ĐỀ TÀI: Nội dung và ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển (thời kì 1945 1954) A. PHẦN MỞ ĐẦU: I. Tính cấp thiết của đề tài: I. Mục đích nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích: Xác định nội dung tư tưởng chủ đạo của Hồ Chí Minh trước 1945. Trên cở sở đó đề tài tập trung làm rõ sự hình thành, phát triển về nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn (19451954) và những đóng góp của nội dung tư tưởng vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đồng thời, qua việc nghiên cứu đề tài rút ra ý nghĩa của nội dung tư tưởng đối với dân tộc thời đại; Vận dụng những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới của Đảng ta hiện nay. II. Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh qua một số tác phẩm tiêu biểu. Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoàn 1945 – 1954. Nêu rõ ý nghĩa của Tư tưởng trong giai đoạn này đối với dân tộc thời đại III. Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp mang tính chất liên ngành trong đó chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Kết hợp các phương pháp khác như: Phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu… IV. Lịch sử vấn đề nghiên cứu: Quá trình hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh giai đoạn 1945 – 1954 đã được nhiều tập thể khoa học, nhiều tác giả nghiên cứu ở các góc độ khác nhau và lần lượt được công bố trên các loại sách báo, tạp chí… Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước có nhiều công trình nghiên cứu đó là: Các nhà khoa học cũng có nhiều công trình nghiên cứu đó là: Nhìn chung, các công trình, bài viết trên đều đã khẳng định giá trị to lớn của Tư tưởng Hồ chí Minh giai đoạn 1945 1954. Một số công trình khác cũng đã đề cập đến từng tư tưởng cụ thể song chua có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về sự hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh giai đoạn 1945 1954. Vì vậy, đây là đề tài nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống về vấn đề này.
Trang 1ĐỀ TÀI: Nội dung và ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh được hình
thành và phát triển (thời kì 1945- 1954)
A PHẦN MỞ ĐẦU:
B Tính cấp thiết của đề tài:
I Mục đích nghiên cứu đề tài:
- Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích:
Xác định nội dung tư tưởng chủ đạo của Hồ Chí Minh trước 1945 Trên
cở sở đó đề tài tập trung làm rõ sự hình thành, phát triển về nội dung tư tưởng
Hồ Chí Minh trong giai đoạn (1945-1954) và những đóng góp của nội dung tưtưởng vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Đồng thời, qua việc nghiên cứu đề tài rút ra ý nghĩa của nội dung tưtưởng đối với dân tộc - thời đại; Vận dụng những nội dung tư tưởng Hồ ChíMinh vào công cuộc đổi mới của Đảng ta hiện nay
II Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh qua một số tác phẩm tiêu biểu
- Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoàn 1945 – 1954
Nêu rõ ý nghĩa của Tư tưởng trong giai đoạn này đối với dân tộc thời đại
-III Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp mang tính chất liên ngànhtrong đó chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Kết hợp cácphương pháp khác như: Phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp phântích tổng hợp, đối chiếu…
IV Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Trang 2Quá trình hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh giai đoạn
1945 – 1954 đã được nhiều tập thể khoa học, nhiều tác giả nghiên cứu ở cácgóc độ khác nhau và lần lượt được công bố trên các loại sách báo, tạp chí…
Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước có nhiều công trình nghiêncứu đó là:
Các nhà khoa học cũng có nhiều công trình nghiên cứu đó là:
Nhìn chung, các công trình, bài viết trên đều đã khẳng định giá trị tolớn của Tư tưởng Hồ chí Minh giai đoạn 1945 - 1954 Một số công trình kháccũng đã đề cập đến từng tư tưởng cụ thể song chua có công trình nào nghiêncứu một cách toàn diện, sâu sắc về sự hình thành và phát triển Tư tưởng HồChí Minh giai đoạn 1945 - 1954 Vì vậy, đây là đề tài nghiên cứu một cách cơbản, toàn diện và có hệ thống về vấn đề này
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I:
MỘT SÔ TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
TRƯỚC 1945 I.Tư tưởng Hồ Chí Minh trong tác phẩm bản án chế dộ thực dân pháp
1 Hoàn cảnh lịch sử
1.1 Hoàn cảnh trong nước
Vào những năm 20 của thế kỉ XX, Việt Nam là một nước thuộc địa nửaphong kiến, chịu sự cai trị của chế độ thực dân Pháp và triều đình phong kiếnnhà Nguyễn; là một chế độ phản động kìm hảm sự phát triển của đất nước, đingược lại quy luật khách quan, nguyện vọng của dân tộc
Các phong trào đấu tranh nhằm giải quyết yêu cầu khách quan ấy.nhưng do nhận thức và thực hiện không đúng yêu cầu khách quan, đã dẫn đếnthất bại ( Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…) cho nên vấn đề lớn đặt ra lúcnày đó chính là con đường giải phóng dân tộc
1.2 Hoàn cảnh thế giới
Lúc này, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc Thựchiện chế độ cai trị trên toàn thế giới( 70% dân số thế giới là người thuộc địa),dẫn đến mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc bùng
nổ gay gắt, phong trào giải phóng dân tộc lên cao
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và sự ra đời củaQuốc tế cộng sản (1919) đã mở đầu cho thời đại mới của xã hội loài người,thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
2 Nội dung tác phẩm
Tác phẩm “ Bản án chế độ thực dân Pháp” là một trong những tácphẩm đầu tay của chủ tịch Hồ Chí Minh, được tập hợp những bài viết từ năm
Trang 41921-1924, đăng trên báo “người cùng khổ”, “nhân đạo” và “đời sống côngnhân” đồng thời lấy những tài liệu công khai ở Pháp lúc bấy giờ Năm 1925,tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được xuất bản và giới thiệu trên báo
“người cùng khổ” với 12 chương và phần phụ lục gửi Thanh niên Việt Nam
2.1 Quan điểm Hồ Chí Minh với chế độ thực dân Pháp
- Truyền bá chủ nghĩa Xô Vanh(nước lớn), chủ nghĩa chủng tộc
- Bưng bít tội ác của chế độ thực dân ở thuộc địa, làm cho nhândân ở chính quốc hiểu sai, hiểu xấu về thuộc địa
* Vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân
+ Các loại tội ác
- Về kinh tế: thực hiện khai thác, vơ vét tài nguyên đến cạn kiệt;chiếm ruộng đất của nông dân; bóc lột sức lao động; đặt ra nhiều thứ thuế vôlý
- Về chính trị: giai cấp tư bản trực tiếp nắm quyền thống trị; thựchiện chính sách chia để trị; đàn áp, khủng bố những phong trào yêu nước;cấm: hội họp, đi lại, tự do báo chí
- Về văn hoá, giáo dục: thực hiện chính sách ngu dân, đầu độcnhân dân ta bằng rượi cồn và thuốc phiện, chà đạp lên phong tục tập quán,văn hoá sinh hoạt của dân tộc Trường học mở nhỏ giọt chỉ phục vụ cho giaicấp thống trị
+ Nạn nhân
- Các dân tộc thuộc địa đều chịu chung số phận như nhau
Trang 5Các tầng lớp nhân dân trong trong các dân tộc thuộc địa, các thànhphần xã hội đều chung một nổi thống khổ bởi chính sách cai trị của chế dộthực dân
- Nhân dân lao động ở chính quốc cũng là nạn nhân của chế độthực dân, sử dụng binh lính thuộc địa đi đàn áp giai cấp công nhân ở chínhquốc hoặc ngược lại
đã nhận thức vấn đề thuộc địa không chỉ là phạm vi của thuộc địa Pháp màtính quốc tế phổ biến.Cho nên mâu thuẫn giữa chủ nghĩa thực dân và dân tộcthuộc địa là không thể điều hoà bởi vì lợi ích cơ bản và toàn diện là đối khángnhau, chỉ có thể giải quyết bằng con đường cách mạng Chủ nghĩa thực dânkhông những là kẻ thù của nhân dân thuộc địa mà còn là kẻ thù của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động chính quốc
2.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về con đường giải phóng khỏi ách thựcdân
+ Nêu rõ vai trò của cách mạng thuộc địa ngang bằng với cách mạng
ở chính quốc
+
Trang 6CHƯƠNG II : SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH THỜI KÌ (1945-1954)
Mặc dù ngay sau đó, kẻ thù buộc nhân dân ta phải cầm súng đứng lênlàm cuộc kháng chiến lâu dài để bảo vệ nền độc lập dân tộc vừa giành được,Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đề ra khẩu hiệu “vừa kháng chiến, vừakiến quốc” thực hiện nhiều chủ trương cải cách và xây dựng mới trên các lĩnhvực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nhằm phát triển chế độ dân chủ nhândân, chuẩn bị những tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội
Trong báo cáo chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II củaĐảng(2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Về mục đích trước mắt, ĐảngLao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắnglợi hoàn toàn , tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dânthực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội
Trang 7Mục tiêu nhất quán đó cũng được khẳng định lại trong báo cáo luận cương cách mạng Việt Nam của đồng chí Trường Chinh trình bày trước Đại
hội Về nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam, đồng chí nêu ra 3 nhiệmvụ:
- Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, làm cho Việt Nam hoàn toànđược thống nhất và độc lập(phản đế)
- Xoá bỏ những di tích phong kiến và nữa phong kiến, làm chongười cày có ruộng
III.TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN
IV TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
Đây là giai đoạn mà Hồ Chí Minh phát triển tư tưởng về Nhà nướcthông qua thực tiễn cách mạng Việt Nam
1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước pháp quyền có hiệu lựcpháp lý mạnh mẽ
- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước có hiệu lực pháp lýmạnh mẽ, trước hết phải là một nhà nước hợp hiến
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lậpkhai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Tiếp đó ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dânchủ công hòa (3-9-1945) chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiệm vụ: “Chúng
ta phải có một Hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớmcàng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”, để có một chế
độ hợp hiến do nhân dân bầu ra Ngày 17-9-1945, kí Sắc lệnh ấn định thể lệ
Trang 8Tổng tuyển cử Người nói: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân
tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà”
Ngày 20-9-1945, Người kí sắc lệnh số 34 thành lập Uỷ ban dự thảoHiến pháp của Nước Việt nam dân chủ cộng hoà
Tiến hành tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946, ngày 2-3-1946, Quốchội mới họp phiên đầu tiên
- Nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho phápluật có hiệu lực trong thực tế
V TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGOẠI GIAO
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là một bộ phận cấu thành tưtưởng Hồ Chí Minh nói chung được hình thành, phát triển trong gần 60 nămhoạt động cách mạng, hoạt động quốc tế của Người Ba mươi năm đầu(1911-1945) là hoạt động ngoại giao nhân dân, hoạt động ngoại giao Đảng và đoànthể, 24 năm sau là hoạt động ngoại giao Nhà nước với tư cách là nguyên thủquốc gia và người đứng đầu một đảng cầm quyền Nhưng có thể nói thời kì
mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta gặp nhiều khó khăn nhất, đương đầu vớinhiều kẻ thù nhất đó là giai đoạn 1945-1954, tình thế dân tộc ta đựơc ví như:
“ngàn cân treo sợi tóc”, để đưa đất nước vượt qua những hiểm nguy đem đếnthắng lợi cho dân tộc Việt Nam đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh vềngoại giao là vấn đề có ý nghĩa chính trị, ý nghĩa khoa học to lớn
- Cách mạng tháng Tám thành công lập nên nước Việt Nam Dânchủ cộng hoà Chính quyền cách mạng vừa được thành lập, lực lượng cáchmạng rất yếu, bị bao vây cô lập tứ phía mà lại phải chống chọi với thù ngoàigiặc trong, chính quyền ta chưa được quốc gia nào công nhận Chính ở thời kìcực kỳ quyết định và đầy thử thách này, nghị lực cách mạng phi thường vàthiên tài của Hồ Chí Minh đã được bộc lộ và phát huy rực rỡ; tư tưởng, đườnglối chiến lược, sách lược cũng như năng lực tổ chức thực tiễn và chỉ đạo sáng
Trang 9suốt của, tài tình của Hồ Chí Minh về đối nội, đối ngoại thể hiện sáng tạo sâusắc:
+ Chủ động tấn công phân hoá hàng ngũ địch, thêm bạn bớt thù, lấyđấu tranh chính trị, hổ trợ kết hợp ngoại giao song phương với ngoại giao đaphương Nó đã được thể hiện ngay từ Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945, đến chủđộng hoà với tưởng, lôi kéo Tiêu Văn, Lư Hán, Hà Ứng Khâm, đàm phán vớiPháp, tranh thủ Mỹ, Liên hợp quốc, chủ động phá thế cô lập, tình trạng đàmphán bế tắc
+ Tuyên truyền đối ngoại , đề cao vị thế của ta, Người nói về ngoạigiao: “Phải trông vào thực lực Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi Thựclực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng Chiêng có to, tiếng mới lớn”
+ Ngày 28-9-1945, tại cuộc họp của Hội đồng Chính phủ với tư cách là
Bộ trưởng Ngoại giao, người đã tuyên bố chính sách ngoại giao của NướcViệt Nam Dân chủ cộng hoà dựa trên những nguyên tắc tự do, bình đẳng vàquyền dân tộc tự quyết
+ Xem ngoại giao là một mặt trận quan trọng, mang tầm chiến lược.Đấu tranh ngoại giao với tinh thần tôn trọng lẫn nhau, nhân nhượng trênnguyên tắc độc lập dân tộc không thể tách rời với thống nhất Tổ quốc Nay đểchống mưu đồ tách Nam bộ khỏi nước Việt Nam, Người khẳng định: “ Đồngbào Nam bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn sôngchân lý đó không bao giờ thay đổi”
Ký hiệp định sơ bộ 6-3-1946, tạm thời hoà hoãn với Pháp
Ngày 19-4-1946, Hội nghị trù bị Đà Lạt khai mạc
Thăm chính thức nước Pháp, Ký bản Tạm ước 14-9-1946, kéo dài thờigian hoà hoãn, chuẩn bị kháng chiến
+ Về đối ngoại, Người kiên trì gắn cách mạng giải phóng dân tộc ViệtNam với cách mạng thế giới, tranh thủ mọi sự giúp đỡ của quốc tế
Trang 10Khi kháng chiến bắt đầu, Hồ Chí Minh chủ trương lấy mặt trận ngoạigiao để phục vụ kháng chiến, bên cạnh làm sâu sắc thêm các luận điểm thời kìtrước còn đưa ra những quan điểm, tư tưởng mới.
- Khẳng định tư tưởng chủ động tấn công trong đấu tranh ngoạigiao, lấy nó làm mũi nhọn cùng với đấu tranh quân sự và chính trị, nổi bật ởđầu thời kì này là chiến tranh dư luận, tuyên truyền đối ngoại, tập trung khẳngđịnh địa vị hợp pháp duy nhất của Chính phủ ta
Ngày 18-1-1950, Chính phủ Trung Quốc công nhận chính phủ ta
Ngày 30-1-1950, Chính phủ Liên Xô, rồi chính phủ các nước Đông Âulần lượt công nhận và xác lập quan hệ ngoại giao với ta Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đi thăm và hội đàm với các lãnh đạo cấp cao của haichính phủ Liên Xô và Trung Quốc năm 1950 Với thắng lợi ngoại giao nàycủa ta, vòng vây của chủ nghĩa đế quốc đã bị phá vỡ Từ đây, cuộc khángchiến của nhân dân Việt Nam được tiếp thêm sức mạnh của cách mạng thếgiới, sẽ từng bước chuyển sang giai đoạn phản công và tiến công
- Cho đến chiến dịch Điện Biên Phủ, Hồ Chí Minh luôn coi ngoạigiao là một mặt trận đắc lực phục vụ kháng chiến và thắng lợi ngoại giao tạođiều kiện cho thắng lợi quân sự.Người đánh giá: Việc Liên Xô, Trung Quốc
và các nước dân chủ công nhận chính phủ ta đã làm nhân dân ta phấn khởi
“đến mức cao nhất” “Đối với Việt Nam, đó là một thắng lợi lớn về chính trị”
và Người chắc rằng cuộc thắng lợi chính trị ấy sẽ là cái đà cho thắng lợi quân
sự sau này.Khi ta đang thắng lớn ở Điện Biên Phủ , lại có đàm phấn ởGiơnevơ, Người đã kịp thời chống tả khuynh, phê phán tư tưởng thiên về tácchiến, xem khinh ngoại giao và chỉ ra: để kéo địch vào đàm phán và có đượcthắng lợi ở bàn đàm phán ở Giơnevơ, Người vạch ra: “ Triều tiên cho ta thấykinh nghiệm là phải bao giờ đánh cho đế quốc quỵ , nó biết không thể đánhđược nữa , nó mới chịu đàm phán Đừng có ảo tưởng mình muốn đàm phán là
Trang 11nó đàm phán” và “Ta cũng phải đánh cho Pháp quỵ , lúc ấy có đàm phánmới đàm phán, chứ không phải đưa đàm phán ra là nó đàm phán ngayđâu.Đừng có ảo tưởng Mục đích của nó là xâm lược Nó mất 90% còn hyvọng 1% nó vẫn đánh Phải đánh cho nó quỵ nó mới chịu”.
- Hồ Chí Minh đã làm sâu sắc thêm luận điểm về nhân nhượng cónguyên tắc Người nêu những tư tưởng chỉ đạo:
Phải phân biệt lợi ích trước mắt và tương lai, bộ phận cục bộ; “Mụcđích bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lâp,dân chủ.Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”;
“đề ra những những điều kiên quá cao, địch không nhận được”
Công khai nêu quan điểm với báo chí: “ Việc thương lượng đình chiếnchủ yếu là một việc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà với Chínhphủ Pháp” Trước đó, người đã từ chối khéo việc bằng cách tuyên bố rằngViệt Nam sẽ mang vấn đề Việt Nam ra Liên hiệp quốc khi cần Điều này chothấy tư tưởng đàm phán trực tiếp của Hồ Chí Minh đã được xuất hiện và trởthành tư tưởng chỉ đạo cho ta khi đi đàm phán Pari sau này
Sự kiên định lập trường, luôn đấu tranh cho độc lập dân tộc và thốngnhất Tổ quốc cùng với sách lược khôn khéo, mềm mỏng có nguyên tắc, Chủtịch Hồ Chí Minh đã buộc đế quốc Pháp phải đặt bút ký Hiệp định Giơnevơ
về Đông Dương 21-7-1954, có đủ chữ kí của 5 nước lớn công nhận và camkết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân ta
VI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUÂN SỰ
1 Sự phát triển của đường lối quân sự Hồ Chí Minh
Những bài viết và bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quân sự thểhiện sâu sắc đường lối quân sự và tư tưởng về quân sự của Người Nó baogồm toàn bộ những vấn đề lý luận về quân sự của cách mạng Việt nam:cách
Trang 12mạng bạo lực và bạo lực cách mạng; khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cáchmạng; chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
Là sự vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng, khoa học quân sự củachủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể Việt nam; đồng thời đã kếthừa và phát triển lên một chất lượng mới những truyền thống quân sự củadân tộc ta hình thành trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước Tư tưởngquân sự của Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn cả hai yếu tố đó Nóphản ánh đúng đắn những quy luật về khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cáchmạng, về đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trongthời đại ngày nay Đó là lý luận quân sự hiện đại của dân tộc ta, một cốnghiến to lớn của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận quân sự Mác – Lênin
Nét cơ bản nhất của sự phát triển đó là, từ những quan điểm chỉ đạoviệc chuẩn bị và tiến hành một cuộc khởi nghĩa vũ trang phát triển thànhnhững quan điểm chỉ đạo việc tiến hành một cuộc chiến tranh cách mạng lâudài, một cuộc chiến tranh nhân dân có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quânlàm nồng cốt cho toàn dân đánh giặc Vì vậy, trong thời kì kháng chiến chốngPháp nội dung phát triển của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh rất phong phú,được cụ thể hoá trên tất cả các vấn đề:
- Chiến tranh nhân dân
Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của quần chúng nhân dân trongchiến tranh cách mạng Người tin tưởng vững chắc ở quyết tâm gang thép,khả năng vô tận, sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân, Hồ Chí Minhcoi vấn đề liên minh công nông, vấn đề đoàn kết và phát động toàn dân đánhgiặc dưới sự lãnh đạo của Đảng là then chốt của chiến tranh cách mạng ở mộtnước thuộc địa Người nêu rõ: “Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành mộtbức tường đồng xung quanh Tổ quốc, dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mứcnào, đụng đầu vào bức tường đó, chúng cũng phải thất bại” Người kêu gọi: “