MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhân tài là nguyên khí quốc gia. Nhân tài nhiều tất quốc gia thịnh, thiếu nhân tài, quốc gia suy. Thời nào, quốc gia nào, chế độ nào cũng vậy, vấn đề nhân tài và đào tạo nhân tài cũng luôn được xem là quốc sách vì nó quyết định sự phát triển hay suy vi một đất nước. Thời đại ngày nay, với đặc điểm nổi bật là sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã và đang tạo ra sự phát triển chưa từng có trong lịch sử. Để tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia cần phải có một đội ngũ người lao động được giáo dục cẩn thận và đào tạo chu đáo, nắm vững khoa học tiên tiến và nắm bắt xu thế phát triển của thời đại. Vì vậy, vấn đề đặt ra là, muốn đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế tất yếu phải hiện đại hoá giáo dụcđào tạo và giáo dụcđào tạo phải đi trước một bước để kéo theo sự phát triển của kinh tế, xã hội … Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người yếu tố cơ bản để phát triển kinh tếxã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Đến văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: Nhà nước tiếp tục tăng nguồn lực, đầu tư tập trung cho chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo… Như vậy, có thể khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lực lượng duy nhất lãnh đạo toàn diện cách mạng Việt Nam, đã xác định: giáo dục và đào tạo với vai trò là mũi chủ công của công cuộc phát triển đất nước, là nhân tố cần sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay và lâu dài. Có thể nói rằng, hơn lúc nào hết, thực trạng yếu kém của giáo dục và đào tạo được dư luận quan tâm nhiều như hiện nay. Qua ý kiến của các đại biểu Quốc hội cũng như công luận của các kỳ họp Quốc hội khoá XI, những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra đó là, sự yếu kém về công tác quản lý giáo dục và đào tạo, sự chưa thành công về thử nghiệm mô hình, hiện tượng tiêu cực đang có chiều hướng phức tạp. Chính những điều này, đòi hỏi chúng ta cần khắc phục nhanh nếu không muốn tụt hậu so với trình độ phát triển chung của khu vực và trên thế giới. Vì vậy, đã đến lúc chúng ta cần phải nhìn thẳng vào sự thật khi đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Không ai khác, ngành giáo dụcđào tạo phải nhanh chóng nắm bắt thời cơ mới để phát triển nền giáo dục nước nhà. Đặc biệt, với vai trò là lực lượng lãnh đạo toàn diện xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam cần có những định hướng về nội dung, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề giáo dục và đào tạo. Để có chủ nghĩa xã hội thì yếu tố đầu tiên là phải đào tạo những con người xã hội chủ nghĩa. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển kinh tếxã hội, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVII, nhiệm kỳ 20052010 khẳng định: Sự nghiệp giáo dụcđào tạo phải có bước chuyển biến rõ rệt. Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, đặc biệt là giáo dục chính trị, truyền thống cách mạng, giáo dục pháp luật cho học sinh. Thông qua dạy “chữ” để dạy “người”, nâng cao phẩm chất đạo đức học sinh. Tuy vậy, nhiều năm qua, do điều kiện kinh tếxã hội còn khó khăn, cộng thêm sự quan tâm chưa đúng mức của các cấp uỷ đảng, nên ngành giáo dục và đào tạo vẫn còn nhiều mặt cần phải khắc phục như việc đào tạo và sử dụng còn nhiều bất cập, chất lượng giáo dục ở miền núi và vùng nông thôn còn thấp, phòng học tranh, tre xuống cấp còn nhiều… Chính những nguyên nhân này đã ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của tỉnh nhà. Từ những lý do trên đã thôi thúc tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Quản lý giáo dục và đào tạo ở Quảng Ngãi hiện nay Thực trạng và giải pháp” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân tài là nguyên khí quốc gia Nhân tài nhiều tất quốc gia thịnh,thiếu nhân tài, quốc gia suy Thời nào, quốc gia nào, chế độ nào cũng vậy,vấn đề nhân tài và đào tạo nhân tài cũng luôn được xem là quốc sách vì nóquyết định sự phát triển hay suy vi một đất nước
Thời đại ngày nay, với đặc điểm nổi bật là sự phát triển mạnh mẽ như
vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã và đang tạo ra sự phát triểnchưa từng có trong lịch sử Để tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia cần phải
có một đội ngũ người lao động được giáo dục cẩn thận và đào tạo chu đáo,nắm vững khoa học tiên tiến và nắm bắt xu thế phát triển của thời đại Vìvậy, vấn đề đặt ra là, muốn đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế tất yếuphải hiện đại hoá giáo dục-đào tạo và giáo dục-đào tạo phải đi trước mộtbước để kéo theo sự phát triển của kinh tế, xã hội …
Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xácđịnh: Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quantrọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện đểphát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế-xã hội,tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Đến văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam chủtrương: Nhà nước tiếp tục tăng nguồn lực, đầu tư tập trung cho chươngtrình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo…
Như vậy, có thể khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam - lựclượng duy nhất lãnh đạo toàn diện cách mạng Việt Nam, đã xác định: giáodục và đào tạo với vai trò là mũi chủ công của công cuộc phát triển đấtnước, là nhân tố cần sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn cáchmạng hiện nay và lâu dài
Có thể nói rằng, hơn lúc nào hết, thực trạng yếu kém của giáo dục vàđào tạo được dư luận quan tâm nhiều như hiện nay Qua ý kiến của các đại
Trang 2những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra đó là, sự yếu kém về công tác quản lýgiáo dục và đào tạo, sự chưa thành công về thử nghiệm mô hình, hiệntượng tiêu cực đang có chiều hướng phức tạp Chính những điều này, đòihỏi chúng ta cần khắc phục nhanh nếu không muốn tụt hậu so với trình độphát triển chung của khu vực và trên thế giới.
Vì vậy, đã đến lúc chúng ta cần phải nhìn thẳng vào sự thật khi đứngtrước yêu cầu và nhiệm vụ mới của giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước Không ai khác, ngành giáo dục-đào tạo phải nhanh chóng nắmbắt thời cơ mới để phát triển nền giáo dục nước nhà Đặc biệt, với vai trò làlực lượng lãnh đạo toàn diện xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam cần cónhững định hướng về nội dung, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảngđối với vấn đề giáo dục và đào tạo Để có chủ nghĩa xã hội thì yếu tố đầutiên là phải đào tạo những con người xã hội chủ nghĩa
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đốivới sự phát triển kinh tế-xã hội, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãilần thứ XVII, nhiệm kỳ 2005-2010 khẳng định: Sự nghiệp giáo dục-đào tạophải có bước chuyển biến rõ rệt Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dụctoàn diện trong nhà trường, đặc biệt là giáo dục chính trị, truyền thống cáchmạng, giáo dục pháp luật cho học sinh Thông qua dạy “chữ” để dạy
“người”, nâng cao phẩm chất đạo đức học sinh
Tuy vậy, nhiều năm qua, do điều kiện kinh tế-xã hội còn khó khăn,cộng thêm sự quan tâm chưa đúng mức của các cấp uỷ đảng, nên ngànhgiáo dục và đào tạo vẫn còn nhiều mặt cần phải khắc phục như việc đào tạo
và sử dụng còn nhiều bất cập, chất lượng giáo dục ở miền núi và vùng nôngthôn còn thấp, phòng học tranh, tre xuống cấp còn nhiều… Chính nhữngnguyên nhân này đã ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của tỉnh nhà
Từ những lý do trên đã thôi thúc tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Quản
lý giáo dục và đào tạo ở Quảng Ngãi hiện nay - Thực trạng và giải pháp” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 3Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với giáo dục vàđào tạo đã được nhiều đề tài nghiên cứu và có nhiều công trình, bài viếtđược công bố đã đi sâu xem xét thực trạng và cách tháo gỡ những khó khăn
để giáo dục và đào tạo Việt Nam nói chung, giáo dục và đào tạo tỉnh QuảngNgãi nói riêng phát triển, cụ thể như:
- Hồ Chí Minh, bàn về công tác giáo dục, Nhà xuất bản Sự thật, HàNội, 1972
- Phạm Văn Đồng, về vấn đề giáo dục-đào tạo, Nhà xuất bản Chính trịQuốc gia, Hà Nội, 1999
- Ban Khoa giáo Trung ương, Giáo dục-đào tạo trong thời kỳ đổi mới,Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002
- Bài viết của Tiến sĩ Trần Hồng Hà: “Suy nghĩ về đổi mới phươngthức lãnh đạo công tác giáo dục-đào tạo của cấp uỷ đảng hiện nay” Tạp chíKhoa giáo, số 01-2004
- Các Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứXVI, XVII, của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh có phần tóm tắtđánh giá và phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của công tác giáodục-đào tạo; các báo cáo của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Quảng Ngãi về thựchiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương 2 (khoáVIII), thực hiện Kết luận Trung ương 6 (khoá IX) về giáo dục và đào tạo;các báo cáo tổng kết trong các năm học; tổng kết 10 năm đổi mới ngànhgiáo dục-đào tạo của Sở Giáo dục-Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi
Những công trình trên có thể nói rất phong phú, đa dạng, nhưng chưa
có tác giả nào đề cập toàn diện đến đề tài khoá luận này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu với mục đích trên cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục
và đào tạo, đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần xây dựng
và phát triển sự nghiệp “trồng người” của tỉnh Quảng Ngãi trong nhữngnăm tiếp theo
Trang 43.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài là:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về quản lý giáo dục và đào tạo
- Khảo sát thực trạng giáo dục-đào tạo và quản lý giáo dục-đào tạo ởQuảng Ngãi hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục và đàotạo ở Quảng Ngãi hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khoá luận đi sâu nghiên cứu công tác quản lý giáo dục và đào tạo trênđịa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2000 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khoá luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vaitrò của giáo dục và quản lý giáo dục-đào tạo
Mác-Khoá luận sử dụng kết hợp các phương pháp lôgic-lịch sử, phươngpháp thống kê, tổng hợp và phân tích số liệu v.v…
6 Những đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài
Bước đầu đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi, góp phần nângcao chất lượng quản lý đối với công tác giáo dục và đào tạo tại tỉnh QuảngNgãi trong thời gian tới Đồng thời, có thể làm tài liệu tham khảo chonhững ai quan tâm đề tài
7 Kết cấu khoá luận
Khoá luận ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệutham khảo, được chia làm ba chương, mười hai tiết
Trang 6CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1 Giáo dục, đào tạo và quản lý giáo dục - đào tạo
1.1.1 Giáo dục và đào tạo
Khái niệm giáo dục:
Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng của Viện Ngôn ngữ họcđưa ra khái niệm về “giáo dục” như sau:
1 Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sựphát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng
ấy dần dần có những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra
2 Giáo dục là hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy của mộtnước
Khái niệm đào tạo:
Cũng theo Từ điển trên, “đào tạo” được định nghĩa như sau: Đào tạo làmột quá trình đặc thù, hướng về giáo dục chuyên nghiệp theo những tiêuchuẩn nhất định, là sự phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,
… để mỗi cá nhân thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định
1.1.2 Quản lý giáo dục và đào tạo
Khái niệm quản lý:
Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, nhu cầu liên kết con người, phốihợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên Hoạt động quản lý là nhân tố cầnthiết, tất yếu để duy trì sự tồn tại và phát triển của mọi quy mô và loại hình
tổ chức người; từ một gia đình cho đến cấp quốc gia và quốc tế; cho tất cảcác tổ chức, cũng như các tổ chức chính trị, tư tưởng-văn hoá, khoa học,giáo dục, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…
Một số tổ chức hoặc một lĩnh vực hoạt động bất kỳ nào của con ngườinếu không được quản lý sẽ dẫn tới tình trạng tự phát, hỗn loạn, kém hiệuquả
Trang 7Ngày nay, mọi người đều thừa nhận tính tất yếu của quản lý và thuậtngữ quản lý đã trở thành câu nói hàng ngày của mọi tầng lớp trong xã hội,
từ người lãnh đạo cao nhất đến người dân
Vậy quản lý là gì?
Thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách biểu hiện khác nhau:
Có tác giả cho rằng, quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảođảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác
Tác giả khác lại cho rằng, quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả cáchoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức
Quan niệm khác, quản lý là một hoạt động thiết yếu nảy sinh khi conngười lao động và sinh hoạt tập thể đạt tới một trật tự có thể kiểm soát, điềukhiển được và nhằm thực hiện có mục tiêu chung của tập thể, tổ chức…
Từ các quan niệm trên có thể đi đến một định nghĩa chung nhất là:Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tớiđối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra
Quản lý giáo dục – đào tạo:
Từ khái niệm trên về quản lý, cho thấy: Quản lý bao giờ cũng là mộttác động hướng đích, có mục tiêu xác định; Quản lý thể hiện ở mối quan hệgiữa hai bộ phận đó là chủ thể quản lý (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm
vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý),đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.Vậy, quản lý giáo dục và đào tạo là quản lý nhân lực, vật chất, tàichính, kế hoạch, nội dung, chương trình và chủ thể-đối tượng-mục tiêuquản lý được hiểu cụ thể như sau:
Chủ thể trong công tác quản lý giáo dục và đào tạo ở đây là Đảng, Nhànước, tổ chức đoàn thể … mà trực tiếp là cơ quan phụ trách công tác giáodục
Đối tượng chịu sự quản lý là cán bộ phụ trách giáo dục và đào tạo(hiệu trưởng, hiệu phó), giáo viên, học sinh
Trang 8Mục tiêu quản lý phải được xác định trước, thông qua đó mà chủ thểquản lý chi phối đối tượng quản lý Trong công tác quản lý giáo dục và đàotạo, mục tiêu quản lý là kế hoạch, chương trình hành động của Đảng, Nhànước, mà trạc tiếp là Bộ Giáo dục và Đào tạo; hay là sự cụ thể hoá hệ thốngmục tiêu đó bằng chương trình hành động của Sở, Phòng giáo dục…
Mục tiêu cuối cùng trong công tác quản lý giáo dục và đào tạo là conngười – nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứngyêu cầu của đất nước
Mục đích của giáo dục và đào tạo là “ trồng người”, là đào tạo nhữngcon người có phẩm chất, trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội,thích ứng với sự phát triển của đất nước, sự phát triển của con người, xã hội
và thời đại
Quốc gia nào trên thế giới cũng đặt giáo dục và đào tạo là vấn đề quốcsách hàng đầu nhằm tạo ra nguồn nhân lực có trí tuệ cao, là nhân tố quyếtđịnh tăng trưởng kinh tế-xã hội và là sự thể hiện lòng tự tôn dân tộc
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước xác định: cùng với khoa học-công nghệ,giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạonhân lực và bồi dưỡng nhân tài
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa cần phải đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, cóđạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhâncách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc
Vậy, quản lý giáo dục và đào tạo là sự tác động có tính tổ chức và
điều chỉnh bằng đường lối, chủ trương, chính sách, quyền lực của Đảng vàNhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo do các cơ quan quản lýgiáo dục và đào tạo từ Trung ương đến cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm
vụ về giáo dục và đào tạo nhằm phát triển và đáp ứng nhu cầu giáo dục vàđào tạo của nhân dân
Trang 9Quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo là việc Nhà nước thực hiện
quyền lực để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục và đàotạo trong phạm vi toàn xã hội, bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật
về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức vàhành động của cơ sở giáo dục khác (ví dụ: về chống dạy thêm, học thêmtràn lan);
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chínhsách phát triển giáo dục;
Đầu tư cho giáo dục và đào tạo (chi từ ngân sách Nhà nước về vậtchất,tài chính);
Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệpgiáo dục (vật chất, tài chính …);
Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục, cán bộ ngành giáo dục các cấp;
Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
Thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục;giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật vềgiáo dục
1.1.3 Vai trò của quản lý giáo dục và đào tạo trong việc nâng cao chất lượng giáo dục
Trước đây, có một thời kỳ chúng ta chưa nhận thức đúng vai trò giáodục và đào tạo nên cho rằng giáo dục và đào tạo là gánh nặng, là hoạt độngphúc lợi của xã hội Do đó, trong một thời gian dài nền giáo dục của nướcnhà còn ở tình trạng chậm phát triển chưa thực sự đáp ứng yêu cầu pháttriển của đất nước
Ngày nay, thế giới đang sống trong thời đại văn minh tin học với sựphát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ và xu thế hội nhập quốc tếgiữa các quốc gia, khu vực, các tổ chức là một tất yếu Để đáp ứng đượcyêu cầu đó, nền giáo dục nước nhà cần cung cấp cho đất nước một đội ngũ
Trang 10tri thức thực sự có chất lượng Làm được điều này phải coi trọng vai trò củaquản lý giáo dục và đào tạo trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.
Muốn thực hiện được điều đó cần phải phát triển mạnh mẽ giáo dục
và đào tạo, vì chỉ thông qua hiệu quả quản lý giáo dục và đào tạo mới cungcấp cho đất nước một đội ngũ nhân lực được đào tạo một cách khoa học, cóchất lượng cao Quản lý giáo dục và đào tạo tốt chính là điều kiện, nền tảngtrong việc nâng cao chất lượng giáo dục
Quản lý về giáo dục và đào tạo là việc thực hiện đường lối, chủtrương, chính sách, quyền lực để điều hành, điều chỉnh toàn bộ hoạt độnggiáo dục và đào tạo trong phạm vi toàn xã hội
Vì vậy, cần phải ban hành và thực hiện pháp luật về giáo dục, xâydựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình phát triển giáo dục – đàotạo, bên cạnh đó là đầu tư cho giáo dục-đào tạo là đầu tư phát triển, đầu tưchiều sâu, lợi ích lâu dài, phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lựcgiáo dục-đào tạo; đồng thời phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chỉđạo của Nhà nước đối với các tổ chức quản lý hoạt động giáo dục – đào tạo
từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là thực hiện chức năng quản lý chủ yếucủa Nhà nước về giáo dục – đào tạo trong việc thanh tra, kiểm tra, kiểmsoát nhằm thiết lập và duy trì kỷ cương, kỷ luật, trật tự pháp luật trong hoạtđộng giáo dục – đào tạo Cần phải tổ chức tốt sự phối hợp giữa Nhà nước,Mặt trận Tổ Quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, mỗi gia đìnhgiám sát thực hiện công tác quản lý giáo dục và đào tạo, ngăn chặn, đẩy lùitiêu cực trong giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng ta về giáo dục – đào tạo và quản lý giáo dục – đào tạo
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giáo dục-đào tạo và quản lý giáo dục – đào tạo
Giáo dục con người, giáo dục quần chúng là một trong những nộidung quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin Vì vậy theo C.Mác, muốn cho
Trang 11hoạt động giáo dục đạt hiệu quả tốt thì bản thân nhà giáo dục phải đượcgiáo dục.
Theo C.Mác, giáo dục luôn mang tính giai cấp và bảo vệ lợi ích và địa
vị giai cấp thống trị, mà đặc biệt là giai cấp dưới chế độ phong kiến và chủnghĩa tư bản C.Mác chỉ ra rằng: “Nền giáo dục ở bất cứ nơi nào cũng đềunằm trong tay giới tăng lữ, lãnh chúa phong kiến mà thủ lĩnh của họ cũngnhư bọn địa chủ phong kiến đều hết sức quan tâm việc duy trì hệ thốnghiện hành”(1)
Tiếp đến C.Mác đề cập đến tính chất giáo dục tư bản với mục đích làphục vụ cho giai cấp tư bản mà con người bị trói buộc cả cuộc đời họ phục
vụ đắc lực làm giàu cho giai cấp tư bản
Còn giáo dục xã hội chủ nghĩa, theo C.Mác nó sẽ làm cho cá nhân cókhả năng nắm bắt những tiến bộ khoa học-kỹ thuật, giúp con người trởthành người chủ toàn bộ lực lượng sản xuất, làm thay đổi phương thức sảnxuất và phân công lao động Đặc biệt, C.Mác coi việc đào tạo đội ngũ “Tríthức vô sản” là nhiệm vụ hết sức bức thiết để chuẩn bị cho công cuộc xâydựng xã hội mới Đây là một nền giáo dục mang tính chất nhân dân, vìnhân dân
V.I.Lênin, Người kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác ở một giai đoạnmới-giai đoạn chủ nghĩa đế quốc đã coi công tác giáo dục là một nhiệm vụkhông thể xem nhẹ Theo Người “Việc điện khí hoá không thể do nhữngngười mù chữ thực hiện được, mà chỉ biết chữ thôi cũng không đủ Họ phảihiểu rằng điều đó chỉ có thể thực hiện được trên một nền học vấn hiện đại
và nếu không có nền học vấn đó thì chủ nghĩa cộng sản chỉ là một nguyệnvọng mà thôi”(2)
Theo V.I.Lênin, những điều kiện và biện pháp để nâng cao chất lượngnền giáo dục xã hội chủ nghĩa đó là phải giúp cho người học có sự nhậnthức đầy đủ, không đánh giá cảm tình và hời hợt các hiện tượng, phải đòihỏi ra sức học chủ nghĩa cộng sản, học phải kết hợp với hành, am hiểu sâu(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, tập 2, tr.276.
Trang 12sắc những sự việc thực tế chứ không bó hẹp bằng những hiểu biết được ghitrong sách vở vì không có sự am hiểu về những sự việc thực tế thì khôngthể trở thành một người hiện đại có học thức được Vì vậy, học và trở thànhtri thức khi biết gắn liền từng bước học tập, giáo dục và rèn luyện của mìnhvới cuộc đấu tranh không ngừng của những người vô sản và những ngườilao động chống lại xã hội cũ của bọn bóc lột.
Cuối cùng, theo V.I.Lênin, Người không chấp nhận lối học kinh một lối học không những đem lại sự vô bổ mà còn là “một sai lầm rất lớn”.Chính vì vậy, một đòi hỏi rất cao của Người đối với sự nghiệp giáo dục nóichung và công tác quản lý giáo dục trong các trường đại học, cao đẳng…làphải kết hợp việc học tập trong nhà trường với việc tham gia công tác xãhội, học hỏi cuộc sống V.I.Lênin viết : “Chúng ta không tin vào việc rènluyện, giáo dục và học tập nếu những việc đó chỉ đóng khung trong nhàtrường, tách rời cuộc sống sôi nổi”(1)
viện-Có thể nói chủ nghĩa Mác-Lênin về giáo dục và công tác quản lý giáodục và đào tạo vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn trong thời đạingày nay Đó là những sự chỉ dẫn quý giá, cần vận dụng sáng tạo, phù hợpvới yêu cầu mới trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo và quản lý giáo dục- đào tạo
Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: “Bồidưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cầnthiết”(2) Người chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với cáchmạng, giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đấtnước Theo Người, muốn cho dân mạnh, nước giàu, đủ sức giữ vững nềnđộc lập, mọi người dân Việt Nam phải có kiến thức mới để tham gia vàocông cuộc xây dựng nhà nước mà trước hết là phải biết đọc, biết viết chữquốc ngữ
(1) V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1974, tập 41, tr372
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, tr.510
Trang 13Theo Người, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giáo dụclại càng có vị trí quan trọng, vì nó vừa là nền tảng, vừa là động lực để thúcđẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Người đã khẳng định, giáo dục là một mặttrận đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta mà mỗi
cô giáo, thầy giáo là một chiến sĩ cách mạng trên mặt trận đó
Mục đích của nền giáo dục cách mạng theo Người đó là phục vụ Tổquốc, phục vụ nhân dân, phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chínhphủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân Giáo dục phải tạo ranhững người lao động mới, đó là những người có lòng yêu nước nồng nàn,tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, có đạo đức cách mạng trong sáng, không
sợ hy sinh, gian khổ, thật thà, cần cù, tiết kiệm, có tri thức và sức khoẻ đểtrở thành người chủ tương lai, người thừa kế xây dựng Chủ nghĩa xã hộivừa “hồng” vừa “chuyên”
Tiếp đến, theo Người, những người làm giáo dục phải luôn chú ý giáodục toàn diện cho học sinh, phải kết hợp chặt chẽ học đi đôi với hành Bácluôn đánh giá cao vai trò của người thầy đối với xã hội “Người thầy giáo tốt-thầy giáo xứng đáng là thầy giáo-là người vẻ vang nhất Dù là tên tuổi khôngđăng trên báo, không được thưởng huân chương song là những người thầygiáo tốt, là những người anh hùng vô danh”(1) Muốn được như vậy, các côgiáo, thầy giáo phải hết sức trao dồi đạo đức cách mạng, không ngừng rènluyện chuyên môn, phải là tấm gương sáng để học sinh noi theo Phải gươngmẫu từ lời nói đến việc làm, phải thương yêu chăm sóc học sinh như con emruột của mình, phải thật sự yêu nghề, học tập để không ngừng tiến bộ mãi.Cùng với sự coi trọng nghề cao quý trong tất cả những nghề cao quý,Bác luôn tin tưởng và mong muốn các thế hệ học sinh luôn cố gắng học tập
và rèn luyện để mai sau trở thành người có ích cho Tổ quốc Người viết:
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam cóbước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu haykhông, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(2) Câu nóinày hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của các nước đi từ lạc hậu(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 11, tr.331
Trang 14lên tiên tiến và hiện đại, từ nông nghiệp đi lên công nghiệp hoá-hiện đạihoá như đất nước chúng ta.
Cuối cùng, Người căn dặn: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”(3),
do đó các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể quần chúng vàtoàn xã hội phải thật sự quan tâm đến công tác giáo dục, giúp đỡ nhàtrường về mọi mặt, cần phát huy dân chủ cao độ trong nhà trường để tạonên sự đoàn kết nhất trí giữa thầy với thầy, thầy với trò, trò với trò, tạo ramối quan hệ mật thiết giữa nhà trường, gia đình, xã hội cùng cộng đồngtrách nhiệm để phát triển giáo dục
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giáo dục luôn toả sángtính cách mạng, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc Cả cuộc đời hoạt độngcách mạng của mình, Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc làlàm sao cho nước nhà được độc lập…ai cũng được học hành Những lờiBác dặn năm xưa vẫn còn nguyên giá trị và những người làm công tác giáodục hôm nay như vẫn thấy Bác hiển hiện, đưa đường, chỉ lối, động viênlàm tốt hơn nữa trong sự nghiệp “trồng người”
1.2.3 Quan điểm của Đảng ta về giáo dục-đào tạo và quản lý giáo dục-đào tạo
Ngay từ khi giành được chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chútrọng đến vấn đề giáo dục và đào tạo “Giặc dốt” được xem là một trong baloại giặc nguy hiểm mà Đảng, Chính phủ và nhân dân cần chiến thắng.Đảng xác định: Muốn cho dân giàu, nước mạnh, thì dân trí phải cao, phải
đa dạng hoá các loại hình đào tạo, mở trường vừa học vừa làm để tạo điềukiện cho người lao động, cán bộ, chiến sĩ, được đi học Chính vì xác địnhđược giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam nênchúng ta đã có hàng triệu trí thức, công nhân…lên đường chiến đấu, khôngngại hy sinh gian khổ vì đã được đào tạo dưới một nền giáo dục ưu việt xãhội chủ nghĩa
Sau khi nước nhà thống nhất, từ Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV củaĐảng (1976), Bộ Chính trị đã ra Quyết định số 14-NQ/TW về cải cách giáo(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, tr.403
Trang 15dục với tư tưởng xem giáo dục là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tưtưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúctrưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dụckết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Có thể nói tưtưởng chỉ đạo trên của Đảng đã được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêucầu thực tế qua các kỳ Đại hội VI,VII,VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
đã xác định rõ mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm(2001-2010) là đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõrệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đếnnăm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệnđại
Và trong phần V, mục 1 về phát triển giáo dục và đào tạo, Báo cáo đãviết: Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyếtđịnh sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá,cần tạo chuyển biến cơ bản và toàn diện về giáo dục và đào tạo
Muốn vậy, phải bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quêhương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái,
ý thức tôn trọng pháp luật Đào tạo lớp người có kiến thức cơ bản, làm chủ
kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới,
có ý vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lànhnghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhàquản lý, chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi nănglực, phát huy tiềm năng của tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước
Đại hội Đảng lần thứ IX cũng đã chỉ ra định hướng phát triển giáo dục
và đào tạo đến 2005 là tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục là quốc sáchhàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục
và đào tạo Triển khai thực hiện có hiệu quả Luật giáo dục Định hình qui
mô giáo dục và đào tạo, nhất là cơ cấu cấp học, ngành nghề và cơ cấu theo
Trang 16lãnh thổ phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triểnkinh tế, xã hội Nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên các cấp.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này trong thời gian qua, Hội nghị lầnthứ VI (khoá IX) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoáVIII), phương hướng phát triển giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ từnay đến 2005 và đến năm 2010
Kết luận khẳng định: Giáo dục là nền tảng cho sự phát triển khoa công nghệ và kinh tế-xã hội Công nghệ thông tin đòi hỏi đổi mới kịp thờinội dung và phương pháp dạy và học Việc đổi mới giáo dục đang diễn ratrên qui mô toàn cầu… Giáo dục cần tập trung phát triển nhanh hơn, khẩntrương hơn, tốt hơn mới có thể đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp đẩymạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước
học-Như vậy, một lần nữa Đảng ta khẳng định vai trò quan trọng hàng đầucủa giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá và
đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nền giáo dục nước nhà, tạo
ra nguồn nhân lực mới có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, đi tắt đónđầu, mà điều này là cực kỳ cấp bách đối với một nước đang trong giai đoạnphát triển như chúng ta hiện nay
Tóm lại, quan điểm của Đảng ta về giáo dục-đào tạo và quản lý giáodục-đào tạo nhằm vào mục tiêu mang tính chiến lược và lâu dài là phải đàotạo những con người có đầy đủ năng lực để đáp ứng những yêu cầu nghiêmkhắc của kinh tế thị trường Hình thành mẫu con người mới, chuyển từ lốisống thụ động, ỷ lại sang lối sống năng động, tự chủ và sáng tạo, có khảnăng làm việc với năng suất, chất lượng cao trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, càng đẩy mạnh thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa càng phải đào tạo lớp người thấmnhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước, có phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống lànhmạnh… thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hộitrước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa
Trang 171.3 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay
Công tác quản lý giáo dục và đào tạo là hoạt động có tính mục tiêu vàtính nội dung Tính mục tiêu được thể hiện ở việc: Đào tạo con người ViệtNam phát triển toàn diện phải có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ vànghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tính nội dung của giáo dục
là phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện tiếp tục hiện đại và có hệ thống; coitrọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; bảo toàn và phát huy truyềnthống tốt đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại,phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý, lứa tuổi của người học
Quản lý giáo dục và đào tạo là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạnkhác nhau Mỗi giai đoạn luôn mang nét đặc thù trong sự định hướngchung của giáo dục xã hội chủ nghĩa Nó luôn có tính định hướng mục đích
mà mỗi giai đoạn, cấp bậc cần hướng tới thông qua việc áp dụng tổng thểcác phương tiện, phương pháp nhằm mang lại kết quả cao nhất
Giáo dục và đào tạo luôn mang tính giai cấp Nó thể hiện ý chí,nguyện vọng của giai cấp thống trị nhưng đại diện cho lợi ích chung củadân tộc Đó là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc,khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng
Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực quan trọng hàng đầu trong việc phổbiến truyền bá những tri thức văn hoá, những giá trị văn hoá cho con người,góp phần trực tiếp vào việc trí thức hoá, trí thức công nông, trí thức hoáĐảng và Nhà nước, vươn tới đỉnh cao của khoa học-công nghệ hiện đại, kếthợp nhuần nhuyễn giữa cách mạng khoa học và khoa học cách mạng
Mục đích của công tác quản lý giáo dục và đào tạo là cung cấp cho đấtnước những con người được đào tạo chất lượng về phẩm chất, trình độ,năng lực, đáp ứng yêu cầu của xã hội, thích ứng với sự phát triển của đấtnước, con người, xã hội và thời đại
Trang 18Tất cả các quốc gia trên thế giới đều đặt giáo dục và đào tạo là vấn đềquốc sách hàng đầu nhằm cung cấp nguồn nhân lực có trí tuệ cao, là nhân
tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế-xã hội và thể hiện lòng tự tôn dân tộc
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước xác định: Cùng với khoa học – côngnghệ, giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài
Trong giai đoạn hiện nay-giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có đội ngũ lao động cótri thức, được qua trường lớp đào tạo bài bản, phải là những con người vừa
“hồng” vừa “chuyên” Chính vì thế, cần phải tăng cường công tác quản lýgiáo dục và đào tạo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay-một nhiệm vụ quantrọng để thực hiện tiến trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Ở QUẢNG NGÃI HIỆN NAY
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa-xã hội tỉnh Quảng Ngãi
Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở vị trí 14032’ 15025’ vĩ độ bắc, 108006’ 109004’ độ kinh đông, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnhBình Định, phía tây giáp tỉnh Kon Tum, phía tây nam giáp tỉnh Gia Lai,phía đông giáp Biển đông với đường bờ biển dài 140 km Tỉnh Quảng Ngãi
-có diện tích tự nhiên 5131,5km2, bằng 1,7% diện tích tự nhiên của đấtnước, dân số 1,3 triệu người, bao gồm 01 thành phố, 6 huyện đồng bằngven biển, 6 huyện miền núi và một huyện đảo Năm 1975, tỉnh Quảng Ngãisáp nhập với tỉnh Bình Định lấy tên tỉnh Nghĩa Bình Đến ngày 1/7/1989,tỉnh Quảng Ngãi được tái lập
Trang 19Năm 1932, dân số tỉnh Quảng Ngãi có 428.059 người Đến năm 2003,dân số toàn tỉnh là 1.257.972 người, gồm các dân tộc Kinh, Hrê, Cor, Cadong và một số dân tộc thiểu số khác.
Địa hình Quảng Ngãi có núi, đồi thấp, đồng bằng và bãi cát ven biển.Vùng núi, đồi chiếm khoảng 4/5 diện tích toàn tỉnh Núi rừng trùng điệp,địa hình hiểm trở, nối liền với dãy Trường Sơn hùng vĩ đã tạo cho miền núiQuảng Ngãi không những là kho tài nguyên vô giá về lâm thổ sản như trầmhương, quế, sa nhân, mật ong, mà còn là địa bàn chiến lược quan trọng vềquốc phòng an ninh Vùng đồng bằng Quảng Ngãi hẹp và dài, có nhiềusông suối chia cắt Khác với Bắc bộ và Nam bộ, sông ở Quảng Ngãi tươngđối ngắn, độ dốc cao, lòng sông hẹp, nước chảy xiết Toàn tỉnh có 4 consông lớn: Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ, Trà Câu Những con sông ấy đãbồi đắp phù sa, tạo nên vùng đồng bằng tuy nhỏ hẹp nhưng trù phú Dân cưvùng đồng bằng Quảng Ngãi chủ yếu sống bằng nghề nông Bằng chínhsức lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, nhân dân Quảng Ngãi đã biếnvùng đồng bằng thành những cánh đồng trù phú, những đặc sản nổi tiếng.Quảng Ngãi là một tỉnh có truyền thống hiếu học Truyền thống hiếuhọc đã giúp người dân nghèo thoát khỏi tình trạng thất học, tạo điều kiệntốt cho việc học hành Nhiều người đã trở thành những tri thức lớn của đấtnước, nhiều học sinh Quảng Ngãi đã đạt nhiều huy chương trong các kỳ thiOlympic quốc tế, Châu Á Thái bình dương….Hàng năm, tỷ lệ học sinh tốtnghiệp THPT đạt trên 95%; học sinh thi đậu các trường đại học, cao đẳngkhoảng 14% Trong những năm qua tỉnh đã đầu tư cho công tác xoá mùchữ và phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS đạt kết quả cao Đếnnay công tác này đã cơ bản hoàn thành và đã được Chính phủ kiểm tra vàcông nhận Cơ sở vật chất của ngành giáo dục đã được tăng cường, qui môngày càng phát triển; Triển khai thực hiện tốt chương trình kiên cố hoátrường, lớp học, nhờ đó cơ sở vật chất trường học được cải thiện nhiều; Số
Trang 20lượng học sinh các ngành học, cấp học được duy trì, chất lượng dạy và họcđược nâng lên.
Trong những năm qua, công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã đượcquan tâm đầu tư và phát triển Toàn tỉnh có 14/14 huyện, thành phố cótrung tâm y tế; 100% xã có trạm y tế, 70% trạm có bác sỹ, nâng cao mộtbước chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân ở cơ sở Công tác y tế dựphòng đã chủ động phòng chống dịch bệnh, đẩy lùi các dịch bệnh nguyhiểm Các chỉ tiêu về sức khoẻ, nâng cao thể trạng và tầm vóc con ngườiđạt khá Bình quân mỗi năm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1%
Công tác xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động đạt kếtquả cao Đến nay tỷ lệ hộ nghèo, đói giảm còn dưới 9% Hàng năm tỉnh dãgiải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho hơn 30.000 lao động Chínhsách đối với người có công với nước và chính sách xã hội được thực hiệntốt hơn trong những năm qua Toàn tỉnh đã xây dựng mới và sửa chữa trên1.600 nhà tình nghĩa, hoàn thành đề án hỗ trợ nhà ở cho các gia đình cócông; các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đều được phụng dưỡng vê vật chất vàtinh thần
Công tác quốc phòng, an ninh được tăng cường, chính trị-xã hội ổnđịnh tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội Lực lượng vũtrang của tỉnh được xây dựng chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhân dân vànâng cao khả năng chiến đấu trong mọi tình huống Công tác tuyển quânhàng năm đạt 100%; phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc được duy trì, phòngtuyến an ninh nhân dân được giữ vững; các lực lượng an ninh đã kịp thờiphát hiện và ứng phó ngăn chặn, phá vỡ nhiều âm mưu và hoạt động pháhoại của địch Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm được thực hiệnkiên quyết, nhờ đó tội phạm hình sự giảm, đảm bảo tuyệt đối an toàn chocác hoạt động chính trị, kinh tế-xã hội quan trọng của địa phương
Trang 21Quảng Ngãi vốn có nhiều ngành nghề và làng nghề tiểu thủ côngnghiệp truyền thống, nhất là chế biến đường đặc sản (kẹo gương, mạch nha,đường phèn, đường phổi, ép mía nấu đường thủ công, làm đồ gốm, đúcđồng, nghề mộc, nghề rèn, làm nón lá, khảm xà cừ, dệt thổ cẩm ở miền núi,ươm tơ dệt lụa… Dù được chú trọng khuyến khích, nhưng một mặt dothiếu vốn và chậm đổi mới công nghệ, mặt khác do hàng công nghiệp cạnhtranh nên những năm gần đây tuy vẫn duy trì, song các ngành nghề thủcông Quảng Ngãi vẫn chưa thật sự khởi sắc Công nghiệp Quảng Ngãi vốnnhỏ bé, trước đây chỉ tập trung vào khâu sửa chữa, lắp ráp cơ khí và côngnghiệp chế biến nông sản thực phẩm Những năm gần đây, đã tiến lên sảnxuất máy nông nghiệp thô sơ, sản xuất hoá chất nâng cao công suất nhàmáy điện, nhà máy đường, phát triển một số cơ sở công nghiệp chế biếnmới, sản xuất vật liệu xây dựng…
Trong những năm gần đây, thực hiện đường lối công nghiệp hoá- hiệnđại hoá đất nước của Trung ương Đảng, tỉnh Quảng Ngãi đã hình thànhngày càng rõ nét 4 khu công nghiệp: Dung Quất, Phổ Phong, Quảng Phú,Tịnh Phong
Khu kinh tế Dung Quất và Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất đượcChính phủ đầu tư xây dựng Khu Kinh tế Dung Quất có tổng diện tíchkhoảng 14.000 ha Trong đó có Nhà máy lọc dầu số 1 của nước ta với tổngmức đầu tư 1tỷ 500 triệu đô la Mỹ Đây là công trình trọng điểm đang đượckhẩn trương thi công Cùng với Nhà máy lọc dầu số 1 sẽ lần lượt hìnhthành các khu công nghiệp hoá dầu, các nhà máy sản xuất thép và vật liệuxây dựng, các bến cảng, kho bãi trung chuyển container, khu công nghiệpphá dỡ tàu, khu công nghiệp hoá chất, dịch vụ dầu khí, Thành phố VạnTường…Đến cuối năm 2006, Khu Kinh tế Dung Quất đã có 102 dự ánđược cấp phép và chấp thuận đầu tư, với tổng số vốn đăng ký 76.911 tỷđồng (tương đương 5,1 tỷ USD), giải quyết việc làm cho trên 4.000 lao
Trang 22động Những năm tới sự hội nhập của nước ta với khu vực và quốc tế ngàycàng sâu sắc, ở Quảng Ngãi Khu kinh tế Dung Quất, Nhà máy lọc dầu số 1
và nhiều công trình khác đã và đang mở ra triển vọng phát triển mới
Khu công nghiệp Quảng Phú có tổng diện tích 138,6 ha, với tổng sốvốn đầu tư 292 tỷ đồng, tại khu công nghiệp này có: Công ty cổ phầnĐường Quảng Ngãi với các nhà máy đường, bánh kẹo, nước khoáng ThạchBích, bia Dung Quất, nha, cồn, rượu, bao bì; Công ty chế biến thực phẩmxuất khẩu; Nhà máy chế biến thuỷ hải sản xuất khẩu; Nhà máy chế biếngỗ… Khu công nghiệp Tịnh Phong với tổng diện tích 142 ha, đã xây dựngđược một số nhà máy, xí nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nônglâm sản…Hai khu công nghiệp trên đã có 73 dự án (trong đó có 48 dự ánđang hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết 8.000 lao động) với tổngvốn đăng ký trên 1.400 tỷ đồng
Trong những năm đầu tái lập tỉnh (1.7.19989-1995) tốc độ tăng trưởngGDP bình quân là 6,7%/năm, giai đoạn 1996-2000 đạt 8,5%/ năm; giaiđoạn 2000-2005 tăng 10,3%/năm Riêng năm 2006 Quảng Ngãi đã có bướcchuyển mình đáng kể, GDP tăng 12,3%, trong đó công nghiệp, xây dựngtăng 33,5%, nông lâm ngư nghiệp tăng 32%, dịch vụ tăng 34,5%
Trong nhiệm kỳ 2001-2005: Trong điều kiện còn nhiều khó khăn,thách thức, tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên cáclĩnh vực Kinh tế tăng trưởng với nhịp độ khá cao Cơ cấu kinh tế chuyểndịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các khu vực, ngành, vùngkinh tế đều phát triển Kết cấu hạ tầng kinh tế -kỹ thuật được tập trung đầu
tư xây dựng và có bước phát triển đáng kể Nhiều mặt của lĩnh vực văn hoá
- xã hội tiếp tục phát triển, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân Quốc phòng - an ninh được tăng cường và giữ vững Việcxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng được quantâm, có tiến bộ trên nhiều mặt Công tác dân vận, mặt trận, các đoàn thể
Trang 23nhân dân có những chuyển biến tích cực Sức mạnh của khối đại đoàn kếttoàn dân tộc, lòng tin của nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội đối vớicông cuộc đổi mới do Đảng ta lãnh đạo tiếp tục được củng cố, tăng cường.Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên.
Mặc dù đạt được một số thành tựu đáng kể nêu trên, nhưng QuảngNgãi vẫn còn nhiều khó khăn, yếu kém Đó là: Kinh tế tuy tăng trưởng vớinhịp độ khá cao, nhưng chất lượng chưa cao, thiếu bền vững, chưa có sựchuyển biến rõ nét và có tính đột phá; giá trị sản xuất các ngành kinh tế cònnhỏ bé, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm Nhiều nguồn lực, tiềm năngtrong tỉnh chưa được khơi dậy và phát huy đúng mức; thu hút ngoại lựcchưa nhiều Năng lực và sức cạnh tranh của nhiều mặt hàng và doanhnghiệp còn hạn chế Kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật tuy phát triển, nhưngnhìn chung chưa đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xãhội Quản lý nhà nước nước về quy hoạch, đất đai, đầu tư xây dựng, quản
lý đô thị còn nhiều yếu kém Nhiều dự án đầu tư xây dựng còn kéo dài,lãng phí, thất thoát Một số vấn đề bức xúc trên lĩnh vực xã hội chậm đượcgiải quyết Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là vùng miền núi,vùng sâu, vùng xa, bãi ngang và một số khu tái định cư còn gặp nhiều khókhăn Tệ nạn xã hội, quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được đẩy lùi làmảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân Công tác xây dựng Đảng, xây dựngchính quyền, đổi mới hoạt động của mặt trận và các đoàn thể nhân dân cònnhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Như vậy, với những điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội nêutrên cho thấy Quảng Ngãi là vùng đất chứa đựng nhiều tiềm năng pháttriển Sự dồi dào về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất,rừng… đã và sẽ tạo điều kiện cho Quảng Ngãi nhanh chóng hội nhập vàokinh tế khu vực, kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước Những thành tựu nóitrên đã và đang tác động tích cực đến sự tin tưởng của nhân dân vào
Trang 24đường lối đổi mới của Đảng, tạo sự hăng hái, gương mẫu trong thực hiệnchủ trương, đường lối, làm tiền đề cho những chuyển biến mạnh mẽ vềkinh tế-xã hội.
Bên cạnh những thành tựu, công cuộc đổi mới ở tỉnh Quảng Ngãivẫn còn những hạn chế, tồn tại Đó là tốc độ phát triển kinh tế còn chậm,chưa vững chắc, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn chuyển dịchchậm, mang nhiều yếu tố tự phát Đời sống vật chất và văn hoá của nhândân ở nhiều vùng nông thôn còn thấp Thu nhập của các hộ dân cư có sựchênh lệch ngày càng tăng giữa các vùng đồng bằng, trung du và miềnnúi…
Những thành tựu và yếu kém nói trên là do nhiều nguyên nhân, nhưchưa mạnh dạn và kịp thời đề ra những chính sách và giải pháp phù hợp đểphát huy yếu tố nội lực, thu hút ngoại lực cho phát triển, tổ chức thực hiệnthiếu nhất quán, chưa tập trung cho công tác quy hoạch và triển khai thựchiện quy hoạch để phát triển Vì vậy, việc lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân,toàn dân thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội nửa nhiệm kỳ cuối của Đảng
bộ tỉnh Quảng Ngãi là một trách nhiệm hết sức nặng nề, đòi hỏi sự cố gắng
và nỗ lực của tất cả các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh
2.2 Thành tựu của quản lý giáo dục-đào tạo và nguyên nhân
Quán triệt và thực hiện Kết luận của Hội nghị lần thứ VI, Ban Chấphành Trung ương Đảng khoá IX; thực hiện các Chỉ thị của Bộ Chính trị,Nghị quyết Đại hội lần thứ XVI của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi… Trongnhững năm gần đây ngành giáo dục và đào tạo Quảng Ngãi đã đạt đượcnhững kết quả rất đáng ghi nhận
2.2.1 Quản lý giáo dục và đào tạo góp phần phát triển qui mô giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà
a Ngành giáo dục mầm non
Trang 25Các địa phương trong tỉnh đã tập trung chỉ đạo, huy động các cháu ralớp, thực hiện chuyển các trường mầm non dân lập sang loại hình bán công.Nhà trẻ: 4 nhà trẻ độc lập, 111 nhóm tại các loại hình khác nhau với2.549 cháu Mẫu giáo: 132 trường, 1.385 lớp với 34.087 cháu
Số lượng học sinh là 144.028 so với 2005-2006, bậc tiểu học đã giảmđược 9.916 học sinh
c Trung học cơ sở
Tổng số trường 140, trong đó: Trung học cơ sở độc lập là 125trường, phổ thông cơ sở là 04 trường, dân tộc nội trú là 05 trường, trunghọc phổ thông có dạng THCS là 06 trường
Ngoài ra, các phòng giáo dục miền núi đã tổ chức các lớp nhỏ dạybậc trung học cơ sở tại các trường tiểu học ở những vùng núi cao, vùng khókhăn giao thông không thuận lợi
Tổng số học sinh: 112.732 so với năm học trước đã tăng hơn 9.000 họcsinh do huy động được tối đa học sinh tốt nghiệp bậc tiểu học vào học THCS
Trang 26Bổ túc trung học cơ sở được tổ chức giảng dạy tại các trung tâm giáodục thường xuyên, trường trung học cơ sở và những đặc điểm thuận lợi choviệc tập trung học viên, do các phòng giáo dục huyện quản lý với tổng sốhọc viên là 1.459, trong đó tham dự tốt nghiệp là 1.054 học viên.
Bổ túc trung học phổ thông được tổ chức tại 6 trung tâm giáo dụcthường xuyên, trường Cao Đẳng cộng đồng, 2 trường phổ thông trung họcvới tổng số học viên là 2.458, trong đó số học viên dự thi tốt nghiệp là 2.113
Đây là hướng đi đúng, đang được phát huy nhằm thực hiện Chỉ thị61-CT/TW ngày 28/12/2000 của Bộ chính trị về thực hiện phổ cập trunghọc cơ sở và đồng thời nâng cao mặt bằng dân trí của tỉnh nhà
Cao đẳng sư phạm với tổng số sinh viên là 999 sinh viên theo họcchính quy, trung học sư phạm chính quy 238 sinh viên Ngoài ra, trườngcòn tổ chức đào tạo học chuyên tu cho 195 giáo viên và đào tạo chuẩn hoácao đẳng sư phạm cho 42 cán bộ quản lý, giáo viên trong tỉnh
2.2.2 Quản lý cơ sở vật chất của giáo dục và đào tạo trong tỉnh được tăng cường
a Về cơ sở vật chất
Có sự tăng trưởng so với năm học trước về số phòng học được xâydựng theo hướng kiên cố hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá
Trang 27Cụ thể tổng số phòng học hiện có đến cuối năm học 2005-2006 củaQuảng Ngãi là 6.805 phòng, trong đó phòng học tầng là 2.166, phòng họccấp 4 là: 4.388 phòng.
Kết quả triển khai Dự án kiên cố hoá trường học theo Quyết định159/2002/QĐ/TTg, ngày 15/11/2002 của Thủ Tướng Chính phủ Dự án này
đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt theo Quyết định số216/QĐ-UB ngày 12/11/2003 gồm 1.891 phòng để xoá các lớp học ca 3 vàtranh tre, nứa lá được chia làm 2 giai đoạn từ 2004-2007 với tổng kinh phí
là 189 tỷ đồng Cụ thể, đã xây dựng và hoàn thành bàn giao đưa vào sửdụng 68 phòng, đang xây dựng và sẽ hoàn thành trong tháng 9/2007 vớitổng số là 352 phòng
Ngành đã thực hiện chương trình kiên cố hoá trường học, lớp học,bảo đảm hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản, không để xảy ra những saisót trong công tác khảo sát, đầu tư, xây dựng Được phân bổ, nguồn vốnnày chỉ dùng để thực hiện chương trình kiên cố hoá trường học, khôngdùng cho các mục tiêu khác
b Xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia
Trang 28Đến cuối năm 2005-2006, Quảng Ngãi đã có 56 trường đạt chuẩnQuốc gia, trong đó: Trường tiểu học đạt chuẩn 43/229 trường, tỉ lệ 18,77%;trường trung học cơ sở đạt chuẩn 10/129 trường, tỉ lệ 7,75%; trường trunghọc phổ thông đạt chuẩn 3/32 trường, tỉ lệ 9,3%.
Trong năm 2005-2006, có 02 trường tiểu học và 3 trường trung học
cơ sở được công nhận đạt chuẩn quốc gia Ngoài ra, đã có 11 trường tiểuhọc được tỉnh kiểm tra và đã có tờ trình đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạocông nhận
Có thể nói, với một tỉnh còn nghèo, kinh tế còn khó khăn nhưng với
sự nỗ lực của toàn ngành, của học sinh, tỉ lệ trường đạt chuẩn của tỉnhchiếm số lượng khá so với tỉ lệ chung và so với các tỉnh khác trong vùng
2.2.3 Quản lý giáo dục và đào tạo góp phần xây dựng đội ngũ giáo viên không ngừng tăng về số lượng và chất lượng
Khối đơn vị trực thuộc Sở là 2.511 biên chế, bao gồm:
Có 2.251 biên chế trong hệ thống giáo dục công lập với 1595 biênchế tại các trường trung học phổ thông công lập, 163 biên chế tại cáctrường dân tộc nội trú, 66 biên chế tại các trung tâm giáo dục thườngxuyên, 20 biên chế tại trường mầm non trực thuộc Sở, 293 biên chế tại cáctrường cao đẳng, 47 biên chế tại Văn phòng Sở Giáo dục và Đào tạo
Có 260 biên chế tại các trường ngoài công lập, gồm: 246 biên chế tạicác trường trung học phổ thông bán công, 06 biên chế tại các trường mầm
Trang 29non, 05 biên chế tại các trường trung học phổ thông dân lập, 03 biên chế tạiBan quản lý dự án xây dựng.
Nếu so sánh tỷ lệ với các năm trước, giáo viên đã tăng 353 người doyêu cầu phát triển giáo dục, đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ sung biên chế
b Chất lượng giáo viên
Thực hiện chỉ đạo của các cấp, trong những năm gần đây chất lượngđội ngũ nhà giáo không ngừng được nâng cao Sở Giáo dục và Đào tạo đãkết hợp cùng trường Đại học Huế tổ chức mở các lớp chứng chỉ sau Đạihọc có 200 cán bộ quản lý, giáo viên, đào tạo cử nhân quản lý giáo dục cho
70 người, Đại học sư phạm mẫu giáo cho 165 người Ngành cũng đã tổchức tốt lớp bồi dưỡng bổ sung kiến thức cho 20 cán bộ quản lý để dự thithạc sĩ quản lý giáo dục
Theo báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo, năm học 2006-2007 tìnhhình tư tưởng chính trị, đạo đức tác phong của những người làm công tácgiáo dục và đào tạo tốt Toàn ngành không có trường hợp nào lệch lạc vềnhận thức chính trị cũng như trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Cùng với việc học tập, nâng cao nhận thức chính trị, các đơn vị đãđặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, phát triển Đảng Đến nay, tại cácđơn vị giáo dục trong tỉnh đã có 3.302 đảng viên, chiếm tỷ lệ 24,57%, trongnăm học đã phát triển được 299 đảng viên mới Chính sự quan tâm của cáccấp uỷ đảng đã tạo tiền đề quan trọng trong việc tăng cường bản lĩnh chínhtrị, giữ vững đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp trong sáng và trong đội ngũcán bộ, giáo viên trong toàn ngành
2.2.4 Quản lý giáo dục và đào tạo góp phần quan trọng thực hiện tốt công bằng trong giáo dục
a Thực hiện chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo và các đối tượng chính sách xã hội
Ngành đã thường xuyên và phối hợp kịp thời với Hội khuyến họctỉnh cấp học bổng cho học sinh nghèo vượt khó Riêng trong năm học