẫn du lịchđược coi là một dịch vụ đặc trưng của hoạt động du lịch Hoạt động này nhằm thỏamãn những nhu cầu nhất định của khách du lịch trong quá trình thực hiện chuyến dulịch Khách du lịch khi đã mua một chương trình du lịch, thì nhà tổ chức du lịch là cáccông ty lữ hành, hãng du lịch, trung tâm lữ hành…cần cung cấp thông tin và thực hiệnviệc phục vụ đầy đủ các dịch vụ như: quá trình đón tiếp, thông tin tại điểm tham quan,theo dõi kiểm tra dịch vụ, dịch vụ ăn, nghỉ, vui chơi giải trí, tham quan, y tế …theođúng như hợp đồng đã được kí kết, nhằm thỏa mãn ở mức có thể như nhu cầu của dukhách Xung quanh vấn đề này cũng có nhiều quan niệm khác nhau Nhưng các quan

Trang 29

niệm cũng chỉ xoay quanh vai trò, nhiệm vụ của đơn vị trên phương diện là phía cung

du lịch

“ Hướng dẫn du lịch là hoạt động của các tổ chức kinh doanh du lịch, thông quahướng dẫn viên và những người có liên quan để đón tiếp, phục vụ, hướng dẫn khách dulịch thực hiện các dịch vụ theo các chương trình được thỏa thuận và giúp đỡ khách giảiquyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chuyến du lịch”.[21, tr 22]

“Hướng dẫn du lịch là hoạt động hướng dẫn cho khách du lịch theo chươngtrình du lịch” [24, tr 3]

Có thể hiểu hoạt động hướng dẫn là hoạt động của các tổ chức kinh doanh dulịch mà HDV là người thay mặt tổ chức du lịch thực hiện gần như toàn bộ những côngviệc được bao hàm trong hoạt động hướng dẫn du lịch

Từ những nhận định về nội hàm của khái niệm “hoạt động hướng dẫn du lịch”

và khái niệm “tổ chức” có thể đưa ra khái niệm: tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch

là một khái niệm dùng để chỉ quá trình sắp xếp và thực hiện việc cung cấp những thông tin về điểm du lịch, dịch vụ du lịch…đối với khách du lịch thông qua HDV hoặc những người có liên quan, theo đúng cam kết của nhà tổ chức

Như vậy từ hai khái niệm: tổ chức hoạt động tham quan du lịch và tổ chức hoạtđộng hướng dẫn du lịch có thể thấy rằng hai vấn đề này cũng chính là những công tác,

là những hợp phần trong hoạt động du lịch

1.4.2 Hướng dẫn viên du lịch

Về khái niệm HDV du lịch và một số khái niệm khác trong du lịch, có nhiềuquan điểm, cách định nghĩa khác nhau Nhưng khi nhắc đến HDV là có sự liên tưởngđến một cá nhân thực hiện dẫn đoàn khách du lịch theo lịch trình đã được đưa ra từtrước hoặc theo lộ trình mà đoàn khách sẽ tham gia trong tour du lịch Là một ngườidẫn đoàn, hướng khách du lịch thực hiện theo đúng lịch trình Đó là một khía cạnhthuần túy Nếu nhìn trên phương diện nghề, thì HDV là một nghề cần phải di chuyển,thuyết minh nhiều, cần có sự năng động và nhạy bén trong mọi vấn đề có liên quan đến

Trang 30

hoạt động của đoàn khách Nhìn nhận theo phương diện này các nhà nghiên cứu, các tổchức đã đưa ra các khái niệm

Một định nghĩa được nhiều người đồng thuận của trường Đại học BritishColumbia, một trường Đại học lớn của Canada chuyên đào tạo về quản trị kinh doanh

du lịch khách sạn và HDV du lịch có đưa ra như sau: “HDV du lịch là các cá nhân làmviệc trên các tuyến du lịch, trực tiếp đi kèm hoặc di chuyển cùng với các cá nhân hoặccác đoàn khách theo một chương trình du lịch, nhằm đảm bảo việc thực hiện chươngtrình theo đúng kế hoạch, cung cấp các lời thuyết minh về các điểm du lịch và tạo ranhững ấn tượng tích cực cho khách du lịch ”.[21, tr 27]

“HDV du lịch (thuật ngữ nước ngoài quen dùng là Tour Guide, Tour Manager(Tiếng Anh), Guideur Tourstique (Tiếng Pháp) là người thực hiện hướng dẫn khách dulịch trong chuyến tham quan du lịch hay tại các điểm du lịch nhằm đáp ứng những nhucầu được thỏa mãn của khách trong thời gian nhất định và thay mặt tổ chức kinh doanh

du lịch giải quyết những phát sinh trong chuyến du lịch với phạm vi và khả năng củamình” [21, tr 28]

Trong tài liệu Luật du lịch: “Người thực hiện hoạt động hướng dẫn được gọi làHDV và được thanh toán cho dịch vụ hướng dẫn du lịch” [24, tr 3], và theo mục 1,Điều 72: “HDV du lịch bao gồm HDV quốc tế, HDV nội địa HDV quốc tế đượchướng dẫn cho khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa; HDV nội địa đượchướng dẫn cho khách du lịch nội địa là người Việt Nam và không được hướng dẫn chokhách du lịch là người nước ngoài” [24, tr 30]

Đối tượng chính của đề tài chính là tổ chức các hoạt động hướng dẫn – thamquan, trong đó chủ thể thực hiện việc tham quan và hướng dẫn chính là những HDVtheo tour và HDV tại điểm Vì vậy cần phải có sự phân biệt rõ giữa hai khái niệm HDVsuốt tuyến và HDV tại điểm Để từ đó mới có thể đưa ra được những quy trình trongvấn đề tổ chức tham quan – hướng dẫn khách du lịch tại điểm tham quan “HDV tạiđiểm (On – site Guide là người hướng dẫn khách du lịch thực hiện chuyến tham quan

Trang 31

trong một vài giờ nhất định tại những điểm du lịch cụ thể ”[21, tr.30] “HDV suốttuyến là những HDV chuyên nghiệp có nhiệm vụ hướng dẫn khách du lịch từ khi đónkhách, trong thời gian chuyến du lịch cho đến khi tiễn khách” [21, tr 31].

1.4.3 Những hoạt động trong công tác tổ chức hướng dẫn du lịch

- Hoạt động tổ chức, sắp xếp dịch vụ

Đây là hoạt động có tính chất cơ bản được thực hiện sau khi khách hàng đã kíkết hợp đồng du lịch với công ty, tổ chức kinh doanh du lịch Công tác tổ chức này baogồm các hoạt động tổ chức: tổ chức đón khách, tổ chức vận chuyển, tổ chức lưu trú, tổchức ăn uống, tổ chức tham quan, tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, và cuối cùng

là tổ chức tiễn khách Dựa vào những điều khoản, mục đã được thống nhất giữa hai bên

mà phía cung du lịch thực hiện hoạt động này Đối với hoạt động hướng dẫn du lịch tạiđiểm tham quan du lịch thì hoạt động tổ chức tham quan, lưu trú, ăn uống đóng vai tròquan trọng trong việc cung cấp những dịch vụ tại nơi khách sẽ dừng chân Các dịch vụtrong hành trình tour, chuyến tham quan của du khách đã được lập thành những bảnthông tin là: chương trình, lịch trình, bản hợp đồng…là những khung căn cứ cho vấn đềthực hiện cam kết của nhà tổ chức đối với khách du lịch Đồng thời đó cũng là nhữngnội dung trong hoạt động tổ chức các dịch vụ du lịch trong suốt quá trình hướng dẫn dulịch của HDV, tổ chức kinh doanh du lịch

- Hoạt động thông tin

Dựa vào đặc điểm đoàn khách và những yêu cầu của khách trong quá trình làmviệc với công ty lữ hành Những bộ phận có liên quan của công ty, tổ chức du lịch sẽ

có nhiệm vụ cung cấp toàn bộ thông tin về chương trình, dịch vụ, nhà cung ứng dịch vụcho khách một cách đầy đủ nhất Để từ những thông tin này khách hàng có sự cân nhắcnếu đang trong quá trình xem xét mua tour du lịch, hoặc là sự khẳng định về chất lượngtour du lịch với khách hàng theo đúng những gì đã cam kết từ nhà cung ứng Trong quátrình thực hiện chương trình phía công ty tổ chức tour du lịch cho khách cũng phải cócung cấp đầy đủ toàn bộ những thông tin về đoàn khách: số lượng, cơ cấu, nhu cầu

Trang 32

thậm chí là sở thích để từ đó các đối tác cung ứng sẽ có sự chuẩn bị chu đáo để đưa đếnnhững dịch vụ tốt nhất Hoạt động thông tin cũng được thể hiện rõ trong công việc củaHDV Trong quá trình phục vụ khách, HDV thực hiện công việc truyền tải nhữngthông tin về điểm đến, điểm tham quan, lịch trình, dịch vụ đối với các thành viêntrong đoàn khách du lịch Tại điểm tham quan thì đó là những thông tin cơ bản, chi tiết,sâu sắc về đối tượng mà du khách sẽ hoặc đang thưởng lãm.

- Hoạt động kiểm tra và giám sát

Một chương trình du lịch, tham quan sẽ không thể có sự hoàn hảo nếu như trongsuốt lịch trình không có sự kiểm tra và giám sát từ phía công ty cung ứng tour du lịchcho khách Thực hiện hoạt động này trên thực tế thường là của bộ phận điều hành tour,

và người trực tiếp là HDV Việc cung ứng dịch vụ của các nhà cung cấp theo yêu cầucủa chương trình sẽ có một quá trình kiểm tra trước khi đoàn khách tới Hoạt động nàyvẫn tiếp tục được thực hiện cả trong khi đoàn khách đang sử dụng các dịch vụ

- Hoạt động chăm sóc khách hàng

Những nhu cầu mới ngoài chương trình của du khách thường xuyên phát sinhtrong quá trình tham gia tour du lịch Một nhà cung ứng tốt, một HDV chuyên nghiệptrước vấn đề này không chỉ thực hiện đúng chương trình mà còn phải giúp khách thỏamãn những nhu cầu phát sinh chính đáng đó

- Hoạt động quảng bá và quảng cáo

Với bất kì một công ty, tổ chức du lịch nào hoạt động quảng bá và quảng cáocũng đóng vai trò như là một tất yếu Trong một công ty thì đảm nhận vai trò nàythường có một bộ phận riêng đó là bộ phận Marketing Nếu xét về mục đích thì bộphận này cũng thực hiện hoạt động hướng dẫn du lịch đối với du khách, du khách tiềmnăng, người có mong muốn, có nhu cầu Trong quá trình thực hiện tour vai trò quảng

bá và quảng cáo về nhà cung ứng, điểm tham quan, dịch vụ lại được thể hiện rõ bởiHDV, chất lượng dịch vụ của các đối tác cung ứng Như vậy để có thể làm tốt hoạtđộng này trong quá trình hướng dẫn du lịch thì vấn đề đảm bảo đến mức tốt nhất tất cả

Trang 33

các dịch vụ, sự chuyên nghiệp trong từng phần công việc tạo nên sự hài lòng của kháchhàng chính là một hình thức quảng bá và quảng cáo tốt nhất.

1.4.4 Vị trí và ý nghĩa của vấn đề tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch

- Sản phẩm của ngành du lịch với đặc điểm mang tính vô hình Du khách chỉ cảm nhận,

và biết được sản phẩm đó khi họ tham gia và trực tiếp sử dụng Có thể thấy rằng khôngmột ngành kinh tế, không một lĩnh vực nào mà mức độ của hoạt động hướng dẫn kháchhàng lại được thể hiện cơ bản và đặc trưng như ngành du lịch Tất cả các khâu: từ việcbán sản phẩm, tư vấn khách hàng, thực hiện cam kết cung ứng sản phẩm, chăm sóckhách hàng trong quá trình cung ứng sản phẩm đều có hoạt động hướng dẫn kháchhàng, mà ở đây chính là du khách Những hoạt động này để có được những hiệu quả,thành công trong toàn bộ quá trình thực hiện phải cần có một công tác tổ chức, hoạchđịnh, phân định rất rõ ràng Từ cách tổ chức đó mà vô hình đã tạo nên được phongcách, thương hiệu cho nhà cung ứng

- Du khách mua một chương trình du lịch với những mong muốn để hưởng thụ, thẩmnhận những giá trị đem lại từ những dịch vụ, đối tượng tham quan được cam kết tronglịch trình tour Sự hoàn thiện trong tổ chức hoạt động hướng dẫn đã có vai trò đáp ứngđầy đủ những mong muốn này của du khách một cách trực tiếp, đa dạng và sinh động

Từ việc cung cấp dịch vụ ăn uống tới hoạt động tham quan tại điểm du lịch cũng mangđến cho du khách những cảm nhận mới, khác biệt hoàn toàn với nhịp độ trong cuộcsống thường nhật

- Nhu cầu và mong muốn của khách du lịch luôn không cố định Vì vậy những mongmuốn phát sinh trong quá trình đi du lịch của du khách là điều tất yếu Nhà cung ứngkhông chỉ cung cấp toàn bộ những dịch vụ với mong muốn đáp ứng đầy đủ những gìmình đã cam kết với khách hàng, và hơn thế là đáp ứng toàn bộ những mong muốnchính đáng của du khách Hoạt động hướng dẫn đóng một vị trí như là một công cụ vàphương tiện định hướng, tác động đến du khách nhằm làm thỏa mãn những nhu cầuphát sinh đó

Trang 34

- Tổ chức hoạt động hướng dẫn tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng của hoạt độngkinh doanh Trong toàn bộ những công việc, các bộ phận tham gia vào quá trình đưasản phẩm bán cho khách hàng, thực hiện cung ứng sản phẩm cho khách hàng sử dụng,hoạt động hướng dẫn du lịch đã tạo nên những giá trị cộng dồn Chất lượng, độ chuyênnghiệp có thể được thể hiện một phần trong sản phẩm du lịch là những cam kết về toàn

bộ dịch vụ được cung ứng, là một lịch trình hợp lí mang tính khoa học nhưng để thểhiện đầy đủ nhất về chất lượng sản phẩm thì hoạt động hướng dẫn đã làm được điềunày

- Hầu hết các tổ chức, công ty du lịch hiện nay đều có sự đa dạng trong sản phẩm màmình cung cấp cho khách du lịch Với những yếu tố được đề cập tại mục 1.3.2 tronghoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch đã giúp khách hàng biết được nhiều hơn về tổchức và công ty du lịch Trong khả năng đáp ứng của mình tổ chức công ty du lịch cóthể là người trực tiếp tổ chức tour du lịch, có thể là nhà trung gian các dịch vụ liênquan đến du lịch Vì vậy nếu khách hàng không có được những thông tin này thì việcmất đi những khách hàng tiềm năng là điều có thể thấy rõ Tổ chức hoạt động hướngdẫn du lịch đã góp phần đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh của tổ chức, công ty dulịch

1.4.5 Một số yếu tố khách quan tác động đến vấn đề tổ chức hoạt động hướng dẫn

du lịch

- Hình thức của chuyến đi

Hoạt động hướng dẫn du lịch được đề cập trong mục 1.4.1, HDV là người đạidiện, và thực hiện vai trò hướng dẫn du lịch chủ yếu đối với du khách Hoạt độnghướng dẫn du lịch của HDV được thực hiện từ khi đón đoàn đến khi tiễn đoàn Hiệnnay hoạt động bán tour du lịch có hai đối tượng khách chủ yếu: khách đoàn và kháchghép lẻ, hoặc khách lẻ nhưng mua trọn một tour du lịch

Với đối tượng khách đoàn: toàn bộ du khách đã được những cá nhân, bộ phậncủa tổ chức, công ty lữ hành hướng dẫn, cung cấp các thông tin về lịch trình, thời gian,

Trang 35

dịch vụ, địa điểm tham quan khi đã kí kết hợp đồng du lịch Vì vậy HDV chỉ cần thựchiện đúng theo chương trình Việc quản lí đoàn cũng dễ dàng hơn trong quá trình thựchiện tour du lịch Bên cạnh những thuận lợi cũng có những khó khăn nhất định, như để

có thể thực hiện toàn bộ các hoạt động diễn ra trong tour du lịch thì sự kết nối, phốihợp giữa khách và HDV, giữa khách với tổ chức du lịch, giữa HDV với công ty lữhành cần thực hiện liên tục Đặc biệt là trong trường hợp có những sự cố, phát sinhtrong quá trình thực hiện tour du lịch

Đối với đối tượng khách lẻ thì công tác tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịchcũng theo chương trình được định sẵn, song với đối tượng khách lẻ thì sự linh động,thay đổi chương trình là điều rất hay gặp Nhu cầu của khách cũng thường xuyên có sựthay đổi Vì thế hoạt động hướng dẫn du lịch của HDV đôi khi cũng có thể được rútngắn lại, hoặc dài ngày hơn, nhiều điểm tham quan hơn Công tác tổ chức hướng dẫn

du lịch căn cứ vào nhu cầu của du khách mà có thể đưa ra những khung hoạt động chophù hợp

- Thời lượng và thời điểm thực hiện chương trình

+ Thời lượng của chương trình du lịch:

Chương trình tour du lịch với thời gian dài ngày thì hoạt động hướng dẫn du lịchcủa công ty du lịch, tổ chức du lịch, HDV cần phải được liên kết chặt chẽ với nhautrong suốt thời gian diễn ra tour du lịch Đối với HDV thời lượng dài ngày trong mộttour du lịch sẽ phát huy được đầy đủ nhất khả năng, nghiệp vụ hướng dẫn du lịch củamình Tiếp xúc với khách liên tục trong nhiều ngày đôi khi tạo cảm giác nhàm chán,hoặc mệt mỏi đối với HDV Những nhu cầu ngoài chương trình được định sẵn cũngphát sinh nhiều hơn, đòi hỏi một sự làm việc đầy nhiệt huyết của HDV

Đối với chương trình du lịch ngắn ngày tưởng trừng như đơn giản, nhưng cũngtùy thuộc vào đối tượng khách, mục đích của khách Với những tour ngắn ngày thôngthường đòi hỏi HDV phải tập trung cao độ, để trong một thời gian ngắn có thể đem đến

Trang 36

cho du khách những ấn tượng về sự khoa học, nghiệp vụ cao, tính chuyên nghiệp củacông ty du lịch, tổ chức du lịch, đem lại sự thỏa mãn mục đích của khách du lịch.

+ Thời điểm thực hiện chương trình du lịch:

Vào mùa cao điểm: ví dụ các tour nghỉ biển vào mùa hè, các tour lễ hội và mùaxuân tại điểm khách đến tham quan, nghỉ dưỡng có nhiều dịch vụ du khách có thể lựachọn và vai trò của HDV được phát huy trong việc tư vấn, đưa ra những thông tin tốtnhất cho du khách trong việc lựa chọn các dịch vụ phù hợp Trong mùa cao điểm với

số lượng du khách quá đông cũng tạo những áp lực trong quá trình tổ chức phục vụ ăn,nghỉ của du khách HDV lúc này cần phát huy cao vai trò của người phục vụ

Trong mùa thấp điểm mọi vấn đề có thể diễn ra được dễ dàng hơn trong hầu hếtnhững hoạt động của du khách và của HDV

- Phương tiện vận chuyển khách

Trong quá trình thực hiện công tác hướng dẫn của HDV phương tiện vậnchuyển trong chuyến du lịch, tham quan ảnh hưởng lớn đến vấn đề thực hiện quy trình,cách thức, nghiệp vụ làm việc của HDV Điều này phụ thuộc vào đặc điểm của từngphương tiện vận chuyển

Phương tiện vận chuyển là Ô tô với đặc điểm là sự cơ động, linh hoạt, các thiết

bị chuyên dùng cũng được bố trí đầy đủ HDV có thể tiếp xúc trực tiếp với khách, kiểmsoát đoàn khách dễ dàng hơn, cả về mặt tâm lý của khách diễn ra trong toàn bộ chuyến

du lịch

Phương tiện là Tàu hỏa, Máy bay: Đoàn khách có thể bị phân chia vị trí khácnhau rất khó khăn trong việc kiểm soát thành viên đoàn đối với HDV Quá trình tiếpxúc giữa HDV và khách diễn ra ít vì vậy mà HDV khó có thể nắm bắt được tâm lýđoàn khách

Trang 37

Phương tiện là Tàu thủy: Hoạt động hướng dẫn du lịch thường kết hợp với hoạtđộng của các nhân viên phục vụ của tàu Điều kiện để thực hiện công tác hướng dẫncũng bị hạn chế.

- Đặc điểm của tuyến, điểm du lịch

Tuyến, điểm du lịch được hình thành dựa trên cơ sở về tài nguyên du lịch, dịch

vụ, khả năng tiếp cận Những yếu tố này lại có những sự phân bố, chất lượng khácnhau Với một tour du lịch dài ngày, khả năng tiếp cận điểm đến khó khăn, dịch vụ dulịch còn nhiều hạn chế có tác động rất lớn đến chất lượng sản phẩm du lịch Công tác

tổ chức hướng dẫn du lịch cũng gặp nhiều khóa khăn hơn trong việc đảm bảo sắp xếpthời gian, sâu chuỗi các dịch vụ trong toàn tuyến du lịch du khách đã lựa chọn Nhữngvấn đề phát sinh trong thời gian thực hiện tour du lịch, chuyến tham quan cũng xảy ranhiều hơn Điều này đòi hỏi sự linh hoạt của HDV trong việc hướng dẫn đoàn, và liênkết các hoạt động hướng dẫn du lịch khác

1.5 Một số vấn đề về tín ngưỡng Tứ Pháp

1.5.1 Lịch sử hình thành và bản chất tín ngưỡng Tứ Pháp

Tứ pháp là danh từ để chỉ các vị thần trong tín ngưỡng cổ xưa của Việt Nam.Bốn vị chủ thần này đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò vô cùng quan trọngtrong xã hội nông nghiệp: Thần mây (Pháp Vân), thần mưa (Pháp Vũ), thần sấm (PhápLôi), thần chớp (Pháp Điện) Tín ngưỡng Tứ Pháp là một hình thái thể hiện của hệ tínngưỡng sùng bái tự nhiên Song về tín ngưỡng Tứ Pháp không đơn thuần chỉ là thểhiện của sự sùng bái tự nhiên, mà nó còn bao hàm cả tín ngưỡng cầu mưa, tín ngưỡngthờ mẫu, nữ thần, và mang đậm màu sắc Phật giáo Vì vậy để có thể hiểu sâu sắc về tínngưỡng Tứ Pháp cần có một sự nhìn nhận từ chiều sâu trong lịch sử của cư dân nôngnghiệp Bắc Bộ, khu biệt lại là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng

Trang 38

Sau khi bị thế lực phương Bắc đô hộ, thời gian những năm đầu công nguyêntrong lĩnh vực tư tưởng người Việt đã có những sự tiếp cận về văn hóa từ Ấn Độ nổibật là đạo Bà La Môn và đạo Phật, từ Trung Quốc là Nho giáo và Đạo giáo, Phật giáo.

“Sự hội nhập này đã góp phần giúp cho tín ngưỡng của người Việt có định hướng màgiảm nhẹ tính tản mạn, tự phát” [5, tr 17] Trong quá trình hỗn dung về văn hóa và tưtưởng đó diễn ra hai trạng thái: đó là sự bị động và chủ động trong sự tiếp nhận Trạngthái bị động đối với văn hóa phương Bắc như một sự “cưỡng bức” về tư tưởng văn hóa,tinh thần và trạng thái chủ động đối với văn hóa từ Ấn Độ là sự dung nạp đạo Phật Sựtiếp nhận Phật giáo từ Ấn Độ đã diễn ra mạnh mẽ Đến thế kỉ II sau công nguyên tạinước ta đã hình thành trung tâm Phật giáo lớn nhất và sớm nhất vùng Viễn Đông làvùng Dâu – Luy Lâu, trước cả 2 trung tâm Phật giáo của Trung Quốc là Lạc Dương vàBành Thành Từ sự dung hòa một cách tự nguyện với Phật giáo Ấn Độ, người Việt đã

có sự sáng tạo ra tín ngưỡng Tứ Pháp được ghi lại trong truyền thuyết dân gian và các

thư tịch cổ như bản khắc gỗ Cổ Châu Phật Bản hạnh do nhà sư Tính Mộ trụ trì chùa

Dâu cho khắc năm Cảnh Hưng thứ 13 (1752)

Từ nội dung câu chuyện dân gian đầy chất huyền thoại này có thể thấy được sựhình thành của tín ngưỡng Tứ Pháp chính là sự phản ánh mong ước, sự khát khao củangười dân về mưa thuận gió hòa Thẳm sâu trong lối thức dân gian đó chính là câuchuyện về sự dung hòa giữa tín ngưỡng bản địa là thờ các thế lực thiên nhiên, các Mẹ -Mẫu và yếu tố văn hóa ngoại sinh là Phật giáo từ Ấn Độ Do đó hình tượng các vị thần

Tứ Pháp được hiển thị là các Phật Bà

Tín ngưỡng Tứ pháp có một sức mạnh thiêng liêng đối với đời sống của toàn bộdân cư vùng châu thổ sông Hồng Sự linh ứng của Phật Tứ Pháp cũng đã được ghi lạitrong sử sách: “Đời vua Lý Nhân Tông (1072 -1128) trong nước “ba năm mưa gióđùng đùng đã ran”, vua sai rước Phật Pháp Vân về chùa Báo Thiên ở Thăng Long đểcầu, mùa màng liền phong đăng hòa cốc Rồi lại một lần “ba thu đại hạn theo hành khókhăn” Phật Pháp Vân lại được rước về chùa Khâu Sơn ở phía Tây điện rồng để vua lễ

Trang 39

cầu “Trời liền mưa xuống đùng đùng bốn phương” Đến thời Lý Thánh Tông, qua nămBính Thìn (tức 1136) “năm sau đại hạn cạn khô đồng điền” Phật Pháp Vân được rước

về chùa Báo Thiên để thái hậu kỳ đảo, lập tức mưa gió chan hòa suốt ba ngày TứPháp còn giúp dân giữ nước chống giặc ngoại xâm Trong cuộc kháng chiến chốngxâm lược Tống ở thời Lý Phật Pháp Vân được rước lên Thái Nguyên và đã tham giachiến đấu giành thắng lợi vẻ vang” [17, tr 12]

Văn hóa Việt có đặc điểm là sự đan xen nhiều tư tưởng khác nhau Chỉ trongmột cộng đồng mà có thể tồn tại nhiều hệ tín ngưỡng Hơn thế chính trong một hệ tínngưỡng cũng có nhiều hình thái thể hiện, nhiều mối liên hệ chằng chéo “Người Pháp(L.Cadière) khi nghiên cứu về tín ngưỡng của người Việt đã cảm thấy như bất lựctrước hiện tượng đa chiều của tư tưởng dân giã, họ cảm giác như bị rơi vào một “rừngrậm nhiệt đới” không có lối ra, cũng như không có nút khởi đầu” [5, tr 14] Vì vậy để

có thể nhìn nhận được bản chất của tín ngưỡng Tứ Pháp cần phải có sự bóc tách, phântích Cho dù đây cũng chỉ là sự nhìn nhận một cách tương đối, song cũng phần nàophản ánh được bản chất của tín ngưỡng này

Tín ngưỡng Tứ Pháp có bản thể chính là tín ngưỡng thờ các thế lực tự nhiên:mây, mưa, sấm, chớp của người Việt cổ Nhưng tín ngưỡng này chưa có hình tượng thểhiện mà chỉ là lối tư tưởng, tư duy về một thế lực có sức ảnh hưởng to lớn, thậm chí làmang ý nghĩa sống còn đối với người nông dân trồng lúa nước Trời không mưa nhiềungày dẫn đến khô hạn, hoặc quá mưa dẫn đến lụt lội cũng đều ảnh hưởng đến cuộcsống Đến ngày nay qua những hình thức tưởng nhớ của nhân dân về tín ngưỡng TứPháp là các lễ hội tại các vùng như Bắc Ninh, Hưng Yên, trong đó lễ hội Chùa Dâudiễn ra ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch hàng năm là một điển hình Các lễ hội đều mang ýnghĩa gửi gắm về mong muốn mưa thuận gió hòa đến các vị thần mây, mưa, sấm, chớpcủa cộng đồng Các diễn xướng trong lễ hội chùa Dâu như trò cướp nước giữa Bà Pháp

Vũ và Bà Pháp Điện, hay kinh nghiệm dân gian “Lâm râm hội Khám, u ám hội Dâu,

vỡ đầu hội Gióng” cũng thể hiện tín ngưỡng Tứ Pháp không chỉ mang tính chất thờ

Trang 40

thần tự nhiên mà còn là hình thái tín ngưỡng cầu mưa Lịch sử ghi lại, các vị vua đãnhiều lần cho rước Phật Pháp Vân về kinh đô để cầu đảo: cầu cho mưa xuống khi trờihạn hán và cầu cho mưa tạnh khi mưa quá nhiều Tín ngưỡng cầu nước, cầu mưakhông chỉ có ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, mà nó còn tồn tại ở nhiều vùng khácnhau trên đất nước ta Tại các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng thuộc đồng bằng sông CửuLong cũng có những hình thức thể hiện tín ngưỡng cầu mưa thông qua lễ hội Okombokcủa người dân Khmer diễn ra vào dịp rằm tháng 10 âm lịch Trong lễ hội diễn ra cuộcthi đua Ghe Ngo cũng là một biểu hiện của mong muốn cho cuộc sống ấm no, mưathuận gió hòa Lễ hội cầu mưa (Palau Sah) là một trong những lễ hội truyền thống quantrọng của người Chăm tại Ninh Thuận, diễn ra vào 16 tháng 5 âm lịch hàng năm cũng

là một hình thái phản ánh tín ngưỡng cầu mưa của người dân nơi đây

Cuộc sống của người Việt cổ khi hình thái nông nghiệp chưa hình thành, sự phâncông lao động: đàn ông săn bắn, đàn bà hái lượm, “hái lượm trong tay người mẹ mangvai trò quan trọng nhất Từ đó nảy sinh ý thức cầu mong của cải dồi dào ở rừng trongquyền năng của bà mẹ “vũ trụ” [5, tr 15].Tư duy của người Việt thời cổ nhìn nhận sựban phát của giới tự nhiên là Cha Trời, Mẹ Đất “Trong kho tàng huyền thoại về người

mẹ, sự tích về Man Nương được coi như sớm nhất Lược bỏ cái vỏ đời thường thì ManNương mang tư cách như một mẫu khởi nguyên, từ bà mà các mẫu thuộc Tứ Pháp(mây, mưa, sấm, chớp) hạ thế để mang ân huệ đến cho đời” [4, tr 16] Theo thời giantại nước ta diễn ra quá trình giao thoa văn hóa giữa Phật giáo từ Ấn Độ và tín ngưỡngthờ thần tự nhiên, tín ngưỡng thờ Mẹ - Mẫu Những hình thức tín ngưỡng dân gian này

đã thu nạp những yếu tố của Phật giáo (tín ngưỡng hóa Phật giáo), đồng thời Phật giáocũng đã tìm cách bén chân để có thể tồn tại và phát triển (Phật giáo hóa tín ngưỡng).Hai quá trình này là sự hỗn dung văn hóa Việt - Ấn Để rồi từ sự dung hòa này màtrong dân gian xuất hiện hình tượng các vị thần đại diện cho các thế lực tự nhiên (mây,mưa, sấm, chớp) với hình tướng là các vị Phật Bà và được thờ trong chùa Và vì vậymới có tên gọi các vị trong tín ngưỡng Tứ Pháp: Phật Pháp Vân (Bà Dâu), Phật Pháp

Ngày đăng: 01/08/2018, 13:09

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w