MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bắc Ninh là tỉnh nằm ở vùng châu thổ sông Hồng, một trong những địa phương có bề dày văn hiến, có truyền thống lịch sử. Bắc Ninh ngày nay là một phần của vùng Kinh Bắc xưa, là địa bàn cư trú của người Việt cổ từ hàng nghìn năm trước. Trải thời gian, Bắc Ninh là vùng đất phát tích của vương triều Lý triều đại đầu tiên của nhà nước quân chủ phong kiến độc lập đã mở ra nền văn minh Đại Việt. Với hơn 200 năm phát triển rực rỡ, triều Lý đã để lại cho các thế hệ sau nhiều DSVH quý giá… Đền Đô, còn gọi là đền Lý Bát Đế hoặc Cổ Pháp điện là nơi thờ tám vị vua của nhà Lý. Đây là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng được bảo tồn khá trọn vẹn, nơi tưởng niệm và phụng thờ của toàn dân đối với các vị vua nhà Lý. Hệ thống di tích này hàm chứa những giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ, là những chứng tích vật chất xác thực, phản ánh sinh động lịch sử lâu đời và truyền thống văn hiến có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa cộng đồng. Với vị thế, ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Việt và in đậm bản sắc văn hóa dân tộc, đền Đô đã được Nhà nước Việt Nam công nhận là di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 154 của Bộ Văn hóaThông tin cũ, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 25011991. Trong những năm qua, nhất là từ khi Luật Di sản văn hóa được ban hành (2001), công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói chung, di tích lịch sử văn hóa đền Đô nói riêng có nhiều chuyển biến tích cực. Các di tích trọng điểm của tỉnh đã được quản lý, đầu tư trùng tu, tôn tạo, phát huy tác dụng đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cộng đồng trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, công tác quản lý di tích vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như việc chống xuống cấp, xử lý lấn chiếm đất đai, khoanh vùng bảo vệ di tích; việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý di tích đến cộng đồng còn chưa thực hiện đầy đủ, có kế hoạch… Trước thực trạng và sự cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở khoa học, thực tiễn, tiếp thu những công trình khoa học đi trước, tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa đền Đô ở phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” làm nội dung nghiên cứu cho tiểu luận kết thúc môn Quản lý di sản văn hóa.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, KHÁI QUÁT
VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN ĐÔ Ở PHƯỜNG ĐÌNH BẢNG, THỊ XÃ TỪ SƠN, TÌNH BẮC NINH 4
1.2 Cơ sở pháp lý về quản lý di tích lịch sử văn hóa 6
1.3 Khái quát di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đền Đô phường Đình
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN ĐÔ PHƯỜNG ĐÌNH BẢNG, THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH 12
2.2 Nguồn nhân lực quản lý di tích lịch sử văn hóa 14
2.3 Các hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa đền Đô, phường Đình
3.1 Những căn cứ để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch
sử văn hóa đền Đô, phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 30
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa đền
Đô, phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 32
KẾT LUẬN 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bắc Ninh là tỉnh nằm ở vùng châu thổ sông Hồng, một trong những địaphương có bề dày văn hiến, có truyền thống lịch sử Bắc Ninh ngày nay làmột phần của vùng Kinh Bắc xưa, là địa bàn cư trú của người Việt cổ từ hàngnghìn năm trước Trải thời gian, Bắc Ninh là vùng đất phát tích của vươngtriều Lý - triều đại đầu tiên của nhà nước quân chủ phong kiến độc lập đã mở
ra nền văn minh Đại Việt Với hơn 200 năm phát triển rực rỡ, triều Lý đã đểlại cho các thế hệ sau nhiều DSVH quý giá…
Đền Đô, còn gọi là đền Lý Bát Đế hoặc Cổ Pháp điện là nơi thờ tám vịvua của nhà Lý Đây là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng được bảo tồn khátrọn vẹn, nơi tưởng niệm và phụng thờ của toàn dân đối với các vị vua nhà
Lý Hệ thống di tích này hàm chứa những giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học
Bộ Văn hóa-Thông tin cũ, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày25/01/1991
Trong những năm qua, nhất là từ khi Luật Di sản văn hóa được banhành (2001), công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh BắcNinh nói chung, di tích lịch sử văn hóa đền Đô nói riêng có nhiều chuyển biếntích cực Các di tích trọng điểm của tỉnh đã được quản lý, đầu tư trùng tu, tôntạo, phát huy tác dụng đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cộngđồng trong và ngoài tỉnh Tuy nhiên, công tác quản lý di tích vẫn còn bộc lộnhiều hạn chế như việc chống xuống cấp, xử lý lấn chiếm đất đai, khoanhvùng bảo vệ di tích; việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của
Trang 3Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý di tích đến cộng đồngcòn chưa thực hiện đầy đủ, có kế hoạch…
Trước thực trạng và sự cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở khoahọc, thực tiễn, tiếp thu những công trình khoa học đi trước, tôi quyết định lựa
chọn và nghiên cứu đề tài: “Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa đền Đô
ở phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” làm nội dung nghiên
cứu cho tiểu luận kết thúc môn Quản lý di sản văn hóa
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa đền Đôhiện nay từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của hoạtđộng này trong điều kiện thực tế hiện nay của địa phương
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quản lý DSVH nói chung, quản lý ditích lịch sử văn hóa nói riêng
- Nghiên cứu đặc điểm, các giá trị tiêu biểu của di tích lịch sử văn hóacấp quốc gia đền Đô
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa đền
Đô để tìm ra những thành công cũng như những hạn chế trong công tác quản
lý di tích, xác định nguyên nhân của các hạn chế ấy
- Từ đặc điểm của các di tích lịch sử văn hóa và thực trạng quản lý ditích tiểu luận đề xuất một số giải pháp nhằm đạt hiệu quả cao hơn nữa trongcông tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa đền
Đô trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm của đối tượng quản lý đó là loại hình di tích lịch
sử văn hóa ở Bắc Ninh Cụ thể ở đây là di tích lịch sử văn hóa- di tích đãđược Nhà nước công nhận xếp hạng
Trang 4- Nghiên cứu các chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về bảotồn di tích và chính sách đối với cộng đồng tham gia bảo tồn di tích.
- Nghiên cứu cơ cấu tổ chức bộ máy và các hoạt động trong lĩnh vựcquản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Tiểu luận chủ yếu tập trung vào hoạtđộng quản lý di tích lịch sử văn hóa theo tinh thần nội dung của Luật Di sảnvăn hóa năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009
- Phạm vi không gian: Tiểu luận sẽ tập trung đi sâu tìm hiểu công tácquản lý tại di tích lịch sử văn hóa đền Đô
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 khi Luật Di sản văn hóa được banhành cho đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được thực hiện dựa trên việc sử dụng một số phương phápnghiên cứu như: Phương pháp quan sát, nghiên cứu tài liệu để thu thập thôngtin liên quan, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá
Trang 5CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, KHÁI QUÁT
VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN ĐÔ Ở
PHƯỜNG ĐÌNH BẢNG, THỊ XÃ TỪ SƠN, TÌNH BẮC
NINH
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm Di sản văn hóa
Trong Công ước Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới của UNESCOban hành năm 1972, tại điều 1 có quy định những loại hình sẽ được coi như là
“di sản văn hoá” bao gồm: Di tích kiến trúc, nhóm công trình xây dựng và các
di chỉ Khái niệm di sản trong một số từ điển được hiểu theo một nghĩa đơngiản đó là tính năng thuộc về nền văn hóa của một xã hội cụ thể, chẳng hạnnhư truyền thống, ngôn ngữ, hoặc các tòa nhà, đã được tạo ra trong quá khứ
và vẫn còn có tầm quan trọng lịch sử
Ở nước ta, năm 2001 Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa X, kỳhọp thứ 9 thông qua, thuật ngữ “di sản văn hóa” chính thức được ghi trongvăn bản pháp quy cao nhất và được sử dụng phổ biến Năm 2009 Luật Di sảnvăn hóa được sửa đổi, bổ sung một số điều khoản, theo đó DSVH bao gồmDSVH phi vật thể và DSVH vật thể, “là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ởnước Cộng hòa XHCN Việt Nam” [42, tr.33]
1.1.2 Khái niệm Di tích lịch sử văn hóa
Trong hiến chương Venice - hiến chương quốc tế về Bảo tồn và Trùng
tu di tích và di chỉ (năm 1964), tại Điều 1 có định nghĩa: Di tích lịch sử khôngchỉ là một công trình kiến trúc mà còn cả các khu đô thị hoặc nông thôn trong
đó được tìm thấy bằng chứng của một nền văn minh cụ thể, phát triển quantrọng hay một sự kiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với những
Trang 6công trình nghệ thuật lớn mà cả với những công trình khiêm tốn đã hội tụđược các ý nghĩa văn hóa của quá khứ
Trong các cuốn Đại từ điển tiếng Việt, di tích lịch sử văn hóa được hiểu
là “Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giátrị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại” [112, tr.414]
Theo Luật Di sản văn hóa: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xâydựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địađiểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [42, tr.33] Ở đây, có thể hiểurộng ra các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm,quảng trường, khu phố… gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, cácđịa điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng…
1.1.3 Khái niệm Quản lý
Trong Đại từ điển tiếng Việt, “quản lý” được hiểu là việc tổ chức, điềukhiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theodõi việc gì [112, tr.1288] Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa rakhái niệm cụ thể hơn: “là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thểquản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [110, tr.11-12]
Để thực hiện công tác quản lý cần phải dựa vào các công cụ quản lý là cácchính sách về luật pháp, chiến lược phát triển, quy hoạch, đề án bảo vệ vàphát huy di sản, nguồn lực, tài chính, các công trình nghiên cứu khoa học…nhằm đạt được các mục đích đã đề ra
1.1.4 Khái niệm Quản lý di tích lịch sử văn hóa
Quản lý văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của quản lý, thường được hiểulà: Công việc của Nhà nước được thực hiện thống qua việc ban hành, tổ chứcthực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm phápluật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xãhội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung Ngoài ra, quản lý vănhóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phươngpháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấudân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách
Trang 7thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt đượcmục tiêu mong muốn…[31, tr.26]
Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa dântộc, vì vậy có thể hiểu: Quản lý di tích lịch sử văn hóa chính là sự định hướng,tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho cácgiá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Việc quản lý ditích được thực hiện bởi các chủ thể quản lý (cơ quan quản lý, cộng đồng có ditích…) tác động bằng nhiều cách thức khác nhau đến đối tượng quản lý (các
di tích) nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích phục vụ sựphát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng
1.2 Cơ sở pháp lý về quản lý di tích lịch sử văn hóa
Từ sau năm 1945, hoạt động bảo tồn di tích ở Việt Nam bắt đầu tiếpcận với khoa học bảo tồn hiện đại của thế giới Từ đây, các văn bản pháp lýtừng bước được xây dựng để làm sơ sở cho mọi hoạt động có liên quan, đặcbiệt là công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa
- Sắc lệnh số 65/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 23/11/1945 quyđịnh nhiệm vụ của Đông Phương bác cổ học viện và đề cập tới việc cấm pháhuỷ đình, đền, chùa, đền miếu hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện,thành quách cùng lăng mộ phải được bảo tồn
- Nghị định số 519-TTg do Thủ tướng chính phủ kí ngày 29/10/1957,quy định Thể lệ bảo tồn cổ tích Đây là một văn bản pháp lý quan trọng cógiá trị nền tảng cho hoạt động bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn bảo tàngnói chung
- Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND về Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử,văn hóa và danh lam, thắng cảnh do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký ban hànhngày 4/4/1984 Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích trong thời
kỳ đất nước vừa hoàn toàn thống nhất, là bước tiến lớn của ngành bảo tồn bảo
Trang 8tàng nhằm thống nhất quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động bảo vệ di tích bằngcác điều luật cụ thể.
- Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 đã cụ thể hóa đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa cáchoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, mở rộng phạm vi điều chỉnh cảDSVH phi vật thể là một vấn đề mà đã được nhiều quốc gia đề cập tới Luậttạo cơ sở pháp lý để triển khai các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ, pháthuy giá trị DSVH; xác định rõ quyền hạn, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân vàchủ sở hữu đối với DSVH, chỉ rõ những việc được làm và không được làm,những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người cócông, xử phạt các hành vi vi phạm di tích; trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành
có liên quan ở trung ương và UBND các cấp trong việc bảo tồn DSVH Tuynhiên, trong quá trình đưa Luật áp dụng vào thực tiễn bên cạnh những mặttích cực, cũng nảy sinh một số hạn chế như chưa xử lý thoả đáng mối quan hệgiữa bảo tồn và phát triển dẫn đến tình trạng thương mại hoá di tích Vì vậy,năm 2009, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Di sản văn hóa
- Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 đã được Bộ Trưởng Bộ VHTT kýQuyết định phê duyệt số 1706/QĐ-BVHTT, ngày 24/7/2001, kèm theo danhsách 32 di tích ưu tiên đầu tư chống xuống cấp và tôn tạo đến năm 2020 Dự
án này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng các dự án cụ thể về bảotồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa,danh làm thắng cảnh ở nước tahiện nay
- Một số công ước quốc tế liên quan đến các hoạt động bảo tồn DSVH
+ Công ước Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới được UNESCO banhành năm 1972 đã khẳng định giá trị nổi bật toàn cầu của DSVH và thiênnhiên thế giới, đồng thời thức tỉnh ý thức của nguyên thủ các quốc gia cũng
Trang 9như toàn nhân loại về trách nhiệm bảo tồn DSVH Công ước hướng dẫn cácyêu cầu và chuẩn mực quốc tế về bảo tồn DSVH, đồng thời hướng dẫn cơ chếgiám sát mang tính toàn cầu đối với hoạt động của từng quốc gia thành viênbảo đảm sự toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu của di sản thông qua một tổchức thống nhất quản lý di sản và kế hoạch quản lý thích ứng cho các di sảnđược đưa vào danh mục di sản thế giới
+ Công ước Bảo vệ DSVH phi vật thể do UNESCO thông qua năm
2003 là công ước tôn vinh giá trị DSVH phi vật thể cũng như tính đa dạngvăn hóa toàn nhân loại, đề cao vai trò của cộng đồng cư dân địa phương với
tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa chủ sở hữu, người thụ hưởng giá trị người trực tiếp bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong đời sống xã hội Côngước đặt ra danh mục hai loại hình DSVH phi vật thể là DSVH phi vật thể đạidiện của nhân loại và DSVH phi vật thể trong tình trạng khẩn cấp nhằm nângcao nhận thức và trách nhiệm của các quốc gia thành viên, vai trò của cộngđồng cư dân địa phương
-+ Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóađược UNESCO thông qua năm 2005 Công ước có mục đích bảo vệ và pháthuy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa được thể hiện và truyền tải cụ thểtrong các hoạt động văn hóa, sản phẩm và dịch vụ văn hóa - các phương tiệncủa nền văn hóa đương đại Đồng thời, đặt ra một khung pháp lý thuận lợi chotất cả các quốc gia thành viên trong lĩnh vực sản xuất, phân phối, truyền bá,tiếp cận và hưởng thụ các biểu đạt văn hóa từ nhiều nguồn gốc khác nhau
1.3 Khái quát di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đền Đô phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Đền Đô – còn gọi là Cổ Pháp Điện hay đền Lý Bát Đế, đền được xâydựng vào thế kỷ 11 (1030), trên khu đất phía đông nam Hương Cổ Pháp,Châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng)
Trang 10Đền Đô thuộc làng Đình Bảng, xã Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh BắcNinh Đền là nơi thờ 8 vị vua nhà Lý: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (1009 –1028); Lý Thái Tông (1028 – 1054); Lý Thánh Tông (1054 – 1072); Lý NhânTông (1072 – 1128); Lý Thần Tông (1128 – 1138); Lý Anh Tông (1138 –1175); Lý Cao Tông (1175 – 1210) và Lý Huệ Tông (1210 – 1224).
Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, đền Đô đều được quan tâm tu sửa
và mở rộng, đặc biệt, đền được mở rộng nhất vào thế kỷ 17 (1602) với quy
mô của 21 hạng mục công trình Kiến trúc của đền có sự kế thừa phong cáchcung đình và phong cách dân gian, tổng thể kiến trúc được kết hợp hài hoà,chạm khắc tinh xảo, thể hiện một công trình kiến trúc bề thế vững chắc nhưngkhông cứng nhắc trong khung cảnh thiên nhiên
Năm 1952, đền Đô bị giặc Pháp chiếm và phá huỷ hoàn toàn Từ năm
1989 trở lại đây, Đền Đô đã từng bước được khôi phục, tìm lại dáng vẻ xưacủa đợt trùng tu, mở rộng đền năm 1602 với các hạng mục công trình như:Nhà Hậu cung (80m²), nhà chuyền Bồng (80m²), nhà Kiệu (130m²), nhà đểNgựa (130m²), Thuỷ đình, Phương đình…
Tổng thể kiến trúc di tích đền Đô:
Đền Đô có diện tích 31.250m², gồm 21 hạng mục công trình lớn nhỏ.Trung tâm là điện thờ, nơi đặt bài vị và tượng của Tám vị vua nhà Lý, xungquanh có nhà chuyền Bồng, nhà Tiền tế, nhà Phương Đình, nhà để kiệu, nhà
để ngựa, nhà Thuỷ Đình… Kiến trúc Đền đô được chia làm hai khu vực nộithành và ngoại thành
Khu vực nội thành có diện tích 4.320m² , bố trí theo kiểu “Nội công ngoạiquốc” bao quanh là tường gạch cao 3m, rộng 1m (hai bên xây gạch, ở giữa đổđất) có hai cửa ra vào Nội thành được chia thành Nội thất và Ngoại thất
Nội thất bao gồm các công trình: Nhà Hậu cung- nơi đặt ngai và bài vịthờ 8 vị vua nhà Lý Nhà Chuyền Bồng có kiến trúc chồng diêm 8 mái, cácđầu đao uốn cong mềm mại Ngoài ra còn có nhà để bia, nhà để ngựa,, nhàtiền tế, nhà để kiệu,… Phía trước, bên trái Chính điện là đền vua Bà (đền
Trang 11Rồng) là nơi thờ Lý Chiêu Hoàng tất cả đều được xây dựng công phu, đắp,chạm khắc tinh xảo.
Bước qua Ngũ Long Môn (cổng tam quan với năm hình rồng chạm đátinh xảo) là một sân rộng, nơi đặt lư hương hướng vào nhà phương đình bàyhương án với đôi voi đá cỡ lớn chầu trung tâm
Tiếp giáp với phương đình là nhà tiền tế – nơi diễn ra các đại lễ longtrọng đồng thời cũng là nơi trưng bày chiêng trống, đồ tế khí, nghi trượng …
Với một cảnh quan rộng lớn, được chia thành các biệt khu, đền Đômang lại cho khách hành hương nhiều cảm giác khác nhau: đại điện hoànhtráng, hậu cung trang nghiêm, thủy đình thư thái, văn bia tịch mịch Xen lẫntrong gió là mùi hương trầm ấm áp, hương ngọc lan thoang thoảng, đưa ta vàocõi suy tưởng về một triều đại anh hùng với những võ công văn trị kiệt xuấtvới tư tưởng Phật giáo từ bi
Ngoài những giá trị văn hóa, lịch sử, đền Đô là một công trình kiến trúcđặc sắc với nghệ thuật điêu khắc đá (rồng, voi, ngựa, lân), điêu khắc gỗ (lân,chạm lộng hình rồng, họa tiết trang trí), tạc tượng thờ và xây dựng (hệ thốngcột trụ, mái đao) đều đạt ở mức tinh xảo
Nhà tiền tế rộng 7 gian (220m2) có điện thờ vua Lý Thái Tổ Phía bêntrái điện thờ có treo tấm bảng ghi lại “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ với
214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý Phía bên phải có treotấm bảng ghi bài thơ nổi tiếng Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt
Cổ Pháp điện gồm 7 gian, rộng 180m2 là nơi đặt ngai thờ, bài vị và tượngcủa 8 vị vua nhà Lý Gian giữa là nơi thờ Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông; ba gianbên phải lần lượt thờ Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông; ba gianbên trái lần lượt thờ Lý Anh Tông, Lý Huệ Tông và Lý Cao Tông
Ngoại thất gồm nhà vuông, kiến trúc kiểu chồng diêm tám mái, 8 đầuđao cong vút mềm mại Khu vực này có nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách vàđền vua bà (thờ các hoàng thái hậu triều Lý)
Thủy đình dựng trên hồ bán nguyệt, rộng 5 gian, có kiến trúc chồngdiêm 8 mái, 8 đao cong Đây là nơi để các chức sắc ngày trước ngồi xem biểu
Trang 12diễn rối nước Thủy đình đền Đô xưa đã được Ngân hàng Đông Dương thờithuộc Pháp chọn làm hình ảnh tiêu biểu in trên tờ giấy bạc 5 đồng.
Đền Đô với kiến trúc độc đáo mang tính giá trị nghệ thuật, cảnh trí hữutình và mang trong mình một giá trị lịch sử văn hoá đậm nét của Vương Triều
Lý nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung Đền Đô xứng đáng với lời ngợi ca:
“Đền Đô kiến trúc tuyệt vời Thăng Long đẹp nhất, đẹp người ngàn năm”
Di tích lịch sử văn hoá đền Đô đã được Nhà nước công nhận xếp hạng
di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia theo Quyết định số 154 ngày 25/01/1991của Bộ Văn hoá Thông tin
Trang 13CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN ĐÔ PHƯỜNG ĐÌNH BẢNG, THỊ XÃ TỪ
SƠN, TỈNH BẮC NINH
2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý di tích
Mô hình quản lý di tích ở địa phương đã có sự kết hợp giữa chínhquyền và cộng đồng người dân Việc chịu trách nhiệm trước các cơ quan cáccấp, trước pháp luật về sự an toàn của di tích, di vật, cổ vật thuộc về cáctrưởng ban (là người của chính quyền) Sự tham gia của các hội người caotuổi, hội cựu chiến binh, phụ nữ, đoàn thanh niên… là đại diện của cộng đồngnhân dân, những đại diện này là chủ nhân của các di tích, tham gia vào BQL
di tích sẽ trao cho họ trách nhiệm bảo vệ, giám sát các di sản của địa phương
2.1.1 Về cơ chế phối hợp của cơ quan quản lý các cấp
Quản lý di tích được tổ chức theo cấp hành chính, theo chiều dọc từtỉnh xuống đến các cấp huyện/thị xã, xã/phường, thôn/khu dân cư Về phươngdiện chuyên biệt tổ chức tương ứng sẽ là BQL di tích cấp tỉnh, phòng Văn hóa
- Thông tin huyện/thị xã, BQL di tích cấp xã/phường, BQL di tích ở di tích cụthể Trong những năm qua, Bắc Ninh đã thu được những hiệu quả tích cựctrong cơ chế phối hợp thống nhất, tiêu biểu là đền Đô - đây là đơn vị đạt hiệuquả cao từ việc phối hợp hợp lý, phát huy được vai trò của các BQL các cấp
2.1.2 Về mô hình quản lý
Mô hình mang tính chất cộng đồng tự quản: Ở các BQL trực tiếp tạicác di tích về nguyên tắc, chính quyền và người dân cùng tham gia thực hiệnviệc quản lý đối với các di tích được Nhà nước công nhận xếp hạng Thànhphần tham gia BQL di tích địa phương có đại diện chính quyền xã, thôn chủyếu giữ vai trò giám sát, còn việc quản lý di tích là do cộng đồng với thành
Trang 14phần gồm hội người cao tuổi của các thôn, xóm, hội phụ nữ, đoàn thanhniên đảm nhiệm Vai trò tự quản được thể hiện ở tất cả các khâu từ chămnom, bảo vệ di tích, giữ gìn cảnh quan môi trường, tiến hành những tu sửanhỏ, đến các công việc như lên kế hoạch, lập nội dung và tổ chức lễ hội, cúng
tế các ngày tuần sóc vọng, quản lý các nguồn thu - chi, giữ gìn an ninh trật tự,trông giữ xe máy, xe đạp, ô tô cho du khách…
BQL di tích đền Đô: Đây là mô hình tiêu biểu về quản lý di tích có hiệu
quả BQL di tích đền Đô trực thuộc BQL di tích phường Đình Bảng, hoạtđộng theo nhiệm kỳ 3 năm Việc lựa chọn nhân sự cho BQL được tiến hànhtheo quy chế dân chủ Từ mỗi khu phố, thông qua hội nghị toàn thể của hộingười cao tuổi sẽ tiến cử từ 5 - 6 hội viên tham gia BQL di tích Tiêu chuẩn
để lựa chọn những người này là những người có sức khỏe, có tài đức, tâmhuyết, là các gia đình nề nếp, không có con cháu vướng vào tệ nạn xã hội.Lựa chọn được tổng số nhân sự khoảng 80 người, sẽ tổ chức Hội nghị toànthể cho các cá nhân được quyền ứng cử, đề cử, tiến hành bầu bằng phiếu kín
và thành lập ra Ban thường trực gồm 5 nhân sự Sau đó từ 5 người này, hộinghị lại tiến hành bỏ phiếu kín bầu trưởng, phó BQL Trưởng ban sẽ điềuhành chung toàn bộ công việc, phó ban phụ trách tổ chức, điều hành các côngviệc và ngoại giao, 3 ủy viên thường trực sẽ được trưởng ban phân công chịutrách nhiệm làm 3 tổ trưởng của 3 tổ: 1/Tổ Nội thất; 2/Tổ xây dựng; 3/TổNghi lễ Hội nghị toàn thể cũng tiến hành bầu ra kế toán và thủ quỹ của đền.Ban thường trực thường xuyên có mặt tại di tích, làm việc tập thể, bàn bạccông việc để cá nhân thực hiện hàng ngày BQL di tích đền Đô hoạt độngtheo phương châm: đoàn kết, công khai và minh bạch, nhất là minh bạch vềtài chính Ban đầu, các thành viên của BQL làm việc với tinh thần “cơm nhà,việc đền” hoàn toàn không có hỗ trợ kinh phí Từ năm 2008, được sự đồng ýcủa chính quyền địa phương, sự thống nhất của toàn BQL, mỗi cụ trực đền sẽđược nhận 10.000đ/ngày, trưởng ban nhận thù lao 400.000đ/tháng, phó ban là300.000đồng/tháng BQL di tích sẽ họp giao ban toàn thể vào đầu tháng, có
Trang 15sự tham dự của đại điện chính quyền địa phương, nội dung bao gồm các côngviệc như thông qua tài chính, đánh giá hiệu quả công việc của tháng trước,bàn và thống nhất kế hoạch hoạt động của tháng tiếp theo Mô hình BQL ditích đền Đô được vận hành quy củ, hiệu quả, tạo được sự uy tín đối với chínhquyền địa phương và du khách.
Như vậy, đối với mô hình mang tính chất cộng đồng tự quản, việc quản
lý các di tích sẽ phát huy được hiệu quả cao nếu cộng đồng tự giác, nhận thứcđược vai trò của việc bảo tồn, phát huy giá trị của di tích Việc tổ chức quản
lý có sự đồng thuận cao của cộng đồng, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ vớicác cơ quan chuyên môn sẽ đưa lại hiệu quả như trường hợp tại đền Đô
2.2 Nguồn nhân lực quản lý di tích lịch sử văn hóa
Trong quản lý di tích lịch sử văn hóa, nguồn nhân lực tham gia quản lýcác di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn được phân công Hiện nay theo sựphân cấp, nhân lực quản lý di tích ở Bắc Ninh bao gồm: đội ngũ cán bộ củaBQL di tích tỉnh, các BQL trực tiếp tại di tích, cán bộ phòng Văn hóa Thôngtin ở các huyện, thị xã và một số bộ phận khác có liên quan
Đội ngũ cán bộ BQL di tích tại địa phương: Thành phần tham gia gồmđại diện chính quyền địa phương cấp xã, thôn và đại diện cộng đồng Quakhảo sát thực tế cho thấy về trình độ của đội ngũ này là không thống nhất,không đồng đều: Ở nhiều di tích, thành phần BQL gồm nhiều cán bộ nhànước nghỉ hưu, nhiều người có học hàm, học vị thuộc các chuyên ngành khácnhau Trường hợp như ở BQL di tích đền Đô: Ban thường vụ là các cụ cótrình độ học vấn cao, khi tham gia công tác xã hội có địa vị nhất định;
Ngoài ra, một thành phần rất quan trọng góp phần vào thành công trongquản lý di tích đó là cộng đồng, những người gắn bó chặt chẽ với các di tích.Trang bị những kiến thức về di sản cho cộng đồng cũng chính là việc đầu tưcho "nguồn vốn" con người tại chỗ trực tiếp bảo vệ di tích Đối với các đốitượng này, hình thức chủ yếu là tuyên truyền, vận động và trang bị cho họ
Trang 16những hiểu biết về DSVH của quê hương, từ đó hình thành ý thức và thu hút
họ tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ di tích
2.3 Các hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa đền Đô, phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Trong những năm qua, hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở ditích lịch sử văn hóa đền Đô đã được thực hiện theo các nội dung cụ thể quyđịnh tại Điều 54 của Luật Di sản văn hóa Trong quá trình nghiên cứu về hoạtđộng quản lý di tích ở đây, tiểu luận đi sâu nghiên cứu tập trung những nộidung nổi bật nhất thể hiện được vai trò, chức năng của các cơ quan quản lý,đánh giá những thành công cũng như hạn chế trong công tác quản lý di tíchtại đền Đô trong thời gian vừa qua
2.3.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dự án bảo tồn di tích
2.3.1.1 Xây dựng quy hoạch bảo tồn di tích
Việc xây dựng quy hoạch cho di tích là nhiệm vụ quan trọng đầu tiêncủa cơ quan quản lý di tích Hiện nay, việc xây dựng quy hoạch được căn cứvào Nghị định 70/2012/NĐ-CP quy định về việc thẩm quyền, trình tự, thủ tụclập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử vănhóa, danh lam thắng cảnh Trong đó bao gồm Quy hoạch bảo quản, tu bổ,phục hồi hệ thống di tích (quy hoạch hệ thống di tích) và Quy hoạch tổng thểbảo quản, tu bổ, phục hồi di tích (quy hoạch tổng thể di tích)
Để thực hiện chương trình quy hoạch tổng thể, tỉnh đã xác định rõ mụctiêu, nhiệm vụ, đồ án quy định đáp ứng phát triển lâu dài, đảm bảo tính khoahọc, tính hợp lý Theo ông Nguyễn Duy Nhất - Giám đốc BQL di tích tỉnhcho biết: Quan điểm của UBND tỉnh là quy hoạch tu bổ, tôn tạo một số di tíchtrọng điểm chú trọng gắn với phát triển du lịch Mục tiêu cần hướng tới củaviệc tổ chức quy hoạch là đảm bảo giữ gìn tối đa các yếu tố nguyên gốc của di
Trang 17tích, đồng thời khai thác phát huy giá trị di tích phục vụ sự phát triển kinh tế văn hóa - xã hội, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân.
-Năm 2010, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định số UBND về việc Phê duyệt dự án đầu tư xây dựng tôn tạo khu di tích Đền Đô
1345/QĐ-và sông Tiêu Tương, phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, theo hình thức hợpđồng BT (Xây dựng-chuyển giao) có tổng mức đầu tư hơn 634 tỷ đồng.Nguồn vốn thực hiện dự án do nhà đầu tư liên danh Công ty cổ phần đầu tưA.D.E.L, Công ty cổ phần Sông Đà 2 và Công ty cổ phần đầu tư xây dựngTrung Việt
Các hạng mục đầu tư xây dựng gồm san nền, kè đá, nạo vét lòng hồ,lòng sông, hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống thoát nước mưa, hệ thốngthoát nước thải, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống điện, công viên cây xanh,cảnh quan và hệ thống thu gom rác thải
Việc xây dựng năm cầu qua sông Tiêu Tương, trong đó có một cầu loại
số 1 và bốn cầu loại số 2; xây dựng hệ thống thoát nước, hệ thống nước thảicủa các hộ dân được xử lý cơ học cũng là các hạng mục của dự án
Ngày 28/3/2016, hợp đồng xây dựng – chuyển giao (Hợp đồng BT) Dự
án đầu tư xây dựng tôn tạo khu di tích Đền Đô và Sông Tiêu Tương đã được
ký kết tại tỉnh Bắc Ninh, giữa hai đơn vị là Sở Xây dựng tỉnh Bắc Ninh vàLiên danh HAB Dự án đầu tư xây dựng Tôn tạo khu di tích Đền Đô và SôngTiêu Tương rộng 40ha Dự án Tôn tạo khu di tích Đền Đô và Sông TiêuTương nhằm hình thành khu du lịch tâm linh sinh thái ở phường Đình Bảng,khai thác di tích sẵn có tạo thành mạng lưới du lịch từ Đền Đô – Khu sơnLăng cấm địa – Khu du lịch Đền Đầm, thu hút khách du lịch, góp phần thựchiện mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Bắc Ninh
Trang 182.3.1.2 Xây dựng kế hoạch bảo tồn di tích
Việc trùng tu, tôn tạo nhằm bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa hiện nayđược thực hiện bằng các kế hoạch cụ thể theo kế hoạch ngắn hạn hàng năm vàcác kế hoạch trung, dài hạn
Năm 2007, kế hoạch Quản lý, bảo tồn và phát huy di tích lịch sử cáchmạng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007 - 2010 được phê duyệt Mụctiêu của đề án là tăng cường sự quản lý, đầu tư tu bổ, tôn tạo, bảo tồn để pháthuy giá trị di tích góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóatiên tiến đậm đà bản sắc Bắc Ninh - Kinh Bắc Trong đề án nêu rõ nhiệm vụ:1/Về quản lý di tích: tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đầu tư thỏa đángcho việc quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng,nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp,các tầng lớp nhân dân về công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử cáchmạng theo hướng xã hội hóa nhằm huy động mọi nguồn lực của tổ chức, cánhân và toàn xã hội tham gia vào hoạt động này; Xây dựng kế hoạch và tổchức tổng điều tra đánh giá thực trạng toàn bộ di tích, các tài liệu, hiện vậtliên quan đến sự kiện cách mạng, triển khai nghiên cứu lập hồ sơ và đề nghịcông nhận xếp hạng đối với các di tích có đủ điều kiện 2/Về bảo tồn di tích:Khắc phục tình trạng xuống cấp, triển khai các dự án tu bổ, tôn tạo các di tích.Quan tâm đến việc phục chế các di vật, hiện vật của các di tích Cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ di tích đã được nhà nước côngnhận xếp hạng Xây dựng kế hoạch và triển khai việc thực hiện cắm mốc giớikhoanh vùng bảo vệ đất đai và các công trình thuộc di tích 3/Về phát huy tácdụng di tích: tổ chức các hoạt động như hội thảo, tọa đàm, lễ hội, xuất bảnsách và các tài liệu giới thiệu Đầu tư tôn tạo, xây dựng các công trình, cáchạng mục về du lịch, dịch vụ văn hóa ở di tích nhằm gắn kết văn hóa với kinh
tế thông qua các dịch vụ và thu phí tham quan di tích
Trang 192.3.2 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích
Tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp quy về bảo vệ di tích lịch sử,văn hóa là việc làm có ý nghĩa quan trọng Hằng năm, BQL di tích tỉnh đều tổchức các lớp tập huấn tuyên truyền, hướng dẫn các văn bản pháp quy củatrung ương cũng như của tỉnh Bắc Ninh có liên quan đến DSVH Đối tượngtham gia các lớp tập huấn là các lãnh đạo phòng Văn hóa - Thông tin cáchuyện, thị xã; đại diện các BQL di tích địa phương, cán bộ văn hóa xã…
Nội dung phổ biến trong các lớp tập huấn bao gồm: 1/Giá trị củaDSVH 2/Phát huy giá trị di tích phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội;3/Vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ DSVH 4/Luật Di sảnvăn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 5/Các văn bản dưới luậtnhư các Nghị định, Thông tư, Chỉ thị…có liên quan đến DSVH; 6/Các vănbản do UBND tỉnh, Sở VHTTDL ban hành về di tích lịch sử văn hóa như Quychế quản lý và sử dụng di tích lịch sử văn hóa tỉnh Bắc Ninh, Quy định vềquản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh…Cán bộ giảng dạytại các lớp tập huấn thường là lãnh đạo của Sở VHTTDL, Phòng Di sản vănhóa, lãnh đạo BQL di tích tỉnh Ngoài ra, BQL di tích còn mời các chuyên giacủa Cục Di sản văn hóa, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực di sản… tham gianói chuyện, cập nhật các thông tin về DSVH Tại các lớp tập huấn, các gươngtiêu biểu trong công tác quản lý di tích được mời để làm báo cáo điển hìnhnhư trường hợp BQL di tích đền Đô
Thời gian tổ chức các lớp tập huấn thường từ 2 - 3 ngày, trong đó có 1ngày phổ biến, hướng dẫn các nội dung theo văn bản của nhà nước liên quanđến DSVH, 1 ngày dành cho các đại biểu tham quan thực tế tại một điểm ditích cụ thể
Ngoài ra, tại di tích lịch sử văn hóa đền Đô còn tổ chức được các buổinói chuyện, sinh hoạt tập thể, mở các cuộc vận động tuyên truyền, quán triệtpháp luật về bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, giới thiệu về lịch sử, giá trị của di
Trang 20tích ở địa phương Từ đó hình thành được ý thức trách nhiệm của mỗi ngườidân đối với việc bảo vệ, giữ gìn các di tích nơi mình đang sinh sống, khơi dậyđược lòng trân trọng của cộng đồng đối với các DSVH của địa phương.
2.3.3 Tổ chức hoạt động nghiệp vụ nhằm bảo tồn
và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
2.3.3.1 Hoạt động bảo tồn di tích
Nội dung quan trọng của hoạt động quản lý là phải tiến hành các hoạtđộng cần thiết để duy trì, bảo vệ các DSVH này Trên thực tế cho thấy, hiệuquả của việc xếp hạng di tích không chỉ mang lại niềm tự hào cho người dânđịa phương mà nếu có cách thức phù hợp sẽ làm cho di tích đó có vai trò quantrọng trong đời sống cộng đồng Trường hợp đền Đô từ một địa điểm di tíchchỉ còn sót lại duy nhất một tấm bia ghi lại thời điểm trùng tu di tích Sau khiđược xếp hạng cấp quốc gia, chính quyền địa phương đã huy động các nguồnlực để phục dựng, xây dựng mới nhiều hạng mục công trình tại điểm di tích.Đến nay, di tích đền Đô là một trong những di tích tiêu biểu, là một trongnhững niềm tự hào của người dân Đình Bảng nói riêng, của tỉnh Bắc Ninh nóichung Hàng năm đền Đô thu hút hàng vạn du khách về thăm quan, tưởngniệm các vị vua nhà Lý…
Hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích: Hiện nay, việc thực hiện tu bổ, tôn tạocác di tích chủ yếu bằng hai nguồn chính: 1/ Ngân sách nhà nước; 2/ Huyđộng các nguồn lực từ cộng đồng Thông qua các hình thức này, nhiều di tíchđược tu bổ tôn tạo, chống được sự hủy hoại, xuống cấp, thiết thực đưa vàophục vụ đời sống cộng đồng
Đền Đô là công trình được tiến hành phục dựng được cộng đồng đánhgiá đạt hiệu quả chất lượng cao Từ năm 1989, di tích được khởi công phụcdựng Đến nay, khu di tích lịch sử văn hóa Đền Đô đã hoàn thiện được nhiềuhạng mục như: Linh cung, nhà chuyển bồng, nhà tiền tế, phương đình, sânrồng, nhà kiệu, nhà bia, nhà ngựa, nhà khách, nhà giám trù, điện mẫu, thủy