Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến thời gian sinh trưởng và phát triển đối với giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP... Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng si
Trang 1NGUYỄN TÚ HUY
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY
TẠI TỈNH HÀ GIANG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN, 2018
Trang 2NGUYỄN TÚ HUY
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY
TẠI TỈNH HÀ GIANG
Ngành : Khoa học cây trồng
Mã Ngành : 9.62.01.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐÀO THANH VÂN
THÁI NGUYÊN, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận án này đã được cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận án đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận án
Nguyễn Tú Huy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này tôi nhận được sự chỉ dẫn tận tình của GS.TS Đào Thanh Vân với cương vị là người hướng dẫn khoa học về phương pháp nghiên cứu, thu thập, xử lý và phân tích số liệu đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo, khoa Nông học, các đơn vị chức năng Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên Ban Giám hiệu, các đơn vị chức năng và các đồng nghiệp Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Hà Giang, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện
đề tài trong những năm qua
Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới GS.TS Đào Thanh Vân đã giúp đỡ, hướng dẫn và động viên để tôi hoàn thành đề tài luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp luôn hết lòng động viên, khích lệ và giúp đỡ nhiệt tình dành cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
và hoàn thành luận án
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỀU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đềt tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4 Những đóng góp mới của đề tài 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.2 Nguồn gốc và phân loại 6
1.2.1 Nguồn gốc 6
1.2.2 Phân loại 7
1.3 Đặc điểm nông sinh học của cây hoa lily 9
1.3.1 Đặc điểm thực vật học và sự sinh trưởng phát triển của hoa lily 9
1.3.2 Yêu cầu sinh thái của hoa lily 12
1.4 Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.4.1 Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới 14
1.4.2 Tình hình sản xuất hoa lily ở Việt Nam 16
1.5 Những kết quả nghiên cứu về hoa lily trên thế giới và ở Việt Nam 17
1.5.1 Kết quả nghiên cứu về cây hoa lily trên thế giới 17
1.5.2 Kết quả nghiên cứu về cây hoa lily ở Việt Nam 23
1.6 Các nhận xét rút ra từ tổng quan 29
Trang 6Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu 31
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu và đặc điểm của một số giống hoa lily 31
2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 32
2.2 Vật liệu nghiên cứu 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.3.1 Nội dung 1: Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và đặc điểm nông sinh học của một số giống hoa lily nhập nội tại Hà Giang 33
2.3.2 Nội dung 2: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng giống hoa lily Robina tại TP Hà Giang 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 34
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 34
2.4.2 Các phương pháp và chỉ tiêu theo dõi 39
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái và đặc điểm nông sinh học của một số giống hoa lily nhập nội tại Hà Giang 44
3.1.1 Đặc điểm hình thái của một số giống hoa lily nhập nội vụ Đông năm 2012 tại Hà Giang 44
3.1.2 Đặc điểm nông sinh học của một số giống hoa lily nhập nội vụ Đông năm 2012 và 2013 tại Hà Giang 54
3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng giống hoa lily Robina tại TP Hà Giang 67
3.2.1 Ảnh hưởng của chu vi củ đến khả năng sinh trưởng, phát triển và hiệu quả kinh tế đối với giống hoa lily Robina tại TP Hà Giang 67
3.2.2 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến thời gian sinh trưởng và phát triển đối với giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 73
Trang 73.2.3 Ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng, phát triển và hiệu quả
kinh tế đối giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2015 tại TP Hà Giang 81
3.2.4 Ảnh hưởng của nồng độ phun, liều lượng bón Canxi Nitrate Ca(NO3)2 đến sự sinh trưởng, phát triển và phòng chống bệnh cháy lá sinh lý đối với giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 89
3.2.5 Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và hiệu quả kinh tế đối với giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 98
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 107
1 Kết luận 107
2 Đề nghị 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ca(NO3)2: Canxi Nitrate
OA: Oriental/Asiatic Hybrids
OT: Oriental/Trumpet Hybrids
TA: Trumpet/Asiatic Hybrids
Thiên Nông: Kích phát tố cho hoa, trái Thiên Nông
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỀU
Bảng 1.1: Cơ cấu số lượng, chủng loại hoa ở Việt Nam từ năm 2000 - 2015 17 Bảng 2.1 Đặc điểm của 6 giống hoa nghiên cứu 31 Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái thân vảy của một số giống hoa lily vụ Đông
năm 2012 tại Hà Giang 45 Bảng 3.2 Đặc điểm hình thái thân của một số giống hoa lily vụ Đông năm
2012 tại Hà Giang 46 Bảng 3.3 Đặc điểm hình thái lá của một số giống hoa lily vụ Đông năm 2012
tại Hà Giang 47 Bảng 3.4 Đặc điểm hình thái hoa của một số giống hoa lily vụ Đông năm
2012 tại Hà Giang 51 Bảng 3.5 Đặc điểm nhị và nhụy của các giống hoa lily vụ Đông năm 2012 tại
Hà Giang 53 Bảng 3.6 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống hoa lily trong vụ Đông
năm 2012 và 2013 tại Hà Giang 56 Bảng 3.7 Đặc điểm sinh trưởng của một số giống hoa lily trong vụ Đông năm
2012 và 2013 tại Hà Giang 57 Bảng 3.8 Đặc điểm các thời kỳ phát triển của một số giống hoa lily vụ Đông
năm 2012 và 2013 tại Hà Giang 59 Bảng 3.9 Đặc điểm chỉ tiêu về nụ của một số giống hoa lily trong vụ Đông
năm 2012 và 2013 tại Hà Giang 60 Bảng 3.10 Đặc điểm chỉ tiêu về hoa của các giống hoa lily trong vụ Đông
năm 2012 và 2013 tại Hà Giang 62 Bảng 3.11 Tình hình sâu bệnh hại chính trên một số giống hoa lily trong
vụ Đông năm 2012 và 2013 tại Hà Giang 63 Bảng 3.12 Giá bán và thị hiếu sử dụng các giống hoa lily vụ Đông năm 2012
và năm 2013 tại Hà Giang 66
Trang 10Bảng 3.13 Ảnh hưởng của chu vi củ đến tỷ lệ mọc mầm của giống hoa lily
Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 68 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của chu vi củ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của
giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 68 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của chu vi củ đến các thời kỳ phát triển chủ yếu của
giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 69 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của chu vi củ đến chỉ tiêu về nụ, hoa của giống lily
Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 70 Bảng 3.17 Ảnh hưởng của chu vi củ đến tỷ lệ cây hữu hiệu và số lượng loại
cành của giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 71 Bảng 3.18 Ảnh hưởng chu vi củ đến hiệu quả kinh tế của giống hoa lily
Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 72 Bảng 3.19 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến tỷ lệ mọc mầm của giống hoa
lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 73 Bảng 3.20 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng
của giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 75 Bảng 3.21 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến các thời kỳ phát triển chủ yếu
của giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 76 Bảng 3.22 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến chỉ tiêu về nụ, hoa của giống
hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 77 Bảng 3.23 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến tình hình bệnh hại trên giống
hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 78 Bảng 3.24 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến số lượng loại cành của giống
hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 79 Bảng 3.25 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến hiệu quả kinh tế đối với giống
hoa lily Robina vụ Đông năm 2014 tại TP Hà Giang 80
Trang 11Bảng 3.26 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ mọc mầm của giống hoa lily
Robina vụ Đông năm 2015 tại TP Hà Giang 81
Bảng 3.27 Ảnh hưởng của giá thể đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống
hoa lily Robina vụ Đông năm 2015 tại TP Hà Giang 82
Bảng 3.28 Ảnh hưởng của giá thể đến đặc điểm đặc tính nụ, hoa của giống
lily Robina vụ Đông năm 2015 tại TP Hà Giang 83
Bảng 3.29 Ảnh hưởng của giá thể đến tình hình bệnh hại trên giống hoa lily
Robina vụ Đông năm 2015 tại TP Hà Giang 87
Bảng 3.30 Ảnh hưởng giá thể đến hiệu quả kinh tế của giống hoa lily Robina
vụ Đông năm 2015 tại TP Hà Giang 88
Bảng 3.31 Ảnh hưởng của Ca(NO3)2 đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của
giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 89
Bảng 3.32 Ảnh hưởng của nồng độ phun và liều lượng bón Ca(NO3)2 đến
khả năng phòng chống bệnh cháy lá sinh lý đối với giống hoa lily
Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 91
Bảng 3.33: Ảnh hưởng của nồng độ phun và liều lượng bón Ca(NO3)2 tới các
giai đoạn phát triển đối với giống hoa lily Robina vụ Đông năm
2016 tại TP Hà Giang 93
Bảng 3.34 Ảnh hưởng của nồng độ phun và liều lượng bón Ca(NO3)2 đến
một số chỉ tiêu hoa của giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 94
Bảng 3.35 Ảnh hưởng của nồng độ phun và liều lượng bón Ca(NO3)2 đến tỷ
lệ loại cành của giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 95
Bảng 3.36 Ảnh hưởng của nồng độ phun và liều lượng bón Ca(NO3)2 đến
hiệu quả kinh tế của các công thức tham gia thí nghiệm vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 97
Trang 12Bảng 3.37 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến một số chỉ tiêu sinh
trưởng của giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 98 Bảng 3.38 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng nhiễm
bệnh của giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 99 Bảng 3.39 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian ra nụ và
nở hoa của giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 101 Bảng 3.40 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến một số chỉ tiêu nụ
hoa của giống hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 102 Bảng 3.41 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến số hoa, độ bền hoa
và tỷ lệ nở hoa của giống lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 103 Bảng 3.42 Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng đến chất lượng cành
hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 104 Bảng 3.43 Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng đến hiệu quả kinh tế
trong sản xuất hoa lily Robina vụ Đông năm 2016 tại TP Hà Giang 105
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.2: Các giống hoa lily bị cháy lá sinh lý 27Hình 3.1 Tương quan giữa chiều cao cây với số hoa/cây của giống
Robina 85Hình 3.2 Tương quan giữa đường kính gốc với số hoa/cây của giống
Robina 86Hình 3.3 Tương quan giữa số lá/cây với số hoa/cây của giống Robina 86
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đềt tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế mỗi người dân trên toàn thế giới
đã có những đòi hỏi mới về chất lượng cuộc sống: ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn
và tinh thần phong phú hơn Vì yêu cầu ăn ngon, sống đẹp ngày càng được xem trọng cho nên hoa - cây cảnh đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong mọi sinh hoạt: hoa sinh nhật, hoa thăm hỏi, hoa tiệc cưới, hoa trang trí văn phòng, hoa cho các ngày lễ, hội (Đặng Văn Đông, 2016) [13] Tính đến năm 2016, giá trị sản xuất hoa toàn cầu ước tính đạt 55 tỷ đô la, trong đó cây giống, cây bụi, cây trồng chậu và cây chịu lạnh đạt 35 tỷ đô la (Rabobank, 2016) [85]
Cùng với các loại hoa - cây cảnh, lily (Lilium spp) là một trong những
loài hoa cắt có giá trị kinh tế cao, được sử dụng phổ biến trong đời sống của người Việt Nam hiện nay Hoa có nhiều màu sắc, độ bền hoa kéo dài, một số giống có hương thơm và khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu của nhiều vùng, đặc biệt miền Bắc Việt Nam Do vậy, hoa lily trở thành mặt hàng chủ lực trồng để cung cấp trong dịp Tết Nguyên đán ở nhiều tỉnh, thành phía Bắc
và Đà Lạt Diện tích hoa lily không ngừng tăng lên qua các năm từ 2000 đến nay, một số tỉnh, thành miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Sơn La, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc… đã sản xuất hoa lily theo hướng công nghệ mới trồng hoa cho thu nhập cao (Đặng Văn Đông và cs., 2004) [7] Trong đó, một số giống hiện nay đã được một số đơn vị khảo nghiệm và đang được sử dụng nhiều như Conca d’Or, Belladonna hay Robina Về kỹ thuật sản xuất yêu cầu người trồng hoa cần có trình độ và kinh nghiệm chăm sóc, tác động kỹ thuật như bố trí thời vụ hợp lý, sử dụng giá thể thích hợp, cung cấp các chất điều hòa sinh trưởng đúng liều lượng vào thời điểm cây nhạy cảm trong giai đoạn cây phát triển mới thu được kết quả và lợi nhuận Ngoài ra, thị trường là một trong những yếu tố góp phần quyết định đến hiệu quả kinh tế, thị trường đạt giá cao khi hoa cho thu hoạch vào đúng thời điểm trong năm như những ngày Lễ,
Trang 15Tết nên việc tính toán thời vụ thu hoạch vào đúng thời điểm rất có ý nghĩa đối với người trồng hoa Về chế độ phân bón, chăm sóc do cây lily sinh trưởng mạnh và thời gian sinh trưởng ngắn, chỉ có một cành hoa/củ nên việc chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh hại có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất hoa lily
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc, trong những năm gần đây do đời sống nhân dân được tăng cao nên nhu cầu sử dụng hoa trong dịp Tết Nguyên đán cũng tăng Các loại hoa có giá trị chủ yếu được nhập từ Hà Nội
và một số tỉnh thành lân cận nên có giá thành cao Để đáp ứng nhu cầu tại chỗ của người dân việc nghiên cứu lựa chọn giống để áp dụng rộng rãi, đồng bộ từ khâu trồng, chăm sóc, sử dụng phân bón, điều khiển ra hoa vào các thời điểm mong muốn và phát triển sản xuất hoa thương phẩm phù hợp với từng vùng sinh thái trong điều kiện của tỉnh là điều rất cần thiết Bên cạnh đó, một số vùng sinh thái của tỉnh như thành phố Hà Giang, xã Quyết Tiến (Quản Bạ), Phó Bảng (Đồng Văn) cũng có các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng tương đồng với một số tỉnh trong nước như Hà Nội, Mộc Châu (Sơn La), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) do vậy có thể phát triển cây hoa lily ở một số địa điểm trong tỉnh Tuy nhiên, các nghiên cứu về cây hoa lily ở Hà Giang chưa nhiều Chính vì vậy,
đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật
trồng hoa Lily tại tỉnh Hà Giang” có ý nghĩa khoa học và mang tính thực tiễn
cao, góp phần tuyển chọn và làm phong phú thêm các giống lily có giá trị thương mại vào sản xuất, làm tăng thu nhập cho người trồng hoa trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được đặc điểm nông sinh học của một số giống hoa lily nhập nội từ
đó lựa chọn được giống có khả năng sinh trưởng, phát triển, chất lượng hoa tốt nhất phù hợp với điều kiện sinh thái tại Hà Giang và đề xuất được một số biện
Trang 16pháp kỹ thuật góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hoa lily thương phẩm có chất lượng trên địa bàn tỉnh
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và khả năng thích ứng của một số giống hoa lily trên địa bàn tỉnh Hà Giang
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật (chu vi củ, thời
vụ, giá thể, canxi nitrat, các chất điều hòa sinh trưởng) đến khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất chất lượng cao đối với cây hoa lily tại tỉnh
- Bổ sung thông tin về việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như sử dụng chu vi củ giống, thời vụ trồng, thành phần giá thể, chế phẩm điều hòa sinh trưởng và canxi nitrat Ca(NO3)2 đến sinh trưởng, phát triển, chất lượng hoa và khả năng phòng chống bệnh cháy lá trên cây lily Robina tại thành phố Hà Giang
- Các thông tin trên là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và học tập trên hoa lily ở vùng núi phía Bắc Việt Nam nói chung và Hà Giang nói riêng
Trang 17thuật sản xuất và làm tăng giá trị kinh tế của loại hoa này tại Hà Giang
4 Những đóng góp mới của đề tài
- Đã xác định được giống hoa và địa điểm trồng phù hợp với sự sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của giống Robina tại thành phố Hà Giang
- Đã xác định được một số biện pháp kỹ thuật làm tăng khả năng sinh trưởng, phát triển, chất lượng hoa và giảm tỉ lệ cây bị cháy lá trên giống Robina trồng tại thành phố Hà Giang, làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình
kỹ thuật trồng hoa lily nâng cao hiệu quả kinh tế tại địa phương
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trên thị trường hoa quốc tế, hoa lily thường được sử dụng dùng làm hoa cắt, bởi chúng là loài hoa đẹp, phong phú về chủng loại, đa dạng về màu sắc, đặc biệt độ bền của hoa được kéo dài hơn các loài hoa khác, thuận lợi trong
quá trình vận chuyển và tiêu thụ (Lucidos và cs., 2013) [66] Lilium được
phân bố hầu hết khắp Bắc bán cầu như: Đông Nam Á, Bắc Mỹ và châu Âu (Jefferson và Howland 1995) [59] Việt Nam cũng đã mở rộng nghiên cứu, khảo nghiệm tuyển chọn một số giống lily được nhập nội từ các nước trên thế giới, kết hợp ứng dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt Nam đối với một số giống như Sorbonne, Acapulco, Belladonna, Manissa, Robina trên nhiều địa phương khác nhau như Hà Nội, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc một số giống đã được Bộ Nông nghiêp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) công nhận là giống sản xuất thử và sản xuất chính thức ở Việt Nam (Đặng Văn Đông và cs., 2006a, 2006b) [8], [9]; (Lê Thị Thu Hương và cs., 2011) [17]
Để cây hoa lily phát triển tốt ngoài những điều sinh thái phù hợp việc tác động các biện pháp kỹ thuật sẽ giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt hơn:
Về đất trồng là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây hoa lily, đất lý tưởng để trồng hoa là đất tơi xốp, thoát nước, thẩm thấu khí tốt, có khả năng giữ nước tốt, có nhiều chất hữu cơ,
độ pH từ 6,5 – 6,7 (Đào Thanh Vân và cs., 2007) [31] Đối với lily trồng trong chậu để cây hoa sinh trưởng tốt nhất cần sử dụng hỗn hợp đất vườn + than bùn + phân chuồng hoai mục theo tỷ lệ (1 : 1 : 1) trộn đều trước khi trồng (Đặng Văn Đông, 2002) [6]
Phân bón cao cấp canxi nitrat (Ca(NO3)2 thành phần có chứa 27% đạm và 12% canxi do vậy chúng có tác dụng làm cứng cây, chống đổ, giữ cân bằng sinh lý trong cơ thể của cây De Hertogh (1996) [52] đã chỉ ra rằng, dinh dưỡng
Trang 19cũng cấp cho hoa lily bắt đầu từ khi cây đã xuất hiện lá thật, nên sử dụng canxi nitrate với tỷ lệ 2 : 1 sau trồng 1 đến 2 tuần đầu Một số nghiên cứu khác cũng cho rằng nên sử dụng đạm cho hoa lily ở nồng độ 200 – 500 ppm (Aimone, 1986) [37], (Lewis và cs., 1987) [64], (McKenzie, 1986) [67] Thực tế trong sản xuất sử dụng canxi trong phòng chống bệnh cháy lá sinh lý ở hoa lily cho kết quả: Trồng lily sau khi cây cao 30 cm định kỳ 7 ngày/lần phun dung dịch Ca(NO3)2 mang lại kết quả tốt (Nguyễn Thị Kim Liên, 2013) [18]
Các chất điều hòa sinh trưởng có vai trò quan trọng trong quá trình điều tiết sinh trưởng của cơ thể cây trồng: củ, rễ, thân, cành, là, hoa, quả và hạt Mỗi chất điều hòa sinh trưởng chúng đều có khả năng kích thích hay ức chế một bộ phận hoặc nhiều bộ phận khác trên cây Tùy thuộc vào mục đích sử dụng của con người (Đặng Văn Đông và cs., 2010) [10]
Việc sử dụng chu vi củ từ, bố trí thời vụ hợp lý giúp cho cây hoa lily được phát triển thuận lợi, kết hợp với nhu cầu của thị trường đặc biệt hoa nở vào đúng dịp lễ, Tết sẽ nâng cao được giá thành sản phẩm và cho lợi nhuận
cao hơn khi sản xuất cây hoa lily ở địa phương
1.2 Nguồn gốc và phân loại
1.2.1 Nguồn gốc
Lily thuộc chi Lilium, hiện nay trên thế giới có khoảng trên 80 loài lily
khác nhau, nó có nguồn gốc ở vùng Himalaya và được mở rộng tới các vùng núi ở Bắc bán cầu, phân bố từ 10độ đến 60độvĩ Bắc, châu Á có 50 – 60 loài, Bắc Mỹ có 24 loài và châu Âu có 12 loài (Shimizu, 1973) [78], (De Jong, 1974) [53], (Anderson, 1986) [38], (Daniels, 1986) [51], (Haw, 1986) [57], (http://www.the-genus-lilium.com) [87]
Theo Phạm Hoàng Hộ (1999) [15], ở Việt Nam mới phát hiện thấy 2 loài
cây là Bách Hợp L brownii F.E Brow var colchesteri Wilson, mọc hoang
dại trên các đồi cỏ Bắc Giang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn có vảy củ
Trang 20thân dùng làm thuốc và loài Lilium poilanei Gagn có ở đồi cỏ Sa Pa, Hoàng
Liên Sơn (cũ)
John Dole (1999) [60] cho rằng hoa Lilium phân bố chủ yếu ở vùng ôn
đới và hàn đới Bắc bán cầu, một số ít ở vùng núi cao nhiệt đới từ 1200 m như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia Riêng Trung Quốc có 460 giống, 46 loài, 280 biến chủng lily, chiếm khoảng 50% tổng số loài trên thế giới Trong đó có 136 giống, 52 biến chủng do Trung Quốc tạo ra (Đào Thanh Vân và cs., 2007)
[31] Năm 1965 Trung Quốc đã xây dựng một số vùng trồng hoa Lilium chủ
yếu để chế biến thức ăn và làm thuốc ở Tô Châu, Cam Túc, Tứ Xuyên, Vân
Nam vài chục năm trở lại đây lại xuất hiện một số giống cây hoa Lilium hoang
dại được trồng chủ yếu ở trong vườn thực vật các tỉnh (Trịnh Khắc Quang và cs., 2011) [23]
1.2.2 Phân loại
Cây hoa lily có tên khoa học là (Lilium spp), thuộc chi (Lilium), họ Loa Kèn (Liliaceae), bộ Loa Kèn (Liliales), lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida) hay (Monocotyledoneae) (Phạm Hoàng Hộ, 1999) [15]
Chi Lilium được phân thành 7 nhóm, đó là các nhóm có tên Liriotypus,
Martagon, Pseudolirium, Archelirion, Sinomartagon, Leucolirion, và
Oxypetalum (Comber, 1949) [50] Chi Lilium do có rất nhiều loài khác nhau
nên hình dạng hoa, màu sắc hoa rất phong phú và hấp dẫn Có loài dạng hình phễu
như L Longifloum, dạng hình chén như L wallichianum với những cánh hoa nhỏ hẹp; có loài lại có dạng hình chuông như L cannadense; hình nõ điếu L auratum Màu sắc của lily vô cùng phong phú, từ các loài có màu trắng L longiflorum, màu đỏ L candidum, màu vàng cho tới các loài có màu hồng, đỏ tím Hoa lily có hương thơm ngát như L.auratum đến các loài có mùi rất khó chịu như L
matargon Hoa dạng lưỡng tính, có 6 cánh; 6 nhị (bao gồm bao phấn và chỉ nhị);
một nhụy (bao gồm đầu nhụy, vòi nhụy và bầu nhụy) (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004) [7]
Trang 21Battie và White (1993) [40] đã chia các giống hoa lily cắt cành thành các nhóm giống sau: Asiatic hybrids (giống lai châu Á); Oriental (giống lai Phương Đông); Longiflorum hybids (giống lai Loa Kèn); Hybrid lilies (giống lai giữa loa kèn và giống lai châu Á); OT hybrids (lai giữa giống lai Phương Đông với giống loa kèn); OA hybrid lilies
- Nhóm giống lai Phương Đông (Oriental), ký hiệu là O Chúng có nguồn gốc từ việc lai tạo giữa 5 loài của nhóm Archelirion Giống lai Phương Đông
ra hoa muộn có màu phớt hồng, màu trắng hoặc màu vàng, hoa hình phễu, đường kính hoa to, trung bình có 6 cánh trên một hoa, hương thơm ngào ngạt Hầu hết các giống lai Phương Đông: Sorbonne, Corso, Tiber, Lake, Corvara, Montezuma, Emani, Santander, Siberia này có khả năng kháng bệnh Botrytis elliptica
- Giống lai Asiatic hybrids, ký hiệu là A Có nguồn gốc từ các phép lai khác loài giữa ít nhất là 12 loài của nhóm Sinomartagon Khoảng 4000 giống
đã được chọn lọc từ những con lai này Các giống lai Asiatic không có hương thơm nhưng có phổ màu rộng (vàng, trắng, hồng, đỏ, tía và da cam) ra hoa từ sớm cho đến muộn Một đặc điểm quan trọng nữa đó là các giống lily Arsenal, Benfica, Navona, White Pixels, Orange Twins có khả năng kháng fusarium
và virus
- Nhóm giống lai Longiflorum (L-genom), ký hiệu là L Có nguồn gốc từ
việc lai cùng loài hoặc lai khác loài của longiflorum Thunb và L formosanum Wallace của nhóm leucorilion Hoa có hình loa kèn, màu trắng tinh khiết
hương thơm đặc trưng và có khả năng ra hoa quanh năm: Nhóm này có những giống White Heaven, Bright Tower, White Tower, White Fox
- Nhóm giống LA hybrid lilies, ký hiệu là LA Gồm gần 100 giống như: Amateras, Ballroom, Arcachon, Batistero, Cavalese, Forza Red chúng là nhóm giống được lai giữa loa kèn và giống lai châu Á Chúng có phổ màu rộng (vàng, trắng, hồng, đỏ, tía và hồng da cam), ra hoa từ sớm đến muộn, có thời
Trang 22gian sinh trưởng từ 70 - 130 ngày cá biệt giống Merlet có thời gian sinh trưởng
từ 140 - 150 ngày
- Nhóm giống OT hybrids, ký hiệu là OT (lai giữa giống lai Phương Đông với giống loa kèn) hoa có hương thơm từ trung bình đến nhiều, màu sắc hoa phong phú Một số giống thuộc nhóm này là: Robina, Belladonna, Conca d’Or, Manissa, Gold City, Donato
- Giống OA hybrid lilies, ký hiệu là OA Mới chỉ tạo được một giống có tên Kaveri với chiều cao trung bình từ 120 - 130 cm, hoa màu đỏ thẫm phớt vàng, có thời gian sinh trưởng từ 80 - 90 ngày Kích cỡ của củ có tỷ lệ thuận với số nụ trên cây: đường kính củ từ 12/14 cm có từ 3 - 6 hoa/cây, đường kính
củ từ 18 - 20 cm có từ 8 - 11 hoa/cây
Hiện nay phân loại của chi Lilium có thể vẫn được mở rộng để nghiên cứu
và lại tạo giữa các giống của 2 nhóm này như nhóm giống lai LO, TA do chúng
có màu sắc đẹp quyến rũ, hoa thơm, lâu tàn, kiểu dáng sang trọng, dễ thu hoạch, bảo quản và vận chuyển, có giá trị kinh tế cao, đang được ưa chuộng trên thế giới và ở Việt Nam (Đặng Văn Đông và cs., 2010) [10]
1.3 Đặc điểm nông sinh học của cây hoa lily
1.3.1 Đặc điểm thực vật học và sự sinh trưởng phát triển của hoa lily
1.3.1.1 Đặc điểm thực vật học
- Rễ: Rễ lily gồm 2 phần: rễ thân và rễ gốc Rễ thân còn gọi là rễ trên, do phần thân mọc dưới đất sinh ra, có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinh dưỡng, tuổi thọ của rễ này là một năm Rễ gốc gọi là rễ dưới, sinh ra từ gốc thân vảy, có nhiều nhánh, sinh trưởng khoẻ, là cơ quan chủ yếu hút nước và
dinh dưỡng của lily, tuổi thọ của rễ này là 2 năm
- Thân vảy (củ giống): Thân vảy là phần phình to của thân tạo thành, một
củ hoàn chỉnh bao gồm: đế củ, vẩy già, vảy mới ra, trục thân sơ cấp, thứ cấp và đỉnh sinh trưởng Nó là hình ảnh thu nhỏ của sự phát triển hình thái của cây (Trịnh Khắc Quang và cs., 2011) [23]
Trang 23Theo Đào Thanh Vân (2007) [31], Thân vảy không có vỏ bao bọc, màu sắc thân vảy thay đổi tùy từng loại và các giống khác nhau: màu trắng, vàng, đỏ cam, đỏ tím chu vi củ từa thân vảy cũng tùy thuộc vào các loài, giống khác nhau Loài nhỏ kích thước 6 cm, nặng 7 - 8 gam, loại to kích thước 24 - 25 cm, nặng trên 100 gam, loại đặc biệt kích thước 34 - 25 cm, nặng 350 gam Độ lớn kích thước, chu vi củ từa thân vảy có mối tương quan chặt chẽ tới số nụ, hoa/cây: giống lily thơm kích thước thân vảy là 12 - 14 cm có 2 - 4 nụ, kích thước thân vảy từ 14 - 16 cm có trên 4 nụ Các giống lai Phương Đông và lai châu Á số nụ cũng tỷ lệ thuận với kích thước thân củ
Thân vảy là thể kết hợp của nhiều thế hệ, vì vậy khả năng phát dục của nó chịu ảnh hưởng của nhiều thế hệ của môi trường và điều kiện chăm sóc khác nhau Độ lớn của thân vảy thường được đo bằng kích thước và trọng lượng của
nó, vảy nhiều và mập thì chất lượng củ giống tốt Củ giống để trồng hoa thương phẩm nhất thiết phải là thân vảy đã được bồi dục, do vậy thân vảy cũng
là một trong những bộ phận chủ yếu dùng để lai tạo giống cho các vụ sau Thường năm đầu chưa ra hoa, sang năm thứ 2 củ có kích thước từ 9 cm trở lên mới ra hoa
- Lá: Lá lily mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim, xoè hoặc hình thuôn, hình giải, đầu lá hơi nhọn, không có cuống hoặc cuống ngắn Lá to hay nhỏ tuỳ thuộc vào giống, điều kiện trồng trọt và thời gian xử lý Trên lá có từ 1 - 7 gân, gân giữa rõ ràng hơn, lá mềm có màu xanh bóng Màu sắc lá tuỳ thuộc vào
giống và điều kiện chăm sóc, biến động từ xanh nhạt đến xanh đậm
- Hoa: dạng lưỡng tính, có 6 cánh: 6 nhị (bao gồm bao phấn và chỉ nhị),
một nhụy (bao gồm đầu nhụy, vòi nhụy và bầu nhụy); vòi nhụy dài, đầu nhụy hình cầu chẻ ba; Bao phấn (anthers) chứa các hạt phấn từ đó tạo ra các giao tử đực; Chỉ nhị (filament): mang và nâng đỡ bao phấn; Đầu nhụy (stigma): là bề mặt để hạt phấn bám dính vào; Vòi nhụy (style): có cấu trúc hình ống là nơi là hạt phấn đi qua để đến bầu nhụy: Bầu nhụy (ovary): là khoang rỗng chứa
Trang 24noãn; Noãn (ovule): cấu trúc chứa các tế bào trứng; Lá đài (sepals) do lá cây biến đổi có tác dụng bảo vệ hoa trước khi nở; Cánh hoa (Pentals): do lá biến đổi thành, tác dụng của chúng là thu hút các tác nhân thụ phấn như chim và ong; Túi mật (nectary furrow): có tác dụng hấp dẫn côn trùng để thụ phấn; Màu sắc hoa lily rất phong phú: trắng, phấn hồng, đỏ, vàng, vàng cam, đỏ tím, tạp sắc màu sắc lốm đốm có đen, đỏ thắm, đỏ tím, đen nâu phấn hoa có màu vàng hoặc đỏ cam, đỏ nâu, nâu tím , phấn hoa rất khó làm sạch khi dính vào quần áo
- Quả: hình trứng dài, mỗi quả có vài trăm hạt, bên trong có 3 ngăn Hạt
hình dẹt, xung quanh có cánh mỏng, hình bán cầu, hoặc 3 góc, vuông dài Độ lớn của hạt, khối lượng của hạt, số lượng hạt tuỳ theo giống như: giống L.Coniolor hạt nhỏ, đường kính 5 mm, mỗi gam 700 - 800 hạt; giống L.Henrgi, giống L.Auratum hạt to, đường kính 12 mm, mỗi gam có 170 - 180 hạt (Đặng Văn Đông và cs., 2004) [7]
1.3.1.2 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của hoa lily
- Đặc điểm sinh trưởng, phát triển thân
Sinh trưởng phát triển thân của lily có thể chia ra các giai đoạn: Phát triển trục thân, ra nụ, nở hoa, kết hạt, chết khô Thân vảy vùi trong đất sau khoảng 2 tuần mọc mầm Nếu xử lý lạnh không đầy đủ, có thể kéo dài tới 5 tuần Từ khi trồng đến khi ra nụ mất khoảng 6 - 9 tuần (tùy theo giống và điều kiện thời tiết)
Từ khi ra nụ đến lúc nở hoa mất 4 - 7 tuần Các giống khác nhau, mức độ chênh lệch nhau khá lớn về thời gian sinh trưởng của cây Nhóm giống châu Á từ khi trồng đến khi ra hoa khoảng 12 tuần, nhưng cũng có một giống như: Kinka, Lotus chỉ cần 11 tuần, Adelina, Yellow blage, cần đến 16 - 17 tuần, cá biệt có giống cần đến 9 tuần như: Dame Blantre, ngược lại giống Cassa blanca cần đến
20 tuần (Đặng Văn Đông và cs., 2004) [7] Trong điều kiện ánh sáng yếu, ngày dài, nhiệt độ thấp và xử lý trước khi bảo quản lạnh lâu đều có tác dụng kéo dài đốt thân Ngược lại khi ánh sáng mạnh, ngày ngắn, nhiệt độ cao lại ức
Trang 25chế đốt kéo dài Trong phạm vi nhiệt độ từ 20 – 30 oC, nếu cứ tăng thêm 2 oC cây có thể thấp đi 2 cm Nghiên cứu được đặc tính này người ta có thể xử lý giờ chiếu sáng trước khi ra nụ khoảng 4 - 5 tuần để điều chỉnh chiều cao cây rất có hiệu quả (Đào Thanh Vân, 2007) [31]
- Đặc điểm sinh trưởng phát triển của hoa
Sự phân hóa hoa: Theo Đào Thanh Vân (2007) [31], Trong điều kiện tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam, cây được trồng vào tháng 9, tháng 10 và bắt đầu phân hóa mầm hoa tháng 11, tháng 12 Có một số ít giống có thời gian phân hóa hoa bắt đầu vào tháng 8 - 9, đến tháng 10 - 11 thì hoàn thành; cũng có giống thời gian phân hóa hoa rất dài, bắt đầu từ tháng 9 - 10 và đến tháng 01 - 02 năm sau mới xong
Sự ra hoa: Cũng theo Đào Thanh Vân (2007) [31], Sự phân hóa hoa và số lượng mầm hoa chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện trước khi trồng (chất lượng củ giống, điều kiện xử lý), nhưng tốc độ phát dục của nụ và hoa lại chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện sau khi trồng Tuy nhiêu, nếu sau khi trồng nhiệt độ trong nhà vượt quá 30 oC thì hoa sẽ mù, tức là tất cả các mầm hoa đều khô đi; nhiệt độ 25 -
30 oC sẽ làm thui nụ, tỷ lệ ra hoa chỉ đạt 21 - 43%; ở 15 – 20 oC tỷ lệ ra hoa đạt trên 80% Nhị và nhụy của lily cùng chín một lúc Thời gian quả chín tùy thuộc vào giống, giống ra hoa sớm cần khoảng 60 ngày, giống ra hoa trung bình cần 80
- 90 ngày, giống ra hoa muộn cần ít nhất 150 ngày
1.3.2 Yêu cầu sinh thái của hoa lily
1.3.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát dục của hoa lily, đặc biệt là ảnh hưởng đến mọc mầm của hạt, sự phát dục của
Trang 26thân, sự sinh trưởng của lá và ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển
chất lượng của củ giống (Roh, 1996) [75]
Lily là cây chịu rét khá, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng phát triển của hoa lily ban ngày là 20 oC, ban đêm là: 12 oC Nhiệt độ thấp từ 12 – 15 oC cây sinh trưởng chậm (Richard, 2006) [76], dưới 12 oC cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù, thời gian đầu nhiệt độ
thấp có lợi cho ra rễ và sự phân hoá hoa
Nhiệt độ và ánh sáng là yếu tố quan trọng, điều tiết sự phân hoá hoa và sự
ra hoa; chiếu sáng bổ sung ở nhiệt độ thích hợp (16 – 18 oC) có thể sẽ rút ngắn
được thời gian ra hoa của tất cả các giống (Đặng Văn Đông và cs., 2004) [7]
1.3.2.2 Yêu cầu về độ ẩm, không khí
Thời kỳ đầu cây cần nhiều nước, thời kỳ ra hoa nhu cầu nước của cây giảm dần vì thừa nước lúc này sẽ làm rụng nụ, củ rễ bị thối Lily thích không khí ẩm ướt, độ ẩm thích hợp nhất là 80 - 85%, độ ẩm không được thay đổi đột ngột sẽ dẫn đến tác hại cho cây, ức chế sinh trưởng, cháy lá Việc che râm, thông gió kịp thời và tưới nước có thể phòng chống được vấn đề này Hoa lily rất mẫn cảm với khí Etylen, tuy nhiên tuỳ vào giống mà độ mẫn cảm không giống nhau
Trong nhà lưới, sự thông gió kém, nhất là vào vụ Đông nên thông gió để điều tiết không khí, đồng thời giảm ẩm độ và nhiệt độ Cách thông gió với nhà kính là mở cửa, còn nhà nilon vén lưới lên cho không khí trong và ngoài nhà lưới lưu thông Bổ sung CO2: Nồng độ CO2 duy trì ở mức 1000/2000 mg/g nếu nồng độ CO2 cao quá có hại cho cây và cho cả người chăm sóc
1.3.2.3 Yêu cầu về ánh sáng, dinh dưỡng
Lily là cây ưa sáng với cường độ ánh sáng yếu Thời gian chiếu sáng thích hợp cho thời kỳ sinh trưởng là 10 giờ/ngày; ở thời kỳ ra hoa, chất lượng hoa tăng khi thời gian chiếu sáng 11 giờ/ngày (với nhiệt độ trung bình 18 oC)
Trang 27Đối với đất đai lily sinh trưởng tốt ở đất nhiều mùn, đất thịt nhẹ, thoát nước tốt, rất mẫn cảm với muối, đất nhiều muối cây không hút được nước đặc biệt trong thời kỳ phân hóa hoa và ra hoa Nói chung, hàm lượng muối trong đất không được quá cao 1,5 mg/cm3 Lily cần dinh dưỡng cao nhất là 3 tuần đầu sau khi mọc mầm Tuy nhiên, thời gian này cây cũng còn dễ bị ngộ độc do muối, vì vậy để tránh bị ngộ độc muối trước khi trồng 6 tuần cần phải phân tích đất để có biện pháp cải tạo, xử lý đất Đồng thời bón các loại phân có nồng độ các chất trên thấp nhất: Ví dụ bón phân CaHPO4 có hàm lượng flo thấp Cần cung cấp bổ sung thêm các khoáng vi lượng cho lily (Đặng Văn Đông và cs., 2004) [7]
1.4 Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới
1.4.1.1 Sản xuất hoa lily cắt cành
Ngày nay, sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ
và trở thành một ngành thương mại Sản xuất hoa mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế của các nước trồng hoa cây cảnh Ngành trồng hoa trên thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Hướng sản xuất hoa trên thế giới là tăng năng suất hoa, giảm chi phí lao động, giảm giá thành hoa Mục tiêu sản xuất hoa cần hướng tới là giống hoa đẹp, tươi, chất lượng cao và giá thành thấp
Buschman (2005) [43] các nước xuất khẩu hoa cắt cành chiếm thị phần nhiều nhất trên thế giới đó là: Hà Lan, Kenya, Israel, Colombia và Ecuador Nước có nhu cầu nhập khẩu lớn nhất là Đức Về diện tích sản xuất hoa lily cắt cành lớn nhất lại thuộc về châu Á với trên 1,33 triệu ha (chiếm 66%) diện tích toàn cầu
Ở Hàn Quốc cũng phát triển mạnh và trở thành một trong những nước sản xuất và xuất khẩu hoa lily hàng đầu ở Đông Á Diện tích sản xuất hoa lily tăng từ 32 ha năm 1985 (Kim, 1996) [82] lên 219 ha năm 2007 Tổng giá trị
Trang 28xuất khẩu 26 triệu USD Khoảng 15% củ giống sử dụng cho sản xuất hoa cắt
và các giống mới được nhập khẩu từ Hà Lan (Suh, 2011) [83]
Gondon Hanks (2015) [55] đến năm 2013 tổng diện tích sản xuất hoa lily của Trung Quốc lớn nhất đạt 9.989 ha tăng mạnh so với năm 2010 (7.485 ha)
và lớn hơn so với một số quốc gia được coi là những nước thế mạnh phát triển
về hoa như: Nhật Bản đạt 805 ha, Hà Lan (189 ha), Mexicô (145 ha), Thổ Nhĩ
Kỳ (52 ha) hay Đài Loan (Trung Quốc) (307 ha)
Theo Đặng Văn Đông (2016) [13] diện tích sản xuất hoa cây cảnh nói chung trên thế giới tập trung nhiều ở 3 khu vực lớn đó là châu Âu, Nhật Bản và
Mỹ với tổng diện tích 300.000 ha, phân bố trên 27 nước chủ yếu Châu Âu chiếm 12%, các nước châu Á và Thái Bình Dương chiếm 70% trong đó, Trung Quốc 40%, (120.000 ha), Ấn Độ 15% (45.000 ha) Nhật Bản, Thái Lan và Đài Loan là những nước sản xuất hoa quan trọng ở vùng này với tổng diện tích chiếm 10%, Mỹ (7%), Mexico (5%), Brazil (2%) và Colombia (2%)
1.4.1.2 Tình hình sản xuất củ giống hoa lily
Theo Mu (2007) [69], năm 2002 và 2003, Hà Lan sản xuất 2,21 tỷ củ giống lily, trong đó 2,11 tỷ củ (95%) được sử dụng làm nguồn giống cho hoa cắt cành Khoảng 0,41 tỷ củ (19%) được trồng ở Hà Lan làm hoa cắt Số còn lại được xuất khẩu tới các nước khác trong đó có EU (1 tỷ củ) và các nước ngoài
EU (0,7 tỷ củ) Các khách hàng chính bên ngoài EU là Mỹ với 153 triệu củ Nhật Bản với 143 triệu củ, Trung Quốc với 60 triệu củ và Mexicô với 15 triệu củ/năm
Ở Hà Lan, thương mại củ giống hoa bắt đầu có thể từ thế kỷ XVI và tiếp
tục phát triển cho tới ngày nay Hà Lan là nước sản xuất củ giống hoa lilium
nhiều nhất thế giới Diện tích hoa lily đã tăng mạnh từ 3.600 ha năm 1995 lên 4.500 ha năm 2000 Lily là loại cây hoa có củ đứng vị trí thứ 2 sau tulip Hà Lan là nước sản xuất củ giống hoa lily chính và xuất khẩu sang 60 nước, mà ở
Trang 29đó củ giống được sử dụng làm nguyên liệu cho trồng hoa cắt và hoa chậu (Đặng Văn Đông và cs., 2010) [10]
Trung Quốc cũng là một trong những nước mới nổi lên trong công tác chọn tạo và nhân giống củ hoa lily Trong năm 2012 Trung Quốc đã sản xuất tới 60 triệu củ Trong khi đó nông dân tại một số vùng sản xuất hoa chỉ cần sử dụng lại những củ đã cho thu hoạch từ 2 - 3 vụ sau mà không cần phải mua giống mới (Mu và cs., 2014) [70]
Ở Trung Quốc, từ nhu cầu thị trường rộng lớn và lợi nhuận cao, sản xuất
củ và hoa cắt đã tạo ra sự tăng trưởng đáng chú ý cả diện tích và sản lượng suốt
30 năm qua (Mu, 2007) [69]
Ngày nay, củ giống được sản xuất tại một số quốc gia trên thế giới như: Chilê, Pháp, Nhật Bản, Mỹ, New Zealand đã có những đóng góp đáng kể trong quá trình nghiên cứu cũng như sản xuất các giống hoa lily có chất lượng cho thế giới
1.4.2 Tình hình sản xuất hoa lily ở Việt Nam
Ở Việt Nam hoa lily được trồng nhiều nhất là thành phố Đà Lạt so với các địa phương khác trên cả nước (chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích trồng hoa), còn Hà Nội, Sa Pa, Hải Phòng, Sơn La, Yên Bái, Bắc Ninh, Quảng Ninh… chỉ mới được trồng 3 - 5 năm gần đây với diện tích còn rất nhỏ
và mang tính chất thử nghiệm Tình hình phát triển hoa lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, một phần do thiên nhiên ưu đãi cho sự phát triển của đa số các loài hoa nói chung và cho hoa lily nói riêng, một phần do công tác đầu tư liên doanh liên kết với nước ngoài (Đặng Văn Đông và cs., 2004) [7]
Tình hình sản xuất hoa lily cắt cành và hoa lily chậu ở miền Bắc Việt Nam mới chỉ đạt 115,9 ha Trong đó, Hà Nội là tỉnh thành có diện tích trồng hoa tăng mạnh năm 2003 mới chỉ sản xuất với diện tích là 0,4 ha đến năm
2011 đã tăng lên gấp 25 lần (25 ha) và tăng lên 63 ha vào năm 2013 Bên cạnh đó tỉnh Sơn La cũng phát triển sản xuất hoa lily khá mạnh chỉ sau
Trang 30thành phố Hà Nội tổng diện tích toàn tỉnh là 25 ha trong năm 2013 Đứng thứ 3 trong miền Bắc về diện tích sản xuất hoa đó là tỉnh Bắc Ninh có diện tích khởi đầu chỉ với 0,2 ha và tăng lên 150 ha vào năm 2013 (Đặng Văn Đông 2014) [11]
Bảng 1.1: Cơ cấu số lượng, chủng loại hoa ở Việt Nam từ năm 2000 - 2015
Nguồn: Đặng Văn Đông, 2016 [13]
Hiện nay, các giống hoa lily được ưa thích và trồng phổ biến ở Việt Nam nói chung và miền Bắc nói riêng hầu hết được nhập khẩu trực tiếp từ Hà Lan, Đài Loan hoặc nhập qua Trung Quốc (Nguyễn Văn Tỉnh, 2016) [28] Trong
đó ở miền Bắc Việt Nam, giống hoa lily Sorbonne có diện tích trồng chiếm khoảng 85% tổng diện tích trồng hoa lily Các nghiên cứu về chọn tạo giống
và kỹ thuật canh tác đối với lily phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu của Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm và áp dụng ở quy mô nhỏ, nhằm tạo điều kiện cho người nông dân chủ động về giống phù hợp với điều kiện ngoại cảnh của Việt Nam
1.5 Những kết quả nghiên cứu về hoa lily trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1 Kết quả nghiên cứu về cây hoa lily trên thế giới
1.5.1.1 Kết quả nghiên cứu về giống
Trang 31Một số các nước trên thế giới có sự nghiên cứu sâu, chọn tạo giống và phát triển mạnh về cây hoa lily như ở Nhật Bản giữa những năm 1920 và 1940,
Úc từ giữa những năm 1950 và 1960, ở Mỹ từ những năm 1960 đến 1970 và
Hà Lan cũng là một trong những nước đi đầu trong việc nghiên cứu và phát
triển hoa lily từ những năm 1975 (Ki-Byung Lim, 2000) [61]
Các giống hoa lily lai châu Á và lily lai Phương Đông cho thấy yêu cầu
độ lạnh của các giống này cần từ 2 - 5 oC trong thời gian ít nhất từ 8 - 10 tuần trước khi đưa củ giống ra vườn sản xuất (Beattie và White, 1993) [40], (De Hertoge, 1996) [52], (Holcomb và cs, 1989) [58] Các củ giống phải được bảo quản trong than bùn ẩm thời gian có thể là một vài tháng nếu nhiệt độ giảm xuống từ - 1 đến - 4 oC (Beattie và White, 1993) [40], (De Hertoge, 1996) [52] Nếu củ giống còn đông lạnh khi được chuyển tới nơi sản xuất, có thể tiếp tục bảo quản chúng Khi muốn trồng củ giống sớm thì cần mở lớp nhựa màng bọc của hộp ra và tách hộp thành các chồng riêng để rã đông trong phòng bảo quản lạnh và thông thoáng khí ở nhiệt độ 10 – 12 oC Rã đông ở nhiệt độ cao hơn 25 oC sẽ làm giảm chất lượng hoa Củ giống khi đã rã đông không thể đông lạnh lại vì nguy cơ bị hư hại do đông lạnh Tuy nhiên, nếu người trồng muốn trồng củ giống đông lạnh trong cùng một hộp vào hai ngày khác nhau thì nên tách khối củ trong hộp ra và để nửa chưa trồng trong điều kiện bảo quản dưới nhiệt độ đông lạnh (The International Flower Bulb Centre IBC) [65]
Vì vậy, nhất thiết bắt buộc phải xử lý củ giống trước khi đem đi trồng trong nhà lưới
Khi nghiên cứu một số giống lai châu Á yêu cầu độ lạnh 5 oC ít nhất là
6 tuần để đẩy nhanh quá trình ra hoa (Roh,1985) Củ giống lily cần được
xử lý lạnh 9 tuần trong nhiệt độ từ 4 - 5 oC (Grueber và Wilkins, 1984)
[54] Giống Lilium speciosum khi trồng nảy mầm 100% nhưng không có
hoa do không xử lý lạnh Muốn có hoa yêu cầu phải xử lý lạnh trong 6 tuần
ở nhiệt độ 5 oC (Weiler, 1973) [79] Tăng thời gian xử lý lạnh trong thời
Trang 32gian bảo quản lại làm giảm số ngày ra hoa, số hoa, chiều cao cây và giảm chất lượng của hoa (Boontjes, 1981) [42], (Roh, 1990b) [74]
1.5.1.2 Kết quả nghiên cứu về thành phần giá thể trong sản xuất hoa lily
Hoa lily có khả năng sinh trưởng ở nhiều nơi trên thế giới chúng thích nghi với nhiều loại đất trồng và nhiều loại giá thể khác nhau, bao gồm cả trồng trên đồng ruộng và trồng trong chậu Tuy nhiên, De Hortogh (1996) [52] đã nghiên cứu và chỉ ra rằng các loại đất nền hay giá thể trong chậu để trồng hoa lily đều phải được khử trùng, giữ ẩm, nước tưới không nhiễm flo, phân bón ở mức trung bình
Adzima (1986) [36], khi nghiên cứu ảnh hưởng của khả năng giữ ẩm đến
củ giống trên các giống lily lai ở nhiệt độ ẩm nên dùng hỗn hợp đất, phân đã ủ hoai mục, than bùn khô, đá trân châu với tỷ lệ 1 : 1 : 1 Tuy nhiên, đá trân châu phải tránh ô nhiễm chất flo (De Horgh, 1996) [52]
Ngoài ra một số loại giá thể đã được sử dụng trong những nghiên cứu ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của hoa lily ở một số tác giả như than bùn hoạt hoá, đá trân châu ở mức độ trung bình (Holcomb và cs., 1989) [58], (White và cs., 1989) [80] Đất vườn sạch (Berghaef, 1985) [41], than bùn và cát (Hanks và Menhenett, 1980) [56] Độ pH của đất là vấn đề rất quan trọng với yêu cầu tốt nhất là 6,0
Loại đất nền tốt nhất dùng để trồng trong các hộp nên là loại đất ẩm và tơi xốp Loại thường được sử dụng là loại đất để trồng chậu: hỗn hợp than bùn đôi khi kết hợp với đá trân châu (không flo) hay đất vườn hoặc vỏ trấu đã tiệt trùng Hỗn hợp than bùn hiệu quả thường được sử dụng để trồng hoa lily bao gồm 40 - 80% than bùn đen đông lạnh kết hợp với 60 - 20% lít than bùn (loại than bùn trắng) Độ pH cần được điều chỉnh ở mức 5,0 – 6,5 với giống hoa lily Oriental, OT, LO và OA lai và mức 6,0 – 7,0 với các nhóm khác Quy tắc
ở đây là để tăng độ pH được một hệ số 0.4, cần bón thêm khoảng 1 kg canxi cacbonat vào mỗi mét khối hỗn hợp đất để trồng chậu Với mỗi mét khối hỗn
Trang 33hợp đất để trồng chậu cần bón thêm lớp bón lót 0,5 kg phân hỗn hợp 12 : 14 :
24 gồm các nguyên tố vi lượng Nếu muốn sử dụng lại đất trồng chậu cần được khử trùng bằng các tác nhân hóa học và giữ ẩm trong suốt quá trình canh tác (The International Flower Bulb Centre IBC) [65]
bệnh cháy lá sinh lý ở cây hoa lily
Canxi đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng ở tất cả các bộ phận của cây và canxi tham gia nhiều vào các hoạt động sinh lý diễn ra bên
trong của cơ thể đối với cây có củ thân hành (Pan và cs., 1995) [73] Thiếu
canxi có thể dẫn đến các vấn đề như hoại tử lá tầng trên đối với giống lai
Lilium Oriental Star Gazer (Chang, 2002 [44]; Chang và Miller, 2003) [45]
Trong quá trình canh tác cần sử dụng phân bón phù hợp sẽ làm tăng khả năng hấp phụ canxi như vậy sẽ làm tăng chất lượng của củ và hoa của giống lily hạn chế khả năng bị bệnh cháy lá (Choi và cs., 2005) [49]
Shear (1975) [77], hiện tượng rối loạn sinh lý do thiếu canxi (Ca) cũng đã được phát hiện ở nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế trong đó có loài lily lai phương Đông dẫn tới hiện tượng lá bị hoại tử làm giảm khả năng quang hợp Chang và Miller (2005) [48], một hiện tượng lá bị hoại tử nhưng chỉ diễn
ra đối với những lá ở tầng trên sát với nơi cho ra nụ do thiếu hụt một lượng canxi nhất định nên còn được gọi là bệnh rối loạn hoại tử lá tầng cao (Upper leaf necrosis) Trong khi đó người trồng hoa khi phát hiện được bằng mắt thường hiện tượng cháy lá thì quá trình này thực sự đã xảy ra từ trước Do vậy đây là một vấn đề cần được nghiên cứu và giải quyết Trong quá trình nghiên cứu, thực tế quan sát hiện tượng này bắt đầu xảy ra ở lá non khi cây cao khoảng 30 - 40 cm và sau trồng từ 30 - 35 ngày Ở những lá bị nhiễm mức độ nhẹ có những đốm nhỏ ẩn ở dưới mặt của lá, còn đối với những lá bị nhiễm nặng hơn thì triệu chứng đầu tiên đó là tế bào bị ngấm nước Những triệu
Trang 34chứng ban đầu hầu như bắt đầu từ viền mép lá và người trồng hoa thường không để ý tới
Trong một số trường hợp nghiêm trọng, những vùng bị hoại tử phát triển
ở phía trong tính từ mép lá vào vùng giữa sẽ làm gián đoạn quá trình vận chuyển và làm cho đầu lá bị chết
Hiện tượng hoại tử lá tầng cao do thiếu hụt canxi đã được (Chang và Miller, 2005) [48] thực hiện nghiên cứu với kết quả:
Cây được trồng trong chậu và tưới bằng dung dịch của các loại dinh dưỡng cây trồng với liều lượng trung bình ngoại trừ canxi được tưới với liều lượng là 0 ppm, 8 ppm và 160 ppm Khi cây nở hoa, lá phía trên của cây bị hoại tử nghiêm trọng và nụ hoa hầu hết cũng biến dạng; Với lượng canxi ít 8 ppm bị biểu hiện bệnh ở mức độ trung bình và với liều lượng canxi 160 ppm cây không có biểu hiện bệnh Từ kết quả trên cho thấy bệnh hoại tử lá tầng cao là do tình trạng thiếu canxi trong khi lá phát triển
Một nghiên cứu tiếp theo của Chang và Miller (2005) [48] về sự thiếu hụt canxi một cách rõ ràng bằng phương pháp phân tích lá cho thấy lượng canxi ở mô
lá bị hoại tử chỉ bằng 1/6 so với mô lá khỏe mạnh Khi so sánh lá thấy rằng lượng canxi càng ít thì vùng bị hoại tử trên lá càng rộng Ví dụ như, lượng canxi ở lá khỏe mạnh là 0,8% nhưng nó chỉ còn 0,2 - 0,5% ở những lá bị hoại tử Tuy nhiên, phương pháp phân tích lá không phải là phương tiện chuẩn đoán hữu hiệu nếu ta phân tích toàn bộ lá có nghĩa là trộn lẫn cả lá khỏe mạnh với lá bị hoại tử
Bangerth (1979) [39], Chang và Miller (2005) [48], Kirkby (1979) [62],
sự thiếu hụt canxi không phải là do hàm lượng canxi trong đất hoặc trong giá thể thiếu mà do sự hút canxi đối với cây hoa cần tập trung trong một thời gian ngắn để cung cấp cho bộ phận lá của cây dẫn tới cây không hút kịp lượng canxi cần thiết nên mới xảy ra hiện tượng hoại tử lá tầng cao đó mới là nguyên nhân chính
Trang 35Thực tế sự thiếu hụt Ca trong cây là nguyên nhân làm tăng sự rối loạn hoại tử lá tầng cao, phương pháp làm giảm sự thiếu hụt Ca trong giống lily Star Gazer bằng cách làm tăng sự lưu thông không khí dẫn tới tăng khả năng thoát hơi nước ở lá sẽ làm giảm các triệu chứng của bệnh hoại tử lá tầng cao (Chang và Miller, 2004) [46] Sử dụng Ca phun lên những phần non của cây như lá non, ngọn non sẽ tránh được hiện tượng cháy lá (Chang
và cs., 2004) [47]
Ngoài ra độ ẩm không khí trong ngày cao, hiện tượng sương muối bao phủ, sự điều chỉnh nhà lưới chưa phù hợp làm khả năng thoát hơi nước ở lá giảm, tốc độ tăng trưởng của cây nhanh, độ mặn trong đất từ trung bình đến cao (Adams và Ho 1995b [34], Bangerth 1979 [62], Adams và Ho 1995a) [35] đều có thể gây ra hiện tượng thiếu hụt canxi và gây ra hiện tượng hoại tử
lá tầng cao Ngoài các yếu tố trên, đối với giống hoa lily Phương Đông, cần phải cung cấp thêm canxi bởi trong giá thể, đất trồng nồng độ canxi luôn luôn thiếu hụt (Chang và Miller, 2003) [45]
1.5.1.4 Kết quả nghiên cứu về chất điều hòa sinh trưởng trong sản xuất hoa lily
Chất điều hòa sinh trưởng thường được các nhà nghiên cứu sử dụng để điều khiển sự sinh trưởng hay ức chế sinh trưởng ở cây trồng nói chung và cây hoa lily nói riêng như Axit abxixic (ABA), Axit gibereclic (GA3), Auxin (IAA), hydrazyt (MH), daminozide (B9) và chlormequat (CCC) nhất là trong công tác phá bỏ ngủ nghỉ ở củ giống, tăng khả năng chiều cao cây, kết hợp với xử lý nhiệt độ thấp làm tăng tỷ lệ mọc mầm ở hoa lily
Theo Langens và cs, (1997), [63] nghiên cứu thấy rằng để phá bỏ ngủ
nghỉ của củ giống lily cần phải có sự kết hợp giữa GA với nhiệt độ thấp
GA3 có liên quan đến sự phát triển của hoa, nhưng không tồn tại ở trong hoa, củ hoa có thể là nơi chứa các chất điều hòa sinh trưởng (Ohkawa, 1977)
Trang 36[72] Sử dụng GA3 ngoại sinh có tác dụng đến sự phát triển của chồi cây hoa (Ohkawa, 1976) [71]
Để điều chỉnh chiều cao cây chất điều hòa sinh trưởng Ancymidol cũng thường được sử dụng trên cây hoa lily, lần thứ nhất nên tưới đẫm khi củ giống vừa bật chồi, lần thứ hai sau lần một từ 10 – 14 ngày Phương pháp này giúp cho cây có chiều cao đồng đều hơn (De Hortogh, 1996) [52]
1.5.2 Kết quả nghiên cứu về cây hoa lily ở Việt Nam
1.5.2.1 Kết quả nghiên cứu về khảo nghiệm và tuyển chọn giống
Ở Việt Nam việc khảo nghiệm và tuyển chọn giống hoa lily đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở một số địa phương trên cả nước (miền Bắc, miền Trung) từ những năm 2000 và đã đạt được những kết quả như mong muốn, một số giống đã được cơ quan quản lý nhà nước (Bộ NN&PTNT) công nhận
là giống sản xuất như giống Sorbonne, Belladonna, Robina
Trần Duy Quý và cs., (2004) [25] tiến hành trồng khảo nghiệm 10 giống lily thơm và 10 giống lily không thơm nhập nội từ Hà Lan cho kết quả lily thơm là hai giống Barbados, Almoata và bốn giống lily không thơm là Amazone, Avelino, Brunello, Gironde khá phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của Đà Lạt (Lâm Đồng)
Đào Thanh Vân (2005) [31] đã khảo nghiệm một số giống hoa lily tại Mẫu Sơn – Lạng Sơn, kết quả cho thấy 3 giống Star Fighter, Tiber và Siberia
có khả năng sinh trưởng, phát triển cho năng suất cao, chất lượng hoa tốt Bùi Minh Tùng và cs., (2006) [30] đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống hoa lily nhập nội trồng tại Hải Phòng Với tám giống được nhập nội từ Hà Lan và đã qua xử lý lạnh, kết quả cho thấy điều kiện sinh thái vụ Đông tại Hải Phòng các giống đều cho khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, cho hoa với tỷ lệ cao, năng suất cao, có hiệu quả kinh tế Trong đó hai giống là Sorbonne và Tiber có khả năng sinh
Trang 37trưởng, phát triển tốt nhất và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Hai giống Starfighter và Stargazer sinh trưởng, phát triển kém nhất, nhiễm bệnh cháy lá nặng, năng suất thấp, chất lượng hoa kém
Hoa lily có thể được nhân giống bằng rất nhiều phương pháp: nhân giống bằng hạt, bằng phân chia củ, bằng vảy, bằng củ con, bằng nuôi cấy mô Trong đó, phương pháp nuôi cấy mô là một phương pháp tối ưu nhất, từ một
bộ phận nhỏ của cây có thể tạo ra được những dòng lily mới có số lượng lớn phục vụ cho công tác sản xuất đại trà (Đặng Văn Đông và cs., 2010) [10]
Từ những năm 2002 đến năm 2006 Viện Nghiên cứu Rau quả đã tiến hành khảo nghiệm tập đoàn 23 giống hoa lily nhập nội từ Hà Lan và được trồng ở miền Bắc, Việt Nam Kết quả đã chọn được 2 giống là Sorbonne và Acapulco có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt Hai giống này được Hội đồng Khoa học Bộ NN&PTNT công nhận tạm thời tháng 5/2006 và cho phép được sản xuất tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Việt Nam Đến tháng 6/2009 giống Sorbonne được Bộ NN&PTNT công nhận là giống chính thức (Trịnh Khắc Quang và cs., 2011) [23]
Đặng Văn Đông và cs., (2014) [11] đã nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng
và khả năng chống chịu sâu, bệnh của một số giống hoa lily nhập nội tại miền Trung, Việt Nam đã lựa chọn được ba giống là Yelloween, Robina và Belladonna có khả năng sinh trưởng, phát triển tương đối tốt, năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện khí hậu vụ Đông ít lạnh (miền Trung) Thể hiện qua các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, sâu bệnh, năng suất chất lượng và độ bền hoa cắt đều cao hơn so với đối chứng Đề nghị công nhận hai giống hoa lily Yelloween và Robina là giống sản xuất thử cho miền Trung, Việt Nam
Trước những năm 2000, cây hoa lily chỉ mới được trồng tại Đà Lạt (Lâm Đồng) và tăng dần vào những năm gần đây với diện tích khoảng 10 ha (Bùi
Trang 38Thị Thu Hương, 2015) [16] Hiện nay, lily được nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu, khảo nghiệm và được Hội đồng khoa học Bộ NN&PTNT công nhận giống
Nguyễn Văn Tỉnh (2016) [28] đã lựa chọn hai vùng sinh thái để nghiên cứu đó là vùng Cao Nguyên Mộc Châu (Sơn La) và vùng Gia Lâm (Hà Nội) đối với giống hoa lily Belladonna được sản xuất ở trong nước và giống Belladonna được nhập nội từ Hà Lan Kết quả cho thấy các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển không có sự chênh lệch đáng kể, tuy nhiên về hiệu quả kinh
tế củ giống được sản xuất trong nước có giá thành thấp hơn nên lợi nhuận đem lại cao hơn nhất là khâu chủ động được giống khi đi vào sản xuất
1.5.2.2 Kết quả nghiên cứu về giá thể trồng hoa lily
Lily là cây ưa ẩm nhưng không chịu được úng nên đất và giá thể trồng lily phải thông thoáng, có đủ điều kiện để tưới nước Đất phải nhiều mùn, tơi xốp, thoát nước tốt, lên luống rộng khoảng từ 100 – 120 cm, dài tùy ý Đối với lily trồng trong chậu, lượng đất ít nên không bón được đủ dinh dưỡng Vì vậy, thường xảy ra hiện tượng ức chế sinh trưởng, kinh phí đầu tư sẽ cao hơn, kỹ thuật chăm sóc phức tạp hơn từ khâu chọn giống, phối trộn giá thể Tuy nhiên, trồng lily trong chậu cũng có những ưu điểm riêng: Nâng cao giá trị của hoa, thời gian chơi hoa kéo dài hơn do không phải cắt cành; Nâng cao hiệu quả sử dụng nhà kính, không để lãng phí không gian nhà kính; Khống chế được sâu bệnh hại; Do trồng trong các giá thể tơi xốp nên điều kiện thoát nước tốt; Hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng ngoài đồng ruộng từ 1,5 đến 2 lần Qua đó, theo khuyến cáo để trồng hoa lily trong chậu cây phát triển tốt nhất thường sử dụng hỗn hợp: chất mùn + than bùn + nham thạch theo tỷ lệ (1:1:1) hoặc đất vườn + than bùn + phân hoai mục theo tỷ lệ (1:1:1) trộn đều trước khi trồng (Đặng Văn Đông, 2002) [6]
Trang 39Đào Thanh Vân và cs., (2007) [31], đất có kết cấu tốt là đất có khả năng giữ nước, phân và chất hữu cơ Thành phần cơ giới có thể chia làm những loại sau: Đất pha cát có độ tơi xốp cao, độ hổng lớn, thông khí, thấm nước tốt nhưng độ phì kém Do đó, khi trồng hoa trên loại đất này cần phải bổ sung chất hữu cơ; Đất sét có tỷ lệ hạt sét cao, đất dính, canh tác khó, độ xốp kém loại đất này không thích hợp để trồng các loại hoa; Đất thịt có tỷ lệ hạt cát và hạt sét cân đối có khả năng hấp thu dinh dưỡng tốt, giữ nước và thoáng khí do vậy đây là đất trồng hoa lý tưởng
Đặng Thị Tố Nga (2013) [20], đã nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể được sản xuất từ bã nấm đến sự sinh trưởng và phát triển của hoa lily giống Sorborne Kết quả được thể hiện ở hiệu quả kinh tế của từng loại cũng như từng tỷ lệ phối trộn giá thể để trồng hoa Với số cây thu hoạch, tỷ lệ thu hoạch
và giá bán đều tương đương nhau, hiệu quả lãi thuần lại có sự khác nhau Đó chính là lãi do đầu tư chi phí để sản xuất giá thể khác nhau trong đó chi phí để sản xuất từ bã nấm là thấp nhất
bệnh cháy lá sinh lý ở cây hoa lily
Cây hoa lily được nhập nội vào Việt Nam từ các nước châu Âu, châu Mỹ như Hà Lan, Chilê hay Nhật Bản, Trung Quốc của châu Á và hiện nay đã có mặt ở rất nhiều các tỉnh thành của Việt Nam Tuy nhiên, cây hoa lily là một cây có nguồn gốc ôn đới do vậy thời gian thích hợp nhất để trồng là từ tháng
8 đến tháng 12 hằng năm Trong quá trình sản xuất người nông dân thường xuyên gặp phải bệnh cháy lá ở cây hoa do rất nhiều yếu tố gây nên, làm giảm một lượng lớn năng suất và chất lượng Trong đó, sự thiếu hụt canxi là một vấn đề cần được quan tâm, giải quyết và phải nghiên cứu áp dụng
Bùi Thanh Tùng và cs., (2006) [30], khi nghiên cứu 8 giống hoa lily được nhập nội trồng tại Hải Phòng trong nhà kính và nhà lưới vụ Đông năm
Trang 402006 đã thu được một số kết quả về khả năng chống chịu bệnh cháy lá đối với cây hoa lily:
Với thí nghiệm trên tác giả cho rằng khả năng nhiễm các loại bệnh hại đối với hoa lily là không đáng kể bởi đây là vụ đầu tiên được trồng thử nghiệm Chỉ riêng bệnh cháy lá sinh lý là khá phổ biến Với 8 giống thí nghiệm chỉ có hai giống Alusta và Siberia là không bị nhiễm, 6 giống còn lại đều bị nhiễm từ mức 20 – 30%, đặc biệt 2 giống Stargaze và Starfighter bị nhiễm rất nặng tới 100% diện tích lá
Hình 1.2: Các giống hoa lily bị cháy lá sinh lý
Nguồn: Bùi Thanh Tùng và cs., (2006) [30] Thiếu canxi ảnh hưởng đến quá trình hút nước của cây, cây còi cọc, năng suất hoa giảm, thiếu nhiều thì lá non và điểm sinh trưởng bị chết, bị nát ở giữa
nụ bị teo và rụng (Webshite Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Ninh) [84]
Nguyễn Thị Kim Liên (2013) [18], kết quả cho rằng, một vấn đề thường xảy ra trong sản xuất hoa lily hiện nay là hiện tượng cây bị cháy lá thường xảy ra ở giai đoạn phân hóa nụ Đây không phải là hiện tượng bệnh lý do các tác nhân nấm hay vi khuẩn… mà là một sự rối loạn sinh lý xảy ra trong quá trình vận chuyển và trao đổi canxi trong cây Thực tế trong sản xuất sử dụng canxi trong phòng chống bệnh cháy lá sinh lý ở hoa lily cho kết quả: Trồng lily sau khi cây cao 30 cm định kỳ 7 ngày/lần phun dung dịch Ca(NO3)2 mang lại kết quả tốt