1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ bộ môn Pháp luật hình sự Việt Nam

133 102 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 788,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự thì thủ tục xét xử sơ thẩm là trung tâm; điều đó đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng phải luôn cố gắng thực hiện tốt nghĩa vụ chứng minh mới lựa chọn, áp dụng đúng, đầy đủ, kịp thời các quy định của pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung, pháp luật chuyên ngành…v..v…và các văn bản hướng dẫn để giải quyết đúng đắn vụ án. Khi giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục sơ thẩm, vai trò của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa rất quan trọng vì phải chứng minh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bằng việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ vụ án để ra quyết định tố tụng đúng đắn, kịp thời; vừa có trách nhiệm thu thập hoặc yêu cầu Viện kiểm sát thu thập chứng cứ; nếu không ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án, mà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì phải tiến hành rất nhiều công việc để phục vụ hoạt động xét xử sơ thẩm; tại phiên tòa sơ thẩm, chủ tọa phải chấp hành đúng và đầy đủ tất cả các trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, cùng Hội đồng xét xử nghị án và nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhân danh công lý ra bản án, quyết định giải quyết vụ án. VKSND với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đối tượng của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp là việc tuân thủ pháp luật của chủ thể có thẩm quyền trong họat động tư pháp. Viện kiểm sát có nhiệm vụ quyền hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật (bao gồm của Tòa án cùng cấp và của Tòa án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lực pháp luật ) khi cho rằng bản án hoặc quyết định đó có vi phạm pháp luật mà đủ các căn cứ pháp lý kháng nghị; để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án, quyết định bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm với hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Thực tiễn nhiều năm qua trên toàn quốc cũng như tỉnh Quảng Ngãi cho thấy Viện kiểm sát đã kháng nghị phúc thẩm không ít những bản án, quyết định sơ thẩm của Hội đồng xét xử, quyết định sơ thẩm của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa với nội dung và phạm vi kháng nghị rất đa dạng. Sau khi cấp phúc thẩm giải quyết kháng nghị, tùy theo từng vụ án cụ thể mà không ít trường hợp khi điều tra lại dẫn đến thay đổi tội danh khởi tố, khởi tố bổ sung tội, khởi tố thêm người phạm tội, truy cứu chuyển khung tăng nặng, bổ sung các chứng cứ quan trọng của vụ án; sửa án cơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo; hủy quyết định sơ thẩm …điều đó góp phần nâng cao chất lượng tố tụng, trong đó có hoạt động xét xử theo các thủ tục nói riêng. Tuy nhiên, có những trường hợp kháng nghị thiếu căn cứ hoặc không cần thiết nên không được cấp phúc thẩm chấp nhận; ngược lại, có trường hợp đủ căn cứ nhưng không được kháng nghị hoặc có kháng nghị nhưng không được chấp nhận. Góp phần thực hiện Nghị quyết số 49 của Bộ chính trị về chiến lược Cải cách tư pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự mới trong đó có yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng hình sự nên tác giả làm Luận văn với đề tài “Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”.

Trang 1

BẢNG VIẾT TẮT

6 Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã TAND huyện

7 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương TAND tỉnh

10 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao HĐTPTANDTC

12 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 BLHS 1999

13 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 BLHS 2015

19 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 LTCTAND 2002

20 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 LTCTAND 2014

21 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 LTCVKSND 2002

22 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 LTCVKSND 2014

27 Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự NBVQLHPCĐS

30 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan NCQL&NVLQ

DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, năm

1946

Nxb chính trị quốc gia

2 Hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, năm Nxb chính trị quốc

Trang 2

1959 gia

3 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt

Nam, năm 1980

Nxb chính trị quốc gia

4 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt

Nam, năm 1992

Nxb chính trị quốc gia

5 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt

Nam, năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2002

Nxb chính trị quốc gia

6 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt

Nam, năm 2013

Nxb chính trị quốc gia

7 Giáo trình Luật Hiến pháp của Trường Đại học Luật

Hà Nội

Nhiều tác giả Nxb pháp lý, năm 2014

gia

9 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm

2009

Nxb chính trị quốc gia

10 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2017

Nxb chính trị quốc gia

11 Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 Nhiều tác giả

12 Định tội danh theo Bộ luật hình sự Nước Cộng Hòa

Xã Hội Chủ NghĩaViệt Nam

Nguyễn Đăng Dung,

15 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Nxb chính trị quốc

Trang 3

22 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, các năm: 1960; 1981;

1992; 2002; 2014 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân

dân, các năm: 1960; 1981; 1992; 2002; 2014

Nxb chính trị quốc gia

23 Luật Luật sư, các năm: 2008; 2012 Nxb chính trị quốc

gia

24 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân

dân tối cao về hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự,

27 Kết luận kiểm tra thường kỳ toàn diện các lĩnh vực

công tác nghiệp vụ đối với các Viện kiểm sát nhân

dân cấp huyện trực thuộc: Từ năm 2007 đến năm

30 Luận án Tiến sĩ luật học: “Xét xử sơ thẩm trong Tố

32 Bài viết “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Tố

tụng Hình sự về thủ tục phiên tòa sơ thẩm đáp ứng

yêu cầu cải cách tư pháp”

Ts Hoàng Thị MinhSơn (Tạp chí Luậthọc số 10/2009);

33 Bài viết “Cần sửa đổi, bổ sung một số thủ tục tố

tụng hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp”

Ths Nguyễn VănTrượng (Tạp chí

Trang 4

TAND số 6/2010)

34 Luận án tiến sĩ luật học: “Quá trình chứng minh

trong vụ án hình sự ở nước ta”

Nguyễn Văn Du

35 Luận văn Thạc sỹ luật học - Học viện Khoa học xã

hội Việt Nam năm 2015: “Chứng minh trong tố tụng

hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”

Dương Ngọc An

36 Luận văn Thạc sỹ Luật học – Học viện Khoa học xã

hội Việt Nam năm 2009: “Thủ tục xét xử sơ thẩm

theo Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam và hoàn

thiện theo tinh thần cải cách tư pháp của nước ta”

Nguyễn Thị Thủy

37 Luận văn Thạc sỹ Luật học – Học viện Khoa học xã

hội Việt Nam năm 2013: “Phiên tòa xét xử hình sự

sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn

thành phố Hồ Chí Minh”

Nguyễn Thị MaiThùy

38 Bài viết “Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt

Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp

quyền”

PGS.TS Lê VănCảm(Tạp chí Kiểm sát số

15 tháng 8/2010 và

17 tháng 9/2010)

39 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Luật “Thực tiễn kiểm

sát hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự”

Dương Ngọc An(Đại học Luật Thànhphố Hồ Chí Minh)

40 Bài viết “Kháng nghị phúc thẩm để bảo vệ quyền lợi

cho công dân”

Kiểm sát viênDương Ngọc An(Báo Bảo vệ phápluật số Chuyên đềtháng 9/2007)

41 Bài viết “ Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày

4/8/2000 của HĐTPTANDTC: Những vướng mắc từ

thực tiễn”

Dương Ngọc An(Báo Bảo vệ phápluật số Chuyên đềtháng 1 + 2/2009

Trang 5

42 Bài viết “Dấu ấn sâu sắc từ một vụ án” Dương Ngọc An

(Báo Bảo vệ phápluật số Chuyên đềtháng 10/2012)

43 Bài viết “Qua một vụ đáo tụng đình” Dương Ngọc An

(Báo Bảo vệ phápluật số Chuyên đềtháng 7/2010)

44 Bài viết “Nhận định một đằng xét xử một nẻo" Dương Ngọc An

(Báo Bảo vệ phápluật số Chuyên đềtháng 9/2010)

45 Bài viết “Hành vi của Phan H có phạm tội “Tiêu thụ

tài sản do người khác phạm tội mà có ” hay chỉ là

“vi phạm hành chính”

Dương Ngọc AnTạp chí Kiểm sát số

09 tháng 5/2010

46 Bài viết “Lê Văn D đã thực hiện quyền phòng về

chính đáng”

Dương Ngọc AnTạp chí Kiểm sát số

18 tháng 9/2010

47 Bài viết “Kết quả thẩm vấn và tranh tụng tại phiên

tòa phúc thẩm hình sự”

Dương Ngọc AnTạp chí Nghề Luật,

số 01/2011

48 Bài viết “Một số ý kiến về vấn đề công bằng trong

phán quyết của Tòa án đối với vụ án hình sự”

Thạc sỹ Trần TríDũngTạp chí Kiểm sát số

18 tháng 9/2010

49 Quy chế kiểm tra trong hệ thống Tòa án nhân dân TANDTC (2017)

50 Kế hoạch kiểm tra của VKSND tỉnh Quảng Ngãi,

Trang 6

tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc

thẩm hình sự

53 Nghị quyết 37/2012/QH13 ngày 23.11.2012 của

Quốc Hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp

luật và tội phạm

Quốc hội NướcCHXHCNVN

54 Báo cáo số 26/VKS-BC ngày 10/10/2011 của

VKSND tỉnh Quảng Ngãi về việc tổng kết 3 năm

thực hiện Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1

ngày 19/6/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân

dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc

thẩm hình sự

Viện KSND tỉnhQuảng Ngãi

55 02 báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm Viện KSND tỉnh

Quảng Ngãi

56 457 bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật xét

xử từ năm 2015 đến năm 2017 của 14 Tòa án huyện,

thành phố trực thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Quảng

Ngãi,

Lưu tại Phòng Kiểmtra nghiệp vụ và Thihành án Tòa án tỉnhQuảng Ngãi

1 1 Khái niệm, nội dung, đặc điểm, ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm

1 2 Cơ sở của việc quy định kháng nghị phúc thẩm

1 3 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển các quy định về kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự việt nam

Kết luận chương 1 Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm

và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ngãi

Trang 7

2.1 Quy định của bộ luật tố tụng hình 2015 về kháng nghị phúc thẩm

2.2 Căn cứ kháng nghị phúc thẩm

2.3 Thực tiễn kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi

2.4 Vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân

Kết luận chương 2 Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi

3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả kháng nghị

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kháng nghị

3.2.1 Giải pháp về pháp luật

3.2.2 Giải pháp khác

Kết luận chương 3 Kết luận

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự thì thủ tục xét xử sơ thẩm làtrung tâm; điều đó đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành

tố tụng phải luôn cố gắng thực hiện tốt nghĩa vụ chứng minh mới lựa chọn, áp dụngđúng, đầy đủ, kịp thời các quy định của pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung, phápluật chuyên ngành…v v…và các văn bản hướng dẫn để giải quyết đúng đắn vụ án

Khi giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục sơ thẩm, vai trò của Thẩm phánchủ tọa phiên tòa rất quan trọng vì phải chứng minh trong giai đoạn chuẩn bị xét xửbằng việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ vụ án để ra quyết định tố tụng đúng đắn, kịpthời; vừa có trách nhiệm thu thập hoặc yêu cầu Viện kiểm sát thu thập chứng cứ;nếu không ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặcquyết định tạm đình chỉ vụ án, mà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì phải tiếnhành rất nhiều công việc để phục vụ hoạt động xét xử sơ thẩm; tại phiên tòa sơthẩm, chủ tọa phải chấp hành đúng và đầy đủ tất cả các trình tự, thủ tục tố tụng

Trang 8

trong quá trình xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản của

cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, cùng Hội đồng xét xử nghị án và nhân danhNước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhân danh công lý ra bản án, quyếtđịnh giải quyết vụ án

VKSND với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp Đối tượng của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp là việc tuân thủ phápluật của chủ thể có thẩm quyền trong họat động tư pháp Viện kiểm sát có nhiệm vụquyền hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định của Tòa áncấp sơ thẩm giải quyết vụ án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật(bao gồm của Tòa án cùng cấp và của Tòa án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lựcpháp luật ) khi cho rằng bản án hoặc quyết định đó có vi phạm pháp luật mà đủ cáccăn cứ pháp lý kháng nghị; để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án, quyết định bịkháng nghị theo thủ tục phúc thẩm với hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật

tố tụng hình sự Thực tiễn nhiều năm qua trên toàn quốc cũng như tỉnh Quảng Ngãicho thấy Viện kiểm sát đã kháng nghị phúc thẩm không ít những bản án, quyết định

sơ thẩm của Hội đồng xét xử, quyết định sơ thẩm của Thẩm phán được phân côngchủ tọa phiên tòa với nội dung và phạm vi kháng nghị rất đa dạng Sau khi cấpphúc thẩm giải quyết kháng nghị, tùy theo từng vụ án cụ thể mà không ít trườnghợp khi điều tra lại dẫn đến thay đổi tội danh khởi tố, khởi tố bổ sung tội, khởi tốthêm người phạm tội, truy cứu chuyển khung tăng nặng, bổ sung các chứng cứquan trọng của vụ án; sửa án cơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo; hủy quyếtđịnh sơ thẩm …điều đó góp phần nâng cao chất lượng tố tụng, trong đó có hoạtđộng xét xử theo các thủ tục nói riêng Tuy nhiên, có những trường hợp kháng nghịthiếu căn cứ hoặc không cần thiết nên không được cấp phúc thẩm chấp nhận; ngượclại, có trường hợp đủ căn cứ nhưng không được kháng nghị hoặc có kháng nghịnhưng không được chấp nhận

Góp phần thực hiện Nghị quyết số 49 của Bộ chính trị về chiến lược Cảicách tư pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự mới trong đó có yêu cầu nângcao chất lượng hoạt động tố tụng hình sự nên tác giả làm Luận văn với đề tài

Trang 9

“Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu ở nhiều góc

độ, khía cạnh với phạm vi khác nhau và có nhiều bài viết trên nhiều tạp chí, báo vềcông tác kháng nghị theo các thủ tục, trong đó có thủ tục phúc thẩm, nhưng hiệnnay chúng tôi chưa được biết có tác giả nào nghiên cứu đề tài này ở tầm luận vănhoặc luận án

Để góp phần phục vụ chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp được hiệnthực hóa vào Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật

tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, các bộ luật, đạo luật hiện hành nhất là

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2015, và xuất phát từ thực tiễn tại địa phương nói riêng, trong toàn quốc nóichung về yêu cầu tăng cường và nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử sơthẩm và chất lượng kháng nghị phúc thẩm các vụ án hình sự, nên chúng tôi chọn đềtài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá, tổng kết hiệu quả khángnghị phúc thẩm thông qua kết quả xét xử phúc thẩm xét kháng nghị, mà sau đókhông phát sinh thủ tục giám đốc thẩm; đồng thời có sự kết hợp với nghiên cứu cácyếu tố có liên quan đến hoạt động kháng nghị phúc thẩm theo quan điểm Triết họcMác – xít, để có căn cứ nêu ra những ưu điểm, vướng mắc, hạn chế và nguyênnhân Từ đó, căn cứ quy định pháp luật thực định về kháng nghị phúc thẩm và xét

xử phúc thẩm, gắn với chủ trương của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp lấy Tòa

án làm trung tâm, hoạt động xét xử là trọng tâm, tác giả đề xuất một số giải phápthực tế để nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm và xét xử phúc thẩm nhằm tácđộng tích cực đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm cả trong xã hội cũngnhư đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trên địa bàntỉnh Quảng Ngãi nói riêng , góp phần bổ sung lý luận

Trang 10

Từ mục đích đó, nhiệm vụ đặt ra là trước hết phải tập trung nghiên cứu cótính hệ thống các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và pháp luật liên quan vềhoạt động kháng nghị phúc thẩm, gắn với nghiên cứu những hồ sơ vụ án mà có bản

án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị và hồ sơ kiểm sát của Viện kiểm sát về những

vụ án này; nghiên cứu việc chấp hành các quy định của pháp luật hình sự, tố tụnghình sự, quy định của Ngành Kiểm sát nhân dân trong hoạt động kháng nghị phúcthẩm, nghiên cứu hồ sơ vụ án phúc thẩm và kết quả xét xử phúc thẩm để nêu ranhiều vụ án phúc thẩm cụ thể, và còn đề cập đến một số bản án sơ thẩm có hiệu lựcpháp luật nhưng thiếu thuyết phục, bên cạnh đó có kết hợp nghiên cứu cả hoạt độngkháng nghị, xét xử giám đốc thẩm, những bản án phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điềutra lại hoặc để xét xử lại hoặc sửa án sơ thẩm do xét kháng cáo, để làm cơ sở có độtin cậy cao khi xem xét, đánh giá hiệu quả kháng nghị phúc thẩm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là các quy định củapháp luật về hoạt động kháng nghị phúc thẩm gắn với thực tiễn áp dụng tại tỉnhQuảng Ngãi

Hoạt động kháng nghị phúc thẩm là vấn đề rộng, đa dạng, phức tạp, đòi hỏiphải nghiên cứu nhiều lĩnh vực, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình vàchất lượng giải quyết các loại án hình sự theo các thủ tục của các cơ quan tiến hành

tố tụng, nhất là Tòa án trong nhiều địa bàn, nghiên cứu các nhân tố xã hội tác độngđến hoạt động kháng nghị, xét xử phúc thẩm xét kháng nghị, kể cả xét xử phúcthẩm xét kháng cáo và xét xử giám đốc thẩm, nhất là các trường hợp Tòa án khángnghị, gắn với nghiên cứu hoạt động xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự và cácngành luật khác có liên quan theo các nguyên lý, các quy luật, các phạm trù trong

đó có nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật hiện tượng của chủ nghĩaMác – Lê nin, kết hợp với vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và việc thực hiện quanđiểm của Đảng ta về chiến lược cải cách tư pháp, để từ đó có cơ sở tin cậy trongviệc xem xét, phân tích, đánh giá hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm và đưa

ra các giải pháp đồng bộ

Trang 11

Với phạm vi luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình

sự, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn ápdụng đối với hoạt động kháng nghị phúc thẩm thông qua hoạt động xét xử theo thủtục phúc thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong mười năm qua (2007 – 2017)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin về Chủ nghĩaduy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, về Cách mạng vô sản, vấn đề dântộc, giai cấp, về nhà nước, pháp luật, quyền con người, nguyên lý quá trình nhậnthức, quan điểm lịch sử - cụ thể…v…v… và quan điểm của Đảng ta cùng tư tưởng

Hồ Chí Minh về vận dụng lý luận Mác xít vào quá trình thực tiễn cách mạng ViệtNam trong các lĩnh vực của đời sống xã hội trong từng giai đoạn lịch sử để thựchiện mục tiêu Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội như về nguyên tắc tổchức và hoạt động của bộ máy nhà nước, bản chất nhà nước, pháp luật và bản chấtpháp luật, đấu tranh giai cấp, các nguyên tắc và thủ tục tố tụng, quan hệ phối hợpchế ước trong tố tụng, cải cách tư pháp của Đảng…v…v…

Chúng tôi ứng dụng phương pháp luận vào phương pháp nghiên cứu bằngviệc nhận thức và áp dụng có tính hệ thống các quy định của pháp luật hình sự, tốtụng hình sự, luật chuyên ngành và các văn bản hướng dẫn, quy định của ngànhTòa án và Viện kiểm sát khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và bản án, quyết định sơ thẩmgiải quyết vụ án, hồ sơ kiểm sát án sơ thẩm; quy trình kháng nghị phúc thẩm vàhình thức, nội dung của kháng nghị phúc thẩm; hồ sơ vụ án và bản án phúc thẩm,

hồ sơ kiểm sát án phúc thẩm, các hoạt động của Viện kiểm sát từ khi ban hànhkháng nghị đến sau khi xét xử phúc thẩm và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiêntòa phúc thẩm xét kháng nghị; việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị, kết quả xét

xử phúc thẩm hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị hoặc không chấp nhận khángnghị; báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm xétkháng nghị; trực tiếp tham dự nhiều phiên tòa sơ thẩm của 2 cấp, phiên tòa xét xửphúc thẩm của tòa án tỉnh; nghiên cứu các kết luận kiểm tra thường kỳ, kiểm tra độtxuất hoạt động giải quyết các loại án trong đó có án hình sự và các báo cáo tổng kết

Trang 12

công tác năm, các báo cáo chuyên đề của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về tổngkết kinh nghiệm xét xử, các báo cáo tổng kết năm, các kết luận kiểm tra, báo cáotổng kết hoạt động kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; thamkhảo ý kiến chuyên gia, người tiến hành tố tụng…v…v…, từ đó trừu tượng hóakhoa học theo nguyên lý của quá trình nhận thức để giải quyết yêu cầu của đề tài.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu và các yêu cầu, giải pháp trong luận văn góp phần cungcấp cơ sở lý luận và thực tiễn về quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, hoạtđộng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, hoạt động kháng nghị và xét xử phúc thẩm nhằmgóp phần nâng cao chất lượng trong quá trình tố tụng hình sự tại tỉnh Quảng Ngãi

để bảo đảm điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và kịpthời, đảm bảo các bản án, quyết định có đủ căn cứ kháng nghị phải được khángnghị; không bỏ lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội, không làm sai, gópphần bảo đảm pháp chế thống nhất để phục vụ tích cực các mục tiêu phát triển củađịa phương

Luận văn còn có thể cung cấp thông tin cho người quan tâm để ứng dụngtrong thực tiễn quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố,trong điều tra, truy tố, xét xử theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm,tái thẩm và hoạt động kháng nghị theo các thủ tục, góp phần nâng cao hiệu quảtrong đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, trênphạm vi toàn quốc nói chung

Luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong xây dựngpháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động chứng minh của các cơquan tiến hành tố tụng, trong đó có hoạt động kháng nghị phúc thẩm và xét xử phúcthẩm, góp phần tích lũy tri thức, kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng, phục vụ hoạtđộng quản lý hành chính – tư pháp, ngăn chặn vi phạm trong hoạt động tư pháp vàphục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập

7 Cơ cấu luận văn

Trang 13

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văngồm ba chương; mỗi chương đều được kết luận và có kết luận chung; kết cấu nhưsau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3: Nhu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM TRONG TỐ

TỤNG HÌNH SỰ

1 1 Khái niệm, nội dung, đặc điểm, ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm

1.1.1 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm

Thuật ngữ “Kháng nghị” Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Phan Canh

(Nhà xuất bản Mũi Cà Mau, 1997, tr 675), thì “Kháng nghị” là “ bày tỏ ý kiếnphản kháng một việc gì” Theo https://vi.wiktionary.org/wiki/kháng nghị, thì

“Kháng nghị” được hiểu như sau: “Bày tỏ ý kiến chống lại điều đã quyết nghị”

(Tác giả Hồ Ngọc Đức, Dự án Từ điển Tiếng Việt) Chúng tôi đồng tình cao đối vớiquan điểm của tác giả Hồ Ngọc Đức khi vận dụng vào đề tài nghiên cứu cũng nhưquy định về các thủ tục xét xử trong tố tụng hình sự, trong đó có thủ tục phúc thẩmtheo pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam từ trước đến nay

Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định của pháp luật chuyên ngành, phápluật tố tụng của Nhà nước ta trong lịch sử lập pháp, chúng tôi có thể đưa ra quan

điểm sau đây về cụm từ này: “Kháng nghị” - là sự phản ứng, phản kháng của chủ

thể nhân danh cơ quan có thẩm quyền, được thể hiện bằng văn bản với đầy đủ cácyêu cầu về trình tự, thủ tục, căn cứ, phạm vi kháng nghị, hướng kháng nghị, thờihạn kháng nghị theo quy định của pháp luật trong từng trường hợp cụ thể đối vớisản phẩm áp dụng pháp luật (bao hàm cả sự tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật,

Trang 14

thi hành pháp luật - gọi chung là áp dụng pháp luật) hoặc đối với hành vi pháp lý(thuộc dạng hành động hoặc không hành động) của cơ quan, tập thể, người có thẩmquyền đã ban hành sản phẩm hoặc có hành vi pháp lý đó, khi chủ thể ra kháng nghịnêu ra các căn cứ pháp lý cụ thể để cho rằng có vi phạm pháp luật, và yêu cầu chủthể có sản phẩm hoặc hành vi pháp lý khắc phục hoặc yêu cầu chủ thể có thẩmquyền xét kháng nghị khắc phục hoặc có biện pháp pháp lý yêu cầu cơ quan, cánhân khắc phục hậu quả sai lầm, vi phạm đó theo quy định của pháp luật

Chúng tôi cũng chưa thấy có tài liệu chính thống hoặc sự giải thích chính

thức của cơ quan có thẩm quyền về thuật ngữ pháp lý“Phúc thẩm” trong đạo luật

gốc cũng như luật chuyên ngành và các luật tố tụng nói chung, luật tố tụng hình sự

nói riêng Qua tìm hiểu các nguồn thông tin thấy, có một số ý kiến về vấn đề này như sau:“Phúc thẩm, là một thủ tục tố tụng được áp dụng đối với bản án, quyết

định giải quyết vụ án của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị phát hiện cónhững vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, thủ tục

này là hình thức đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng”; “Phúc thẩm, là

một thủ tục tố tụng nhằm xét lại bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lựcpháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng

trong việc giải quyết vụ án”; “Phúc thẩm, được hiểu là Tòa án đã áp dụng sai luật

nội dung vào giải quyết vụ án Tòa án đã sử dụng những căn cứ dựa vào đó để kết

luận vụ việc không đúng với bản chất sự việc đó”; “Phúc thẩm, là một thủ tục xét

xử” Các quan điểm trên chúng tôi thấy đều có lý

Tuy nhiên, vì cho rằng các mệnh đề trên chưa thể hiện được nội hàm nên tác

giả luận văn đưa ra quan điểm: Phúc thẩm, là một thủ tục tố tụng, không phải là

một cấp xét xử, được pháp luật tố tụng quy định và áp dụng để khắc phục một phầnhoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm hoặc quyết định khác theo quy định củapháp luật của Tòa án khi giải quyết vụ án, vụ việc hình sự, dân sự (theo nghĩarộng), hành chính nhưng có vi phạm, sai lầm trong áp dụng pháp luật (pháp luậtnội dung, pháp luật chuyên ngành, pháp luật tố tụng, pháp luật về án phí, lệ phí Tòaán…v…v…) trên cơ sở có kháng nghị (nói riêng) và xét xử theo thủ tục phúc thẩm

Trang 15

Thủ tục này là hình thức đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Xã hội chủnghĩa, trong đó có nguyên tắc bảo đảm quyền kháng nghị, chế độ xét xử sơ thẩm,phúc thẩm được bảo đảm và tôn trọng chân lý trong tố tụng.

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các luật tố tụng hiện hành tiếp tục

có quy định về Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đốivới các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án giải quyết các loại vụ án, vụ việcchưa có hiệu lực pháp luật

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật, chúng tôi cho rằng,

Kháng nghị phúc thẩm nói chung - là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của

Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật hiện hành, được thể hiện bằng một vănbản pháp lý trong đó có nêu rõ ràng và cụ thể quan điểm của Viện kiểm sát khi chorằng toàn bộ hoặc những phần của bản án hoặc quyết định sơ thẩm giải quyết vụ áncủa Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lực pháp luật có

vi phạm trong hoạt động áp dụng pháp luật; đồng thời nêu ra căn cứ pháp lý để yêucầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết kháng nghị nhằm khắc phục vi phạm đó củaTòa án cấp sơ thẩm đối với bản án, quyết định bị kháng nghị Kháng nghị phúcthẩm phải đảm bảo các yêu cầu của pháp luật tố tụng về cả hình thức và nội dungthì mới có giá trị pháp lý đầy đủ

Kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự cũng chỉ là một dạng cụ thểcủa kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng nói chung, đó là việc người có thẩm quyềncủa VKS áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự ra qyết định khángnghị đối với một phần hoặc toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm giải quyết vụ

án của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét lạitoàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định sơ thẩm đó bị kháng nghị

Chúng tôi đưa ra khái niệm sau đây: Kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, là một văn bản tố tụng do người có thẩm quyền của Viện kiểm sát ban hành can thiệp trực tiếp vào một phần hoặc toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án hoặc các quyết định khác của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật khi cho rằng có vi phạm, sai lầm nghiêm trọng đã gây ra hoặc sẽ

Trang 16

gây ra hậu quả pháp lý, làm cho những phần của bản án, quyết định bị can thiệp

đó không được đưa ra thi hành Kháng nghị phúc thẩm làm phát sinh một quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có thể dẫn đến sự thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực pháp luật của một phần hay toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị thông qua thủ tục xét xử phúc thẩm, ra bản án hoặc quyết định phúc thẩm và thực hiện phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

của Viện kiểm sát đối với Tòa án cấp phúc thẩm về giải quyết phạm vi kháng nghị,

để cấp phúc thẩm áp dụng các quy định của pháp luật trực tiếp khắc phục vi phạmcủa Tòa án cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm yêu cầu cấp có thẩm quyền khắc phục

vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị được chấp nhận

Phạm vi kháng nghị và hướng kháng nghị của Viện kiểm sát đối với từngtrường hợp cụ thể sẽ được thể hiện theo phương pháp quy nạp thông qua phần

“Nhận thấy”, “Xét thấy” và được thể hiện cụ thể trong phần “Quyết định” củakháng nghị

Ngoài ra, xét về phạm trù “nội dung và hình thức” thì nội dung kháng nghịcòn được thể hiện cả về chủ thể kháng nghị, thời hạn kháng nghị, căn cứ khángnghị, việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị, hậu quả pháp lý của kháng nghị theocác quy định của pháp luật chuyên ngành, luật tố tụng và các văn bản hướng dẫn thihành của cơ quan có thẩm quyền, cụ thể nhất là pháp luật tố tụng hình sự

Phạm vi kháng nghị phúc thẩm hình sự có thể là việc áp dụng pháp luậthình sự, tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan, áp dụngpháp luật dân sự hay luật chuyên ngành và các văn bản hướng dẫn có liên quan, ápdụng pháp luật về án phí hình sự, án phí dân sự hoặc kể cả không tuyên quyềnkháng cáo, kháng nghị của các chủ thể theo pháp luật tố tụng đối với từng vụ án cụ

Trang 17

thể mà bản án, quyết định sơ thẩm đã thể hiện…Nội dung kháng nghị đòi hỏi phảichỉ ra các căn cứ pháp lý của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật

có vi phạm đến mức nghiêm trọng và nêu ra hướng để cấp phúc thẩm cần phải sửachữa, khắc phục vi phạm và hậu quả của nó trên cơ sở quy định của pháp luật vềbản án, quyết định phúc thẩm và thẩm quyển của hội đồng xét xử phúc thẩm, vàthông qua đây phòng ngừa vi phạm sai lầm nảy sinh Có như vậy thì Hội đồng xét

xử phúc thẩm khi giải quyết kháng nghị mới có cơ sở pháp lý vững chắc để chấpnhận kháng nghị, nếu không kháng nghị thường sẽ không được chấp nhận vì không

có căn cứ pháp lý chứng minh vi phạm và căn cứ pháp lý khắc phục vi phạm

1.1.3 Đặc điểm kháng nghị phúc thẩm

Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những quyền năng pháp lý quantrọng, thông qua đó Viện kiểm sát đồng thời thực hiện hai chức năng là quyền công

tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự

Vì là một sản phẩm trong hoạt động áp dụng pháp luật của chủ thể có nhiệm

vụ, quyền hạn ban hành kháng nghị và chịu trách nhiệm trước pháp luật về khángnghị đó, kháng nghị sẽ làm phát sinh quan hệ pháp luật nếu không rút kháng nghị(do hết thời hạn kháng nghị hoặc pháp luật thay đổi hoặc sự kiện pháp lý làm chấmdứt hiệu lực pháp luật của đối tượng bị kháng nghị hoặc hết thời hiệu truy cứu tráchnhiệm hình sự hoặc kháng nghị không có hoặc không đảm bảo căn cứ pháp lý…v…v…), nên hoạt động kháng nghị phúc thẩm có các đặc điểm cơ bản đó là:

- Mang tính nghĩa vụ, tính ý chí, tính quyền lực Nhà nước

Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉgiao cho người có nhiệm vụ quyền hạn trong ngành Kiểm sát Kháng nghị theo thủtục phúc thẩm là công cụ đặc biệt và là một trong những biểu hiện rõ nhất về quyềnnăng của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theopháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Bởi thế, khi phát hiện bản

án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà có vi phạm nghiêm trọng gâythiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của một hay nhiều chủ thể trong quan hệ tốtụng hình sự mà có đủ các căn cứ kháng nghị, thì đòi hỏi người có thẩm quyền

Trang 18

kháng nghị phúc thẩm phải có nghĩa vụ ra kháng nghị để yêu cầu cấp phúc thẩmkhắc phục, khôi phục lại trật tự pháp luật

Vì thế, việc kháng nghị không chỉ là nhiệm vụ, quyền hạn mà cần phải đượcnhận thức đúng rằng chính đây chính là nghĩa vụ pháp lý của chủ thể phải ra khángnghị theo yêu cầu đòi hỏi của Nhà nước Do vậy, việc ra kháng nghị thể hiện tính ýchí, tính quyền lực của nhà nước; không phụ thuộc vào mong muốn hay khôngmong muốn của chủ thể có nhiệm vụ quyền hạn ra kháng nghị

- Được tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền chặt chẽ theo pháp luật

Kháng nghị phúc thẩm là sản phẩm của hoạt động áp dụng pháp luật củachủ thể có nghĩa vụ, có tính định hướng, can thiệp trực tiếp vào hoạt động xét xử rabản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án hình sự của Tòa án nhân danh NướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện trình độ văn minh pháp lý, cho nênpháp luật có quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khángnghị; do đó, việc ra kháng nghị phải tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền theođúng các quy định của pháp luật thì mới có giá trị pháp lý; vì chủ thể có thẩmquyền giải quyết kháng nghị sẽ phải xem xét tính hợp pháp của kháng nghị cả vềthẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung

- Mang tính khách quan

Hoạt động ban hành kháng nghị phúc thẩm hình sự phải mang tính kháchquan khi xem xét đánh giá đối với đối tượng bị kháng nghị và phạm vi, hướngkháng nghị theo yêu cầu của pháp luật; không bị phụ thuộc vào chủ quan mongmuốn hay không của người có thẩm quyền ra kháng nghị và của những người thammưu Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của hoạt động kháng nghị;tránh việc ra kháng nghị không có căn cứ, không hợp pháp hoặc không cần thiết khixét ở góc độ pháp lý vì bất cứ lý do gì

- Mang tính cá biệt trong áp dụng pháp luật

Nghĩa vụ pháp lý của kháng nghị phúc thẩm là chứng minh một phần hoặctoàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật mà có đủcác căn cứ kháng nghị để khắc phục vi phạm theo quy định của pháp luật Điều này

Trang 19

nói lên rằng một kháng nghị phúc thẩm hình sự không được kháng nghị nhiều bản

án, quyết định sơ thẩm và tránh nhầm lẫn với các kháng nghị khác của VKSNDkhông phải theo pháp luật tố tụng đối với một hoặc nhiều hành vi hay sản phẩm có

vi phạm bị kháng nghị riêng lẻ hoặc đồng thời để yêu cầu khắc phục hoặc phòngngừa vi phạm

Sở dĩ kháng nghị phúc thẩm hình sự phải chứng minh vi phạm của bản án,quyết định sơ thẩm là vì: Cũng theo từ điển tiếng Việt của tác giả Phan Canh, tr

340 thì “Chứng minh: được diễn tả là soi tỏ mà chứng cho” Chứng minh, là hoạt

động của tư duy nhằm vạch ra căn cứ logic, lý lẽ logic cho tính chân thực của luậnđiểm cần được bảo vệ Chứng minh là một hình thức suy luận để khẳng định tínhchân lý của một luận điểm nào đó, bằng cách dựa vào những luận điểm mà tínhchân lý đã được thực tiễn xác nhận Cấu trúc chứng minh gồm ba phần liên quanchặt chẽ với nhau: luận đề, luận cứ và luận chứng Luận đề, là phán đoán mà tínhchân thực của nó phải chứng minh Luận đề là thành phần chủ yếu của chứng minh

và trả lời cho câu hỏi: Chứng minh hay bác bỏ cái gì? Luận đề có thể là một luậnđiểm khoa học, có thể là một phán đoán về thuộc tính, về quan hệ, về nguyên nhâncủa sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan…Luận cứ, là những phán đoán đượcdùng làm căn cứ để chứng minh cho luận đề Luận cứ chính là tiền đề logic củachứng minh và trả lời cho câu hỏi: Dùng cái gì để chứng minh? Luận cứ có thể lànhững định lý, tư liệu đã được thực tiễn xác nhận, những tiền đề, những luận điểmkhoa học đã được chứng minh, sự thật hiển nhiên Luận chứng, là cách thức tổ chứcsắp xếp các luận cứ theo những quy tắc và quy luật logic nhằm xác lập mối liên hệtất yếu giữa luận cứ và luận đề Luận chứng là cách thức chứng minh nhằm vạch ratính đúng đắn của luận đề dựa vào những luận cứ đúng đắn, chân thực Luận chứngtrả lời cho câu hỏi: Chứng minh như thế nào?

Phép chứng minh phải tuân theo các quy tắc của nó, đó là: Các quy tắc đốivới luận đề: Thứ nhất, luận đề phải chân thực Bởi chứng minh là nhằm vạch ra tínhđúng đắn, chân thực của luận đề chứ không phải là làm cho luận đề trở nên đúngđắn, chân thực Vì thế, nếu luận đề không chân thực thì không thể chứng minh

Trang 20

được Luận đề đó mà người ta chống đối thì là ngộ nhận (ngộ biện) – đúng màtưởng sai và ngược lại do nhận thức kém, hoặc là ngụy biện– đúng mà cố ý lập luậnsai hay ngược lại Thứ hai, luận đề phải rõ ràng, chính xác Sẽ không chứng minhđược nếu luận đề không được xác định rõ ràng Thứ ba, luận đề phải được giữ vữngtrong suốt quá trình chứng minh, không được đánh tráo luận đề Giữ nguyên luận

đề nhằm thực hiện nhiệm vụ của chứng minh Nếu luận đề đã bị thay đổi thì nhiệm

vụ chứng minh không hoàn thành, tức là luận đề được xác định ban đầu thì khôngchứng minh một luận đề khác Các quy tắc đối với luận cứ: Thứ nhất, luận cứ phải

là những phán đoán chân thực; nếu mắc lỗi này gọi là lỗi logic căn bản Tính chânthực của luận cứ là yếu tố bảo đảm cho tính chân thực của luận đề Vì vậy, khôngthể khẳng định tính chân thực của luận đề dựa trên cơ sở những luận cứ giả dối Lýluận dựa trên sức mạnh (“lý luận” bằng gậy) lấy sức mạnh, bạo lực thay cho luận

cứ đúng và đủ Lý luận dựa trên uy quyền là lấy uy quyền chính trị, tôn giáo, phápluật…thay cho luận cứ đúng và đủ Lý luận dựa trên tư cách cá nhân là lấy tư cách

cá nhân thay cho luận cứ đúng và đủ Lý luận dựa trên số đông, dư luận xã hội làlấy số đông, dư luận xã hội thay cho luận cứ đúng và đủ Lý luận dựa trên tình cảm

là lấy logic của trái tim thay cho logic của lý trí, để lấy tình cảm thay cho luận cứđúng và đủ để làm mềm lẽ phải làm nhũn chân lý Thứ hai, luận cứ phải là nhữngphán đoán có tính chân thực được chứng minh độc lập với luận đề Luận đề chỉđược chứng minh khi lấy tính chân thực của luận cứ để làm cơ sở Nếu tính chânthực của luận cứ lại được rút ra từ luận đề thì như thế là chẳng chứng minh được gì

cả Lỗi logic này gọi là lỗi “chứng minh vòng quanh” Thứ ba, luận cứ phải đủ đểdẫn đến luận đề - luận cứ phải là lý do đầy đủ của luận đề Giữa các luận cứ phải cómối liên hệ trực tiếp, tất yếu đối với luận đề Các luận cứ không chỉ chân thực màcòn phải không thiếu không thừa, bảo đảm cho luận đề được rút ra một cách tất yếukhách quan nhờ vào các cặp luận logic Luận cứ không đúng hay không đủ khôngphải là luận cứ vì nó không làm chỗ dựa cho điều gì cả Các quy tắc đối với luậnchứng: Thứ nhất, là một chuỗi các suy luận liên tiếp nhau nên luận chứng phải tuântheo các quy tắc, quy luật logic và không được lẩn quẩn Vi phạm các quy tắc, quy

Trang 21

luật logic thì kết luận không được rút ra một cách tất yếu từ tiền đề, tức là khôngchứng minh được luận đề Thứ hai, luận chứng phải bảo đảm tính hệ thống Cácluận cứ phải được sắp xếp, tổ chức chặt chẽ, bảo đảm cho phép chứng minh có sứcthuyết phục cao Thứ ba, luận chứng phải bảo đảm tính nhất quán – phi mâu thuẫn.Nếu trong phép chứng minh có chứa những luận cứ mâu thuẫn với nhau trực tiếphoặc gián tiếp, thì phép chứng minh ấy chứa mâu thuẫn logic, không thuyết phục.

Chứng minh, bác bỏ giả thuyết khoa học là nội dung bản chất của kiểm

chứng giả thuyết Chứng minh, là một hình thức suy luận, trong đó người nghiên

cứu dựa vào những phán đoán mà tính chân xác đã được công nhận (luận cứ) đểkhẳng định tính chân xác của một phán đoán đang cần phải chứng minh (luận

điểm) Bác bỏ, là một hình thức chứng minh nhằm khẳng định tính phi chân xác

của một phán đoán Có hai phương pháp chứng minh giả thuyết: Chứng minh trựctiếp: Tính chân xác của giả thuyết được rút ra trực tiếp từ tính chân xác của tất cảcác luận cứ (luận điểm, luận cứ và phương pháp đúng (phép hội logic)) Đây là loạithường gặp nhất trong nghiên cứu khoa học Chứng minh gián tiếp: Là phép chứngminh trong đó tính chân xác của luận điểm được chứng minh bằng tính phi chânxác của các phản luận điểm; gồm: Chứng minh phản chứng, là phép chứng minhtrong đó tính chân xác của giả thuyết được chứng minh bằng tính phi chân xác củacác phản luận điểm, tức là một giả thuyết đặt ngược lại với giả thuyết ban đầu.Chứng minh phân liệt, là phép chứng minh gián tiếp dựa trên cơ sở loại bỏ một sốkhả năng này để khẳng định những khả năng khác Đây là cách chứng minh có

nhiều sức thuyết phục Theo từ điển tiếng Việt nêu trên, tr 519 thì giả thuyết là thuyết mượn để định cho một việc gì đúng hoặc không và do đó người ta tìm đến kết quả Giả thuyết là một ý niệm người ta suy đoán về sự vật Dựa vào những kết

luận khoa học đã được xác nhận để chứng minh sự sai lầm của một giả thuyết Làmột thao tác logic hoàn toàn ngược với chứng minh, nó cũng gồm bác bỏ trực tiếp

và bác bỏ gián tiếp Trong bác bỏ trực tiếp chỉ cần bác bỏ một trong ba yếu tố cấuthành: Luận điểm sai, luận cứ sai hoặc phương pháp sai Như vậy, chủ thể ra khángnghị phải có nghĩa vụ pháp lý chứng minh về các căn cứ pháp luật có hiệu lực cụ

Trang 22

thể của vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm dẫn đến bị kháng nghị, và người rakháng nghị còn phải có nghĩa vụ chứng minh căn cứ pháp lý còn hiệu lực để khắcphục hậu quả.

- Chỉ ra vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định bị kháng nghị

Người ra kháng nghị phúc thẩm phải có nghĩa vụ chỉ ra cụ thể và chính xác

trong kháng nghị về các căn cứ pháp lý đối với các vi phạm, sai lầm của đối tượng

bị kháng nghị là phần nào hoặc toàn bộ bản án, quyết định xử lý vụ án cụ thể đó,dẫn đến bị kháng nghị, và chỉ ra cụ thể căn cứ pháp lý để cấp phúc thẩm khắc phục.Đây là vấn đề quan trọng nhất của kháng nghị

Hoạt động áp dụng pháp luật khi ra bản án, quyết định sơ thẩm có các giaiđoạn và các đặc điểm của nó Tuy nhiên trong thực tế, người ra kháng nghị khi chorằng bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm, có thể nói đây mới chỉ là giả thiết từphía họ mà thôi Theo quan điểm toán học thì chỉ có sự thật, chỉ có bản chất mớisinh ra giả thiết, chứ không phải ngược lại Việc xét kháng nghị phúc thẩm do hộiđồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật Cho nên, không phải mọikháng nghị đều đúng nên đều được chấp nhận Việc chấp nhận kháng nghị haykhông chấp nhận kháng nghị, chấp nhận một phần hay toàn bộ kháng nghị đều phảituân theo quy định có hiệu lực của pháp luật và đều phải được giải quyết hậu quảpháp lý

- Mang tính linh hoạt và sáng tạo của chủ thể

Tính linh hoạt và sáng tạo là một thuộc tính của hoạt động áp dụng pháp luậtnói riêng Đây là nhân tố chủ quan của người ra kháng nghị, có nền tảng từ tinhthần trách nhiệm đối với nghề nghiệp, với công việc được giao, từ trình độ văn hóa,trình độ pháp luật, từ việc đề cao ý thức pháp luật, niềm tin nội tâm, các kiến thức

về khoa học, về xã hội, gắn với nghiên cứu kỹ hồ sơ tài liệu, bản án, quyết định sơthẩm và khả năng tư duy khái quát hóa, trừu tượng hóa khoa học để ra kháng nghịđược đúng đắn vì hoạt động áp dụng pháp luật không phải là khuôn mẫu cứngnhắc Tính linh hoạt và sáng tạo hoàn toàn trái ngược với sự thờ ơ thiếu tráchnhiệm, chủ quan duy ý chí hay tùy tiện hoặc vì động cơ cá nhân nào khác, mà đó là

Trang 23

thể hiện cao độ của sự tinh thông nghề nghiệp, sự kết hợp giữa lý luận với năng lựcthực tiễn và thể hiện cao độ trách nhiệm và bản lĩnh của người ra kháng nghị.

- Làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự xét kháng nghị

Sau khi ban hành kháng nghị, nếu người ra kháng nghị hoặc người có thẩmquyền cấp trên không rút toàn bộ kháng nghị (vì kháng nghị thiếu căn cứ, khôngđúng thẩm quyền, không đúng đối tượng bị kháng nghị hoặc hết thời hạn khángnghị,…), thì tất yếu sẽ phát sinh một quan hệ pháp luật tố tụng là cơ quan, tập thể,

cá nhân được phân công thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm để xét kháng nghị phảithực hiện tất cả và đầy đủ các hoạt động, quyết định, hành vi tố tụng theo các quyđịnh của pháp luật để giải quyết kháng nghị, giải quyết bổ sung kháng nghị hay rútmột phần kháng nghị để chấp nhận kháng nghị (toàn bộ hoặc một phần kháng nghị)

và áp dụng pháp luật giải quyết hậu quả pháp lý; hoặc không chấp nhận toàn bộkháng nghị (vì thiếu căn cứ hoặc kháng nghị vi phạm thẩm quyền về hình thứchoặc thẩm quyền về nội dung hoặc hết thời hạn kháng nghị); hoặc xét lại vụ án kể

cả ngoài phạm vi kháng nghị theo đuy định của pháp luật (theo quy định của Điều

241 BLTTHS 2003 hoặc Điều 345 BLTTHS 2015 về phạm vi xét xử phúc thẩm);xét việc tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên rút toàn bộ kháng nghị

- Phụ thuộc vào kết quả giải quyết của tập thể xét kháng nghị

Hoạt động áp dụng pháp luật ra văn bản cá biệt khi giải quyết từng vụ án cócác giai đoạn phổ biến là: phân tích đánh giá bản chất vụ việc, lựa chọn quy phạmpháp luật để áp dụng và kiểm tra lại việc lựa chọn đó, ra văn bản áp dụng pháp luật,

tổ chức thi hành văn bản áp dụng pháp luật đó Đặc điểm của hoạt động áp dụngpháp luật là mang tính ý chí, tính quyền lực Nhà nước, mang tính cá biệt, tính bắtbuộc thực hiện và mang tính sáng tạo, linh hoạt của chủ thể

Người ra kháng nghị khi cho rằng có sai lầm nghiêm trọng trong áp dụngpháp luật, nhưng việc giải quyết kháng nghị lại phụ thuộc vào Hội đồng xét xửphúc thẩm hoặc Hội đồng phúc thẩm Kết luận về sự thật khách quan mới sinh ragiả thiết, chứ giả thiết không thể sinh ra kết luận và hoạt động tố tụng theo các thủtục cũng nhằm hướng đến các cấp độ của chân lý, chứ không phải hướng đến chân

Trang 24

lý tuyệt đối Cho nên không phải mọi kháng nghị đều đúng hoặc cần thiết nên đềuphải được tập thể giải quyết kháng nghị chấp nhận Tuy nhiên, tập thể xét khángnghị cũng phải thượng tôn pháp luật, không thể chi phối bởi quan hệ nội bộ ngànhhoặc quan hệ chính trị, quan hệ xã hội khác.

1.1.4 Ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm

Để làm sáng tỏ ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm hình sự, chúng tôi xin xétđến các thuộc tính sau đây:

- Về ý nghĩa chính trị.Việc quy định kháng nghị phúc thẩm trong luật

chuyên ngành và luật tố tụng hình sự nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc xâydựng Nhà nước Xã hội chủ nghĩa tập quyền dân chủ nhưng có sự phân công phânnhiệm và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, nhằmgóp phần quan trọng vào thực thi pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính thôngnhất của pháp luật, tính pháp chế Xã hội chủ nghĩa, không ngừng đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân

- Ý nghĩa pháp lý Việc quy định và thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm

là căn cứ, cơ sở pháp lý quan trọng làm phát sinh thủ tục phúc thẩm, đồng thờicũng xác định tính chất và phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm và xác địnhhiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm hình sự không bị kháng nghị, không bịkháng cáo

Luật tố tụng hình sự quy định về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm tươngđối cụ thể và phù hợp với mục đích của xét xử phúc thẩm là kiểm tra lại tính có căn

cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, đồng thời xử lại vụ án về mặt nội dung Qua đó,một mặt bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và của công dân,mặt khác thông qua việc sửa chữa những sai lầm, vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm,Tòa án cấp phúc thẩm hướng dẫn, giải thích để áp dụng thống nhất pháp luật

Kháng nghị phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm giải quyếtcác vụ án hình sự theo quy định pháp luật còn có một ý nghĩa pháp lý quan trọngkhác là cơ sở để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện một số nguyên tắc cơ bảncủa luật tố tụng, chẳng hạn như trong BLTTHS 2003 thì là cơ sở để hình thành

Trang 25

nguyên tắc “Thực hiện chế độ hai cấp xét xử” hoặc theo BLTTHS 2015 thì để thực hiện “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” được quy định tại Điều

27, để vụ án hình sự có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm; nhằm giảiquyết đúng đắn, kịp thời vụ án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của cơ quan, tổ chức và công dân Kết quả xét xử phúc thẩm nếu không chấpnhận kháng nghị mà không có căn cứ pháp luật, thì VKSND ra kháng nghị hoặcVKSND có thẩm quyền còn có nhiệm vụ quyền hạn báo cáo lên VKSND có thẩmquyền xem xét kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm Với các ýnghĩa nêu trên, đã chống lại ý kiến cho rằng kháng nghị phúc thẩm cũng chỉ như làkháng cáo mà thôi; đây là một sai lầm trong nhận thức và áp dụng pháp luật Vì thế,thủ tục phúc thẩm cũng còn tự nó nói nên rằng, không phải bản án, quyết định phúcthẩm nào khi xét lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng nghị cũng không phải

là đối tượng có thể bị kháng nghị giám đốc thẩm

Kháng nghị phúc thẩm chống lại tư tưởng chủ quan ỷ lại khi cho rằng việcxét xử ra bản án, quyết định sơ thẩm xử lý vụ án có hiệu lực pháp luật đã là trungtâm của vấn đề hoặc cho rằng xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩmthì cấp phúc thẩm chỉ xét kháng cáo để ra bản án, quyết định phúc thẩm mà khôngcần chú ý xét đến các phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng nghị (dù

có thể vi phạm nghiêm trọng) đã là chân lý tuyệt đối, đã có hiệu lực pháp luật,trong khi BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015 có quy định về tính chất của xét xửphúc thẩm và phạm vi xét xử phúc thẩm

- Ý nghĩa xã hội Kháng nghị phúc thẩm hình sự góp phần đảm bảo công

bằng xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, nhằmđảm bảo uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cơ quan xét xử, thựchiện quyền tư pháp là Tòa án nói riêng Việc đảm bảo pháp luật được thực thi, giảithích và áp dụng thống nhất là điều kiện quan trọng để hành vi của công dân đượcđiều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật thống nhất, đảm bảo nguyên tắc mọi côngdân đều bình đẳng trước pháp luật Thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ văn

Trang 26

minh; đảm bảo được các quyền cơ bản của công dân, nhất là trong lĩnh vực hình sựnói riêng không để xảy ra các trường hợp oan sai hay bỏ lọt tội phạm.

Từ những ý nghĩa trên đây, đã bác bỏ ý kiến về việc xem nhẹ hoạt độngkháng nghị phúc thẩm hình sự, mà cần phải nhận thức đây là một hoạt động mang ýnghĩa rất to lớn khi xét về quan hệ chính trị - pháp lý – lẽ công bằng trong xã hộidân chủ, nhà nước pháp quyền và chức năng của Tòa án là xét xử, giám đốc xét xử

và thực hiện quyền tư pháp, chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát cáchoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân

1.2 Cơ sở của việc quy định kháng nghị phúc thẩm

Hoạt động áp dụng pháp luật khi ra bản án, quyết định giải quyết vụ án củaTòa án các cấp theo các thủ tục, có thể nói quá trình đó chính đó là con đường điđến các cấp độ của chân lý; vì các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tốtụng, nhất là Thẩm phán giải quyết vụ án không phải là người trong cuộc, cũngkhông phải là những người biết hoặc chứng kiến toàn bộ vụ án, mà chỉ là nhữngngười áp dụng pháp luật mà thôi; trong khi hoạt động áp dụng pháp luật là hoạtđộng thể hiện quá trình nhận thức về sự vật hiện tượng pháp lý và áp dụng phápluật để ra sản phẩm, nhưng lại là cái chủ quan đối với cái khách quan Từ đó có thểcho rằng, không có bản án, quyết định nào của Tòa án khi giải quyết vụ án kể cảtheo thủ tục đặc biệt cũng đã là chân lý tuyệt đối Do đó, cần phải có các biện pháppháp lý mà cụ thể là quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, quyền kháng nghị vàxét xử theo các thủ tục phúc thẩm, giam đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyền kiến nghịkháng nghị theo các thủ tục và giải quyết kiến nghị, để tạo cơ sở pháp lý nhằm tôntrọng chân lý, hạn chế giải quyết, xét xử oan, sai các loại án Thủ tục xét xử sơthẩm, xét xử phúc thẩm đã là sản phẩm nền văn minh pháp lý của nhân loại từ mấytrăm năm nay, nhất là ở các nước Tây Âu

Xét góc độ thượng tầng pháp lý thì nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộmáy nhà nước ta từ khi là Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, đến nay là NướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dù mỗi giai đoạn phát triển nhưng đều theonguyên tắc tập quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa theo cơ chế dân chủ đại diện; theo

Trang 27

đó, mọi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp đều tậptrung vào Quốc Hội Nhưng do Quốc hội nước ta hoạt động chủ yếu theo chế độhội nghị 2 lần/năm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và quyết địnhnhững vấn đề cơ bản, trong đó có công tác lập hiến, lập pháp, cho nên Quốc Hội đãthành lập ra các hệ thống cơ quan gồm: Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện kiểmsát nhân dân thay mặt mình thực hiện quyền lực Nhà nước Từ khi có Hiến phápnăm 1959 đến trước khi có Hiến pháp năm 2013, thì các bản Hiến pháp và cácLTCTAND, LTCVKSND của nước ta trong giai đoạn này đều quy định nguyên tắc

Theo LTCTAND và LTCVKSND năm 2014, thì Tòa án là hệ thống cơ quan

có nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện quyền tư pháp, giải quyết, xét xử các loại án vàthi hành án hình sự; còn VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sátcác hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt động kiểm sát xét xử các loại vụ án củaTòa án Để bảo đảm cho hoạt động kiểm sát tư pháp, thì pháp luật quy định quyềnkháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát Hơn nữa, để đáp ứng yêu cầu xây dựngnhà nước pháp quyền, yêu cầu nâng cao chất lượng giải quyết các loại án, thì đòihỏi phải coi trọng các thủ tục xét xử, vì thế Hiến pháp năm 2013, LTCTAND 2014

và các Luật tố tụng mới đã thay thế quy định thủ tục 2 cấp xét xử (sơ thẩm, phúcthẩm) bằng việc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm

Có thể nói, xuất phát từ quan điểm Mác – xít về sự tôn trọng chân lý, tuântheo nguyên lý về quá trình nhận thức,…, tôn trọng chứng cứ và chứng minh trong

tố tụng, kết hợp với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, bản

Trang 28

chất nhà nước xã hội chủ nghĩa và các thiết chế về kiểm soát xã hội trong đó có hệthống các cơ quan nhà nước kể cả hệ thống các cơ quan tư pháp của nhà nước, yêucầu của bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, yêu cầu xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc công bằng, đề cao công lý lẽ phải, bảo đảm chế

độ 2 cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm để xét kháng cáo, kháng nghị và thủ tục tố tụngđặc biệt, đề cao ý thức pháp luật, hạn chế lạm quyền, tiêu cực,… là những cơ sởchủ yếu quy định về kháng nghị phúc thẩm

1 3 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển các quy định về kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.3.1 Quy định của Hiến pháp và các luật chuyên ngành

Hiến pháp 1946 có quy định chế định Tòa án, bao gồm Tòa án nhân dân,Tòa án quân sự và quy định bộ phận Công tố nằm trong Tòa án; chưa quy định vềthủ tục 2 cấp xét xử, cũng chưa quy định chế định Viện kiểm sát, do đó tất yếukhông quy định về quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyếtđịnh sơ thẩm của Tòa án

Hiến pháp các năm: 1959, 1980, 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và năm

2013 đều có quy định về thủ tục 2 cấp xét xử (xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm xétkháng cáo, kháng nghị)

Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các năm: 1960, 1981, 1992, 2002 và

2014 có quy định quyền kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát đối với bản án,quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp

Luật tổ chức Tòa án nhân dân, các năm: 1960, 1981, 1992 (sửa đổi, bổ sungnăm 1993 và 1995), 2002 và 2014 đều quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm để xét

kháng cáo, kháng nghị Chẳng hạn, tại Điều 9 LTCTAND 1960: Toà án nhân dân

thực hành chế độ hai cấp xét xử…Nếu đương sự không chống án hoặc Viện kiểmsát nhân dân không kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định, thì bản ánhoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân địa phương sẽ có hiệu lực pháp luật.Luật tổ chức Tòa án năm 2014, tại Điều 6: Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc

thẩm: 1 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm….Điều 37: Nhiệm vụ,

Trang 29

quyền hạn của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 1 Sơ thẩm

vụ việc theo quy định của pháp luật 2 Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơthẩm của Tòa án nhân dân huyện và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bịkháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật

Theo Luật này, các TANDCC cũng có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm đối vớibản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp tỉnh chưa có hiệu lực pháp luật bị khángnghị

Ngoài quy định của Hiến pháp năm 1946 về thủ tục xét xử của các Tòa ánnhư đã nêu trên; trong giai đoạn từ 1959 đến trước khi có Hiến pháp 1992, các bảnHiến pháp và các Luật tổ chức Tòa án, các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dântrong giai đoạn này, kể cả BLTTHS năm 1988 đều không quy định quyền khángnghị phúc thẩm và xét xử phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm giảiquyết vụ án hình sự của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao vì bản án này là sơchung thẩm Hiến pháp năm 1992 và LTCTAND 1992 trở đi đã không quy địnhTòa án nhân dân tối cao xét xử vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chungthẩm nữa; đây là một chủ trương đúng đắn để bảo đảm quyền kháng cáo, khángnghị phúc thẩm và thực hiện các thủ tục tố tụng đặc biệt

1.3.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, tại Điều 204 quy định về tính chất củaphúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơthẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị; Điều 206 quy định

về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát đối với những bản án hoặc quyết định sơthẩm của Tòa án; Điều 208 quy định về thời hạn kháng cáo, kháng nghị; Điều 211

về hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị; Điều 212 về bổ sung, thay đổi, rútkháng cáo, kháng nghị; Điều 214 về phạm vi xét xử phúc thẩm; Điều 216 về thànhphần Hội đồng xét xử phúc thẩm; Điều 220 về bản án phúc thẩm; Điều 225 quyđịnh về phúc thẩm những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm…v…v…

Lần đầu tiên Nhà nước ta đã luật hóa trong tố tụng hình sự về thủ tục xét xửphúc thẩm trong đó có xét kháng nghị Tuy nhiên, một trong những hạn chế đáng

Trang 30

kể của BLTTHS 1988 là không có quy định về chủ thể có quyền kháng nghị theothủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án chưa có hiệulực pháp luật của Tòa án cùng cấp, mà chỉ có Luật tổ chức VKSND năm 1981 quyđịnh Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trêntrực tiếp mới có quyền kháng nghị theo thủ tục này, nhưng thời hạn kháng nghịcũng chỉ trong mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án ra bản án, quyết định sơ thẩm,trong khi Luật tổ chức VKSND năm 1981 là luật chuyên ngành.

Dù BLTTHS năm 2003 khắc phục một số hạn chế, bất cập của BLTTHS

1988, thế nhưng, chỉ nói riêng về thủ tục phúc thẩm xét kháng cáo, kháng nghị thì

cả BLTTHS 1988 và BLTTHS 2003 đều còn rất nhiều hạn chế đối với đáp ứng đòihỏi của thực tiễn, nhất là đối với tính chất của xét xử phúc thẩm là xét kháng cáo,kháng nghị và thẩm quyền của cấp phúc thẩm; trong khi quy định của cả 2 Bộ luậtnày về “Phạm vi xét xử phúc thẩm” thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nến cần thiết thì

có quyền xét toàn bộ các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án,quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, nhưng lại chỉ theo nguyên tắc

có lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng; nếu bất lợi thì hội đồng xét xửphúc thẩm chỉ có thể có văn bản báo cáo đề nghị Tòa án có thẩm quyền kháng nghịgiám đốc thẩm; trong khi kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng làm xấu đi tìnhtrạng của bị cáo thì chỉ trong thời hạn một năm kể từ ngày bản án, quyết định hoặcmột phần của bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Thông thường thì hội đồngxét xử phúc thẩm ít đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án mà mình đãtuyên (kể cả đối với phần xét kháng cáo, kháng nghị và phần không bị kháng cáo,kháng nghị của bản án, quyết định sơ thẩm) hoặc tuyên giữ nguyên các phần kháccủa bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị; đây là một bất cậprất lớn làm cho không ít vi phạm hết sức đáng chú ý của cấp sơ thẩm như sai tộidanh, sai khung hình phạt, sót người sót tội, áp dụng không đúng loại và mức hìnhphạt…v v không được khắc phục

Tiếp tục khắc phục những hạn chế, tồn tại của BLTTHS năm 2003;BLTTHS năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018) có rất nhiều quy định

Trang 31

mới về kháng nghị và xét xử phúc thẩm nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu của thựctiễn

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu hệ thống pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành cùngnhững nguồn thông tin, tài liệu phục vụ việc xây dựng luận văn, kết hợp với nhậnthức, chúng tôi xin trình bày Chương 1 với các nội dung đã thể hiện; điều đó làm

cơ sở tiên quyết nhằm đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật và hoạt độngkháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân thuộc phạm vi nghiên cứu trongthời gian lấy số liệu, từ đó mới có thể giải quyết được các yêu cầu đặt ra củaChương tiếp theo

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNGTẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình 2015 về kháng nghị phúc thẩm

2.1.1 Chủ thể, phạm vi, thời hạn, hậu quả kháng nghị

- Chủ thể kháng nghị Điều 27 quy định: “…1 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc

thẩm được bảo đảm Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo,kháng nghị theo quy định của Bộ luật này Bản án, quyết định sơ thẩm không bịkháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực phápluật Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét

xử phúc thẩm….”

Như vậy, một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS 2015 là ghi nhận

chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (thay cho thủ tục 2 cấp xét xử của

BLTTHS 2003) chính là tiếp tục hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp và ghi nhận quyềnkháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát; kháng nghị là sự kiện pháp lý làm phátsinh thủ tục xét xử phúc thẩm nếu không xảy ra việc Viện kiểm sát hoặc Kiểm sátviên rút kháng nghị tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm

Quy định trên còn phải được nhận thức rằng, nếu bản án, quyết định sơ thẩmnào của Tòa án bị kháng nghị trong thời hạn theo quy định của pháp luật, thì không

Trang 32

phải toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm đó đều chưa có hiệu lực pháp luật, mà chỉ

có những phần của bản án, quyết định sơ thẩm đó hoặc toàn bộ bản án, quyết định

đó bị kháng nghị mới chưa có hiệu lực pháp luật; nếu kháng nghị đều quá thời hạntheo Bộ luật này quy định, thì toàn bộ bản án, quyết định hoặc một phần bản án,quyết định đó có hiệu lực pháp luật, hay nói một cách khác là kháng nghị khong cógiá trị pháp lý về hình thức nên không làm phát sinh thù tục phúc thẩm

Tuy nhiên, không phải ai cũng có quyền ban hành kháng nghị phúc thẩm, màchỉ có cơ quan và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo pháp luật quy định,

cụ thể là pháp luật tố tụng hình sự mới có quyền ra kháng nghị phúc thẩm Tại Điều

34 quy định về cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, trong đó cóquy định về Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng và Viện trưởng,Phó Viện trưởng Viện kiểm sát là những người tiến hành tố tụng

Trên cơ sở của Hiến pháp năm 2013, LTCVKSND năm 2014 tiếp tục quyđịnh hệ thống Viện kiểm sát được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trungthống nhất, đó là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo củaViện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp và chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Việnkiểm sát nhân dân tối cao BLTTHS 2003 quy định cụ thể về thẩm quyền xét xửcủa Tòa án các cấp, thẩm quyền theo lãnh thổ (các Điều 170, 171) và hiện nayBLTTHS 2015 cũng tiếp tục quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án, thẩmquyền theo lãnh thổ (các Điều 268, 269) làm cơ sở cho các cơ quan tiến hành tốtụng và người tiến hành tố tụng các cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mìnhtrong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng

Theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 41 của BLTTHS 2015 thì, khi thựchành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụnghình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn kháng nghị theo thủ tụcphúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này Khoản 3Điều này quy định Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền phân công cho Phó Việntrưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thực hành quyền công tố và kiểm sát việctuân theo pháp luật và kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết

Trang 33

định của Tòa án Khoản 4 Điều này quy định Viện trưởng, Phó Viện trưởng Việnkiểm sát phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình.Với quy định trên, thì việc ban hành hoặc không ban hành kháng nghị phúc thẩmchỉ thuộc về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểmsát có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và quyền năng pháp lý ra khángnghị xuất phát từ cơ sở để cho Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng của mình làthực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

Từ các quy định trên đây, thấy rằng, vấn đề đặt ra ở đây là, đối với hoạt độngthực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tưpháp khi giải quyết án hình sự của Viện kiểm sát cấp dưới trực tiếp, mà cụ thể làchỉ trong giai đoạn Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới đó thực hành quyền công tố

và kiểm sát xét xử vụ án hình sự cụ thể, hoặc Viện trưởng phân công cho Phó Việntrưởng Viện kiểm sát cấp mình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ ánhình sự đó, thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp hoặc Phó Viện trưởngViện kiểm sát cấp trên trực tiếp đó (khi được Viện trưởng phân công) có phải làngười thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thực hành quyền công tố và kiểm sát việctuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự (cụ thể là đối với hoạt động xét xử ra bản

án hoặc ra quyết định giải quyết vụ án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp dưới) haykhông? Theo chúng tôi, trong trường hợp này thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởngViện kiểm sát cấp trên trực tiếp không thực hành quyền công tố đối với vụ án hình

sự đó, mà chỉ có tiến hành hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp (cụ thể là kiểm sátxét xử vụ án hình sự đó) mà thôi

Điểm d khoản 1 Điều 266 quy định, khi thực hành quyền công tố trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội.

Trong khi tại khoản 5 Điều 267 quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của

Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử là kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có

vi phạm pháp luật nghiêm trọng về thủ tục tố tụng Và tại Điều 336 quy định Viện

Trang 34

kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án

hoặc quyết định sơ thẩm Chúng tôi cho rằng:

Việc quy định “có quyền kháng nghị”- là bất cập vì như vậy sẽ dẫn đến sự

tùy nghi, lạm quyền, không ràng buộc trách nhiệm của Viện kiểm sát khi thực hiệnchức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

Pháp luật vừa quy địnhVKSND kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án (trong đó có kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm) trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, nhưng lại quy định kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là mâu thuẫn

nhau, bất cập, không khái quát hóa các căn cứ kháng nghị phúc thẩm cũng nhưkhông tương đồng với thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án

sơ thẩm theo Điều 355 và thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm đối với quyết định

sơ thẩm theo Điều 361 BLTTHS 2015 nếu chỉ xét về tính chất của xét xử phúc

xử lý hoặc dân sự hóa hoặc hành chính hóa hành vi phạm tội do vô ý, cố ý hoặc donhận thức không đúng hay do hạn chế trong chứng minh của cơ quan và người tiếnhành tố tụng; bỏ lọt người phạm tội, là không xử lý hình sự đối với người phạm tội

do vô ý hoặc cố ý hoặc do nhận thức hoặc do nhiều lý do liên quan đến khả năngchứng minh về mặt tố tụng của chủ thể tiến hành tố tụng

Vậy, nếu vì lý do gì đó mà Viện kiểm sát cho rằng do không kháng nghị bản

án, quyết định sơ thẩm (chưa kể đến bản án, quyết định phúc thẩm hoặc giám đốcthẩm) vì không phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, thì sao; đây là

Trang 35

một bất cập, vì hệ thống Viện kiểm sát theo nguyên tắc tập trung thống nhất, vàVKS thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, nên tất cả các vụ ánhình sự Viện KSND có thẩm quyền cũng phải tham gia thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi

tố, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và các biện pháp ngăn chặn luật định, kiểmsát các hoạt động điều tra trong quá trình điều tra, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, yêucầu Cơ quan điều tra hoặc trực tiếp ra quyết định thay đổi tội danh khởi tố vụ án,khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan điều tra hoặc cơ quan tiến hành một số hoạt độngđiều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can, điều tra bổ sung hoặc trả hồ sơ cho cơ quanđiều tra để điều tra bổ sung, ra quyết định truy tố, trực tiếp điều tra bổ sung hoặc trả

hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán tronggiai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc của Hội đồng xét xử, thực hành quyền công tố tạiphiên tòa và kiểm sát xét xử, đề nghị giải quyết vụ án, kiểm sát bản án và khángnghị phúc thẩm hoặc đề nghị Viện KSND cấp trên trực tiếp kháng nghị phúc thẩmhoặc đề nghị Viện KSND cấp cao kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Về vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, lần đầu tiên BLTTHS 2015 quyđịnh tại điểm o khoản 1 Điều 4 vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc cơquan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự,thủ tục do Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợppháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thậtkhách quan, toàn diện của vụ án, thì cũng cần phải được liên ngành tư pháp Trungương hướng dẫn những dạng phổ biến để áp dụng thống nhất và ràng buộc tráchnhiệm của Viện kiểm sát; vì Viện kiểm sát có thể là chủ thể trực tiếp hoặc gián tiếpcủa vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thì xem ra không phải mọi trường hợp viphạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đều có thể được VKS cùng cấp hoặc Viện kiểmsát cấp trên trực tiếp thừa nhận, phát hiện và kháng nghị để khắc phục

Khoản 2 Điều 336 quy định về các nội dung chính của quyết định kháng nghịphúc thẩm như sau:

Trang 36

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định khángnghị; b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị; c) Kháng nghị đối vớitoàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm; d) Lý do, căn cứ kháng nghị vàyêu cầu của Viện kiểm sát; đ) Họ tên, chức vụ của người ký quyết định kháng nghị.

Vì hoạt động kháng nghị cũng chính là một dạng của hoạt động áp dụngpháp luật với các giai đoạn của hoạt động này trong công tác kiểm sát xét xử đểViện kiểm sát thực hiện tốt công tác kiểm sát thực hiện chức năng của mình Dovậy, lẽ ra Điều luật cần phải có quy định bắt buộc rằng, kháng nghị phúc thẩm phảithể hiện quan điểm của Viện kiểm sát ra kháng nghị đối với nội dung vụ án mà Tòa

án cấp sơ thẩm đã vi phạm khi áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, phápluật chuyên ngành…v…v… cùng các văn bản hướng dẫn để ra bản án, quyết địnhgiải quyết vụ án đó, kể cả vi phạm của Viện kiểm sát cấp dưới hoặc Viện kiểm sátcấp mình thể hiện trong cáo trạng, luận tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiêntòa.; vì trong thực tế không ít bản án bị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sátcấp trên trực tiếp kháng nghị nhưng việc áp dụng pháp luật của Hội đồng xét xửkhông có gì khác đáng kể quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát đối với Hộiđồng xét xử

- Phạm vi kháng nghị Theo BLTTHS 2015, tại Điều 330 quy định “Tính

chất của xét xử phúc thẩm: 1 Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếpxét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đốivới vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị 2 Quyếtđịnh sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là quyết định tạm đình chỉ, quyết định đìnhchỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ

vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quyđịnh của Bộ luật này”

Theo đó, phạm vi kháng nghị phúc thẩm xét theo khoản 1 Điều này là phạm

vi đó chỉ có thể là một phần hoặc toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa cóhiệu lực pháp luật do bị kháng nghị (ở đây ta chỉ đề cập đến bản án, quyết định sơthẩm bị kháng nghị, không đề cập đến kháng cáo) và phạm vi kháng nghị đó thông

Trang 37

thường phải được BLTTHS quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp phúcthẩm khi ra bản án hoặc quyết định phúc thẩm đối với bản án hoặc quyết định sơthẩm bị kháng nghị Những gì mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm không giảiquyết, thì không thể phát sinh thủ tục phúc thẩm, hay nói một cách khác không thể

bị kháng nghị Bên cạnh đó, xét theo hình thức pháp luật thành văn thể hiện bằngquy phạm pháp luật, nếu phạm vi kháng nghị phúc thẩm không được pháp luật quyđịnh thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm, thì cấp phúcthẩm không thể chấp nhận kháng nghị vì không có cơ sở pháp lý

Về khoản 2 Điều này, không phải mọi quyết định sơ thẩm đều là phạm vi củakháng nghị, mà chỉ có thể kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định tạm đình chỉ,quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo,quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp

sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này Từ quy định tại khoản 2 Điều này, chúng tathấy:

Quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc quyết định đình chỉ vụ án sẽ do Thẩmphán ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hoặc do Hội đồng xét xử

sơ thẩm ban hành tại phiên tòa sơ thẩm

Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can sẽ do Thẩm phán ban hànhtrong giai đoạn chuẩn bị xét xử (do bị can phạm tội đơn lẻ mà bỏ trốn cần phải truy

nã hoặc cần phải trưng cầu giám định tâm thần đối với bị can,….; do bị can phạmtội có đồng phạm nhưng bị can đó bỏ trốn mà không thể xét xử vắng mặt hoặc cầnphải giám định tâm thần đối với bị can,…)

Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo sẽ do Thẩm phán ban hànhtrong giai đoạn sau khi đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc do Hộiđồng xét xử ban hành tại phiên tòa xét xử sơ thẩm (do bị cáo phạm tội đơn lẻ mà bỏtrốn cần phải truy nã hoặc cần phải trưng cầu giám định tâm thần đối với bị cáo,….;

do bị cáo phạm tội có đồng phạm nhưng bị cáo bỏ trốn mà không thể xét xử vắngmặt hoặc cần phải giám định tâm thần đối với bị cáo,…)

Trang 38

Quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này:Theo quy định tại Điều 368 của BLTTHS 2015 về thủ tục xét tha tù trước thời hạn

có điều kiện, thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối vớiquyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn

có điều kiện, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Hộiđồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện Khoản 11 của Điều luật cũng quy địnhviện dẫn về thủ tục giải quyết kháng nghị đối với các quyết định này Đây là quyđịnh hoàn toàn mới so với BLTTHS 2003 Thẩm quyền này chỉ có thể thuộc Tòa ánnhân dân cấp tỉnh và quyền kháng nghị phúc thẩm chỉ thuộc về Viện KSND cùngcấp hoặc Viện KSND cấp cao có thẩm quyền và khi áp dụng Điều 368 Bộ luật nàycòn phải áp dụng cả các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự nữa

Từ quy định tại Điều 330 chúng ta thấy, phạm vi kháng nghị phúc thẩm củaViện kiểm sát là, chỉ có thể kháng nghị đối với toàn bộ bản án hoặc quyết định sơthẩm giải quyết vụ án hoặc quyết định khác (theo Điều 368 nêu trên) hoặc khángnghị một phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm hoặc quyết định khác của Tòa án,

để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lạiquyết định đó; đồng thời Điều luật cũng chỉ ra rằng, ngoài việc kháng nghị đối vớibản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, thì không phải mọi quyếtđịnh của Tòa án cấp sơ thẩm đều là đối tượng có thể bị kháng nghị phúc thẩm, cũngnhư những gì mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm đó không giải quyết thì không thể

bị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị phúcthẩm

Về nguyên tắc chung thì phạm vi kháng nghị phúc thẩm không đồng nghĩavới phạm vi xét xử phúc thẩm (Điều 345), với thẩm quyền của Hội đồng xét xửphúc thẩm đối với bản án sơ thẩm (Điều 355; được cụ thể hóa tại các Điều 356,357,358,359 và 360 BLTTHS 2015), cũng không đồng nghĩa với Thẩm quyền củaHội đồng phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm (Điều 361), mà phạm vi khángnghị phúc thẩm cũng giống như phạm vi kháng cáo ở chỗ trước hết được xem làcăn cứ để phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm (nếu không rút kháng nghị) Khác với

Trang 39

BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 có rất nhiều quy định mới phù hợp với đòihỏi của thực tiễn xét xử phúc thẩm cũng như kháng nghị nói riêng Quy định vềthẩm quyền của cấp phúc thẩm nhằm nâng cao trách nhiệm, chất lượng, hiệu quảkháng nghị phúc thẩm và xét xử phúc thẩm và góp phần thực hiện tốt các nguyêntắc cơ bản của pháp luật hình sự.

Như vậy có thể nói, chủ thể kháng nghị ở đây là Viện kiểm sát cùng cấp hoặcViện kiểm sát cấp trên trực tiếp, mà người đại diện của Viện kiểm sát là Việntrưởng hoặc Phó Viện trưởng được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công nhiệm vụthực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự đó mới có quyền khángnghị phúc thẩm; nếu Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sátcấp trên trực tiếp mà không được Viện trưởng cấp mình phân công thì không cónhiệm vụ, quyền hạn kháng nghị phúc thẩm Còn phạm vi kháng nghị phúc thẩm làtoàn bộ hoặc một phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án chưa có hiệu lựcpháp luật, mà thuộc thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát và phảithuộc thẩm quyền giải quyết của hội đồng xét xử phúc thẩm, hội đồng phúc thẩmtheo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Ở đây, chúng tôi xin dùng cụm từ “Phạm vi kháng nghị phúc thẩm” màkhông dùng cụm từ “Đối tượng của kháng nghị phúc thẩm” vì như thế nó đã baohàm cả giới hạn về đối tượng và giới hạn về phạm vi của kháng nghị phúc thẩm

- Thời hạn kháng nghị Theo Điều 337, thời hạn kháng nghị phúc thẩm của

Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của Việnkiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án; thời hạn khángnghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là 07ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyếtđịnh

Bên cạnh đối tượng kháng nghị và phạm vi kháng nghị thì, Điều luật quyđịnh cụ thể về thời hạn kháng nghị nêu trên đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩmcủaViện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp Quy định về thờihạn kháng nghị, xét theo nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thì nhằm bảo đảm

Trang 40

nghĩa vụ pháp lý trong việc phát hiện vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm vàquyền, nghĩa vụ kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp để bảo vệ lợi ích của các chủthể tham gia tố tụng, lợi ích của xã hội cũng như để phù hợp với việc thi hành cácphần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng nghị phúc thẩm đã có hiệu lựcpháp luật.

Quy định của BLTTHS về thời hạn kháng nghị nêu trên, ngoài việc giúpchúng ta khẳng định rằng BLTTHS không quy định kháng nghị quá hạn trong mọitrường hợp và do đó cũng không quy định thủ tục xét kháng nghị quá hạn và xét bổsung kháng nghị quá hạn theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo, mà còn đểchủ thể có thẩm quyền thực hiện đúng các quy định của BLTTHS về kháng nghị, về

bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị trong từng trường hợp cụ thể và bảo đảm quyềnbào chữa, quyền bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia tố tụng trong

vụ án có liên quan đến kháng nghị, xác định phạm vi xét xử phúc thẩm không chỉtrong kháng nghị, xác định hiệu lực pháp luật của những phần trong bản án, quyếtđịnh sơ thẩm không bị kháng nghị, thẩm quyền của cấp phúc thẩm trong việc canthiệp trực tiếp vào những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị hoặckhông bị kháng nghị và đã có hiệu lực pháp luật

- Hậu quả kháng nghị Theo Điều 339, riêng đối với những phần của bản án,

quyết định của Tòa án bị kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, khi có khángnghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định đó chưa đượcđưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 “Bản án, quyết định của Tòa

án được thi hành ngay” của Bộ luật này Sau khi nhận được kháng nghị, Tòa án cấp

sơ thẩm ra bản án, quyết định bị kháng nghị phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, khángnghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa áp cấp phúc thẩmtrong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị để Tòa áncấp phúc thẩm có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm Điều 343quy định bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa

án không bị kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khángnghị

Ngày đăng: 29/07/2018, 10:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w