chưa có nghiên cứu về lý thuyết cũng như khả năng cắt bằng phương phápnày vì vậy việc thiết kế, chế tạo dao cắt dạng đĩa và lựa chọn chế độ cắthợp lý để giảm công suất tiêu thụ khi cắt t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNGNGHIỆP
TRƯƠNG ĐÌNH TRƯỜNG
ĐỀ TÀI THIẾT KẾ, CHẾ TẠO DAO CẮT DẠNG ĐĨA VÀ LỰA CHỌN CHẾ
ĐỘ CẮT HỢP LÝ ĐỂ GIẢM CÔNG SUẤT TIÊU THỤ VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG VẾT CẮT KHI CẮT THÉP TẤM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
Thái Nguyên - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNGNGHIỆP
TRƯƠNG ĐÌNH TRƯỜNG
ĐỀ TÀI THIẾT KẾ, CHẾ TẠO DAO CẮT DẠNG ĐĨA VÀ LỰA CHỌN CHẾ
ĐỘ CẮT HỢP LÝ ĐỂ GIẢM CÔNG SUẤT TIÊU THỤ VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG VẾT CẮT KHI CẮT THÉP TẤM
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT CƠ KHÍ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC KHOA CHUYÊN MÔN
PGS.TS Nguyễn Quốc Tuấn
PHÒNG ĐÀO TẠO
Thái Nguyên – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả có được trong luận văn là do bản thântôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Quốc Tuấn.Ngoài thông tin trích dẫn từ các tài liệu tham khảo đã được liệt kê, các kếtquả và số liệu thực nghiệm là do tôi thực hiện và chưa được công bố trongbất cứ công trình nào khác
Thái nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả
Trương Đình Trường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn khoa học,thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Quốc Tuấn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo vàtạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trường Đại học kỹthuật công nghiệp Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong việc đo kiểm và thựchiện thí nghiệm cho đề tài này
Tôi xin cảm ơn các chú, các anh đang làm việc tại công ty Cơ khí vàthương mại Nhân Đức đã tạo điều kiện về máy móc, trang thiết bị thí nghiệmgiúp thực hiện quá trình thực nghiệm được thuận lợi
Tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè,đồng nghiệp trong suốt thời gian tôi học tập và làm luận văn
Thái nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả
Trương Đình Trường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN .iii
MỤC LỤC iv
MỤC LỤC HÌNH VẼ vi
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I CÁC PHƯƠNG PHÁP CẮT PHÔI THÉP TẤM 5
1.1 Các phương pháp cắt phôi thép tấm 5
1.1.1 Phương pháp cắt thủ công 5
1.2 Cắt bằng hồ quang điện hoặc ngọn lửa khí 6
1.3 Cắt phôi bằng plasma 9
1.4 Cắt bằng Laser 14
1.6 Máy cắt thép có lưỡi dao dạng đĩa 20
CHƯƠNG II CẮT PHÔI TẤM BẰNG ĐĨA CẮT (CON LĂN) 25
2.1 Cơ chế cắt phôi tấm bằng đĩa cắt (con lăn) 25
2.1.1 Biến dạng của kim loại 25
2.1.2 Sự thay đổi, biến dạng tính chất của thép tấm trong quá trình gia công
32 2.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới quá trình cắt 38
2.3 Sơ đồ nguyên lý cắt thép tấm bằng dao cắt dạng đĩa 41
CHƯƠNG III MÁY THÍ NGHIỆM, THIẾT KẾ ĐĨA CẮT 45
VÀ LỰA CHỌN KHE HỞ CẮT (Z) 45
3.1 Sơ đồ kết cấu máy cắt tôn tấm bằng đĩa cắt 45
3.2 Cơ cấu điều chỉnh dao cắt 49
3.3 Chọn vật liệu làm dao 53
3.4 Thiết kế kết cấu dao cắt dạng đĩa 55
Trang 63.6 Phương pháp xác định công suất tức động cơ 3 pha 59
3.7 Thực nghiệm quá trình cắt 61
3.7.1 Bảng tổng hợp số liệu thực nghiệm công suất quá trình cắt 62
3.7.2 Biểu đồ thay đổi công suất cắt 63
3.8 Thực nghiệm đo công suất tức thời 66
3.9 Phân tích cấu trúc tế vi bề mặt cắt 69
KẾT LUẬN CHUNG 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Hình 1.1 Máy cắt thủ công 5
Hình 1.2 Sơ đồ cắt bằng khí 6
Hình 1.3 Sơ đồ một trạm cắt khí dùng axetylen 7
Hình 1.4 Cấu tạo mỏ cắt Plasma 10
Hình 1.5 Sơ đồ thiết bị cắt Plasma 11
Hình 1.6 Sơ đồ nguyên lý cắt bằng tia Laser 15
Hình 1.7 Sơ đồ dao lưỡi song song 18
Hình 1.8 Sơ đồ bố trí dao đĩa 20
Hình 2.1 Biến đồ biến dạng của kim loại 25
Hình 2.2 Biến dạng đàn hồi 26
Hình 2.3 Các dạng nứt khi phá huỷ dẻo 29
Hình 2.4 Đường cong thử kéo 29
Hình 2.5- Biểu đồ biến dạng dẻo kim loại 30
Hình 2.6- Sơ đồ biến dạng trong đơn tinh thể kim loại 31
Hình 2.7- Các giai đoạn của quá trình cắt 34
Hình 2.8- Bề mặt bên của phần kim loại được cắt ra 35
Hình 2.9 - Sơ đồ tác dụng lực khi cắt 36
Hình 2.10- Sơ đồ phân bố các vết nứt tại mép cắt 37
Hình 2.11 Các loại ứng suất 38
Hình 2.12 Kết cấu của dao cắt đĩa 41
Hình 2.13 Sơ đồ tác dụng lực khi cắt trên máy cắt dao đĩa 42
Hình 3.2 Động cơ điện 3 pha 46
Hình 3.3 Bánh răng 47
Hình 3.4 Cơ cấu điều chỉnh dao cắt 48
Hình 3.5 Trục truyền máy cắt 49
Hình 3.6 Gối đỡ 50
Hình 3.7 Dao cắt 51
Hình 3.8 Vít điều chỉnh chiều sâucắt 52
Hình 3.9 Khung máy 53
Trang 8Bảng 3.1 Thành hóa học thép 9XC 54
Bảng 3.2 Tính chất cơ lý tính 54
Hình 3.10 Dao cắt dạng đĩa thông thường 55
Hình 3.11 Phôi uốn theo biên dạng góc trước của dao 56
Hình 3.12 Sơ đồ kết cấu dao cắt dạng đĩa 57
Hình 3.13 Sơ đồ xác định công suất 59
Hình 3.14 Biểu đồ thay đổi công suất khi S = 1.5mm 63
Hình 3.15 Biểu đồ thay đổi công suất khi S = 2.5mm 63
Hình 3.16 Biểu đồ thay đổi công suất khi S = 3.5mm 64
Hình 3.17 Biểu đồ thay đổi công suất khi S = 4 mm 64
Hình 3.18 Biểu đồ thay đổi công suất khi S = 5mm 65
Hình 3.18 Ảnh SEM của bề mặt cắt với khe hở cắt khác nhau 70
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển của khoa học nói chung và ngành cơ khí nóiriêng Đòi hỏi người cán bộ kỹ thuật phải nắm vững kiến thức cơ bảntương đối rộng Đồng thời phải biết vận dụng kiến thức đã học để giảiquyết những vấn đề cụ thể thường gặp trong sản xuất, sửa chữa và sửdụng
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại máy cắt tôn và phươngpháp cắt tôn khác nhau như:
- Phương pháp chặt bằng ve, tốn nhiều thời gian, các vết cắt không
được thẳng và sản phẩm tạo ra không đảm bảo yêu cầu về độ chính xác,chiều dày cắt nhỏ, năng xuất cắt rất thấp
Phương pháp này chỉ áp dụng đối với các phân xưởng thủ công, cắtcác loại thép tấm có chiều dày bé và diện tích nhỏ
- Máy cắt thép thủ công: gồm hai lưỡi cắt và một cơ cấu cánh tay đòn
và đòn bẩy để tạo lực cho lưỡi cắt
Máy này cũng chỉ áp dụng cắt những tấm thép có chiều dày và diệntích nhỏ Chủ yếu dùng trong các xưởng sản xuất vừa và nhỏ
- Cắt thép tấm bằng lưỡi cắt dao đi xuống làm cho lực cắt tăng lênvượt quá điểm tới hạn, kim loại bị biến dạng dẻo Biến dạng dẻo này phátsinh ngay ở mép của dao cắt, ứng suất tập trung làm phát sinh dòng chảykim loại tạo thành vùng kim loại bị chèn ép Sự chèn ép cục bộ đó sẽ pháttriển đến khi toàn bộ chiều dày của kim loại đạt đến ứng suất đủ để làmxuất hiện đường trượt Những đường trượt này tạo ra đường dẻo hẹp hìnhbình hành khi cắt, do đó biến dạng trượt kèm theo uốn và kéo các thớ kimloại cho đến khi bắt đầu xuất hiện các vết nứt
- Cắt thép tấm bằng khí Gas và Oxy đây là phương pháp cắt phụthuộc vào sự điều khiển của con người, sản phẩm làm ra phụ thuộc vào tay
Trang 10nghề người công nhân đứng máy, sai số trong quá trình cắt là lớn vì phụthuộc vào kinh nghiệm của người công nhân, các quá trình điều chỉnh chế
độ cắt, lưu lượng cắt đều do con người đảm nhận Do phải làm việc thủcông nên năng suất lao động không cao, vết cắt không tốt bằng vết cắt cơhọc, hiệu quả kinh tế cũng thấp Đối với cắt bằng Gas – Oxy người côngnhân còn phải đối mặt với nguy cơ tai nạn lao động cao do nổ bình Chiphí khí cắt khá cao ảnh hưởng tới tính kinh tế trong quá trình sản xuất
Không cắt được Al, Cu, thép không rỉ…tốc độ cắt nhỏ hơn800mm/phút [1]
- Cắt thép tấm bằng Plasma năng suất cắt cao chiều dày cắt lớn có thểcắt được tấm dày tới 50mm [1] tuy nhiên cắt Plasma điện cực cắt, vòi phunthường xuyên phải thay thế làm tăng giá thành sản xuất cắt Plasma không thểcắt với vật cắt không phải kim loại
Hồ quang Plasma thổi kim loại nóng chảy và xỉ cháy ra khỏi rãnh căt nócũng nung nóng vật cắt kim loại, đầu mỏ súng cắt plasma, tất cả các điều này
có thể phát lửa và gây cháy và bỏng cho người công nhân Súng mỏ cắtplasma được thiết kế an toàn tự ngắt khi mất chụp sứ bảo vệ hoặc khi vòiphun ngoài chạm điện cực Tuy nhiên do đặc tính điện áp cao để duy trì hồquang điện áp này dễ gây nguy hiểm nếu bị rò Hồ quang cắt plasma có thểgây ra bỏng mắt và da bạn khi tiếp xúc lâu Cắt plasma có sinh ra khói độc vàkhí, nếu hít phải có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe Chi phí khí cắt khá caoảnh hưởng tới tính kinh tế trong quá trình sản xuất [1]
Giá thành điện cực cao khi cắt chiều dài kim loại >40mm phải sửdụng các nguồn lớn, thiết bị đắt tiền Điện cực nhanh mòn (400 lần phát
hồ quang/điện cực [1]
Trong thực tế máy cắt tôn tấm bằng đĩa cắt đã được áp dụng để cắttôn tấm với các chiều dày khác nhau trong khoảng từ 2 – 5mm Tuy nhiên
Trang 11chưa có nghiên cứu về lý thuyết cũng như khả năng cắt bằng phương phápnày vì vậy việc thiết kế, chế tạo dao cắt dạng đĩa và lựa chọn chế độ cắthợp lý để giảm công suất tiêu thụ khi cắt thép tấm có ý nghĩa khoa học vàthực tiễn hết sức quan trọng nhằm giảm chi phí khi cắt thép tấm, tăngnăng suất lao động, khắc phục được nhược điểm của các phương pháp
khác, đáp ứng nhu cầu đó, em đã chọn đề tài là “Thiết kế, chế tạo dao cắt dạng đĩa và lựa chọn chế độ cắt hợp lý để giảm công suất tiêu thụ, nâng cao chất lượng vết cắt khi cắt thép tấm”.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu tổng quan về các phương pháp cắt thép tấm
- Nghiên cứu chế tạo được dao cắt dạng đĩa dùng cắt các phôi thép
tấm với chiều dài vô hạn
- Lựa chọn được khe hở (Z) hợp lý trong quá trình cắt nhằm giảmcông suất tiêu thụ nâng cao chất lượng bề mặt vết cắt
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu lý thuyết kết hợp với nghiên
cứu thực nghiệm Việc nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành với thiết bị
đo có độ chính xác cao như máy đo công suất EXTECH, Máy soi nhìn
TM 1000
Ý nghĩa của đề tài:
Ý nghĩa khoa học: Xác định được công suất tiêu thụ khi cắt với các
khe hở khác nhau từ đó lựa chọn được khe hở hợp lý để thực hiện quátrình cắt giảm công suất tiêu thụ và tăng được chất lượng vết cắt
Ý nghĩa thực tiễn: Xuất phát từ điều kiện gia công cụ thể, hệ thống
công nghệ chất lượng sản phẩm yêu cầu Người cán bộ công nghệ nhanhchóng xác định được thông số khe hở khi cắt hợp lý nhằm đảm bảo đượcchất lượng sản phẩm theo yêu cầu trên cơ sở đảm bảo được tuổi bền của
Trang 12dụng cụ cắt lớn nhất và đảm bảo năng xuất gia công Từ đó đảm bảo các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật.
Nội dung luận văn: Kết cấu luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Các phương pháp cắt phôi thép tấm
Chương 2 Cắt phôi tấm bằng đĩa cắt (con lăn)
Chương 3 Thực nghiệm nghiên cứu chế tạo dao cắt và lựa chọn khe hở
(z) cắt
Kết luận chung
Nội dung đề tài trình bày không tránh khỏi những sai sót Rất mongđược các Thầy, Cô và các đồng nghiệp đóng góp ý kiến để luận văn đượchoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình củathầy giáo PGS.TS Nguyễn Quốc Tuấn và các thầy cô trong trường Đại học
kỹ thuật công nghiệp Thái nguyên để em hoàn thành được luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn./.
Trang 13CHƯƠNG I CÁC PHƯƠNG PHÁP CẮT PHÔI THÉP TẤM
Để thực hiện công nghệ cắt các vật liệu, trong thực tế có nhiềuphương pháp cắt như: cắt bằng phương pháp cắt thủ công (chặt bằng ve),cắt bằng ngọn lửa hàn khí, cắt bằng tia laser, plasma hay các phương phápdập tấm (rập cắt và đột lỗ) cắt bằng máy cắt thép tấm vv Tuỳ theo hìnhdạng kích thước, quy trình sản xuất cũng như quy mô sản xuất mà ta cóthể áp dụng các phương pháp cắt khác nhau cho hợp lý
và sản phẩm tạo ra không đảm bảo yêu cầu về độ chính xác
- Máy cắt thủ công gồm hai lưỡi cắt và một cơ cấu cánh tay đòn và đònbẩy để tạo lực cho lưỡi cắt
Hình 1.1 Máy cắt thủ công
- Máy này cũng chỉ áp dụng cắt những tấm thép có chiều dày và diệntích bé chủ yếu dùng trong các xưởng sản xuất vừa và nhỏ
Trang 14- Không cắt được các chi tiết có chiều dày và diện tích lớn.
- Chỉ áp dụng được trong các xưởng sản xuất thủ công
- Không năng xuất và mất nhiều chi phí về nhân công khi tiến hànhquá trình cắt
1.2 Cắt bằng hồ quang điện hoặc ngọn lửa khí
* Đặc điểm, công dụng:
- Cắt đứt kim loại đen, kim loại mầu và kim loại bằng hồ quang hoặcngọn lửa khí là phương pháp đốt cháy làm cho vật cắt đạt tới điểm nóng, bịđẩy mạnh và bị tách rời
- Cắt đứt bằng hồ quang là quá trình nóng chảy hoặc cắt đứt kim loạibằng nhiệt lượng hoặc hồ quang điện, điện cực hồ quang có thể là than hoặckim loại
- Cắt bằng khí là phương pháp cắt sử dụng nhiệt của ngọn lửa sinh rakhi đốt cháy khí cháy trong dòng ôxy để nung kim loại tạo thành các ôxít vàthổi chúng ra khỏi mép cắt tạo thành rãnh cắt
Hình 1.2 Sơ đồ cắt bằng khí
Trang 15Hình 1.3 Sơ đồ một trạm cắt khí dùng axetylen
- Cắt kim loại bằng ngọn lửa khí cháy là quá trình dùng nhiệt lượngcủa ngọn lửa khí cháy với oxi để nung nóng chỗ cắt đến nhiệt độ cháy củakim loại, tiếp đó dùng luồng oxi áp suất cao thổi lớp oxit kim loại đã nóngchảy để lộ ra phần kim loại chưa bị oxi hóa Lớp kim loại này tiếp tục bị cháytạo thành lớp oxit mới, rồi đến lượt lớp oxit mới này bị nóng chảy và bị luồngoxi thổi đi, cứ thế cho đến hết
Để đốt nóng kim loại đến nhiệt độ cháy, dùng nhiệt của phản ứng giữa
O2 kỹ thuật (98 99,7% O2) và C2H2 ( hoặc C6H6, khí gas…)
Để cắt bằng khí, kim loại cắt phải thỏa mãn một số yêu cầu sau:
+ Nhiệt độ cháy của kim loại phải thấp hơn nhiệt độ nóng chảy
+ Nhiệt độ nóng chảy của ôxít kim loại phải thấp hơn nhiệt độ nóngchảy của kim loại
Trang 16+ Nhiệt tỏa ra khi kim loại cháy phải đủ lớn để nung mép cắt tốt đảmbảo quá trình cắt không bị gián đoạn.
+ Ôxít kim loại nóng chảy phải loãng tốt, dễ tách khỏi mép cắt
+ Độ dẫn nhiệt của kim loại không quá cao, tránh sự tỏa nhiệt nhanhdẫn đến mép cắt bị nung nóng kém làm gián đoạn quá trình cắt
* Ưu điểm :
- Thiết bị đơn giản, dễ vận hành
- Cắt được kim loại dày
- Cắt được biên dạng phức tạp (thông qua bộ khởi động từ có thể điều khiển được quá trình cắt và đảo chiểu được hướng cắt)
- Năng suất cao
* Nhược điểm:
- Chỉ cắt được kim loại thỏa mãn điều kiện cắt sau:
+ Nhiệt cháy của kim loại nhỏ hơn nhiệt chảy của nó Đối với thép cácbon thấp có lượng 0,7%C nhiệt cháy khoảng 1350C, còn nhiệt chảy gần
15000C nên thỏa mãn điều kiện này Với thép các bon cao (1,1 1,2%) nhiệtcháy gần bằng nhiệt chảy nên trước khi cắt cần đốt nóng từ 300 6500C Đốivới thép các bon có thành phần cao hơn và thép hợp kim cao Cr – Ni, gang,kim loại màu, muốn cắt phải dùng thuốc cắt
+ Nhiệt độ cháy của oxit kim loại phải nhỏ hơn nhiệt cháy của kim loại
đó Nếu ngược lại lớp oxit tạo nên trên bề mặt kim loại vì không bị chảy ranên khi có dòng O2 thổi vào lớp oxit sẽ ngăn cản việc oxi hóa lớp kim loại ởphía dưới
+ Nhiệt lượng sinh ra trong phản ứng cháy của kim loại phải đủ lớn đểduy trì quá trình cắt liên tục vì khi cắt thép gần 70% nhiệt là do phản ứngcháy của kim loại với oxi, chỉ 30% là do ngọn lửa nung nóng
+ Xỉ tạo thành khi cắt phải có tính chảy loãng cao để dễ dàng bị thổi đi
Trang 17+ Tính dẫn nhiệt không quá cao tránh thoát nhiệt gây gián đoạn quá trình cắt.
- Vùng ảnh hưởng nhiệt lớn nên sau khi cắt chi tiết cong vênh, biến dạng
- Mạch cắt không đều, bavia nhiều
- Hiệu quả kinh tế không cao
- Cắt thép tấm bằng khí Gas và Oxy đây là phương pháp cắt phụ thuộcvào sự điều khiển của con người, sản phẩm làm ra phụ thuộc vào tay nghềngười công nhân đứng máy, sai số trong quá trình cắt là lớn vì phụ thuộc vàokinh nghiệm của người công nhân, các quá trình điều chỉnh chế độ cắt, lưulượng cắt đều do con người đảm nhận Do phải làm việc thủ côn nên năngsuất lao động không cao, vết cắt không tốt bằng vết cắt cơ học, hiệu quả kinh
tế cũng thấp Đối với cắt bằng Gas – Oxy người công nhân còn phải đối mặtvới nguy cơ tai nạn lao động cao do nổ bình Chi phí khí cắt khá cao ảnhhưởng tới tính kinh tế trong quá trình sản xuất
- Không cắt được Al, Cu, thép không rỉ…tốc độ cắt nhỏ hơn
- Trong cắt kim loại bằng plasma, người ta sử dụng khí nén làm môitrường tạo ra plasma (khí bị ion hóa tồn tại dưới dạng plasma) Ở các nướccông nghiệp phát triển người ta ứng dụng rất rộng rãi các máy cắt plasma do
có năng suất cao hơn 1,5 – 2 lần so với cắt khí, đường cắt cao hơn hẳn, sạchsẽ
Trang 18- Các quá trình hồ quang plasma sử dụng mỏ hồ quang đặc biệt đượccải tiến từ mỏ hàn TIG, trong đó hồ quang wolfram được định hướng qua mộtống dẫn khí trơ Ống dẫn này được bố trí giữa điện cực wolfram và kim loạinền, tránh được sự khuếch tán hồ quang do đó cho phép tập trung dòng hồquang vào phạm vi hẹp, làm tăng rõ rệt sự cấp nhiệt hồ quang, tăng nhiệt độ
và điện áp hồ quang Với hệ thống này tạo thành dòng plasma
Hình 1.4 Cấu tạo mỏ cắt Plasma
Electrode: Điện cực wonlfram được lắp bên trong ống dẫn không chạm
vào chi tiết gia công Điện cực được phân cực âm, nếu bị phân cực dươngđiện cực sẽ nhanh chóng bị hư hại
Collet: Kẹp kim dùng để giữ và cố định điện cực.
Electrode cap: Chuôi hàn cùng để giữ kín khí, thay thế kim hàn khi cần Welding tip: Đầu phun nơi tập trung khí tạo hồ quang plasma.
Nozzle: Vòi phun khí bảo vệ cung cấp qua ống ngoài tương tự quá trình
hàn TIG, bảo vệ vũng hàn xung quanh dòng plasma
Handle: Tay cầm cách điện chứa các ống dẫn khí, cáp cấp điện, nước
làm mát
Plasma Gas: Ống dẫn khí cho plasma.
Trang 19Shielding gas: Ống dẫn khí bảo vệ
Water in: Ống dẫn nước vào
Water out: Ống dẫn nước ra.
Curent (+) (-): Cáp điện đưa vào đầu mỏ súng hàn.
Hình 1.5 Sơ đồ thiết bị cắt Plasma (Máy nén khí (air compressor) Hộp nguồn (cuttung power supply) Mỏ cắt
(cutting lorch) Dây dẫn (cable)
- Các phương pháp cắt plasma điển hình:
Cắt plasma sử dụng không khí: Khí được sử dụng phổ biến nhất trongcắt plasma, nó cung cấp tốc độ cắt, và chất lượng cắt tốt với thép cacbon,thép không gỉ và nhôm Giá thành thấp là một lợi thế khi sử dụng không khí.Tuy nhiên trước khi được sử dụng không khí phải được làm sạch, loại bỏ bụibẩn, hơi nước Khi sử dụng không khí cần phải chọn hệ thống khí nén, lọcthích hợp với yêu cầu cắt Một trong các vấn đề của cắt plasma sử dụngkhông khí là ảnh hưởng của nó lên mối hàn đường cắt plasma Đường cắtthường có các vùng bị ni tơ hóa, oxy hóa Điều này ảnh hưởng đến mối hàn
Nó được giải quyết tốt khi sử dụng dây hàn có chứa chất khử nito, oxy Vớicác ưu điểm tốc độ cắt tốt, xỉ ít, tuổi thọ của các thiết bị tiêu hao trung bình.Không khí là một lựa chọn tốt nhất cho cắt plasma trong các xưởng nhỏ
Trang 20Cắt plasma sử dụng khí Oxy: là lựa chọn hàng đầu trong các nhà máykhi cắt các tấm thép Carbon vì chúng mang lại chất lượng mối cắt tốt nhất,tốc độ cắt nhanh nhất Oxy sẽ tương tác với thép carbon giảm nhiệt độ nóngchảy do tạo ra oxit tạo đường cắt mịn hơn do kích thước hạt nóng chảy nhỏ.Nhược điểm của cắt plasma sử dụng oxy đó là giá thành của khí sử dụng cao,cũng như tuổi thọ thiết bị tiêu hao thấp Tuy nhiên thực tế người ta thường sửdụng khí nitơ khi bắt đầu hồ quang plasma do đó sẽ cải thiện được tuổi thọcủa thiết bị tiêu hao ngang bằng với cắt plasma sử dụng không khí Chi phícho khí oxy và thiết bị tiêu hao cao.
Cắt plasma sử dụng khí nitơ: Phương pháp được sử dụng phổ biếntrong quá khứ và nó vẫn là lựa chọn tốt nhất khi cắt nhôm hoặc thép không gỉ
do chất lượng đường cắt và tuổi thọ thiết bị tiêu hao Tuy nhiên với tấm nhômhoặc thép không gỉ dày trên 0.5 inch thì nên chuyển sang sử dụng hỗn hợpkhí argon + hidro Bình thường không khí được sử dụng làm khí bảo vệ Nếu
sử dụng CO2 có thể cải thiện phẩn nào chất lượng cũng như tốc độ cắt Nướccũng được sử dụng với cắt plasma nitơ Nước đảm bảm đường cắt nhẵn bóngkhi cắt nhôm, thép không gỉ Khi sử dụng với nước cắt plasma nitơ thường sửdụng bàn cắt nước
Cắt plasma sử dụng Argon- Hidro: khi cắt nhôm và thép không gỉ
dày trên 0.5inch hỗn hợp khí 35% Hidro,65% argon thường được sử dụng.Hỗn hợp khí cung cấp nhiệt độ cắt plasma cao nhất (với hệ thống plasma1000Amp có kèm phun nước sử dụng khí argon-hidro có thể cắt thép không
gỉ dày đến 15cm) Cắt plasma sử dụng argon-hidro cung cấp đường cắt cực kìmịn với thép không rỉ Nitơ thường được chọn là khí bảo vệ trong trường hợpnày Yếu điểm của hệ thống như này đó là chi phí cho thiết bị và chi phí vậnhành
Trang 21Plasma Gas /
Air / Air Chất lượng cắt/tốc độ
Không nên dùng Không nên dùng
Nitrogen
(N2) / CO2
Chất lượng cắt bình thường ít xỉ Tuổi thọthiết bị cao
Chất lượng cắt xuấtsắc Tuổi thọ thiết
bị cao
Chất lượng cắt xuấtsắc Tuổi thọ thiết
bị cao
Nitrogen
(N2) / Air
Chất lượng cắt bình thường ít xỉ Tuổi thọthiết bị cao nhất
Chất lượng cắt tốt
Tuổi thọ thiết bị cao
Chất lượng cắt tốt Tuổi thọ thiết bị cao
Nitrogen
(N2) / H20
Chất lượng cắt bình thường ít xỉ Tuổi thọthiết bị cao nhất
Chất lượng cắt xuấtsắc Tuổi thọ thiết
bị cao
Chất lượng cắt xuấtsắc Tuổi thọ thiết
- Có thể cắt nhiều loại vật liệu, cũng như độ dày khác nhau Cắt plasma
có thể cắt nhiều loại vật liệu chứa sắt, hoặc không chứa sắt độ dày cắt có thểlên đến 80mm
Trang 22- Dễ dàng vận hành: Cắt plasma không yêu cầu kỹ thuật cao đối vớingười vận hành, việc đào tạo cũng dễ dàng, thao tác cắt đơn giản, không cầnphải điều chỉnh nhiều khi thao tác.
- Cắt được nhiều biên dạng phức tạp
- Tính kinh tế: Cắt plasma có tính kinh tế hơn so với cắt oxy-gas khicắt với các tấm dày dưới 25mm
* Nhược điểm:
- Cắt thép tấm bằng Plasma năng suất cắt cao chiều dày cắt lớn có thểcắt được tấm dày tới 50mm [2] tuy nhiên cắt Plasma điện cực cắt, vòi phunthường xuyên phải thay thế làm tăng giá thành sản xuất cắt Plasma không thểcắt với vật cắt không phải kim loại
Hồ quang Plasma thổi kim loại nóng chảy và xỉ cháy ra khỏi rãnh căt
nó cũng nung nóng vật cắt kim loại, đầu mỏ súng cắt plasma, tất cả các điềunày có thể phát lửa và gây cháy và bỏng cho người công nhân Súng mỏ cắtplasma được thiết kế an toàn tự ngắt khi mất chụp sứ bảo vệ hoặc khi vòiphun ngoài chạm điện cực Tuy nhiên do đặc tính điện áp cao để duy trì hồquang điện áp này dễ gây nguy hiểm nếu bị rò Hồ quang cắt plasma có thểgây ra bỏng mắt và da khi tiếp xúc lâu Cắt plasma có sinh ra khói độc và khí,nếu hít phải có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe Chi phí khí cắt khá cao ảnhhưởng tới tính kinh tế trong quá trình sản xuất [2]
Giá thành điện cực cao khi cắt chiều dài kim loại >40mm phải sử dụngcác nguồn lớn, thiết bị đắt tiền Điện cực nhanh mòn (400 lần phát hồquang/điện cực [2]
1.4 Cắt bằng Laser
* Đặc điểm, công dụng:
Nguyên lý của công nghệ này là sử dụng chùm tia laser có mật độ nănglượng cao và dẫn hội tụ lại tạo nên điểm tập trung năng lượng rất lớn dưới
Trang 23dạng nhiệt và có khả năng nung nóng thậm chí đốt cháy vật liệu tại điểm hội
tụ đó Một trong những ứng dụng Laser thường thấy trong công nghệ chế tạo
là Cắt vật liệu bằng tia Laser
Hình 1.6 Sơ đồ nguyên lý cắt bằng tia Laser
Theo nguyên lý hình thành Laser CO2, khi hỗn hợp khí CO2, N2, He bịkích thích bởi điện áp phân cực với hiệu điện thế và tần số cao sẽ xảy ra quátrình chuyển hóa giữa các trạng thái năng lượng, là nguyên nhân tạo ra cácluồng hạt Photon dưới dạng sóng bức xạ với 02 bước sóng chính là 10,4Micromet và 9,4 Micromet Đáng chú ý nhất là bước sóng 10,4µm vừa có
Trang 24tính chất dao động nhiệt - mang năng lượng nhiệt cao nhưng cũng mangnhững tính chất của ánh sáng mặc dù không thể nhìn thấy bằng mắt thường.Bức xạ này được gọi là Laser và do hình thành từ sự dao động phân tử khí
CO2 nên còn gọi là Laser CO2
Do 2 tính chất vật lý như nói trên, Laser CO2 rất phù hợp trong ứngdụng cắt vật liệu Thứ nhất, với tính chất vật lý dao động nhiệt, Laser CO2mang theo nguồn năng lượng lớn, tốc độ rất cao dưới dạng nhiệt nên có thể
sử dụng để nung nóng hoặc thậm chí đốt cháy vật liệu tại những vị trí tácđộng Thứ 2 là tính chất vật lý của ánh sáng như phản xạ (khi gặp gươngphản xạ), khúc xạ khi đi qua các môi trường trong suốt có hệ số khúc xạ(chiết suất) khác nhau Với tính chất phản xạ, khúc xạ, chúng ta có thể sửdụng các dụng cụ quang học như gương phản xạ để chuyển hướng đường đicủa chùm tia, sử dụng thấu kính để hội tụ chùm tia làm tăng lên nhiều lần mật
độ năng lượng của chùm tia Trên cơ sở đó chúng ta có được 2 yếu tố thenchốt là khuếch đại năng lượng tới ngưỡng cần thiết và dẫn nguồn năng lượng
đó tới vị trí cần gia công Việc di chuyển đầu cắt trong quá trình gia công (do
Hệ máy chính, hệ điều khiển CNC đảm nhiệm) luôn luôn đảm bảo đường đicủa chùm tia Laser khi tới trước thấu kính hội tụ không bị suy giảm, giữ đượchướng và điểm hội tụ do đó luôn là điểm tập trung mật độ năng lượng caonhất dù ở các vị trí khác nhau trong quá trình di chuyển cắt
Nguồn Laser CO2 có cấu tạo phức tạp tùy thuộc vào công nghệ chế tạocủa các hãng khác nhau nhưng có thể chia thành các nhóm bộ phận chínhsau: buồng cộng hưởng dao động; Bơm nhồi để tạo vận tốc luồng hỗn hợpkhí tới hơn 200m/s (720km/h), Bơm xả để xả hỗn hợp khí trong quá trình duytrì áp suất và chất lượng khí của buồn cộng hưởng; Hệ thống tạo điện cao áp
RF với điện áp 3~4KV hoặc cao hơn, tần số tới 2MHz; Hệ thống các cảmbiến nhiệt độ, cảm biến áp suất, cảm biến lưu lượng nước làm mát, cảm biến
Trang 25công suất Laser chuyên dụng… Hệ thống đường ống dẫn nước làm mát tuầnhoàn tới các điểm phát sinh nhiệt độ.
* Ưu điểm:
Công nghệ gia công này có những ưu điểm vượt trội so với một sốcông nghệ gia công truyền thống trong cùng nhóm ứng dụng như: cho năngsuất rất cao (tốc độ gia công lớn), chất lượng gia công bề mặt đẹp –vết cắtnhỏ gọn, cắt được biên dạng phức tạp (quá trình cắt laser thường được sửdụng là nguyên công sau cùng, không cần gia công lại), gia công được nhiềuloại vật liệu cả kim loại và phi kim, gốm…Vật tư nhiên liệu tiêu hao ít
* Nhược điểm:
Nhược điểm của phương pháp này là hệ thống thiết bị, công nghệ phứctạp nên giá thành cao, khó làm chủ công nghệ thiết bị, không thích hợp vớimột số sản phẩm yêu cầu ít phát sinh nhiệt tại bề mặt gia công, ngoài ra tialaser không cắt được một số kim loại có tính chất hấp thụ laser như đồng,không cắt được vật liệu có độ dày lớn
Ngoài các nguy cơ mất an toàn nói chung như các nhóm thiết bị giacông chế tạo khác, khi vận hành hoặc sửa chữa thiết bị cắt bằng Laser CO2cần đặc biệt lưu ý những điểm sau:
- Nguy hiểm từ điện cao áp: để tạo ra Laser, hệ thống sử dụng điệncông nghiệp thông thường 3pha/220V/50Hz hoặc 3pha/380V/50Hz qua cácmạch khuếch đại điện áp và điều chế xung tạo thành điện cao áp với tần sốcao và công suất lớn: điện áp >2000V (có những thiết bị sử dụng tới18.000V), tần số tới 2MHz hoặc cao hơn; công suất tới hàng chục Kw Đây làđiện áp đặc biệt nguy hiểm đối với con người Trong nguồn Laser CO2, cácđiểm có điện cao áp thường được bảo vệ kín để giảm thiểu sự rò rỉ và tiếpxúc Tuy nhiên khi làm việc tại các khu vực này, cần mang găng tay cao su,
đi ủng cách điện, tránh đứng hoặc tiếp xúc với bề mặt ẩm ướt hoặc chi tiết
Trang 26dẫn điện, không mang đồ dùng trang sức trên người bằng kim loại vì có thể gây phóng điện hoặc va chạm gây cháy chập.
- Nguy hiểm từ nguồn nhiệt: Có 2 dạng nguy cơ gây bỏng là do tiếpxúc với các điểm nhiệt độ cao và bỏng do tiếp xúc chùm tia Laser Các điểm
có nhiệt độ cao như: buồng cộng hưởng, đường ống dẫn khí từ buồng cộnghưởng, bơm nhồi, bơm xả, gương phản xạ, cảm biến Laser Ngoài ra tia LaseCO2 với bước sóng 10,4 m và 9,4µm là dạng sóng mang tính chất của sóngánh sáng nhưng không nhìn thấy bằng mắt thường nên cần hết sức cẩn thận,tia này đặc biệt nguy hiểm đối với mắt và da Khi phải thao tác căn chỉnhhướng phản xạ chùm tia hoặc bào trì sửa chữa, cần chú ý chỉ cho hệ thống ởtrạng thái kích hoạt laser khi đã đóng kín các tấm che bảo vệ, ngoài nên sửdụng các đồ bảo hộ hoặc các vật liệu che chắn có tính chất hấp thụ tia Lasernhư nhựa acrylic tại những khu vực có khả năng phát tán chùm tia
1.5 Cắt phôi bằng máy cắt lưỡi song song
Hình 1.7 Sơ đồ dao lưỡi song song
Trang 27Thật chất của quá trình cắt đứt kim loại bằng áp lực lưỡi cắt là sựbiến dạng dẻo sau đó đến phá huỷ kim loại Quá trình cắt đứt vật liệu chialàm ba giai đoạn liên tục.
Giai đoạn 1: đây là giai đoạn biến dạng đàn hồi
Giai đoạn 2: là giai đoạn biến dạng dẻo
Dao đi xuống làm cho lực cắt tăng lên vượt quá điểm tới hạn, kimloại bị biến dạng dẻo Biến dạng dẻo này phát sinh ngay ở mép của daocắt, ứng suất tập trung làm phát sinh dòng chảy kim loại tạo thành vùngkim loại bị chèn ép Sự chèn ép cục bộ đó sẽ phát triển đến khi toàn bộchiều dày của kim loại đạt đến ứng suất đủ để làm xuất hiện đường trượt.Những đường trượt này tạo ra đường dẻo hẹp hình bình hành khi cắt, do
đó biến dạng trượt kèm theo uốn và kéo các thớ kim loại cho đến khi bắtđầu xuất hiện các vết nứt Giai đoạn này dao cắt từ 20 50% chiều dàykim loại
Giai đoạn 3: Dao tiếp xúc đi xuống, tại thời điểm khi ứng lực gầnđến giới hạn bền, các vết nứt xuất hiện từ hai mép của dao tiến sâu vào vậtliệu và làm đứt rời vật liệu
Trang 28Chỉ cắt được đường thẳng với chiều rộng nhỏ hơn chiều dài củalưỡi cắt (B<L) [14]
1.6 Máy cắt thép có lưỡi dao dạng đĩa
Hình 1.8 Sơ đồ bố trí dao đĩa
Quá trình cắt kim loại tấm dày trên máy cắt dao đĩa được thực hiệnbằng những đĩa dao quay tròn, đĩa dao trên và đĩa dao dưới được quayngược chiều nhau cùng một tốc độ góc ( ), vật liệu cắt được chuyển dịchnhờ lực ma sát giữa kim loại và dao đĩa Vị trí và kích thước đĩa dao đượcxác định phụ thuộc vào chiều dày vật liệu cắt
Đặc điểm nổi bật khi cắt trên máy cắt dao đĩa là với một đường kínhđĩa dao xác định, máy cắt không những chỉ cắt kim loại mà còn giữ chặt
và kéo kim loại vào vùng cắt Vì vậy chiều dài của dải cắt là không giớihạn
Khi S < 3mm (chiều dày vật liệu) D = 60S [14]
S = (410)mm (1.1) [14] D = (4050) S (1.2)[14] S> 10 mm [14] D = 30S[14] D: đường kính của dao cắt
Trang 29Để mặt cắt thẳng và đẹp không có ba via thì máy cắt đĩa phải có độ ăn
h = (0,20,3) S (1.3)
S chiều dày tấm tôn
Khe hở giữa hai dao: Z = (0,10,15) S (1.4)Dao chế tạo xong đạt độ cứng 60HRC, góc ăn dao < 140
Góc trước: = 10 1030’
Ngoài ra để khắc phục hiện tượng quay tấm kim loại ta phải mài góctrước = 8100 Nhưng ít dùng vì để tận dụng tuổi bền dao
* Ưu điểm:
- Kết cấu máy đơn giản
- Cắt tuần tự từng điểm một quá trình cắt liên tục
- Cắt được được chiều dài không hạn chế và có thể cắt được các
đường tròn khi gắn bộ khởi động từ điều chỉnh quá trình cắt
- Không tốn thời gian cho hành trình chạy không, năng suất cao
- Với phương pháp cắt thủ công:
+ Tốn nhiều thời gian, các vết cắt không được thẳng và sản phẩm tạo
ra không đảm bảo yêu cầu về độ chính xác, chiều dày cắt nhỏ, năng xuất cắt rất thấp
+ Phương pháp này chỉ áp dụng đối với các phân xưởng thủ công, cắt các loại thép tấm có chiều dày bé và diện tích nhỏ
Trang 30+ Chỉ áp dụng cắt những tấm thép có chiều dày và diện tích nhỏ Chủyếu dùng trong các xưởng sản xuất vừa và nhỏ.
- Với phương pháp cắt bằng ngọn lửa khí:
+ Đây là phương pháp cắt phụ thuộc vào sự điều khiển của conngười, sản phẩm làm ra phụ thuộc vào tay nghề người công nhân đứngmáy, sai số trong quá trình cắt là lớn vì phụ thuộc vào kinh nghiệm củangười công nhân, các quá trình điều chỉnh chế độ cắt, lưu lượng cắt đều docon người đảm nhận Do phải làm việc thủ công nên năng suất lao độngkhông cao, vết cắt không tốt bằng vết cắt cơ học, hiệu quả kinh tế cũngthấp Đối với cắt bằng Gas – Oxy người công nhân còn phải đối mặt vớinguy cơ tai nạn lao động cao do nổ bình Chi phí khí cắt khá cao ảnhhưởng tới tính kinh tế trong quá trình sản xuất Tuy nhiên cắt bằng ngọnlửa khí thuận lợi trong các điều kiện thi công ngoài công trường hoặc các
vị trí khó cắt trong không gian
+ Không cắt được Al, Cu, thép không rỉ…tốc độ cắt nhỏ hơn800mm/phút [2]
- Với phương pháp cắt bằng Plasma:
+ Cắt thép tấm bằng Plasma năng suất cắt cao chiều dày cắt lớn cóthể cắt được tấm dày tới 50mm [2] tuy nhiên cắt Plasma điện cực cắt, vòiphun thường xuyên phải thay thế làm tăng giá thành sản xuất cắt Plasmakhông thể cắt với vật cắt không phải kim loại
+ Hồ quang Plasma thổi kim loại nóng chảy và xỉ cháy ra khỏi rãnhcắt nó cũng nung nóng vật cắt kim loại, đầu mỏ súng cắt plasma, tất cả cácđiều này có thể phát lửa và gây cháy và bỏng cho người công nhân Súng
mỏ cắt plasma được thiết kế an toàn tự ngắt khi mất chụp sứ bảo vệ hoặckhi vòi phun ngoài chạm điện cực Tuy nhiên do đặc tính điện áp cao để duytrì hồ quang điện áp này dễ gây nguy hiểm nếu bị rò Hồ quang cắt plasma có
Trang 31thể gây ra bỏng mắt và da khi tiếp xúc lâu Cắt plasma có sinh ra khói độc vàkhí, nếu hít phải có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe Chi phí khí cắt khá caoảnh hưởng tới tính kinh tế trong quá trình sản xuất [2]
- Với phương pháp cắt bằng tia Laser:
+ Công nghệ phức tạp nên giá thành cao, khó làm chủ công nghệ thiết
bị, không thích hợp với một số sản phẩm yêu cầu ít phát sinh nhiệt tại bềmặt gia công, ngoài ra tia laser không cắt được một số kim loại có tínhchất hấp thụ laser như đồng, không cắt được vật liệu có độ dày lớn
+ Hiệu suất thấp
+ Khó điều chỉnh công suất đầu ra
+ Khả năng điều chỉnh độ lệch tia kém
+ Có kỹ thuật cao, đầu tư cao
+ Cần phải xác định chính xác điểm gia công
- Với phương pháp cắt bằng máy cắt thép có lưỡi dao dạng đĩa
+ Kết cấu máy đơn giản không tốn nhiều chi phí về kinh tế trong quá trình chế tạo
+ Cắt tuần tự từng điểm một, quá trình cắt liên tục
+ Không tốn thời gian cho hành trình chạy không, năng suất cao.+ Cắt được được chiều dài không hạn chế rất phù hợp cho các quá
trình gia công như gia công các kết cấu dầm I (Cần cắt những tấm tôn có chiều dài lớn mà các phương pháp khác khó thực hiện được) gia công các tấm cốp pha trong ngành xây dựng (cốp pha cột, cốp pha cống ) đặc biệt
là trong các trường dạy nghề hiện nay cụ thể như nghề hàn, nghề phay ứng dụng trong bộ môn chế tạo phôi là hết sức cần thiết giảm được rất
Trang 32nhiều chi phí về kinh tế cho nguyên công chế tạo phôi (loại bỏ được chi phí như: chi phí khí ga, ôxy, axetylen )
Trong công nghệ gia công không tạo phoi, việc cắt phôi tấm kimloại bằng dụng cụ cắt dạng đĩa với đường tạo hình (đường cắt) được sửdụng với chiều dài cắt không giới hạn Với đường cắt có hình dáng phứctạp, cần phối hợp và thực hiện đồng thời các thành phần chuyển động chạydao trên máy cắt, điều khiển chạy dao linh hoạt thường dùng các phươngpháp cắt Laser, Plasma… trên máy cắt có phần mềm CAD/CAM để thiết
kế, lập trình tự động diều khiển quá trình cắt hợp lý, hiệu quả và năngxuất Tuy nhiên, máy cắt thép tấm sử dụng dao cắt dạng đĩa vẫn được lựachọn khi cắt các tấm dài, sản xuất loạt nhỏ vì cấu tạo máy đơn giản, côngsuất tiêu thụ không cao, dụng cụ cắt đơn giản, chi phí thiết bị không cao.Trong khi đó chưa có nghiên cứu cắt thép bằng lưỡi dao dạng đĩa chonhững trường hợp cắt thép tấm cụ thể Vì vậy, cắt phôi tấm bằng dao cắt
dạng đĩa vẫn được các nhà kỹ thuật quan tâm, việc nghiên cứu “Thiết kế, chế tạo dao cắt dạng đĩa và lựa chọn chế độ cắt hợp lý để giảm công suất tiêu thụ và nâng cao chất lượng vết cắt khi cắt thép tấm” là có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 33CHƯƠNG II CẮT PHÔI TẤM BẰNG ĐĨA CẮT (CON LĂN)
2.1 Cơ chế cắt phôi tấm bằng đĩa cắt (con lăn)
2.1.1 Biến dạng của kim loại
Biến dạng đàn hồi, biến dạng dẻo và phá huỷ là ba quá trình nối tiếp nhau xảy ra trong kim loại và hợp kim dưới tác dụng của ngoại lực và tảitrọng
Khi tải trọng từ Pp Pa thì biến dạng tăng với tốc độ nhanh và
đây là giai đoạn biến dạng dẻo kèm theo biến dạng đàn hồi
Trang 34 Khi tải trọng đạt đến giá trị lớn nhất Pb thì trong kim loại bắt đầuxuất hiện vết nứt, tại đây ứng suất tăng nhanh và kích thước vết nứt tănglên và cuối cùng là phá huỷ kim loại.
Biến dạng đàn hồi:
Khi chịu tải, vật liệu sinh ra một phản lực cân bằng với ngoại lực.Ứng suất là phản lực tính trên một đơn vị diện tích, ứng suất vuông gócvới mặt chịu lực gọi là ứng suất pháp , gây ra biến dạng Ứng suất tiếp
sinh ra xê dịch trong mặt chịu lực Ứng suất pháp ba chiều (áp lực P)làm biến đổi thể tích V/V
Biến dạng đàn hồi có thể do ứng suất pháp hoặc ứng suất tiếp sinh
ra như sơ đồ sau Đó là biến dạng mất đi khi bỏ tải, tuyến tính và không cóvòng trễ
= E (cho kéo, nén)
= G (cho xê dịch)
Trong đó: E: môdun đàn hồi
Trang 35Những thay đổi sau biến dạng:
Tổ chức tế vi: Biến dạng dẻo làm thay đổi rõ rệt tổ chức tế vi hay cơ tính: Sau khi biến dạng dẻo, ngoài biên giới hạt ra, một phần khá lớn mạng
tinh thể của kim loại không sắp xếp trật tự Mức độ biến dạng càng lớn, mức độ xô lệch mạng tinh thể càng cao
Trong quá trình biến dạng dẻo hình dạng hạt hay thay đổi rất nhiều,hạt có thể bẹt và dài ra khó nhận biết được biên giới hạt trên tổ chức tế vi,hoặc khi độ biến dạng lớn các hạt kim loại có thể bị chia cắt và trở nênnhỏ hơn, pha thứ hai hoặc tạp chất bị nhỏ vụn ra rồi kéo dài theo phươngbiến dạng (cán, kéo, rèn, ép) tạo nên tổ chức dạng thớ, làm cho kim loại bịphá huỷ dòn theo chiều ngang thớ
Trong quá trình trượt có kèm theo sự quay của mặt và phương trượtvới xu hướng tiến gần về trục biến dạng chính Mức độ biến dạng càng lớnmức độ quay càng nhiều và có thể làm cho các hạt đều có phương mạnggiống nhau được gọi là hiện tượng định hướng phương mạng hay textua
Trang 36Tính chất: Biến dạng dẻo làm xuất hiện ứng suất dư biến đổi cơ, lý, hoátính của kim loại.
Sau khi biến dạng dẻo trong kim loại có tồn tại ứng suất dư Người tachia làm hai loại: ứng suất dư tế vi và thô đại
Ứng suất dư tế vi: Là loại ứng suất tồn tại trong kim loại Sau khi bỏtải trọng biến dạng, được cân bằng trong phạm vi từng phần nhỏ của hạthay trong từng hạt Nguyên nhân là do biến dạng dẻo xảy ra không đồngnhất giữa các hạt do hình thành các mặt trượt, tạo nên xô lệch mạng Độbiến dạng càng lớn ứng suất dư tế vi càng tăng Ứng suất dư tế vi gắn liềnvới xô lệch mạng có tác dụng cản trở chuyển động của lệch làm tăng ứngsuất thô đại, là loại ứng suất tồn tại trong cả thể tích kim loại hay giữa cácphần sinh ra do biến dạng không đồng đều trên toàn tiết diện
Ứng suất thô đại không có lợi là một trong những nguyên nhân gâyphá huỷ
Biến dạng dẻo làm biến đổi cá tính của kim loại, làm tăng giới hạnbền, giới hạn chảy, giới hạn đàn hồi
Biến dạng dẻo làm biến đổi lý, hoá tính kim loại: Vì biến dạng dẻolàm tăng xê lệch mạng, nhỏ hạt nên giảm tính dẫn điện (tăng điện trở), lựckháng từ tăng lên, độ thấm từ, cảm ứng tư dủ giảm đi Các lý tính nhưnhiệt dung, hệ số giản nỡ nhiệt không đổi, hoạt tính hoạt động hoá học, nó
dễ bị ăn mòn và có khuynh hướng nứt ăn mòn
Trang 37Phá huỷ trong điều kiện tải trọng tĩnh:
Phá huỷ có kèm theo sự biến dạng dẻo với mức độ tương đối gọi làphá huỷ dẻo Phá huỷ dẻo xảy ra với tốc độ nhỏ và cần nhiều năng lượngnên ít nguy hiểm
Điều kiện cần thiết cho phá huỷ dẻo xảy ra là biến dạng dẻo và trạngthái ứng suất kéo ba chiều trong vùng có co thắt cục bộ
Hình 2.3 Các dạng nứt khi phá huỷ dẻo
Phá huỷ dòn hầu như không có biến dạng dẻo vĩ mô kèm theo xảy ratức thời nên khá nguy hiểm Bề ngoài mặt đứt khi phá huỷ thường vuônggóc với ứng suất pháp lớn nhất nhưng mặt vĩ mô thì có thể là theo các mặtphẳng tinh thể xác định (mặt vỏ dòn ở bên trong mọi hạt)
Giòn
Dẻo
Hình 2.4 Đường cong thử kéo
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phá huỷ là: nhiệt độ, tốc độ biến dạng
và tập trung ứng suất
Trang 38Ứng suất cần thiết để phát triển vết nứt.
C - kích thước đặc trưng của vết nứt ban đầu
Phá huỷ trong điều kiện tải trọng thay đổi theo chu kỳ (phá huỷ mỏi):
Cơ chế của phá huỷ mỏi cũng xảy ra bằng cách tạo thành và pháttriển vết nứt
Sự phá huỷ mỏi phụ thuộc vào yếu tố: Ứng suất tác dụng, số chu kỳtác dụng của tải trọng, yếu tố tập trung của ứng suất
Phá huỷ ở nhiệt độ cao (phá huỷ dão):
Sự tạo nên vết nứt có thể theo cơ chế sau: Các hạt trượt lên nhau theobiên giới hạt có tập trung ứng suất tạo ra vết nứt
Dưới tác dụng của ngoại lực kim loại biến dạng theo các giai đoạn: biếndạng đàn hồi, biến dạng dẻo và phá huỷ Tuỳ theo cấu trúc tinh thể của mỗikim loại, các giai đoạn trên có thể xảy ra ở các mức độ khác nhau dưới tácdụng của ngoại lực và tải trọng
Trang 39Khi tải trọng tác dụng nhỏ hơn Pđh thì biến dạng kim loại tăng theođường bậc nhất, đây là giai đoạn biến dạng đàn hồi: biến dạng mất đi sau khikhử bỏ tải trọng.
Khi tải trọng từ Pdh → Pd thì độ biến dạng tăng với tốc độ nhanh, đây
là giai đoạn biến dạng dẻo, kim loại bị biến đổi kích thước, hình dạng sau bỏtải trọng tác dụng lên nó
Khi tải trọng đạt đến giá trị lớn nhất thì trong kim loại bắt đầu xuấthiện vết nứt, tại đó ứng suất tăng nhanh và kích thướt vết nứt tăng lên, cuốicùng kim loại bị phá huỷ Đó là giai đoạn phá huỷ: tinh thể kim loại bị đứt rời
Trong kim loại đơn tinh thể các nguyên tử kim loại sắp xếp theo một trật
tự xác định, mỗi nguyên tử luôn dao động xung quanh vị trí cân bằng của nó
Hình 2.6- Sơ đồ biến dạng trong đơn tinh thể kim loại
Dưới tác dụng của ngoại lực hay cắt kim loại bằng áp lực, mạng tinhthể bị biến dạng Khi lực tác dụng nhỏ, ứng suất sinh ra trong kim loại chưavượt quá giới hạn đàn hồi, các nguyên tử kim loại dịch chuyển không quá
Trang 40một thông số mạng, nếu thôi tác dụng lực thì mạng tinh thể lại trở về trạngthái ban đầu.
Khi ứng suất sinh ra trong kim loại vượt quá giới hạn đàn hồi thì kimloại bị biến dạng dẻo do trượt và song tính
Theo hình thức trượt, một phần đơn tinh thể dịch chuyển song song vớiphần còn lại theo một mặt phẳng nhất định, mặt phẳng này gọi là mặt trượt
Theo hình thức song tính, một phần tinh thể vừa trượt, vừa quay đếnmột vị trí mới đối xứng với phần còn lại qua một mặt phẳng gọi là mặt songtính Các nguyên tử kim loại trên mỗi mặt di chuyển một khoảng tỷ lệ vớikhoảng cách đến mặt song tính
Các lý thuyết và thực nghiệm cho thấy trượt là hình thức chủ yếu gây
ra biến dạng dẻo trong kim loại khi lực tác dụng lên nó sinh ra ứng suất lớnhơn giới hạn đàn hồi nhưng chưa vượt ứng suất phá huỷ hay ứng suất giớihạn bền của vật liệu Đây là giai đoạn thứ hai của quá trình cắt kim loại, giaiđoạn này xảy ra trước quá trình kim loại bị phá huỷ hay quá trình kim loại bịcắt đứt
Trong quá trình biến dạng dẻo kim loại vì ảnh hưởng của các nhân tốnhư: nhiệt độ không đều, tổ chức kim loại không đều, lực biến dạng phân bốkhông đều, ma sát ngoài vv đều làm cho kim loại sinh ra ứng suất dư, bêntrong bất cứ kim loại biến dạng dẻo nào cũng đều sinh ra ứng suất dư, sau khithôi tác dụng ứng suất dư vẫn còn tồn tại
2.1.2 Sự thay đổi, biến dạng tính chất của thép tấm trong quá trình gia công
Khi cắt tính chất của thép tấm bị thay đổi Sở dĩ như vậy là trong quátrình cắt biến dạng dẻo nguội làm cấu trúc tinh thể thay đổi: mật độ khuyết tậttăng lên mạnh mẽ dẫn tới độ bền kim loại tăng lên, kích thước và hình dạngcác hạt kim lọai cũng như hướng của trục tinh thể thay đổi làm phát sinh ứng