1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHAN 1 BAI 1 MON TRIET HOC CHU NGHIA BIEN CHUNG HOAN CHINH

16 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 42,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNGĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN Môn: Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin PHẦN TRIẾT HỌC Bài 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG C

Trang 1

1 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNG

ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN Môn: Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin

(PHẦN TRIẾT HỌC) Bài 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG Câu 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?

Trả lời:

1 Khái niệm

Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, về mặt triết học trên cơ sở phê phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật chất, Lênin đã đưa

ra định nghĩa về vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng

ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin toàn tập, T.18, NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.151)

Ý thức của con người theo triết học duy vật biện chứng không phải là một hiện tượng thần bí, tách rời khỏi vật chất mà là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức đặc biệt là bộ óc của con người, là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc của con người trên nền tảng của hoạt động lao động sáng tạo và được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Ý thức là sự phản ánh của Thế giới vật chất bởi bộ óc của con người và được biểu hiện ra như: tri thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của con người

Chủ nghĩa duy vật mácxít khẳng định ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên thể hiện ở chỗ ý thức là thuộc tính phản ánh của bộ óc người dưới sự tác động của thế giới khách quan Nguồn gốc xã hội của ý thức thể hiện ở chỗ phải có lao động và cùng với lao động là ngôn ngữ thì mới có ý thức được Về bản chất, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nghĩa là ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, nhưng đây là sự phản ánh năng động, sáng tạo Ý thức luôn mang bản chất xã hội

2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức: có 2 quan niệm

Mặt thứ nhất trả lời cho câu hỏi giữa tồn tại (vật chất) và tư duy (ý thức) cái nào có

trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Việc giải quyết mặt thứ nhất này đã

phân chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn Một là, chủ nghĩa duy vật cho rằng tồn tại (vật chất) có trước tư duy (ý thức) và quyết định tư duy (ý thức) Hai là,

Trang 2

2 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNG chủ nghĩa duy tâm, ngược lại cho rằng tư duy (ý thức) có trước tồn tại (vật chất) và quyết định tồn tại (vật chất) Trong chủ nghĩa duy tâm lại chia thành hai nhánh là duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng ý thức chủ quan ở trong đầu óc con người là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng ý thức của các lực lượng siêu nhiên như tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối, v.v ở ngoài đầu óc là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng

Mặt thứ hai trả lời câu hỏi tư duy (ý thức) của con người có thể phản ánh được tồn tại

(vật chất) hay không? Nói cách khác là con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học phân chia triết học thành các học thuyết: khả tri (có thể biết) - khẳng định con người có thể nhận thức được thế giới; bất khả tri (không thể biết) - phủ định khả năng nhận thức thế giới của con người; hoài nghi - nghi ngờ khả năng nhận thức thế giới của con người Sự phát triển của khoa học và thực tiễn của nhân loại đã bác bỏ chủ nghĩa hoài nghi và thuyết không thể biết

Thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất) là cái có trước (tính thứ nhất) còn “cảm giác”, (ý thức) là cái có sau (tính thứ hai ) Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức

“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,đươc cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại, phản ánh” Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất ) được biểu hiên thông qua các dạng cụ thể bằng “cảm giác” (ý thức ) con người

có thể nhận thức được Và “thực tại khách quan” (vật chất ) chính là nguồn gốc nội dung của “cảm giác” (ý thức )

VD: Con người tác động vào các sản phẩm có trong tự nhiên để tạo ra sản phẩm mới, như để làm ra cái bàn con người phải dùng bộ óc của mình suy nghĩ tác động vào sản phẩm là gỗ để tạo ra cái bàn phục vụ cho nhu cầu sử dụng của con người

Khẳng định thế giới thực chất khách quan là vô cùng , vô tận luôn vận động và phát triển không ngừng , nên đã có tác động cổ vũ ,động viên các nhà khoa học đi nghiên cứu thế giới vật chất , tim ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những qui luật hoạt động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng vật chất của nhân loại Chủ nghĩa duy vật biên chứng khẳng định ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội Chủ nghĩa duy vật biên chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiển , nên bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất

- Điều kiện biến đổi chủ trương ý thức:

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó có nghĩa là nội dung của

ý thức là do thế giới khách quan qui định , nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan , là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật bình thường quan niệm

Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, củng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tư giác, sáng tạo thế giới Tính năng động sáng tạo của ý thức thể hiện ở việc con người thu nhận thông tin, cải biến thông tin trên cơ sở cái đã có ,ý thức sẽ tạo

ra tri thức mới về vật chất Ý thức có thể tiên đoán, tiên liệu tương lai, có thể tạo ra

Trang 3

3 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNG những ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thiết khoa học… Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người ,song đây là sự phản ánh đặc biệt –phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới

VD: Khai thác dầu mỏ để làm ra những thứ thiết yếu như xăng dầu hỏa, nhớt, chất polime làm nhựa đường … phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người

- Sự tác động của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai khuynh hướng:

+ Khi ý thức phản ánh đúng quy luật khách quan thì nó đóng vai trò thúc đẩy sự vận động và phát triển của thế giới hiện thực khách quan Trong trường hợp này

ý thức giúp cho con người xác định đúng đắn mục tiêu, phương hướng, biện pháp tổ chức hoạt động thực tiễn một cách có hiệu quả

+ Khi ý thức phản ánh không đúng quy luật khách quan thì lúc này nó có thể kìm hãm ở một mức độ nào đó các điều kiện vật chất

VD: Khai thác tài nguyên thiên nhiên từ rừng lấy gỗ để sử dụng đồng thời phải tái

tạo, trồng rừng chống thiên tai, lũ lụt Nhưng nếu khai thác 1 cách bừa bãi, phá rừng, đốt rừng thì hậu quả xảy ra rất nghiêm trọng

3 Ý nghĩa phương pháp luận:

+ Một là phải có quan điểm khách quan: Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn, phải

xuất phát từ thực tế khách quan, tộn trọng khách quan; đồng thời, phải phát huy tính năng động chủ quan.

- Xem xét, đánh giá sự vật phải căn cứ vào bản thân sự vật: Do ý thức phản ánh thế

giới khách quan bằng các giác quan của con người, do đó nhận thức của con người có thể đúng hoặc có thể sai Trong cuộc sống thực tiễn, khi xem xét, đánh giá sự vật phải căn cứ vào bản thân sự vật nếu không sẽ dẫn đến sai lầm

- Luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan; tôn trọng quy luật khách quan và hành

động theo quy luật khách quan; chống chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: Vật chất là nguồn gốc khách quan, là cơ sở sản sinh ra ý thức; còn ý thức là sản

phẩm, là sự phản ánh thế giới khách quan ; do đó trong nhận thức và hành động, con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, chống lại chủ nghĩa chủ quan duy ý chí

Ví dụ: Với công việc là chuyên viên phòng tài chính - kế hoạch tôi luôn xem xét mọi sự vật khách quan, trung thực không gì bất cứ điều gì mà cấp phát ngân sách 1 cách tùy tiện, phải xem xét rõ mọi sự vật và báo cáo rõ với cấp trên về chế độ chính sách đúng theo quy định thì mới cấp kinh phí ngân sách

+ Hai là, phải có quan điểm phát huy tính tích cực, sáng tạo của ý thức

- Phải phát huy vai trò của tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí của con người; quan tâm

lợi ích của con người; khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, sự thụ động, trông chờ ỷ lại điều kiện khách quan: Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông

Trang 4

4 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNG qua hoạt động thực tiễn Do đó, cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với vật chất bằng cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận động chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người Sức mạnh ý thức của con người không phải ở chỗ tách rời điều kiện vật chất mà là biết dựa vào đó, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới khách quan

+ Ví dụ: Hiện nay là thời kỳ công nghệ, để tránh công việc cần làm gấp thì phải dùng công nghệ chuyển phát văn bản bằng hình thức qua trang email để giảm bớt thời gian trì trệ công việc

4 Liên hệ vận dụng vào công tác thực tiễn:

- Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit Trong

nhận thức và thực tiễn, chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình Đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhân thức,tác động cải tạo thế giới.Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí

Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức, tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí ,bất chấp qui luật khách quan ,xa rời hiện thực , phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất

Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa; về bố trí cơ cấu kinh tế;về việc sử dụng các thành phần kinh tế…

Trong những năm trước đây, trên thực tế chúng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết đó là lực lượng sản xuất còn nhỏ, chưa phát triển, còn chủ yếu là sản xuất nhỏ, lạc hậ , kinh tế hàng hoá chưa phát triển Chúng ta chỉ muốn đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH mà không tính đến điều kiện thực tế của đất nước

- Xuất phát từ ý nghĩa đó, Đảng ta đã chỉ rõ một trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của mình là phải "luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan", (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội 1986, tr.30)

- Mổi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế khách quan của đất nước và phù hợp qui luật Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới Do đó càng nắm bắt thông tin về thực tế khách quan chính xác, đầy đủ trung thực và sử lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức củng như các qui luật của thế giới khách quan

- Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức Đảng ta xác định:

“Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan): “Năng lực nhận thức và hành động theo qui luật là điều kiện đảm bảo sự lảnh đạo đúng đắn của Đảng “là khẳng định vai trò tích cực của ý thức trong việc chỉ đạo hành động con người Như vậy, từ chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ vật chất và ý thức, củng như

từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lảnh đạo cách mạng nước

ta, Đảng ta đã rút ra bài học trên, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đổi mới đất nước

Trang 5

5 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNG

Câu 2: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên

hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển? Liên hệ vận dụng vào công tác bản thân?

Trả lời:

1 Hai nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:

a Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: khái quát bức tranh toàn cảnh những mối liên hệ

của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy) PBCDV khẳng định rằng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối, mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau

* Ý nghĩa:

+ Phải xem xét toàn diện các mối liên hệ

+ Trong tổng số các mối liên hệ phải rút ra được những mối liên hệ bản chất, chủ yếu để thấu hiểu bản chất của sự vật

+ Từ bản chất của sự vật quay lại hiểu rõ toàn bộ sự vật trên cơ sở liên kết các mối liên hệ bản chất, chủ yếu với tất cả các mối liên hệ khác của sự vật để đảm bảo tính đồng bộ khi giải quyết mọi vấn đề trong đời sống Quan điểm toàn diện đối lập với mọi suy nghĩ và hành động phiến diện, chiết trung, siêu hình

- Đồng thời, mối liên hệ rất đa dạng, phong phú (mối quan hệ bên trong, bên ngoài), mối liên hệ bản chất-không bản chất; mối liên hệ tất nhiên-ngẫu nhiên Mối liên hệ ở những không gian, thời gian khác nhau thì mối liên hệ sẽ thể hiện khác nhau

VD: Vai trò, vị trí của con người khác nhau khi ở trong các mối quan hệ xã hội khác nhau Ngoài ra khi vai trò, vị trí thay đổi thì mối liên hệ cũng thay đổi, ví dụ hai người có mối quan hệ đồng nghiệp, nhưng một trong hai được bổ nhiệm làm lãnh đạo thì mối quan hệ lúc này là cấp trên và cấp dưới

- Tiếp tục phát huy những thành tựu công cuộc đổi mới, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội nước ta năm 2011 - 2020, đã được xác định: “Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN” (Trích văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI NXB Chính tri quốc gia, sự thật, Hà Nội 2011 trang 99, 100)

b Nguyên lý về phát triển: phản ánh đặc trưng biện chứng phổ quát nhất của thế giới.

Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,

từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện

PBCDV khẳng định rằng mọi lĩnh vực trong thế giới (vô cơ và hữu cơ; tự nhiên, xã hội và tư duy) đều nằm trong quá trình phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi không ngừng và về phương diện bản chất của mọi sự vận động, biến đổi của thế giới có xu hướng phát triển

Trang 6

6 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNG Phát triển được coi là khuynh hướng chung, là khuynh hướng chủ đạo của thế giới

* Ý nghĩa:

Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự vận động, biến đổi và phát triển của nó, phải tư duy năng động, linh hoạt, mềm dẻo, phải nhận thức được cái mới và ủng hộ cái mới Phát triển không loại trừ sự thụt lùi, tức sự thoái hóa, sự diệt vong của cái cũ, cái lạc hậu, cái lỗi thời Thậm chí cái mới cũng phải trải qua những thất bại tạm thời Tuy nhiên, thụt lùi là khuynh hướng không chủ đạo, chẳng những không ngăn cản sự phát triển, mà trái lại là tiền đề, là điều kiện cho sự phát triển

2 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật: 3 quy luật cơ bản của phép

biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể về phương diện vạch ra nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của các sự vật, hiện tượng trong thế giới Đó là 3 quy luật:

+ Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập: còn được gọi là quy luật mâu

thuẫn Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng, Nó vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển, phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật

Từ đó, phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà yêu cầu cơ bản của nó là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết là mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn Đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất đa dạng linh hoạt, tuỳ thuộc mâu thuẫn cụ thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể

+ Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và

ngược lại: gọi là quy luật lượng - chất Quy luật này phản ánh cách thức, cơ chế của

quá trình phát triển, là cơ sở phương pháp luận chung để nhận thức và thúc đẩy quá

trình phát triển của sự vật với 3 yêu cầu cơ bản là:

> Thường xuyên và tăng cường tích luỹ về lượng để tạo điều kiện cho sự thay đổi về chất Chống chủ nghĩa duy ý chí muốn đốt cháy giai đoạn

> Khi lượng được tích luỹ đến giới hạn độ, phải mạnh dạn thực hiện bước nhảy vọt cách mạng, chống thái độ bảo thủ, trì trệ

> Vận dụng linh hoạt các hình thức nhảy vọt để đẩy nhanh quá trình phát triển

+ Quy luật phủ định của phủ định: Quy luật này khái quát khuynh hướng phát triển

tiến lên theo hình thức xoáy ốc thể hiện tính chất chu kỳ trong quá trình phát triển

Đó là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương pháp suy nghĩ và hành động của con người Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế thừa nguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ Nguyên tắc phủ định biện chứng trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch sử và tiên đoán, dự kiến những hình thái cơ bản của tương lai

- Các cặp phạm trù không cơ bản

Bên cạnh 3 quy luật cơ bản, nội dung của phép biện chứng duy vật còn bao gồm các cặp phạm trù không cơ bản:

+ cặp phạm trù cái riêng - cái chung

+ tất nhiên - ngẫu nhiên

+ nguyên nhân - kết quả

+ bản chất - hiện tượng

+ khả năng - hiện thực

+ nội dung - hình thức

Trang 7

7 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNG

Tóm lại, mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa

phương pháp luận quan trọng Vì vậy, chúng phải được vận dụng tổng hợp trong nhận thức khoa học thực tiễn cách mạng

3 Ý nghĩa của phương pháp luận: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý

về sự phát triển của PBCDV là cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử-cụ thể và nguyên tắc phát triển

a) Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn

Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định

Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong sự nghiệp cách mạng:

- Trong Cách mạng dân tộc dân chủ: Đảng ta vận dụng quan điểm toàn diện trong phân tích mâu thuẫn xã hội, đánh giá so sánh lực lượng giữa ta với địch, tạo ra và sử dụng sức mạnh tổng hợp

- Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện, triệt để; đồng thời phải xác định khâu then chốt Nắm vững mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị và đổi mới tư duy

Đối lập với nguyên tắc toàn diện của PBC, quan điểm siêu hình xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện Nó không xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt kia, sự vật này tách rời sự vật khác Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kết hợp những mặt vốn không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợp được với nhau Thuật nguỵ biện thì cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ yếu làm mặt chủ yếu

b) Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn

Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình vận động phát triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào, trải qua những giai đoạn phát triển như thế nào, mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc điểm như thế nào

c) Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn:

Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu

4 Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân:

+ Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng Đó là mối liên hệ giữa: các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng…

+ Phát triển cũng là phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của một sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật

+ Trong công việc phải xem xét sự vật, hiện tượng phải có quan điểm giai đoạn phù hợp ủng hộ cái mới ra đời và phát triển, cách làm mới hiệu quả, công chức mới vào cơ quan nhà nước công việc khó khăn thì nên hỗ trợ ủng hộ và giúp dỡ người mới và tạo cho họ có điều kiện học hỏi và đáp ứng sự trẻ trung năng động sáng tạo vào sự phát triển tốt

Trang 8

8 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNG + Trong hoạt động thực tiễn, muốn cải tạo sự vật phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; phải xác định, phải đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với vận động, phát triển của sự vật

Câu 3: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất

và đấu tranh của các mặt đối lập? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân? Tra lời:

1 Nội dung quy luật:

- Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các duy vật

+ Một số vấn đề liên quan đến quy luật, quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên tương đối ổn định, được lặp đi lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính… của sự vật hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

- Vai trò quy luật: Là “ hạt nhân” của phép biện chứng duy vật; chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển

- Các khái niệm:

+ Mặt đối lập: Là những mặt yếu tố, thuộc tính có khuynh hướng vận động ngược chiều nhau trong cùng một sự vật, hay hệ thống các sự vật;

+ Thống nhất của các mặt đối lập: Là sự nương tựa vào nhau, quy định lẫn nhau, làm tiền đề cho sự tồn tại của nhau;

+ Đấu tranh của các mặt đối lập: Là sự tác động, chuyển hóa, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập;

+ Mâu thuẫn: Là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

* Tính khách quan

* Tính phổ biến

* Tính đa dạng, phong phú

+ Phân loại mâu thuẫn: bên trong - bên ngoài, chủ yếu - thứ yếu, cơ bản - không cơ bản, đối kháng - không đối kháng

+ Vai trò của các mối liên hệ: các mối liên hệ có vai trò khác nhau đối với sự phát triển của sự vật, liên hệ bên trong, chủ yếu, cơ bản giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển

2 Ý nghĩa phương pháp luận:

- Mâu thuẫn là khách quan, do vậy không nên né tránh mâu thuẫn Có nhiều loại mâu

thuẫn, chẳng hạn như mâu thuẫn cơ bản (là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật,

nó tồn tại từ khi sự vật ra đời đến khi sự vật mất đi) và mâu thuẫn không cơ bản (mâu thuẫn không quy định bản chật của sự vật); mâu thuẫn chủ yếu (mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật) và mâu thuẫn không chủ yếu

(mâu thuẫn mà việc giải quyết nó không quyết định việc giải quyết các mâu thuẫn

khác ở giai đoạn đó của sự vật); mâu thuẫn đối khảng (mâu thuẫn giữa những giai cấp,

tập đoàn người, những nhóm xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hòa)

và mâu thuẫn không đối khảng (mâu thuẫn giữa những lực lượng, khuynh hướng xã

hội có đối lập về lợi ích nhưng đó không phải là lợi ích cơ bản, mà chỉ là lợi ích cục

Trang 9

9 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNG bộ, tạm thời) Do vậy, trong hoạt động thực tiễn cần xác định đúng mâu thuẫn Giải quyết mâu thuẫn không được chủ quan, thỏa hiệp

Quy luật mâu thuẫn đem lại phương pháp khoa học cho việc xem xét và giải quyết các vấn đề: phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn

- Phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn Yêu cầu này đòi hỏi chúng ta muốn nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng cần phải biết phân tích các mặt đối lập của mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn đó vì đây là động lực cho sự phát triển của svht

- Khi mẫu thuẫn xảy ra không che đậy mâu thuẫn mà phải phân tích, xác định đúng các loại mâu thuẫn: mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng; trình độ phát triển của mâu thuẫn, từ đó tìm ra biện pháp thích hợp để giải quyết đối với từng loại mâu thuẫn

- VD: trong XHTB, mâu thuẫn giữa gc TS và VS là mâu thuẫn đối kháng, phải giải quyết bằng bạo lực cách mạng.

- Là rút ra những nguyên tắc, phương pháp và cách thức để giúp con người nhận thức đúng bản chất, đúng quy luật của thế giới -> tiếp tục chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người mà làm cho hoạt động thực tiễn của con người hiệu quả hơn để cải tạo thế giới

- Là cơ sở lý luận để xây dựng quan điểm toàn diện lịch sử cụ thể Nội dung của quan điểm này yêu cầu:

+ Trong nhận thức khi xem xét đánh giá sự vật, hiện tượng phải xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ cần tránh quan điểm phiến diện

+ Đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mối liên hệ đối với sự phát triển của sự vật, hiện tượng, tránh quan điểm cào bằng, “chủ nghĩa bình quân”

- Phải đặt sự vật hiện tượng với các mối liên hệ trong 1 không gian, thời gian cụ thể để xem xét

- Trong hoạt động thực tiễn phải sủ dụng đồng bộ nhiều biện pháp, phương tiện, liên lạc khác nhau để tác động làm biến đổi các mối liên hệ nhằm thay đổi sự vật

* Tóm tắt nội dung Quy luật :

- Mỗi sự vật là 1 chỉnh thể bao gồm các mặt, các yếu tố liên kết với nhau tạo thành, trong đó có những mặt, những yếu tố có khuynh hướng ngược chiều nên mâu thuẫn

- Hai mặt đối lập thì hình thành nên 1 mâu thuẫn

- Những mặt đối lập này vừa thống nhất lại vừa đấu tranh với nhau, đấu tranh của các mặt đối lập đến 1 mức độ nhất định và trong những điều kiện nhất định thì mâu thuẫn được giải quyết sự vật chuyển hóa

Trang 10

10 BTKO TC150 HC BÀI 1 DUY VAT BIEN CHUNG

- Sự vật mới ra đời có những mặt đối lập mới những mâu thuẫn mới những quá trình thống nhất và đấu tranh mới của mặt đối lập để đến 1 lúc nào đó mâu thuẫn lại được giải quyết, sự vật lại chuyển hóa…

- Như vậy, nguồn gốc của sự phát triển là do mâu thuẫn sự vật

=> Vì vậy, đấu tranh của các mặt đối lập, giải quyết mâu thuẫn chính là nguồn gốc động lực của sự phát triển

Ý nghĩa phương pháp luận:

- Muốn sự vật phát triển phải tìm và giải quyết mâu thuẫn

- Để giải quyết mâu thuẫn cần phân tích mâu thuẫn và chỉ giải quyết ở giai đoạn chín muồi

- Chống phủ nhận, điều hòa mâu thuẫn nôn nóng khi giải quyết mâu thuẫn

3 Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân

Trong nhận thức, không được che dấu mâu thuẫn, xem nhẹ mâu thuẫn mà phải tích cực phát hiện mâu thuẫn, phân tích mâu thuẫn, đánh giá đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn để hiểu bản chất của sự vật

- Trong thực tế mâu thuẫn của từng giai đoạn khác nhau, và hiện nay bản thân chúng ta là cán bộ, công chức nhà nước thì sự mâu thuẫn sự vật, hiện tượng khác nhau, như giải quyết công việc giữa 2 bộ phận cùng trong 1 phòng sẽ khác nhau cách trình bày văn bản cũng khác nhau, và cùng phát hành văn bản đến đơn vị cấp dưới thì cả 2 sự việc gây tranh luận giữa 2 tổ và như vậy phải giải quyết thế nào để tránh tình trạng gây ra tranh cải mâu thuẫn bằng cách thu hồi văn bản lại và thống văn bản phối hợp chung đến đơn vị

- Trong hoạt động thực tiễn để cải tạo sự vật cần tìm ra những phương thức, phương tiện, lực lượng để giải quyết mâu thuẫn

- Giải quyết mâu thuẫn phải chú ý đến tính lịch sử cụ thể mâu thuẫn khác nhau thì phải

có cách giải quyết khác nhau (sự vật hiện tượng thì có nhiều mâu thuẫn, phải tìm giải quyết phù hợp)

Câu 4: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa

từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?

Trả lời

1 Nội dung quy luật:

Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai mặt: chất lượng (chất) và số lượng (lượng) Từ những thay đổi dần dần về lượng dẫn sẽ đến những thay đổi về chất và ngược lại; là cách thức của sự vận động và phát triển

- Vai trò: Quy luật chỉ ra cách thức của sự vận động phát triển.

- Khái niệm chất và lượng

+ Chất: là phạm trù triết học chỉ quy định khách quan vốn có của các sự vật, hiện

tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho sự vật là nó mà không phải là sự vật khác

* Một sự vật hiện tượng có nhiều chất trong đó có 1 chất căn bản, nó quy định sự tồn tại hay mất đi của bản thân sự vật;

Ngày đăng: 30/07/2018, 17:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w